Xuất phát từ những lí do trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến ngành trồng trọt ở huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An giai đoạn 2000 - 2015” nhằm làm rõ thực
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG
Nghệ An, 5/2016
Trang 2KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG
Giảng viên hướng dẫn : TS Hoàng Phan Hải Yến Sinh viên thực hiện : Trần Thị Thu Hà
Mã số sinh viên : 1253076195
Nghệ An, 5/2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới cô giáo - TS Hoàng Phan Hải Yến người đã trực tiếp hướng dẫn tận tình cho đề tài
nghiên cứu của em hoàn thành theo đúng tiến độ và yêu cầu đặt ra
Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới phòng Tài nguyên - Môi trường huyện Nghi Lộc, phòng Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Nghi Lộc, phòng Đăng ký sử dụng đất huyện Nghi Lộc và phòng Thống kê huyện Nghi Lộc đã tạo điều kiện giúp đỡ để đề tài của em được hoàn thành
Đây là lần đầu tiên làm đề tài nghiên cứu, năng lực của bản thân còn hạn chế, hơn nữa quá trình tiếp cận các nguồn tài liệu, cũng như thực tế hóa gặp nhiều khó khăn nên đề tài không tránh khỏi được sự tồn tại và thiếu sót
Em rất mong thầy cô và các bạn đóng góp ý kiến, chỉ bảo để em hoàn thành tốt hơn nữa đề tài này
Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến gia đình và bạn bè, những người đã đi cùng em trong suốt quá trình thực hiện đề tài này!
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 4MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG, HÌNH
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 2
3 Giới hạn nghiên cứu 3
4 Quan điểm nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Cấu trúc đề tài 6
PHẦN 2 NỘI DUNG 7
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ NGÀNH TRỒNG TRỌT 7
1.1 Cơ sở lý luận 7
1.1.1 Biến đổi khí hậu 7
1.1.2 Ngành trồng trọt 19
1.1.3 Tác động của biến đổi khí hậu đến ngành trồng trọt 24
1.2 Cơ sở thực tiễn 25
1.2.1 Khái quát ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến ngành trồng trọt ở Việt Nam 26
1.2.2 Khái quát ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến ngành trồng trọt ở tỉnh Nghệ An 29
Chương 2 ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN NGÀNH TRỒNG TRỌT TẠI HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN GIAI ĐOẠN 2000 - 2015 36
2.1 Khái quát về huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An 36
2.1.1 Vị trí địa lí Error! Bookmark not defined 2.1.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 37
2.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội 42
2.1.4 Đánh giá chung 46
Trang 52.2 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến ngành trồng trọt ở huyện Nghi
Lộc 47
2.2.1 Hiện trạng sản xuất ngành trồng trọt ở huyện Nghi Lộc 47
2.2.2 Biểu hiện biến đổi khí hậu ở huyện Nghi Lộc 50
2.2.3 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến ngành trồng trọt ở huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An 57
2.3 Đánh giá chung 69
2.3.1 Thuận lợi 69
2.3.2 Khó khăn 70
2.4 Nhận thức của người dân về tác động của biến đổi khí hậu đến ngành trồng trọt 71
Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN GIẢM THIỂU TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN NGÀNH TRỒNG TRỌT TẠI HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN ĐẾN NĂM 2020 73
3.1 Mục tiêu, định hướng phát triển trồng trọt với biến đổi khí hậu 73
3.1.1 Mục tiêu, định hướng phát triển trồng trọt gắn với biến đổi khí hậu ở Việt Nam 73
3.1.2 Mục tiêu, định hướng phát triển trồng trọt gắn với biến đổi khí hậu ở tỉnh Nghệ An 74
3.1.3 Mục tiêu, định hướng phát triển trồng trọt gắn với biến đổi khí hậu ở huyện Nghi Lộc 76
3.2 Giải pháp 77
3.2.1 Giải pháp chung 77
