Nhiều công trình nghiên cứu về khả năng đẻ nhánh của lúa nương đã đi đến kết luận: Các giống lúa nương có khả năng đẻ nhánh ít hơn các giống lúa nước, theo Chang 1972 [4] các giống lúa n
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRẦN THỊ LA
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, NÔNG SINH HỌC
VÀ ĐA DẠNG DI TRUYỀN CỦA CÁC MẪU GIỐNG LÚA NƯƠNG ĐƯỢC THU THẬP TẠI HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG
VÀ KỲ SƠN, TỈNH NGHỆ AN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KĨ SƯ NGÀNH NÔNG HỌC
NGHỆ AN, 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, NÔNG SINH HỌC
VÀ ĐA DẠNG DI TRUYỀN CỦA CÁC MẪU GIỐNG LÚA NƯƠNG ĐƯỢC THU THẬP TẠI HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài “Nghiên cứu đặc điểm hình thái, nông sinh học và
đa dạng di truyền của các mẫu giống lúa nương được thu thập tại huyện Tương
Dương và Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An” là công trình do tôi thực hiện dưới sự hướng
dẫn của ThS Nguyễn Tài Toàn Những kết quả đạt được đảm bảo tính chính xác
và trung thực về khoa học, chưa từng được sử dụng để bảo vệ một luận văn nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho luận văn này đã được cảm ơn và
các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc
Nếu sai tôi xin chịu trách nhiệm trước Tổ bộ môn, Khoa và Nhà trường
Nghệ An, ngày 20 tháng 5 năm 2016
Tác giả
Trần Thị La
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô giáo, cán bộ Khoa Nông
Lâm Ngư, Trường Đại học Vinh đã giảng dạy và hướng dẫn tôi hoàn thành
chương trình học tập và nghiên cứu thực hiện đề tài
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới ThS Nguyễn
Tài Toàn vì những định hướng giá trị và sự hướng dẫn tận tình về những kiến
thức chuyên ngành cũng như viết và hoàn chỉnh luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn các anh chị cán bộ tại Viện Khoa Học Nông Nghiệp
Băc Trung Bộ đã tạo mọi điều kiện về cơ sở vật chất, sự hướng dẫn, giúp đỡ,
đóng góp ý kiến cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này
Lời cuối, tôi xin gửi lời cảm ơn đến những người thân trong gia đình, bạn
bè, những người đã hỗ trợ thiết thực cho tôi cả về mặt tinh thần, vật chất và công
sức để tôi có thể hoàn thành tốt đề tài khóa luận này
Xin kính chúc các thầy cô giáo sức khỏe, hạnh phúc và thành công
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Nghệ An, ngày 20 tháng 05 năm 2016
Tác giả
Trần Thị La
Trang 5
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG BIỂU v
DANH MỤC VIẾT TẮT vi
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu, yêu cầu 2
3 Đối tượng, phạm vi và nội dung nghiên cứu của đề tài 3
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiến của đề tài 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 5
1.3 Tình hình nghiên cứu lúa nương ở trong nước và thế giới 5
1.3.1 Tình hình nghiên cứu nước ngoài 5
1.3.2 Tình hình nghiên cứu lúa nương ở Việt Nam 11
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 19
2.2 Vật liệu nghiên cứu 19
2.3 Nội dung nghiên cứu 19
2.4 Phương pháp nghiên cứu 19
2.5 Phương pháp xử lý số liệu 22
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 23
3.1 Đặc điểm nông sinh học, năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 23
3.1.1 Thời gian sinh trưởng 23
3.2.2 Một số đặc điểm nông sinh học của các mẫu giống lúa nương 25
3.2.3 Một số đặc điểm về kích thước hạt thóc và gạo của các mẫu giống lúa nương 27
3.2.4 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất 29
3.2.5 Một số đặc điểm hình thái của các mẫu giống lúa nương 33
3.2.6 Đánh giá mức độ đa dạng di truyền của các mẫu giống lúa nương 37
Trang 6Chương 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 40
4.1 KẾT LUẬN 40
4.2 KIẾN NGHỊ 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO 42
PHỤ LỤC 1 MỘT SỐ HÌNH ẢNH CỦA THÍ NGHIỆM 47
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
3.1 Đặc điểm nông sinh học, năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 23
Bảng 3.1 Thời gian sinh trưởng và các giai đoạn sinh trưởng của các mẫu giống
lúa thu thập trong vụ Hè Thu 2015 24
Bảng 3.2 Một số đặc điểm nông sinh học của các mẫu giống lúa nương trong vụ
Mùa 2015 26
Bảng 3.3 Một số đặc điểm về hình dạng hạt thóc và gạo của các mẫu giống lúa
nương trong vụ Mùa 2015 28
Bảng 3.4 Các yếu tố cấu thành năng suất của các mẫu giống lúa nương trong vụ
Mùa 2015 30
Bảng 3.5 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các mẫu giống lúa
nương trong vụ Mùa 2015 31
Bảng 3.6 Phân nhóm các tính trạng của các mẫu giống lúa nương trong vụ Mùa
2015 32
Bảng 3.7 Các đặc điểm hình thái của các mẫu giống lúa nương trong vụ Mùa
2015 34
Bảng 3.8 Các đặc điểm hình thái của các mẫu giống lúa nương trong vụ Mùa 2015 35
Bảng 3.9 Phân nhóm các tính trạng hình thái của các mẫu giống lúa nương vụ
Mùa 2015 36
Trang 8DANH MỤC VIẾT TẮT
ADN Axit Deoxyribonucleic
Ctv Cộng tác viên
IPGRI International Plant Genetic Resources Institute (Viện
Tài Nguyên di truyền thực vật Quốc Tế)
IRRI International Rice Research Institute (Viện Nghiên
Cứu Lúa Quốc Tế) NST Nhiễm sắc thể
KL Khối lượng
NSLT Năng suất lý thuyết
CDT Chiều dài thân
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Lúa (Oryza sativa L) là cây lương thực chủ yếu cho khoảng 50% dân số
trên thế giới (Lucca et al., 2002) [14] Đến năm 2050, sản lượng lúa gạo phải
tăng ít nhất 70% để đáp ứng nhu cầu lương thực của con người Lịnh sử chọn tạo
giống lúa cho thấy, tối thiểu 50% việc tăng sản lượng lúa là kết quả của chọn tạo
giống từ cuộc cách mạng xanh trong những năm 1960 ở lúa thuần và 1970 ở lúa
lai
Nhu cầu về tăng lương thực càng trở nên cấp bách, bởi cho đến năm 2025
người dân ở các vùng trồng lúa truyền thống sẽ phụ thuộc hơn 70% vào lúa gạo