3.2.2 Các giải pháp cụ thể 82
PHẦN 3 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 88
1 Kết luận 88
2 Kiến nghị 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
Trang 7DANH MỤC HÌNH, BẢNG, BIỂU
Trang
Hình
Hình 1.1 Hiệu ứng nhà kính 11
Hình 2.1 Bản đồ huyện Nghi Lộc 36
Bảng Bảng 1.1 Số đợt rét đậm, rét hại ở Nghệ An 30
Bảng 1.2 Số đợt nắng nóng xảy ra ở Nghệ An trong những năm gần đây 31
Bảng 1.3 Thống kê diện tích lúa và hoa màu bị thiệt hại trên địa bàn tỉnh Nghệ An do thiên tai, sâu bệnh giai đoạn 2000 - 2015 33
Bảng 2.1 Cơ cấu kinh tế giai đoạn 2011 - 2015 44
Bảng 2.2 Tổng lượng mưa qua từng thập kỷ tỉnh Nghệ An 52
Bảng 2.3 Tình hình hạn hán tại một số xã ở huyện Nghi Lộc 54
Bảng 2.4 Tình hình thiên tai xảy ra trên địa bàn huyện Nghi Lộc giai đoạn 2000 - 2015 58
Bảng 2.5 Thống kê thiệt hại ngành trồng trọt huyện Nghi Lộc do trận lũ năm 2010 và bão số 10 năm 2013 60
Bảng 2.6 Sản lượng lúa và hoa màu huyện Nghi Lộc giai đoạn 2000 - 2015 62
Bảng 2.7 Thiệt hại do sâu bệnh gây ra cho cây trồng giai đoạn 2000- 2015 65
Bảng 2.8 Đặc điểm thích nghi của các loài sâu bệnh trên cây trồng 66
Bảng 2.9 Biến động diện tích đất nông nghiệp huyện Nghi Lộc giai đoạn 2000 - 2015 68
Bảng 2.10 Hoạt động trồng trọt dưới tác động của BĐKH 71
Bảng 3.1: Định hướng phát triển trồng trọt Việt Nam đến năm 2020 74
Bảng 3.2 Định hướng phát triển ngành trồng trọt tỉnh Nghệ An giai đoạn 2016 - 2020 75
Bảng 3.3 Tổng hợp phương hướng cải tiến mô hình canh tác lúa thích ứng với biến đổi khí hậu 84
Bảng 3.4 Tổng hợp phương hướng cải tiến mô hình canh tác lạc thích ứng với biến đổi khí hậu 85
Bảng 3.5 Tổng hợp phương hướng cải tiến mô hình canh tác ngô thích ứng với biến đổi khí hậu 86
Biểu Biểu đồ 2.1 Cơ cấu diện tích các loại cây trồng huyện Nghi Lộc năm 2015 48
Trang 8lũ lụt, bão,… Từ đó, BĐKH tác động trực tiếp đến đời sống, kinh tế - xã hội
và môi trường trên toàn thế giới và là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong thế kỷ 21
Theo cảnh báo của Ủy ban liên chính phủ về BĐKH (IPCC,2007), Việt Nam là một trong những nước trên thế giới chịu ảnh hưởng nặng nề nhất do những tác động của BĐKH Trong báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường,
50 năm qua, nhiệt độ trung bình năm đã tăng khoảng 0,70
C và mực nước biển dâng khoảng 20 cm Chính vì vậy, BĐKH đã, đang và sẽ đe dọa tới cuộc sống của người dân, an ninh lương thực của loài người và các mục tiêu thiên niên
Không nằm ngoài quá trình BĐKH toàn cầu, tính chất và mức độ của khí hậu ở tỉnh Nghệ An nói chung và huyện Nghi Lộc nói riêng vừa phản ánh
xu thế nóng lên đã và đang tiếp diễn trên phạm vi rộng, vừa phản ánh tính bất
ổn định của chế độ khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa
Trong những năm qua, huyện Nghi Lộc là một trong những địa phương vùng ven biển chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của BĐKH thông qua các hiện
Trang 9tượng thời tiết cực đoan với tần suất và mức độ khốc liệt ngày càng cao, đã ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, sinh hoạt của người dân Với thế mạnh là sản xuất nông nghiệp, Nghi Lộc đã góp phần không nhỏ vào cơ cấu nền kinh
tế của tỉnh, đặc biệt là ngành trồng trọt Tuy nhiên, ngành trồng trọt tại đây đã
và đang bị tổn thương bởi các nhân tố khí hậu cực đoan của thời tiết, xâm nhập mặn và suy thoái đất Trước tình trạng đó, cần nghiên cứu, đánh giá và
dự báo những tác động của BĐKH đến ngành trồng trọt để đề xuất những giải pháp hiệu quả nhằm đảm bảo phát triển bền vững hoạt động sản xuất
Xuất phát từ những lí do trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến ngành trồng trọt ở huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An giai đoạn 2000 - 2015” nhằm làm rõ thực trạng tác động của