(Swaminathan MS, 2007) [17] Do đó, sản xuất lúa gạo trên thế giới phải tăng
khoảng 1% mỗi năm thì mới đáp ứng được nhu cầu lương thực (Rosegrant và cs.,
1995) [16] Tuy nhiên, việc mở rộng diện tích trồng lúa là vô cùng khó khăn do
một phần không nhỏ diện tích trồng lúa đã bị chuyển đổi thành đất đô thị
Hạn hán là nhân tố quan trọng nhất làm hạn chế sinh trưởng và sản lượng
lúa, nó có thể làm năng suất lúa giảm 70% (Bray et al., 2000)[2] và nó ảnh
hưởng lên khoảng 35% diện tích lúa trên toàn thế giới (Wang et al., 2013)[18]
Bên cạnh đó, sự khan hiếm về nước tưới phục vụ cho nông nghiệp đã ảnh hưởng
nghiêm trọng đến an toàn lương thực của nhân loại bởi tài nguyên nước phục vụ
cho nông nghiệp không phải là vô tận Trong khi đó xét trên quy mô toàn cầu,
nhiệt độ trái đất nóng lên sẽ có khả năng làm mất 1/3 nguồn nước đang sử dụng
của thế giới trong 20 năm tới Riêng nước ta tổng lượng nước tưới cho nông
nghiệp là 41 km3 năm 1985, tăng lên 46,9 km3 năm 1999, và 60 km3 năm 2000
Lượng nước cần dùng cho mùa khô tăng lên 90 km3 năm 2010, chiếm 54% tổng
lượng nước có thể cung cấp Liên Hợp Quốc cũng đã dự báo, khủng hoảng thiếu
nước trên thế giới hiện nay không chỉ do nước quá ít so với nhu cầu mà còn do
quản lý nguồn nước kém hiệu quả Trong khi đó lúa lại là cây trồng cần nhiều
nước, rất mẫn cảm với các điều kiện ngoại cảnh và là cây chịu hạn kém Ở nước
ta nắng nóng gay gắt trên diện rộng đặc biệt là thiếu mưa kèm theo gió lào khô
nóng trong tháng 6, tháng 7 hàng năm khiến cho vụ Hè Thu các tỉnh miền Trung
Trang 10lâm vào tình cảnh khô hạn nghiêm trọng Riêng năm 2010, đến thời điểm 28/6
mà Nghệ an vẫn còn 26000 ha chưa tiến hành gieo cấy được trong đó có 6000 ha
phải bỏ trắng Hạn luôn là mối nguy lớn, đe doạ và gây ra nhiều thiệt hại cho đời
sống và sản xuất nông nghiệp của nông dân.Vì vậy việc nghiên cứu tính chịu hạn
và nâng cao khả năng chịu hạn cho cây lúa cạn là một thực tiễn quan trọng được
nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu góp phần ổn định về kinh tế và canh tác định
cư ở vùng này
Hiện nay các giống lúa nương được canh tác phân tán, tự phát, chưa có
khoanh vùng và định hướng phát triển làm cho nhiều giống lúa nương có các đặc
tính tốt, chất lượng cao bị mất dần, diện tích trồng lúa bị thu hẹp.Vì vậy sưu tập
và đánh giá các giống lúa nương là công việc rất quan trọng, làm cơ sở cho chọn
tạo giống trở thành một vấn đề cấp thiết
Mục tiêu lâu dài trong chọn giống lúa chịu hạn là phải phát triển nguồn vật
liệu cải thiện mức độ chịu hạn trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay Chương
trình chọn tạo giống sẽ bị giới hạn nếu nguồn vật liệu hạn chế về số lượng và
chất lượng Nguồn gen đa dạng là cơ sở rất quan trọng để sử dụng các gen, alen
phong phú trong các phép lai Việc đánh giá đa dạng di truyền có thể được thực
hiện dựa trên các đặc điểm hình thái, nông sinh học, isozyme và chỉ thị phân tử
DNA (Nguyễn Thị Lang và Bùi Chí Bửu, 2013), trong đó đánh giá đa dạng di
truyền dựa vào các tính trạng hình thái, nông sinh học là phương pháp cổ điển
nhưng vẫn được sử dụng rộng rãi vì nó không đòi hỏi trang thiết bị đắt tiền, bố trí
thí nghiệm phức tạp mà vẫn đảm bảo hiệu quả nhất định, giúp các nhà nghiên
cứu có thể phân biệt các giống một cách nhanh chóng trên đồng ruộng Do đó,
nghiên cứu này là những bước đi quan trọng góp phần hiểu biết về các đặc tính
của nguồn vật liệu góp phần định hướng phát triển chọn tạo giống trong tương
lai
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc
điểm hình thái nông sinh học và đa dạng di truyền của các mẫu giống lúa
nương được thu thập tại huyện Tương Dương và Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An.”
2 Mục tiêu, yêu cầu
2.1 Mục tiêu
Trang 11- Đánh giá được các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển, năng suất và các yếu tố
cấu thành năng suất của các mẫu giống lúa nương trong vụ Hè Thu 2015
- Xác định được mối quan hệ di truyền của các mẫu giống lúa nương dựa
trên đặc điểm hình thái và nông sinh học
- Chọn được 1 - 2 mẫu giống có năng suất khá phục vụ cho các vùng canh
tác nhờ nước trời tại các huyện miền Tây, tỉnh Nghệ An
2.2 Yêu cầu
- Đánh giá các đặc điểm nông sinh học chính của 37 mẫu giống lúa nương
trong điều kiện sinh thái thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An trong vụ Mùa 2015
- Đánh giá các đặc điểm hình thái của 37 mẫu giống lúa nương trong trong
vụ mùa 2015
- Đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống lúa
nương thu thập tại huyện Tương Dương và Kỳ Sơn trong vụ Mùa 2015
3 Đối tƣợng, phạm vi và nội dung nghiên cứu của đề tài
3.1 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là 37 mẫu giống lúa nương trong tập đoàn 145 mẫu
giống được Trường Đại học Vinh thu thập tại các huyện miền núi phía Tây Nghệ
An từ năm 2011, bao gồm: 26 mẫu giống ở huyện Kỳ Sơn và 11 giống được thu
tại huyện Tương Dương
Trong đề tài này, chúng tôi tập trung đánh giá khả năng sinh trưởng, phát
triển, năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các mẫu giống lúa nương
trong vụ Hè Thu 2015 Trên cơ sở đó, chúng tôi tiến hành phân tích mối quan hệ
di truyền của các 37 mẫu giống dựa trên đặc điểm hình thái và nông sinh học
3.2 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá một số đặc tính nông sinh học, hình thái, năng suất và các yếu tố
cấu thành năng suất của các giống lúa nương trong vụ Mùa 2015
- Đánh giá mỗi quan hệ di truyền của các mẫu giống lúa nương dựa trên đặc
điểm hình thái và nông sinh học
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiến của đề tài
4.1 Ý nghĩa khoa học
Trang 12Đa dạng di truyền là cơ sở cho việc tuyển chọn lai tạo những giống, loài
mới; đa dạng về loài thường là đối tượng khai thác phục vụ mục đích kinh tế; đa
dạng về hệ sinh thái có chức năng bảo vệ môi trường sống; đồng thời các hệ sinh
thái được duy trì và bảo vệ chính là nhờ sự tồn tại của các quần thể loài sống
trong đó Phần đa dạng sinh học do con người khai thác sử dụng được gọi là đa
dạng sinh học nông nghiệp (Lưu Ngọc Trịnh, 2005)
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần bổ sung thêm các dẫn liệu khoa
học về cây lúa nương cho Việt Nam nói chung và Nghệ An nói riêng Nó sẽ là tài
liệu quan trọng để nghiên cứu khoa học, đặc biệt là các chương trình chọn tạo
giống nhờ nước trời
4.2 Ý nghĩa thực tiễn
Lúa nương rẫy hay lúa cạn là một bộ phận cấu thành trong sản xuất lúa,
được trồng bởi các nông hộ nhỏ, sinh sống ở các vùng nghèo nhất trên thế giới
Tuy năng suất không cao song lúa nương vẫn là loại cây trồng không thể thay thế
ở những vùng cao hay các vùng khó khăn về nước tưới, đồng thời là nguồn cung
cấp lương thực tại chỗ quan trọng của người dân sống ở vùng cao khó khăn về
nước tưới Do có vùng sinh thái rất đặc thù và khác biệt, lúa nương rẫy có biểu
hiện khác nhau về mặt hình thái, sinh trưởng và phát triển, đặc biệt là tính trạng
chống chịu hạn
Kết quả của đề tài còn có ý nghĩa trong việc bảo tồn, khai thác và sử dụng
nguồn gen lúa nương Việt Nam, góp phần đảm bảo an ninh lương thực cho đồng
bào các dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Việt Nam là một trong những nước có tài nguyên di truyền lúa vào loại
phong phú nhất trên thế giới Dựa trên nghiên cứu về tiến hóa và sự đa dạng di
truyền của các loài thuộc chi lúa Oryza, các nhà khoa học đã khẳng định miền
Bắc Việt Nam nằm trong khu vực xuất xứ và đa dạng di truyền tối đa của loài lúa
trồng Châu Á (Oryza sativa) (Chang, 1976) [3]
Cây lúa Việt Nam là cây lúa bản địa, có khả năng thích nghi rộng trong điều
kiện sinh thái của cả nước Hơn nữa, cây lúa còn là cây lương thực chính của
người Việt Nam và mang đậm bản sắc văn hóa đặc thù dân tộc Trải qua quá
trình thuần hóa, cây lúa đã có nhiều biến đổi về đặc điểm sinh lý, hình thái và
chất lượng phù hợp với sở thích và phong tục tập quán sử dụng lúa gạo của người
trồng lúa theo các cộng đồng dân tộc khác nhau
Những điều tra đánh giá sơ bộ về tập đoàn lúa địa phương của các dân tộc ở
nước ta cho thấy đây là những nguồn gen quý, phong phú về các tính trạng chất
lượng, chống chịu sâu bệnh, cũng như các điều kiện bất thuận như chịu hạn, chịu
úng, chịu mặn… (Nguyễn Thị Quỳnh, 2004) [20] Công tác nghiên cứu đa dạng
di truyền những nguồn gen này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc lưu giữ, bảo
tồn nguồn gen lúa và phục vụ công tác chọn tạo giống của thế kỷ 20 Cách mạng
xanh được thực hiện trên thế giới từ giữa những năm 1960 - 1970
1.3 Tình hình nghiên cứu lúa nương ở trong nước và thế giới
1.3.1 Tình hình nghiên cứu nước ngoài
Trong vòng 30 năm trở lại đây, công tác thu thập, nghiên cứu, chọn tạo các
giống lúa cạn, lúa chịu hạn hay lúa nương rẫy đang là một mục tiêu quan trọng ở
nhiều viện, trung tâm nghiên cứu quốc tế cũng như trong các chương trình chọn
tạo giống quốc gia
Năm 1970, Viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) thành lập ngành lúa cạn do
tiến sĩ Chang đứng đầu
Trang 14Nhiều công trình nghiên cứu về khả năng đẻ nhánh của lúa nương đã đi đến
kết luận: Các giống lúa nương có khả năng đẻ nhánh ít hơn các giống lúa nước,
theo Chang (1972) [4] các giống lúa nương địa phương đẻ nhánh kém làm giới
hạn tiềm năng năng suất cuả chúng Hầu hết các giống lúa nương nhiệt đới có bộ
lá màu xanh nhạt, lá 45dài và rủ xuống Một số rất ít giống địa phương có lá màu
xanh đậm và dựng đứng Các giống lúa nương có số lá và tỉ lệ sinh trưởng thấp
hơn so với lúa nước
Khi nghiên cứu về bộ lá của các giống lúa nương vùng nhiệt đới Alluri
(1973) [1] cho nhận xét: Những giống lúa nương vùng nhiệt đới có phiến lá dày
hơn Nghiên cứu sự thay đổi về độ dài, độ rộng và tổng số diện tích lá của các
giống lúa địa phương ở hai điều kiện cấy và gieo hạt khô Alluri và Chang đều
nhận xét giống nhau: Các dạng lúa nương địa phương ít bị thay đổi kích thước
của lá, điều này có liên quan đến khả năng chịu hạn ở mức độ cao của chúng
Jana và De Data (1971) [9], Chang (1974) [5] cho biết: Hầu hết các giống
lúa địa phương có bông dài, cổ bông dài tạo cho chúng thích nghi với việc thu
hoạch và tăng cường tính chống gẫy bông Ở những giống lúa địa phương bông
thường có hạt xếp dày và rõ nét, khối lượng hạt cao Một đặc điểm đặc trưng cho
lúa nương địa phương là khả năng sản sinh ra những bông hoàn toàn tốt phù hợp
cho việc làm đẫy căng hạt, thậm chí cả sau khi bị hạn nhẹ
Theo nghiên cứu của Chang ctv., (1972) [4] thì lúa được canh tác ở khu vực
có độ ẩm đất thấp đã hình thành các dạng lúa nương có TGST ngắn, khả năng đẻ
nhánh thấp, thân to và dày, bộ lá và thân bị già cỗi nhanh chóng ở thời kỳ lúa
chín Vì vậy chúng thường bị đổ vào giai đoạn chín, rễ phát triển ăn sâu trong
lòng đất và thường có khả năng chịu hạn cao, phản ứng với mức nghèo Nitơ của
đất Lúa nương đã trở nên khác biệt với dạng hình lúa nước tổ tiên và thường
sống tốt hơn trong điều kiện đất thoáng khí Trong quá trình tiến hóa có thể việc
chọn lọc tự nhiên trong điều kiện ngập nước và khô hạn đã hình thành nhóm
giống lúa nước sâu và lúa nương chịu hạn, còn các giống lúa được trồng trong
điều kiện nước ổn định đã tao ra các loại hình lúa ruộng Theo tác giả, khoảng
75% các giống lúa trồng thuộc nhóm lúa nương thường được gieo trồng theo
phương thức chọc lỗ tra hạt hoặc gieo vãi
Trang 15Nghiên cứu gieo hạt lúa nương và lúa nước bằng hạt khô đã nhận xét: Các
giống lúa nương nhiệt đới mọc và sinh trưởng khỏe hơn các giống lúa nước, việc
này giúp cho chúng có khả năng cạnh tranh tốt hơn với cỏ dại.[4]
Theo công bố của Chang (1972) và nghiên cứu của Kobata cùng cộng sự
(1996) cho biết: Nhóm các giống lúa nương có tỷ lệ rễ/thân lá cao hơn các giống