BĐKH đến hoạt động trồng trọt, từ đó đề xuất các giải pháp ứng phó và hạn chế các loại thời tiết cực đoan của sự BĐKH ngày càng gia tăng tại địa phương để nâng cao hiệu quả cây trồng
2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu các tác động của BĐKH đến ngành trồng trọt
ở huyện Nghi Lộc, từ đó đề xuất một số giải pháp góp phần giảm thiểu ảnh hưởng của nó đến ngành trồng trọt trên địa bàn huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn về biến đổi khí hậu và ngành trồng trọt
- Phân tích thực trạng BĐKH ảnh hưởng đến hoạt động trồng trọt ở huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An
- Đề xuất một số giải pháp góp phần giảm thiểu ảnh hưởng của BĐKH
đến ngành trồng trọt ở huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An
Trang 103 Giới hạn nghiên cứu
3.1 Về nội dung
Nghiên cứu những ảnh hưởng của BĐKH đến hoạt động trồng trọt như:
sự thay đổi bất định của chế độ nắng, mưa, quá trình nước biển dâng, xâm mặn và các hiện tượng thời tiết cực đoan khác, dẫn tới hệ quả thiệt hại năng suất cây trồng, sự thay đổi về lịch thời vụ, xuất hiện các loài sâu bệnh hại và thay đổi hình thức sử dụng đất nông nghiệp, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm thích ứng, giảm thiểu với BĐKH trong thời gian tới
3.2 Về không gian
Đề tài nghiên cứu ở địa bàn huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An
3.3 Về thời gian
Giai đoạn nghiên cứu 2000 - 2015
4 Quan điểm nghiên cứu
4.1 Quan điểm tổng hợp
Mọi hoạt động phát triển ít nhiều đều phải phụ thuộc vào các yếu tố trong tự nhiên và con người Khi nghiên cứu về một sự vật, sự việc nào đó, chúng ta phải tìm hiểu, đánh giá về các yếu tố thành phần có liên quan để từ
đó đánh giá tác động tổng thể của tất cả các yếu tố đó đối với vấn đề nghiên cứu Hoạt động trồng trọt cần phải có sự tác động tổng hợp của nhiều yếu tố bao gồm thổ nhưỡng, khí hậu, nước, sinh vật… và tác động của con người
Do đó, khi nghiên cứu tác động của BĐKH đến hoạt động trồng trọt cần thiết phải đưa ra được tác động của các yếu tố tự nhiên nói chung và các yếu tố khí hậu nói riêng để từ đó đánh giá tổng hợp các yếu tố trong thành phần khí hậu đối với hoạt động ngành trồng trọt
4.2 Quan điểm hệ thống
Mọi chủ thể tồn tại và phát triển trên Trái Đất đều có mối quan hệ gắn kết hữu cơ trong thể thống nhất như một hệ thống mang tính tự nhiên khách quan Chính vì vậy, khi nghiên cứu một vật thể hay chủ thể chúng ta cần xem xét lợi ích chung của hệ thống, có nghĩa là mọi chủ thể kinh tế - xã hội của một địa phương phải đặt lợi ích chung của địa phương lên trên hết; các
Trang 11tỉnh thỏa thuận với cấp vùng vĩ mô, các vùng vĩ mô phục tùng lợi ích của quốc gia
Các nội dung được nghiên cứu là quá trình hệ thống các vấn đề liên quan không chỉ riêng đối với hoạt động trồng trọt mà ẩn sâu trong đó là đối với sản xuất nông nghiệp Và BĐKH cũng được nghiên cứu trên cơ sở một hệ thống logic các khoa học liên quan như các quy luật trong tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, các tác động của nó,… Tất cả theo một trình tự từ chung đến riêng, từ khái quát đến cụ thể, từ lớn đến nhỏ, từ vĩ mô đến vi mô Vì vậy, luôn cần gắn đối tượng nghiên cứu với không gian xung quanh mà nó đang tồn tại
4.3 Quan điểm phát triển bền vững
Phát triển bền vững hài hòa giữa phát triển kinh tế - xã hội và môi trường đã trở thành định hướng dài hạn của các cấp các ngành ở Việt Nam
sau khi có Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam
Phát triển nông nghiệp nói chung, ngành trồng trọt nói riêng phải gắn với việc bảo vệ và tôn tạo nguồn tài nguyên, môi trường sinh thái Hoạt động trồng trọt phải đặt ra các kế hoạch và cơ chế quản lý phù hợp với việc khai thác tài nguyên thiên nhiên, sao cho nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường không bị suy thoái về chất lượng và số lượng Bởi vì ngành trồng trọt
là ngành chịu tác động của thiên tai nhiều nhất so với các ngành kinh tế khác
Vì vậy, việc suy thoái tài nguyên thiên nhiên sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả phát triển ngành trồng trọt
4.4 Quan điểm thực tiễn
Bất cứ một công trình khoa học nào cũng được xuất phát từ thực tiễn, được thực hiện kiểm chứng Quan điểm thực tiễn là quan điểm đúng đắn nhất, xác nhận giá trị và khả năng thực thi của kết quả nghiên cứu Quan điểm thực tiễn áp dụng trong đề tài là đánh giá mức độ ảnh hưởng của BĐKH đến ngành trồng trọt Kết quả đánh giá giúp cho việc dự báo, định hướng quy hoạch, phát triển ngành trồng trọt để ứng phó với những biến đổi bất thuận của thời tiết
Trang 124.5 Quan điểm lịch sử, viễn cảnh
Đây là vấn đề vừa mang tính quy luật của tự nhiên vừa mang tính xã hội Các yếu tố khí hậu không ngừng biến đổi theo thời gian cả về quy mô và tính chất, các phương thức hoạt động trồng trọt không ngừng thay đổi, vận động trong không gian và theo thời gian Những thành tựu của ngành trồng trọt hiện nay là sự kế thừa của các phương pháp, cách thức sản xuất trước, đồng thời cũng là cơ sở để phát triển ngành trồng trọt trong tương lai Vận dụng quan điểm lịch sử - viễn cảnh trong nghiên cứu ảnh hưởng của sự biến đổi khí hậu đến hoạt động ngành trồng trọt để xem xét sự biến đổi và tác động của nó theo không gian và thời gian, đồng thời mô phỏng và xây dựng kịch bản có thể xảy ra trong tương lai; đề xuất các giải pháp triển vọng phát triển ngành trồng trọt làm cơ sở lý luận cho việc vận dụng nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu đến ngành trồng trọt trên một địa bàn cụ thể
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu
Điều tra, thu thập số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, hoạt động sản xuất của ngành trồng trọt, số liệu về biến đổi khí hậu và tác động của các thiên tai đến ngành trồng trọt của huyện Nghi Lộc qua các cuộc khảo sát và kế thừa kết quả của các nghiên cứu khoa học đã được công bố,
5.2 Phương pháp phân tích, đánh giá
Trên cơ sở số liệu thu thập được nhiều năm theo nội dung và chỉ tiêu, tiến hành hệ thống hóa, phân tích và xử lý (so sánh, đối chiếu) số liệu theo chuỗi thời gian để đánh giá được mức độ ảnh hưởng của BĐKH đến cây trồng
và khả năng thích ứng của cây trồng trước sự biến động về thời tiết cực đoan,
từ đó góp phần xác định kế hoạch sản xuất, dự báo thời tiết mùa vụ, các thiên
tai xảy ra sớm để có kế hoạch phòng chống
5.3 Phương pháp chuyên gia
Từ các kết quả nghiên cứu của đề tài, tôi có tham khảo ý kiến của các chuyên gia, cán bộ phòng NN&PTNT, phòng Tài nguyên và Môi trường cũng như các điển hình nông dân sản xuất của Huyện để đề xuất hướng phát triển
Trang 13nông nghiệp, các biện pháp giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu và các
giải pháp để thực hiện
5.4 Phương pháp khảo sát thực địa
Phương pháp thực địa rất quan trọng trong quá trình đánh giá, đặc biệt
là trong đề xuất quy hoạch Tuy không phải là phương pháp chủ yếu được thực hiện trong đề tài này, nhưng kết quả tìm hiểu của nó giúp ta hiểu hơn tình hình thực tế hoạt động của ngành trồng trọt ở địa phương và là cơ sở tham khảo cho việc nêu ra các kiến nghị và đề xuất quy hoạch
Khảo sát thực tế các vùng trồng trọt dễ bị tổn thương bởi BĐKH, nhất
là các xã khu vực ven biển để biết được những đối tượng cây trồng nào dễ bị tổn thương, ảnh hưởng nhất
Chương 2: Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến ngành trồng trọt ở
huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An
Chương 3: Định hướng và một số giải pháp góp phần giảm thiểu ảnh