lúa nước đáng tin cậy ở cả hai điều kiện đủ nước và hạn Sự sản xuất chất khô
cao hơn ở các giống lúa chịu hạn và thấp hơn các giống lúa mẫn cảm với hạn
trong điều kiện thiếu nước Tỷ lệ gạo/vỏ trấu đều bị giảm đi khi bị hạn đối với tất
cả các giống lúa nương và lúa nước, song lúa nương có tỉ lệ này cao hơn lúa
nước
Năm 1973, IRRI bắt đầu đưa ra “Chương trình đánh giá và ứng dụng di
truyền (GEU)” Một trong những mục tiêu chính của chương trình này là thu thập
nguồn gen, nghiên cứu vật liệu và chọn tạo giống lúa chống chịu hạn Đây là một
chương trình lớn, có sự đóng góp của rất nhiều chương trình nghiên cứu lúa ở các
nước sản xuất lúa gạo, đặc biệt là các nước ở Châu Á Châu Phi và Mỹ Latin
cũng thành lập những trung tâm quốc tế nghiên cứu về lúa cạn, lúa chịu hạn như
IRAT, IITA, WARDA và CIAT
Do yêu cầu về an toàn lương thực, vào năm 1983, UREDCO, là tên gọi của
ban điều hành của các trung tâm nghiên cứu lúa cạn, được thành lập Từ đây, các
chương trình thu thập và nghiên cứu lúa cạn/lúa chịu hạn ở các nước được mở
rộng Một loạt các kết quả nghiên cứu về lúa cạn thu được như sau:
Nghiên cứu thời gian sinh trưởng của 284 giống lúa cạn chịu hạn ở IRRI
thấy có sự biến động từ 80 đến hơn 170 ngày trong mùa mưa Ví dụ, giống lúa
cạn Rikuto Norin 21 có thời gian sinh trưởng 95 ngày còn C22 là 125 ngày Với
những giống không phản ứng ánh sáng, thời gian sinh trưởng biến động từ 90
đến 145 ngày trong mùa khô Theo Chang T.T và Benito S.V (1975), lúa cạn
thường trỗ muộn từ 1-15 ngày trong điều kiện ruộng cạn
Theo Chang và Benito (1975) phần lớn các giống lúa cạn có kiểu bông to,
dài và khoe bông, có khả năng chống chịu với tác nhân gây hại Theo các tác giả,
đây là đặc tính mong muốn của bất kì giống lúa trồng cạn nào Nhìn chung, hạt
Trang 16lúa cạn thường tròn và to nên khối lượng 1000 hạt cao Mặc dù vậy vẫn có loại
hạt thon dài
Theo Jana và De Datta (1971); Chang (1974)[9]: một đặc điểm rất dễ nhận
biết ở lúa cạn là khả năng tập trung để tạo ra các bông hữu hiệu với các hạt hoàn
hoàn đầy chắc Chính điều này góp phần làm cho năng suất các giống lúa cạn
chịu hạn ổn định, cho dù không cao
Về tiềm năng năng suất và tính ổn định của các giống lúa cạn, những
nghiên cứu của Jana và De Datta (1971); IRRI (1971,1972,1973) đều cho thấy:
khi xảy ra hạn nghiêm trọng, năng suất của tất cả các giống lúa đều thấp cho dù
có đầy đủ dinh dưỡng kết hợp với trừ cỏ hiệu quả Vì vậy, năng suất hạt thuần
chỉ phản ánh mức độ tránh hạn hơn là tính chịu hạn, đặc biệt nếu lúa được thu
hoạch trước khi thời kì hạn kết thúc (Levitt 1972) Nhưng nếu hạn kết thúc trước
khi thu hoạch thì năng suất hạt lại phụ thuộc nhiều hơn vào khả năng phục hồi
của giống lúa
Kết quả thí nghiệm của IRRI (1971); Jana và De Datta (1971); Abifarin
(1972); Chang (1972); De Datta và Beachell (1972); Kawano (1972), đều cho
rằng: khả năng đẻ nhánh thấp của phần lớn các giống lúa cạn là trở ngại chính
cho năng suất Ngoài ra, Ono (1971) nhận thấy năng suất của các giống lúa cạn
Nhật Bản thấp là do kiểu cây cao và dễ đổ của chúng Một nguyên nhân khác
phải kể đến đó là tính mẫn cảm cao với bệnh bạc lá, khô vằn, và bệnh virus, mặc
dù chúng có khả năng chống bệnh đạo ôn Nhưng bù lại, năng suất lúa cạn vẫn
tương đối ổn định do chúng có khả năng tạo ra các bông hữu hiệu, to và hạt chắc
ngay trong điều kiện hạn
Từ kết quả nghiên cứu tập đoàn 4000 giống lúa cạn địa phương, các nhà
khoa học IRRI tổng kết: các giống lúa cạn địa phương thường cao cây; bộ rễ ăn
sâu và phân nhánh dày đặc; khả năng đẻ nhánh kém và không tập trung; bộ lá
màu xanh nhạt, lá dài, rộng bản và rủ xuống, chỉ số diện tích lá không cao; bông
to và dài; hầu như không phản ứng với ánh sáng Thời gian sinh trưởng từ 95-140
ngày Hạt to, tròn, hàm lượng tinh bột từ thấp đến cao trung bình (18-25%); nhiệt
độ hoá hồ trung bình Tỷ lệ lép thấp Chống chịu giỏi với hạn, bệnh đạo ôn; mẫn
Trang 17cảm với rầy và bệnh virus Chống chịu với điều kiện đất thiếu lân, thừa nhôm và
mangan Chịu phân kém đặc biệt là phân đạm Năng suất rất thấp nhưng ổn định
Từ những nghiên cứu của các nhà khoa học, các chuyên gia nghiên cứu về
lúa ở IRRI (1975) [10] đã đi đến kết luận: Những giống lúa cạn địa phương ít bị
làm biến đổi các đặc tính hình thái nông học như các giống lúa nước Bởi vì
những giống địa phương này phải trải qua nhiều thế kỷ của sự chọn lọc dưới điều
kiện trồng khô, làm cho chúng cản trợ sự tái tổ hợp gen khi lai với những giống
lúa nước từ những vùng không giống nhau về địa hình
Nghiên cứu về di truyền các tính trạng số lượng của cây lúa, Chang và
Somrith (1974) , cho thấy khối lượng hạt, chiều dài hạt do đa gen điều khiển, khối
lượng hạt là tính trạng có tương quan chặt chẽ với thể tích hạt, chiều dài hạt, chiều
rộng hạt
Độ bạc bụng có tần suất liên kết với tính trạng hạt tròn lớn hơn tính trạng
hạt thon dài Khi so sánh lượng tinh bột ở phần bị bạc và phần trắng trong, người
ta thấy lượng tinh bột ở phần bị bạc ít hơn ở phần trắng trong mờ, vì vậy phần
bạc thường không cứng như phần trắng trong và các hạt bị bạc thường dễ bị rạn
vỡ tại điểm trắng bạc trong quá trình xay xát
Năm 1958, viện nghiên cứu quốc gia Ibazan của Nigieria đã chọn tạo được
giống Agbele từ tổ hợp lai 15/56 FAR03, có khả năng chống chịu hạn khá và cho
năng suất cao, trích dẫn qua (Trần Nguyên Tháp, 2001, 2002)
Những năm 50-60, tại Philippines tiến hành công tác thu thập, so sánh và
lai tạo các giống lúa cạn địa phương Tới năm 1970, các giống lúa như C22,
UPLRi3, UPLRi5 được tạo ra với chiều cao cây vừa phải, đẻ nhánh trung bình,
nhưng năng suất khá cao và chất lượng gạo tốt Tiếp theo là giống UPLRi6 có
tiềm năng năng suất khá, thấp cây, khả năng phục hồi tốt (Trần Nguyên Tháp,
2001) Tại In-đô-nê-xia, công tác lai tạo, tuyển chọn phối hợp với nhập nội cũng
được tiến hành và đưa ra 2 giống là Gata, Gatifu phục vụ sản xuất đạt hiệu quả