hưởng của biến đổi khí hậu đến ngành trồng trọt ở huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ
An đến năm 2020
Trang 14 Biến đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu (BĐKH) hiện nay đang là một vấn đề toàn cầu không riêng gì của bất kỳ một Quốc gia hay một thể chế xã hội nào, bởi vì ảnh hưởng của BĐKH hết sức rộng lớn và tác động vào nhiều hoạt động kinh kế -
xã hội cũng như đe dọa đến sự tồn vong của nhân loại
BĐKH là sự biến đổi về trạng thái của hệ thống khí hậu, có thể được nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và biến động của các thuộc tính của
nó, được duy trì trong một thời gian dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dài hơn BĐKH có thể do các quá trình tự nhiên bên trong hệ thống khí hậu hoặc
do tác động thường xuyên của con người, đặc biệt tăng hiệu ứng nhà kính làm thay đổi thành phần cấu tạo của khí quyển (IPCC, 2007)
Theo UNFCCC (2007): “Biến đổi khí hậu là “những ảnh hưởng có
hại của biến đổi khí hậu”, là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lý hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người”
Như vậy, BĐKH là những thay đổi bất thường của thời tiết thông qua giá trị trung bình của các yếu tố khí tượng quan sát trong một khoảng thời gian dài, sự thay đổi này theo một chiều hướng xấu, không có lợi cho sinh vật sống trên Trái Đất và các hoạt động của con người
Trang 15Khả năng tổn thương do BĐKH gây ra: mức độ của một hệ thống (tự nhiên, xã hội, kinh tế) có thể bị tổn thương do BĐKH hoặc không có khả năng thích ứng với những tác động bất lợi của BĐKH
Các khái niệm liên quan
Thích ứng là sự điều chỉnh các hệ thống tự nhiên và con người để phù hợp với môi trường mới hoặc môi trường bị thay đổi Sự thích ứng với BĐKH là sự điều chỉnh các hệ thống tự nhiên và con người để ứng phó với tác động thực tại hoặc tương lai của khí hậu, do đó làm giảm hoặc tận dụng những mặt có lợi, đồng thời tạo cho con người hoặc cộng đồng có sự chuẩn bị đầy đủ mọi điều kiện tinh thần, vật chất, kỹ năng và tập quán, thói quen sinh sống, ổn định sinh kế để họ có thể “sống chung” với sự thay đổi do các yếu tố khí hậu tác động đến khu vực nghiên cứu
Giảm nhẹ BĐKH là hành động cần thiết tác động tới nguyên nhân của BĐKH như việc đưa ra các biện pháp và cơ chế giảm phát thải KNK
1.1.1.2 Biểu hiện
Những biểu hiện cơ bản của BĐKH toàn cầu trong hơn 100 năm qua như sau:
- Nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng khoảng 0,740C trong thời kỳ 1906 -
2005, tốc độ tăng của nhiệt độ trong 50 năm gần đây gấp đôi so với 50 năm trước đó Hai năm có nhiệt độ trung bình toàn cầu cao nhất từ trước đến nay
là năm 1998 và 2005
- Lượng mưa có chiều hướng tăng lên trong thời kỳ 1900 - 2005 ở 300
vĩ độ Bắc, nhưng lại có xu hướng giảm kể từ năm 1970 ở vùng nhiệt đới Lượng mưa ở khu vực từ 10 - 300 vĩ độ Bắc tăng lên từ năm 1900 - 1950 và giảm trong thời kỳ sau đó
- Hạn hán xuất hiện thường xuyên hơn ở vùng nhiệt đới và vùng cận nhiệt đới từ những năm 1970
- Hoạt động của xoáy thuận nhiệt đới, đặc biệt là các cơn bão mạnh gia tăng từ những năm 1970 và ngày càng xuất hiện nhiều hơn các cơn bão có quỹ đạo bất thường
Trang 16- Có sự biến đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hóa khác, dẫn đến sự gia tăng về số lượng và cường độ hiện tượng El Nino
- Mực nước biển dâng 1,8mm mỗi năm trong thời kỳ 1961 - 1993 và lên đến 3,1mm trong thời kỳ 1993 - 2003, dẫn tới sự ngập úng ở các vùng đất thấp, các đảo nhỏ trên biển
- Hiện tượng băng tan trên các sông băng, chỏm băng và đặc biệt là các dải băng ở cả Bắc Cực và Nam Cực
- Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi trường sống của con người và các sinh vật trên Trái đất
- Sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các vùng khác nhau của Trái đất dẫn tới nguy cơ đe dọa sự sống của các loài sinh vật, các hệ sinh thái và hoạt động của con người
- Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành phần của thủy quyển, sinh quyển, các địa quyển
1.1.1.3 Nguyên nhân
Hiện nay, khí hậu Trái đất đang biến đổi bất thường là do 2 nhóm nguyên nhân: nhóm nguyên nhân chủ quan và nhóm nguyên nhân khách quan Theo báo cáo mới nhất của Liên hợp quốc, hiện tượng BĐKH 90% do con người gây ra, 10% là do tự nhiên Vì vậy, nguyên nhân chính làm BĐKH Trái đất là sự tác động rất lớn của con người mà chúng ta gọi đó là sự làm nóng bầu khí quyển hay hiệu ứng nhà kính
* Nhóm nguyên nhân khách quan (do sự biến đổi của tự nhiên) bao gồm: sự biến đổi các hoạt động của mặt trời, sự thay đổi quỹ đạo trái đất, sự thay đổi vị trí và quy mô của các châu lục, sự biến đổi của các dòng hải lưu và
sự lưu chuyển trong nội bộ hệ thống khí quyển
Khí hậu Trái Đất thường xuyên thay đổi trong quá trình lịch sử địa chất, cứ sau một chu kỳ nóng lên lại là một chu kỳ lạnh có tên là chu kỳ băng
hà Chu kỳ băng hà kéo dài khoảng 100.000 năm, còn chu kỳ nóng kéo dài từ 10.000 - 20.000 năm Tuy nhiên, gần đây chu kỳ nóng ấm của Trái Đất mang
Trang 17tính nội sinh và ngoại sinh tự nhiên đã, đang được đẩy nhanh và trở nên nghiêm trọng hơn
- Sự thay đổi của đại dương: Các đại dương là một thành phần chính của hệ thống khí hậu Dòng hải lưu di chuyển một lượng lớn nhiệt trên khắp hành tinh Chính sự chuyển động này đã làm BĐKH ở những nơi nó đi qua Rất nhiều sự thay đổi bất thường của khí hậu như hiện tượng El Nino hay La Nina được hình thành một phần do lượng nhiệt được tích tự vào trong các đại dương khác nhau và sự dịch chuyển của các vùng biển
- Trong khi quay xung quanh Mặt Trời, trục Trái Đất nghiêng một góc
23027’ Khi thay đổi độ nghiêng của trục quay, Trái Đất có thể nhận tăng hoặc giảm 20% năng lượng Mặt Trời tới Trái Đất Khoảng cách Trái Đất - Mặt Trời cũng luôn thay đổi do quỹ đạo quay của Trái Đất
- Tro bụi của núi lửa cũng có thể làm thay đổi nhiệt độ khí quyển Trái Đất Khi một núi lửa phun trào sẽ phát thải vào khí quyển một lượng cực kỳ lớn khối lượng SO2, hơi nước, bụi và tro vào bầu khí quyển Các sol khí được phun ra bởi núi lửa phản chiếu lại bức xạ Mặt Trời trở lại vào không gian, vì vậy chúng có tác dụng làm giảm nhiệt độ lớp bề mặt Trái Đất
- Sự va chạm của các thiên thạch là một nguyên nhân tiềm ẩn khác, gây
ra BĐKH mạnh mẽ trên toàn cầu Các nguyên nhân tự nhiên nói trên có thể làm cho nhiệt độ khí quyển Trái Đất thay đổi mạnh mẽ trong các chu kỳ thời gian khác nhau
* Nhóm nguyên nhân chủ quan (do sự tác động của con người): là nguyên nhân chính làm BĐKH; do sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ KNK như sinh khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác
Khí hậu Trái Đất chịu ảnh hưởng rất lớn của cân bằng nhiệt khí quyển, khi yếu tố này bị ảnh hưởng sẽ tác động rất mạnh gây BĐKH
- Sự gia tăng mạnh các khí nhà kính
Trang 18vũ trụ của Trái Đất Cùng với khí CO2 còn có một số khí khác cũng được gọi chung là khí nhà kính như NOx, CH4, CFC Với những gia tăng mạnh mẽ của nền sản xuất công nghiệp và việc sử dụng các nhiên liệu hóa thạch (dầu mỏ, than đá ), nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy nhiệt độ toàn cầu sẽ gia tăng từ 1,40C đến 5,80
C từ năm 1990 đến năm 2100 và vì vậy sẽ kéo theo những nguy cơ ngày càng sâu sắc đối với chất lượng sống của con người
Như vậy, nguyên nhân chủ yếu của sự BĐKH toàn cầu là sự gia tăng một cách đáng kể lượng KNK vào khí quyển Trong quá trình phát triển, con người ngày càng sử dụng nhiều năng lượng, làm gia tăng các KNK vào khí quyển Việc tăng lượng KNK sẽ làm tăng hiệu ứng nhà kính, làm tăng nhiệt độ khí quyển Trái Đất và kèm theo đó là làm biến đổi một loạt các đặc trưng khí hậu khác Các hoạt động của con người đã thải ra một lượng rất lớn khí ô