Đầu những năm 50, Thái Lan tiến hành chương trình thu thập và làm thuần
các giống địa phương, đã chọn lọc và phổ biến ở miền Nam được hai giống lúa tẻ
là Muang huang và Dowk payon, có tiềm năng năng suất 20 tạ/ha; một giống lúa
nếp là Sew maejan phổ biến ở miền Bắc với năng suất 28 tạ/ha
Trang 18Năm 1966, Trạm nghiên cứu lúa Yagambi thuộc Viện quốc gia phát triển
Công-gô (nay là INEAL, Zaire) giới thiệu giống R66 và OS6, cho năng suất cao
và chống chịu hạn khá hơn Agbele (Jacquot, 1977) Giống OS6 được trồng rộng
rãi ở Tây Phi, trích dẫn qua Trần Nguyên Tháp (2001)
Trong suốt mùa khô năm 1974, hơn 2000 giống và các dòng lúa tuyển chọn
từ châu Á; châu Phi và Mỹ Latin được bố trí làm thí nghiệm trên đồng ruộng của
IRRI về khả năng chống chịu hạn Một tỉ lệ lớn nhất các giống lúa chịu hạn đã
được tìm thấy trong số các giống lúa cạn địa phương nhập từ châu Phi, tiếp theo
là từ Nam Mỹ và các giống lúa trồng trên đồi dốc ở Lào Một vài giống lúa chín
sớm, chống chịu hạn tốt, có độ mẩy cao đã được đưa vào sản xuất là N22;
Seratus Malam; Cartuna; Padi Tatakin; Rikuto Norin 21…Ngoài ra, con lai OS4
của phép lai giữa lúa cạn châu Phi với lúa nước có khả năng chống hạn như bố
mẹ chúng (như các giống lúa cạn châu Phi) (IRRI, 1982).[6]
Năm 1980, Trung tâm Nông nghiệp Ibaraki, Nhật Bản đã chọn tạo được
giống lúa nếp cạn Sakitamochi, có khả năng chống đổ, chống chịu sâu bệnh,
năng suất cao và chất lượng tốt Năm 1991, chọn được giống Kantomochi 168
chất lượng nấu ăn nổi tiếng và chịu hạn tốt Năm 1992, chọn được giống
Kantomochi 172 cho năng suất rất cao [14]
Để phát triển diện tích trồng lúa cạn ở Brazin, Viện nông nghiệp Campinas
(IAC) đã tạo ra một loạt các ngày so với hai giống trước và thoát được thời kì
hạn ở địa phương được biết tới với tên gọi là veranico (IRRI, 1980, 1986)
IRRI là trung tâm nghiên cứu lúa rất lớn, có sự hợp tác với nhiều trung tâm
khác như IRAT; IITA; WARDA và CIAT để nghiên cứu về lúa cạn và lúa chịu
hạn Trong thời gian từ 1972-1980, IRRI đã tiến hành 3839 cặp lai để chọn
giống Trong năm 1982, có trên 4000 dòng, giống được IRRI gửi tới thí nghiệm
tại các nước cho việc đánh giá chọn lọc phù hợp cho mỗi vùng sinh thái hạn;
(Lưu Ngọc Trình và Đào Thế Tuấn, 1996),[13],[14]
Thông qua chương trình thử nghiệm quốc tế có tên là INGER, các đợt thử
nghiệm được tiến hành hàng năm có tên: IRLYN-M; IURYN-E; IURYN-M;
IURON; IRDTN diễn ra ở nhiều vị trí thuộc các nước như: Ấn Độ; Mianma;
Nepal; Nigieria; Philippines; Thái Lan; Brazil; Bờ Biển Ngà, Việt Nam…và ngay
Trang 19tại IRRI Đặc biệt mở rộng với quy mô lớn từ năm 1990 (Trần Nguyên Tháp,
2001)
1.3.2 Tình hình nghiên cứu lúa nương ở Việt Nam
Ở nước ta, lúa cạn đã tồn tại từ lâu đời cung cấp một lượng lớn lương thực
cho nhân dân vùng cao Đây là nguồn gen quí trong lai tạo và chọn giống lúa do
lúa cạn có những đặc tính nông học khác biệt, khác với những cây trồng khác
giúp lúa cạn được phân bố rộng hơn
Việc duy trì và bảo tồn nguồn gen giống lúa cạn là việc làm cần thiết và cấp
bách, tầm quan trọng của việc bảo tồn tài nguyên di truyền nói chung và bảo tồn
nguồn gen di truyền các cây trồng địa phương nói riêng, góp phần quan trọng
duy trì sự đa dạng sinh học Để thu thập và duy trì nguồn gen lúa cạn, cần đánh
giá đặc điểm nông học, phân loại các giống này theo hệ thống tiêu chuẩn đánh
giá cây lúa và sử dụng phương pháp phân loại phụ
Theo tổng hợp của Trung tâm tài nguyên thực vật Việt nam thì từ thời Pháp
thuộc, người Pháp đã tiến hành thu thập các giống lúa trồng, hình thành tập đoàn
quỹ gen lúa để từ đó bình tuyển các giống ưu tú mở rộng sản xuất nhằm đẩy
mạnh sản xuất gạo tại Việt Nam
Năm 1956, việc thu thập và bảo tồn giống cây trồng, trong đó có lúa được
Học viện Nông Lâm thực hiện tại các tỉnh phía Bắc Từ năm 1987, sau khi Ủy
ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước, nay là Bộ Khoa học và Công nghệ, ban
hành Quy chế lâm thời về bảo tồn nguồn gen, bảo tồn quỹ gen cây trồng đã trở
thành nhiệm vụ khoa học thường xuyên cấp nhà nước
Năm 1989, Tổ Quỹ gen cây trồng thuộc Viện Khoa học kỹ thuật nông
nghiệp Việt Nam được thành lập và cơ sở của Ngân hàng gen cây trồng Quốc gia
dần được hình thành, ban đầu lưu giữ 1.300 giống lúa
Hiện nay, Ngân hàng gen thực vật quốc gia tại Trung tâm Tài nguyên thực
vật lưu giữ trên 18.000 mẫu giống cây trồng khác nhau, trong đó lúa có khoảng
7.000 mẫu giống
Từ năm 1978, Viện cây lương thực và cây thực phẩm đã tiến hành chương
trình chọn tạo giống lúa chịu hạn, thời gian sinh trưởng ngắn, chống chịu sâu
bệnh, đạt năng suất cao hơn các giống lúa chịu hạn, lúa cạn địa phương đang
Trang 20trồng Trong giai đoạn từ 1986-1990, có 3 giống thuộc dòng CH đã được công
nhận giống nhà nước là CH2, CH3, CH133 và hàng loạt các dòng, giống lúa chịu
hạn có triển vọng (Vũ Tuyên Hoàng và cs, 1992, 1995, 2000)
Từ năm 1986, Viện cây lương thực và cây thực phẩm đã phối hợp với
trường Trung cấp nông nghiệp Việt Yên, Hà Bắc tiến hành một loạt thí nghiệm
so sánh giống và nghiên cứu các đặc tính nông sinh học của các giống CH, đặc
biệt là các đặc tính liên quan đến khả năng chịu hạn Tiếp theo, xây dựng thành
công quy trình kỹ thuật thâm canh các giống lúa cạn, áp dụng cho những vùng
trồng lúa cạn và trồng các giống chịu hạn trên chân đất không chủ động nước
Kết quả các thí nghiệm về so sánh năng suất chỉ ra rằng, năng suất của các giống
CH đều cao hơn các giống lúa cạn C22, CK136, lúa thơm địa phương Hà Bắc từ
5-9 tạ/ha, trung bình tăng 20% Ngoài ra, chúng có khả năng chịu hạn và phục
hồi sau hạn tốt Trong điều kiện vùng hạn cho năng suất 35-45 tạ/ha, có thể đạt
50-60 tạ/ha trong điều kiện được tưới 60-70% lượng nước của lúa nước Như
vậy, chúng thuộc loại hình tiết kiệm nước (Vũ Tuyên Hoàng, 1992) [7]
Vào năm 1991, Nguyễn Hữu Nghĩa và cộng sự đã tuyển chọn được giống