Trang 19nhiễm, làm thay đổi thành phần khí quyển, tăng hàm lượng các KNK Theo bản tin của WMO về khí nhà kính, trong năm 2004 nồng độ trung bình toàn cầu các loại KNK trong khí quyển Trái Đất như CO2, CH4, N2O đạt mức cao
kỷ lục Nồng độ CO2 đo được là 377,1 ppm, nồng độ CH4 là 1783 ppb và nồng
độ N2O là 318,6 ppb So với giai đoạn tiền công nghiệp, các con số này đã vượt tương ứng là 35%, 155% và 18% Nếu tính theo giá trị tuyệt đối, so với 10 năm trước đó thì nồng độ các chất tương ứng đã tăng 19 ppm, 37 ppb và 8 ppb Nếu
so với năm 2003, thì nồng độ CO2 tăng 1,8 ppm (0,47%)
Số liệu quan trắc toàn cầu của WMO cho thấy nồng độ CO2, một loại KNK chiếm tỷ lệ cao nhất trong khí quyển, đang tiếp tục tăng lên và chưa có dấu hiệu đạt mức ổn định Đóng góp vào việc tăng CO2 trong khí quyển kể từ những năm 1700, có tới 35% là do phát thải từ đốt nhiên liệu hóa thạch
Ngược lại, nồng độ khí CH4 trong khí quyển có dấu hiệu đạt mức đỉnh Các hoạt động của con người như khai thác nhiên liệu hóa thạch, trồng lúa nước, đốt sinh khối, chôn lấp rác thải và chăn nuôi gia súc đã đóng góp tới 60% lượng khí CH4 thải vào khí quyển Các quá trình tự nhiên như phát thải
từ các vùng đất ngập nước, chỉ chiếm 40% còn lại
N2O trong khí quyển tăng đều ở mức khoảng 0,8 ppb mỗi năm kể từ năm 1988 Khoảng 1/3 lượng N2O được sinh ra do các hoạt động của con người như đốt nhiên liệu, đốt sinh khối, sử dụng phân bón và một số quá trình công nghiệp
- Suy giảm diện tích rừng:
Rừng phân bố không đều trên các châu lục về diện tích cũng như thể loại Khoảng 29% diện tích lục địa có rừng che phủ Người ta ước tính rừng chiếm 20 - 45% diện tích đất trên hành tinh
Theo thống kê của FAO (1958) thì trên Trái Đất có 44,05 triệu km2rừng, khoảng 33% diện tích đất liền Theo Hougton (1983) thì 15% rừng trên Thế giới đã bị biến mất trong khoảng thời gian từ năm 1950 - 1980 Rừng trên Thế giới đã giảm đi 70 triệu ha (gần 2%) trong khoảng từ 1980 - 1990 Riêng
ở vùng Đông Nam Á trong khoảng từ 1980 - 1990 diện tích rừng giảm khá
Trang 20nhanh, như ở Inđônêxia rừng giảm đi 1212 nghìn ha, Thái Lan 515 nghìn ha, Malaysia 396 nghìn ha, Ấn Độ 339 nghìn ha, Philippin 316 nghìn ha, Lào 129 nghìn ha và Việt Nam 139 nghìn ha
Việc phá rừng ở vùng nhiệt đới, bắt đầu diễn ra mạnh mẽ từ thế kỷ XVIII và XIX do việc mở rộng diện tích trồng cây nông nghiệp và cây công nghiệp, đặc biệt từ năm 1945 Theo FAO thì khoảng 50% rừng nhiệt đới bị phá hủy từ năm 1950 Nhiều nhất là ở Trung Mỹ 66%, tiếp đến là Trung Phi 52%, Nam Phi và Đông Nam Á là 37% và 38%
Vào những năm đầu của thập kỷ 80 tốc độ mất rừng nhiệt đới là 113.000 km2/năm Tốc độ mất rừng trong những năm gần đây càng gia tăng mạnh mẽ hơn Người ta ước tính có 40% rừng còn lại sẽ bị phá hủy nghiêm trọng vào năm 2020
Rừng đang bị suy thoái mà nguyên nhân chủ yếu là do con người Cùng với sự phát triển của nhân loại và sự gia tăng dân số trên thế giới, diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp do con người khai thác rừng làm nguyên liệu phục
vụ sản xuất, mở rộng đất nông nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ đô thị hóa Khai thác chặt phá rừng bừa bãi, chăn thả quá mức, đốt nương làm rẫy lặp đi lặp lại liên tục không chỉ làm thay đổi loài cây gỗ mà còn dẫn đến phá hủy các hợp phần của hệ sinh thái rừng như đất, thảm cỏ, chế độ nước và kết quả cuối cùng là rừng bị phá hủy làm giảm sự hấp thụ đối với KNK
1.1.1.4 Hệ quả