Hơ3 từ tập đoàn quan sát lúa cạn của Viện lúa Quốc tế, là dòng BR 4290-3-35
được chọn từ tổ hợp lai C22/IR9752-136-2 Đây là một giống chịu hạn ngắn ngày
(63-70 ngày), gieo được ở nhiều vụ, thích hợp trên đất nghèo dinh dưỡng, hoàn
toàn nhờ nước trời, năng suất khoảng 34 tạ/ha, trích dẫn qua Vũ Tuyên Hoàng và
cs., (1995).[5]
Năm 1992, Nguyễn Thị Lẫm tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của đạm đến
sinh trưởng phát triển và năng suất cuả một số giống lúa cạn Theo tác giả, hệ
thống rễ lúa cạn phát triển mạnh nhất từ đẻ nhánh đến giai đoạn làm đòng và trỗ
bông Đạm có ảnh hưởng đến sự phát triển bộ rễ lúa gieo trồng cạn Khi lượng
đạm tăng, độ dày vỏ và số bó mạch của rễ tăng, tạo điều kiện tốt cho quá trình vận
chuyển và tích luỹ Khi bón 60kgN/ha đối với lúa cạn địa phương, năng suất cao
và hiệu suất sử dụng lớn (13-14kg thóc/kg N) Nhưng nếu vượt quá ngưỡng đạm
thích hợp, các chỉ tiêu trên không tăng Mặt khác, tác giả cho rằng nên hạn chế bón
đạm khi gặp hạn.[10]
Trang 21Theo giáo sư Nguyễn Hữu Nghĩa, trích dẫn qua Vũ Tuyên Hoàng và cs.,
(1995) đến năm 1994, Việt Nam đã nhận được 270 bộ giống thử nghiệm của
INGER có nguồn gốc từ 41 nước và 5 trung tâm nghiên cứu lúa quốc tế Từ 1975
đến 1994, Việt Nam đã xác định và đưa vào sản xuất 42 giống lúa và nhiều dòng
triển vọng, đặc biệt là có một nguồn gen phong phú cho chương trình lai tạo
Giống lúa cạn C22 có nguồn gốc từ Philippine đã được chọn ra từ nguồn INGER
và phổ biến trong sản xuất ở Việt Nam năm 1985
Năm 1993, cũng từ bộ giống của INGER, Viện Khoa học Nông nghiệp
miền Nam đã chọn được các giống đặt tên là LC, có khả năng cho năng suất gấp
2 lần giống lúa địa phương và chịu hạn tốt như: LC88-66; LC88-67-1; LC90-14;
LC90-12; LC90-4; LC90-5…Đây là những giống lúa đang được phát triển mạnh
ở cao nguyên, miền Đông Nam bộ và một số tỉnh miền núi và trung du Bắc bộ,
trích dẫn qua Nguyễn Đức Thạch (2000).[16]
Nghiên cứu về ảnh hưởng của đạm đến khả năng sinh trưởng, phát triển và
năng suất của một số giống lúa nương, Nguyễn Thị Lẫm (1994) [10] cho nhận xét:
Đạm có ảnh hưởng lớn đến năng suất của các giống lúa nương và chúng thường
gieo trồng trong điều kiện khó khăn và đất nghèo dinh dưỡng Cách bón đạm thích
hợp sẽ có tác dụng tốt với một số chỉ tiêu quan trọng: có bộ rễ phát triển mạnh về
số lượng cũng như chiều dài và độ ăn sâu, tăng diện tích lá, giữ cho bộ lá xanh lâu,
tích lũy nhiều chất khô, nhất là tăng số dảnh hữu hiệu/khóm và số bông/m2.Cũng
theo tác giả thì tốc độ hút đạm và nước của lúa gieo trồng cạn tăng nhanh từ đẻ
nhánh đến làm đòng Bón đạm càng nhiều thì khả năng hút nước càng lớn, đây là
một trong những hạn chế khi bón nhiều đạm lại gặp hạn Lúa nương có đường
kính của vỏ rễ lớn hơn 1,5 – 2 lần so với lúa nước, điều này giải thích tại sao lúa
nương lại phát triển tốt trong điều kiện có nước và ngược lại lúa nước không thể
phát triển trong điều kiện cạn
Nghiên cứu của Nguyễn Duy Bảo và ctv., về ảnh hưởng của hai điều kiện
môi trường đến sinh trưởng của lúa nước và lúa nương, qua nghiên cứu 35 giống
lúa nương và 35 giống lúa nước gieo trồng trong 2 điều kiện nước và hạn đó
nhận xét: Khi thay đổi điều kiện từ ruộng nước sang ruộng cạn hoặc ngược lại thì
các giống lúa nương không biến đổi nhiều về chiều cao cây và thời gian sinh
Trang 22trưởng Cùng trong điều kiện đó thì các giống lúa nước biến động rất lớn về thời
gian sinh trưởng và chiều cao cây Đó là điều kiện khác nhau giữa lúa nương và
lúa nước
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Quỳnh, (1998) [19] về sự đa
dạng về di truyền của tài nguyên lúa vùng Tây Bắc cho thấy: Các giống lúa
nương có độ biến động về chiều dài, chiều rộng và khối lượng 1000 hạt lớn, biểu
hiện sự đa dạng di truyền cao hơn lúa ruộng Trong lúa nương tỷ lệ Japonica
chiếm phần lớn, trong lúa ruộng tỷ lên Indica và Japonica gần ngang nhau Cấu
trúc di truyền quần thể phức tạp phản ánh tính đa dạng cao của lúa vùng Tây Bắc
Sự đa dạng di truyền tài nguyên lúa vùng Tây Bắc do sự đa dạng về địa lý sinh
thái, sự đa dạng về văn hóa dân tộc và tập quán canh tác tạo nên
Trần Văn Thủy (1998) [23] tiến hành thu thập các giống lúa nương vùng
Tây Nguyên đã sưu tầm được 231 giống lúa tẻ và 76 giống nếp nương Trong các
giống lúa nếp nương có nhiều giống rất thơm có dạng bông to, khối lượng 1000
hạt lớn, thường trên 25g, trong đó những giống lúa có khối lượng trên 30g chiếm
17% Đây là nguồn gen có giá trị trong việc chọn tạo các giống lúa năng suất,
chất lượng và khả năng chịu hạn.Cũng theo tác giả, lúa nương khác lúa ruộng về
một số đặc điểm sinh lý, sinh thái và nông học Lúa nương thường có thời gian
sinh trưởng ngắn, khả năng đẻ nhánh ít, hệ thống rễ phát triển và thường sống tốt
hơn trong điều kiện đất thoáng khí Song sự khác nhau giữa lúa nương và lúa
ruộng là khả năng chịu hạn
Nguyễn thị Lang và ctv., (1999) đã sử dụng STS market để tìm gen kháng
rầy nâu Bph – 10 của tập đoàn lúa địa phương trong ngân hàng gen của Viện lúa
Đồng Bằng sông Cửu Long Kết quả nghiên cứu đã phát hiện trong tập đoàn có
nhiều giống có khả năng kháng sâu bệnh và chịu mặn Tác giả còn cho biết, phần
lớn các giống lúa mùa đều bạc bụng và có hàm lượng amylose sao, nhất là nhóm
lúa nổi
Các nghiên cứu của Nguyễn Duy Bảo, Nguyễn Hữu Nghĩa và Tạ Minh Sơn,
trích dẫn qua Trần Nguyên Tháp (2001) khi đánh giá khả năng chịu nóng; nghiên
cứu hệ thống rễ và xác lập mối tương quan giữa khả năng chống hạn với sinh
Trang 23trưởng thân lá và bộ rễ của 20 giống lúa thuộc 3 nhóm chịu hạn giỏi, khá và kém
đã nhận xét:
+ Có thể sử dụng phương pháp định ôn ở nhiệt độ 380C trong thời gian 3
giờ cho phép đánh giá khả năng chịu nóng của các giống lúa cạn
+ Có 3 giống có khả năng chịu nóng tốt và chịu hạn khá được xác định là
X11; MW-10; OS6
+ Giữa lúa cạn cổ truyền và lúa cạn cải tiến ở giai đoạn 20 ngày không có
sai khác về chiều cao cây và chiều dài rễ; ở giai đoạn 60 ngày thì sự khác biệt
có ý nghĩa
+ Giữa lúa cạn và lúa nước ở giai đoạn 20 ngày không có sai khác về
chiều cao cây nhưng có sai khác ý nghĩa về chiều dài rễ nên có thể coi đây là
chỉ tiêu chọn giống
+ Chiều cao cây có tương quan nghịch với khả năng mẫn cảm hạn Chiều
cao cây càng thấp thì nhiễm hạn tăng và ngược lại
Các tác giả trên cũng nghiên cứu ảnh hưởng của 2 điều kiện môi trường (đủ
nước và hạn) đến sinh trưởng của lúa nước và lúa cạn trong một thí nghiệm với
35 giống lúa cạn và 35 giống lúa nước Kết quả là, khi thay đổi điều kiện từ
ruộng nước sang ruộng cạn và ngược lại, các giống lúa cạn không biến động
nhiều về chiều cao cây và thời gian sinh trưởng nhưng các giống lúa nước biến
động rất lớn Thời gian sinh trưởng khi gieo khô của lúa cạn ngắn hơn gieo nước
2-6 ngày; của lúa nước dài hơn gieo nước 4-20 ngày Chiều cao cây (gieo khô)
của lúa nước thấp hơn gieo nước 30 cm nhưng lúa cạn ít biến động
Trần Nguyên Tháp (2001) đã tiến hành nghiên cứu những đặc trưng cơ bản
của các giống lúa chịu hạn nhằm xây dựng chỉ tiêu chọn giống Qua kết quả thu
được, tác giả đã đề xuất một mô hình chọn giống lúa chịu hạn Và với thí nghiệm
đánh giá khả năng chống chịu hạn nhân tạo của cây lúa ở trong phòng, tác giả đề
nghị nên chọn nồng độ muối KClO3 3% hoặc nồng độ đường saccarin 0,8-1% để
xử lý hạt
Nguyễn Văn Doãng (2002)[1] tiến hành nghiên cứu ứng dụng phương pháp
xác định áp suất thẩm thấu của hạt phấn bằng dung dịch Polyethylen glycol
(PEG) trong chọn tạo giống lúa mì chịu hạn Theo tác giả, phương pháp này giúp
Trang 24phân biệt các giống có áp suất thẩm thấu cao và thấp Mà những giống lúa mì
chịu hạn có áp suất thẩm thấu cao và ngược lại Mặt khác, phương pháp kiểm tra
này rất dễ thực hiện, không đòi hỏi nhiều trang thiết bị máy móc đắt tiền và cho
kết quả tốt Vì vậy, đề nghị thử nghiệm phương pháp ngâm hạt phấn trong dung
dịch PEG để đánh giá khả năng chịu hạn với lúa
Nguyễn Thu Hà và cs., (2003) đã tiến hành thu thập, đánh giá đa dạng sinh
học nguồn gen lúa cạn ở miền núi phía Bắc Việt Nam Kết quả cho thấy, nhóm
nghiên cứu đã thu thập được 47 giống lúa cạn, trong đó có 26 giống lúa nếp, 21
giống lúa tẻ, 36 giống thuôc loại phục Indica và 11 giống thuộc loài phụ
Japonica Các giống lúa cạn biểu hiện tính đa dạng về kích thước, khối lượng
1000 hạt, màu sắc vỏ trấu, râu đầu hạt, màu vỏ cám, độ bạc bụng và hương thơm
Có 15/47 giống lúa cạn chứa hàm lượng protein từ 10,12 – 11,62% 17 giống có
hàm lượng lipit 1,79 -3,07%
Nguyễn Tấn Hinh và Trương Văn Kính (2004) đã tiến hành thu thập, nhập
nội và đánh giá 1.656 dòng, giống lúa chống chịu khô hạn tại Viện cây lương thực
và cây thực phẩm, trong đó có 258 giống lúa địa phương, chủ yếu là giống lúa cạn
và chịu hạn (200 giống) và 1.398 dòng giống lúa cải tiến nhập từ IRRI (trong đó có
267 mẫu giống lúa có khả năng chịu hạn) Trong thời gian từ 1993 đến 2002,
nhóm nghiên cứu đã chọn được 4 giống lúa chịu hạn là giống CH2, CH3, CH133
và CH5 Bên cạnh đó còn tạo ra được 4 giống lúa triển vọng là CH7, CH185,
CH207 và CH208
Chu Hoàng Mậu và Nguyễn Thị Vân Anh (2005) đã tiến hành khảo sát chất
lượng và khả năng chịu hạn của 18 giống lúa cạn địa phương ở vùng núi phía
Bắc Kết quả nghiên cứu cho thấy: Trên phương diện hóa sinh, các giống lúa cạn
có hàm lượng protein dao động từ 4,24 đến 11,61%, hàm lượng lipit là 2,56 –
4,75% Giống lúa BK10 có hàm lượng protein cao nhất là 11,61% Các giống lúa
cạn có sự phản ứng khác nhau đối với hạn, biểu hiện ở tỷ lệ thiệt hại do hạn gây
ra và chỉ số chịu hạn tương đối ở giai đoạn cây non Giống Khẩu Chất (CB17) có
chỉ số chịu hạn tương đối cao nhất 18940,70, còn giống Khẩu Phết (BK15) có chỉ
số chịu hạn thấp nhất 3227,30 Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng
khả năng chịu hạn của các giống lúa cạn có liên quan đến hàm lượng protein và
Trang 25hàm lượng proline Khi gặp hạn cây lúa cạn sẽ giảm khả năng tổng hợp protein
và tăng hàm lượng proline
Nguyễn Đức Hạnh (2011) đã tiến hành thu thập và đánh giá một số nguồn
gen lúa cạn tại một số huyện miền núi phía Bắc Việt Nam Nhiệm vụ này đã thu
thập được 284 mẫu giống lúa cạn tại 63 xã thuộc 32 huyện của 12 tỉnh miền núi
phía Bắc Các mẫu giống lúa cạn thu được nhiều ở tỉnh Hà Giang 69 mẫu, Bắc
Kạn 57 mẫu, Cao Bằng 54 mẫu… Trên cơ sở tên gọi, đặc điểm hình thái của các
giống, một số mẫu giống thu trung lặp đã được loại bỏ còn 223 giống Trong
tổng số giống thu được giống lúa nếp có tỷ lệ cao hơn chiếm 59,5%, giống lúa tẻ
chiếm 40,5% Tại các tỉnh giống lúa nếp chiếm tỷ lệ cao hơn lúa tẻ Số lương loại
phụ Japonica chiếm tỷ lệ lớn 70,9%, loài phụ Indica chiếm tỷ lệ 29,1% Trong đó
đối với loài Japonica nhóm lúa nếp có số lượng và tỷ lệ cao hơn lúa tẻ và ngược
lại Về chất lượng gạo có 56,1% không bạc bụng, ở điểm 1 bạc bụng ít, chỉ chiếm
34,7% Trong khi đó giống có độ bạc bụng nhiều chỉ chiếm 1% và số lượng
giống có bộ bạc bụng trung bình chiếm 8,2% Các nhóm giống lúa có độ phân
hủy kiềm trung bình là nhiều nhất, chiếm 82,1%, nhóm có độ phân hủy kiềm
thấp không có, nhóm có độ phân hủy kiềm cao là 17,9%
Cũng trong năm 2011, Nguyễn Văn Khoa và Nguyễn Thị Kim Thanh đã
tiến hành đánh giá khả năng chịu hạn của 19 mẫu giống lúa nương thu thập tại
các vùng trồng lúa cạn ở các tỉnh vùng Tây Bắc Việt Nam Kết quả nghiên cứu
cho thấy, các giống lúa nương khi gặp hạn đều có cường độ quang hợp và hiệu
suất sử dụng nước cao hơn hoặc ngang bằng so với giống đối chứng (CH5) Ở
giai đoạn trỗ bông, khả năng giữ nước (RWL) của lá ở tất cả các giống lúa nương
sau 24 giờ dao động từ 9,6% đến 28,4% Tỷ trọng diện tích lá (SLA) của các mẫu
giống đạt từ 190,9 cm2/g đến 259,9 cm2/gam Có 4 giống có RWL cao hơn đối
chứng, hầu hết các mẫu giống lúa nương đều có SLA thấp hơn giống đối chứng ở
mức ý nghĩa Hạn ở giai đoạn đẻ nhánh và giai đoạn trỗ đã ảnh hưởng nghiêm
trọng đến năng suất ở tất cả các mẫu giống lúa nghiên cứu, trong đó hạn vào giai
đoạn trỗ đã làm giảm nhiều nhất đến năng suất hạt (giảm từ 29,5 đến 54,1%),
giống đối chứng có mức độ giảm năng suất nhiều nhất
Trang 26Tiếp theo kết quả thu thập và đánh giá nguồn gen Nguyễn Đức Thạch
(2012) đã tiến hành đánh giá tập đoàn giống lúa cạn gồm 223 giống thu thập từ
một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam trong vụ mùa 2009, 2010 Kết quả theo
dõi tập đoàn có sự biến động rất lớn về các yếu tố cấu thành năng suất và năng
suất Số hạt chắc/bông dao động từ 29 hạt đến trên 150 hạt Tập trung nhiều nhất
là nhóm giống có số hạt từ 50 đến 100 hạt chiếm tỷ lệ cao 65%, nhóm có số hạt
chắc dưới 50 hạt và trên 150 hạt chiếm tỷ lệ rất thấp Số hạt/bông dao động từ
37,1 đến 180,9 Trong tập đoàn các giống lúa cạn được đánh giá, nhóm có số
hạt/bông nhiều nhất là nhóm có từ 50 – 100 hạt, sau đó là nhóm giống có số hạt
trên 100 hạt/bông Tỷ lệ hạt chắc dao động từ 46,5 đến 92,2%, nhóm có tỷ lệ hạt
chắc từ 80 – 90% chiếm tỷ lệ cao nhất đạt 53,4%, dưới 60% và trên 90% chiếm
tỷ lệ rất thấp Khối lượng 1000 hạt từ 10,96 đến 36,61 gam, đa số từ 20 – 30 gam,
chiếm 62,8%, nhóm có khối lượng hạt to trên 30 gam cũng chiếm tỷ lệ 30,1%
Tập đoàn có số bông/khóm thấp dao động từ 1,0 đến 5,7 Chiều dài bông của các
giống dao động từ 14,8 đến 28,0 cm, tập trung nhiều ở nhóm có chiều dài trên 25
cm chiếm 46,2% Năng suất lý thuyết của tập đoàn giống biến động rất lớn từ
4,85 đến 51,6 tạ/ha, nhóm giống có năng suất lý thuyết dưới 20 tạ/ha chiếm tỷ lệ
cao 48,4%, nhóm giống có năng suất trên 30 tạ/ha chỉ chiếm trên 25% Năng suất
thực thu nhỏ hơn 20 tạ/ha tương đối lớn, chiếm tỷ lệ 58%, nhóm có năng suất
trên 30 tạ/ha có tỷ lệ thấp
Gần đây, nhóm tác giả Nguyễn Thị Hảo và cs (2013) đã tiến hành đánh giá
khả năng chịu hạn của 42 dòng, giống lúa địa phương làm vật liệu di truyền cho
chọn tạo giống thích ứng với điều kiện khó khăn về nước tưới Kết quả nghiên
cứu cho thấy, có 11 giống có khả năng chịu hạn, trong đó có 3 giống có khả năng
chịu hạn tốt nhất là dòng 455 (con lai của Khẩu lio ón/Q5), dòng 464 (Mùa chua,
Điện Biên) và 487 (Khẩu lếch, Bắc Kanj) để khuyến cáo cho chương trình chọn
tạo giống lúa thích ứng với điều kiện canh tác nhờ nước trời
Trang 27Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Đánh giá chi tiết các nguồn gen theo các tính trạng hình thái và nông sinh
học được tiến hành tại Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Bắc Trung bộ, xã
Nghi Kim, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An từ tháng 06 đến tháng 11 năm 2015
(trong vụ Mùa 2015)
- Ngày gieo: 03/06/2015
- Ngày cấy: 06/07/2015
- Ngày thu hoạch: 15/10/2015
- Ngày hoàn thành thí nghiệm: 20/11/2015
2.2 Vật liệu nghiên cứu
Vật liệu được sử dụng trong nghiên cứu này là 37 mẫu giống thu thập tại
huyện Kỳ Sơn và huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An Danh sách cụ thể các
giống được trình bày ở bảng 3.1
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá một số đặc điểm hình thái, đặc điểm nông học, các yếu tố cấu
thành năng suất và năng suất của 37 giống lúa nương thu thập tại Kỳ Sơn và
Tương Dương trong vụ Mùa 2015
- Đánh giá đa dạng di truyền của 37 mẫu giống lúa nương dựa trên đặc
điểm hình thái và nông sinh học
2.4 Phương pháp nghiên cứu
Thí nghiệm được thực hiện trong vụ Mùa 2015 (gieo 3/6) tại Khu ruộng thí
nghiệm thuộc Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Bắc Trung bộ, thành phố
Vinh, tỉnh Nghệ An Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp khảo sát tập đoàn
của IPGRI (2001),[6] bố trí các mẫu giống tuần tự, không nhắc lại, diện tích ô thí
nghiệm 5 m2
Trên mỗi giống tiến hành theo dõi 10 cây cho các chỉ tiêu theo Phiếu mô tả
và đánh giá ban đầu nguồn gen cây lúa của Trung tâm tài nguyên thực vật (2012)
và Hệ thống tiêu chuẩn đánh giá cây lúa của IRRI (1996) [12].Cụ thể như sau:
Trang 28Bảng 2.1 Danh sách các giống lúa thí nghiệm trong vụ Mùa 2015
1 G2 Ple hai xa Đoọc May Kỳ Sơn, Nghệ An
2 G5 Tẻ mẹo Thạch Giám Tương Dương, Nghệ An
3 G7 Khẩu đỏ đơn Thạch Giám Tương Dương, Nghệ An
4 G8 Khẩu hụt sàng Lượng Minh Tương Dương, Nghệ An
5 G12 Khẩu đỏ đơn 2 Lượng Minh Tương Dương, Nghệ An
6 G16 Khẩu đánh lao Xã Lượng Tương Dương, Nghệ An
7 G17 Tẻ rẫy Thạch Giám Tương Dương, Nghệ An
8 G19 Ple xà Đoọc May Kỳ Sơn, Nghệ An
9 G20 Ple chào đơ Đoọc May Kỳ Sơn, Nghệ An
10 G21 Ple ki gia đơ Đoọc May Kỳ Sơn, Nghệ An
11 G22 Ple chai Huồi Tụ Kỳ Sơn, Nghệ An
12 G23 Ple đơ Huồi Tụ Kỳ Sơn, Nghệ An
13 G24 Ple chài sang Đoọc May Kỳ Sơn, Nghệ An
14 G25 Khẩu lướn Na Loi Kỳ Sơn, Nghệ An
15 G27 Ple mài tría Đoọc May Kỳ Sơn, Nghệ An
16 G28 Ple chài lò Đoọc May Kỳ Sơn, Nghệ An
17 G29 Ple plài đơ Đoọc May Kỳ Sơn, Nghệ An
18 G32 Ple dau Huồi Tụ Kỳ Sơn, Nghệ An
19 G33 Ple chài mè Đoọc May Kỳ Sơn, Nghệ An
20 G34 Họ khà vai Keng Đu Kỳ Sơn, Nghệ An
21 G35 Ple sầm nưa Huồi Tụ Kỳ Sơn, Nghệ An
22 G37 Khẩu sàn Thạch Giám Tương Dương, Nghệ An
23 G38 Ple sầm nưa 2 Đoọc May Kỳ Sơn, Nghệ An
24 G39 Ple plàu đơ Đoọc May Kỳ Sơn, Nghệ An
25 G40 Ple ká then Đoọc May Kỳ Sơn, Nghệ An
26 G41 Họ khẩu niêu Keng Đu Kỳ Sơn, Nghệ An
27 G43 Ple ká thèn 2 Đoọc May Kỳ Sơn, Nghệ An
28 G44 Ple chổng kừ Đoọc May Kỳ Sơn, Nghệ An
29 G45 Ple ta Đoọc May Kỳ Sơn, Nghệ An
30 G46 Họ cháo Keng Đu Kỳ Sơn, Nghệ An
31 G48 Họ chè ngà Keng Đu Kỳ Sơn, Nghệ An
32 G49 Ple chầu Na Ngà Kỳ Sơn, Nghệ An
33 G51 Ple xàn Huồi Tụ Kỳ Sơn, Nghệ An
34 G52 Khẩu mẹo lai Yên Lĩnh Tương Dương, Nghệ An
35 G56 Khẩu liên khúc Yên Lĩnh Tương Dương, Nghệ An
36 G60 Khẩu bò giàng Yên Lĩnh Tương Dương, Nghệ An
37 G62 Khẩu dói nước Yên Lĩnh Tương Dương, Nghệ An