Biến đổi khí hậu và các tác động tiềm tàng của nó đang ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm trên phạm vi toàn cầu BĐKH tác động lên tất cả các lĩnh vực, khu vực và các cộng đồng khác nhau: kinh tế (bao gồm các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, năng lượng, giao thông vận tải, công nghiệp và xây dựng, du lịch), xã hội (sức khỏe con người) và môi trường (bao gồm tài nguyên nước, tài nguyên rừng, tài nguyên biển, hệ sinh thái và đa dạng sinh học, chất lượng không khí) Tuy nhiên mức độ tác động của BĐKH
có khác nhau tùy thuộc vào đặc trưng về điều kiện địa lý, trình độ phát triển
Trang 21và các hành động ứng phó của từng vùng miền, từng quốc gia cụ thể Có thể thấy các tác động lớn của BĐKH như sau:
a Tác động đến tài nguyên nước
Dưới tác động của biến đổi khí hậu, khi nhiệt độ trung bình tăng, độ bất thường của khí hậu, thời tiết và thiên tai gia tăng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tài nguyên nước ở các khía cạnh sau:
- Nhu cầu nước sinh hoạt cho con người, nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, năng lượng, giao thông… đều tăng Bên cạnh đó, lượng bốc hơi nước của các thủy vực (hồ, ao, sông, suối,…) cũng tăng Hậu quả dẫn đến là sự suy thoái tài nguyên nước cả về số lượng và chất lượng sẽ trở nên trầm trọng hơn
- Những thay đổi về lượng mưa sẽ dẫn tới những thay đổi về dòng chảy của các con sông và cường độ các trận lũ, tần suất và đặc điểm của hạn hán, lượng nước ngầm Theo dự đoán, BĐKH sẽ làm giảm đáng kể lượng nước trong các con sông ở nhiều vùng trên thế giới, trong đó có Việt Nam
Việt Nam được xếp vào nhóm các quốc gia thiếu nước với tổng bình quân đầu người cả nước mặt và nước ngầm trên phạm vi lãnh thổ là 4.400
m3/người/năm (so với bình quân thế giới là 7.400 m3/người/năm)
- Khi băng tuyết ở các cực và đỉnh núi cao tan sẽ làm tăng dòng chảy ở các sông và làm tăng lũ lụt Khi các băng trên núi cạn, lũ lụt sẽ giảm đi nhưng khi đó các dòng chảy cũng giảm dần, thậm chí cạn kiệt Nạn thiếu nước sẽ trầm trọng hơn Điều này rất đặc trưng cho các nước châu Á với nguồn nước sông ngòi phụ thuộc nhiều vào nước thượng nguồn
- Quá trình BĐKH dẫn đến hiện tượng xâm nhập mặn ngày càng gia tăng
b Tác động đến nông nghiệp
Sự gia tăng của thiên tai và các hiện tượng cực đoan của thời tiết, khí hậu như bão, lũ lụt, hạn hán, giá rét sẽ ảnh hưởng trực tiếp mạnh mẽ tới sản xuất nông - lâm nghiệp và thủy hải sản Trong thời gian qua, ở nhiều nơi, mùa màng đã bị mất trắng do thiên tai (lũ lụt và hạn hán)
Trang 22Khi nhiệt độ và các biến động dị thường của thời tiết tăng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất nông nghiệp, nhất là trồng trọt Sự bất thường của chu kỳ sinh khí hậu nông nghiệp không những dẫn tới sự tăng dịch bệnh, dịch hại, giảm sút năng suất của mùa màng, mà còn có thể gây ra các rủi ro nghiêm trọng khác khó có thể lường trước
Nhiệt độ tăng ảnh hưởng đến các hệ sinh thái tự nhiên, làm dịch chuyển các ranh giới nhiệt của các hệ sinh thái lục địa và hệ sinh thái nước ngọt, làm thay đổi cơ cấu các loài thực vật và động vật ở một số vùng, một số loài có nguồn gốc ôn đới và á nhiệt đới có thể bị mất đi dẫn đến suy giảm tính đa dạng sinh học
Đối với sản xuất nông nghiệp, cơ cấu cây trồng, vật nuôi và mùa vụ có thể bị thay đổi ở một số vùng, trong đó vụ đông ở miền Bắc có thể bị rút ngắn lại, thậm chí không còn vụ đông, vụ mùa kéo dài hơn Điều đó đòi hỏi phải thay đổi kỹ thuật canh tác trong hoạt động sản xuất nông nghiệp Nhiệt độ tăng và tính biến động của nhiệt độ lớn hơn, kể cả các nhiệt độ cực đại và cực tiểu, cùng với biến động của các yếu tố thời tiết khác và thiên tai làm tăng khả năng phát triển sâu bệnh, dịch bệnh dẫn đến giảm năng suất và sản lượng, tăng nguy cơ rủi ro đối với nông nghiệp và an ninh lương thực
c Tác động đến tài nguyên đa dạng sinh học rừng và tài nguyên đất Khi nhiệt độ tăng lên, lớp băng trên hành tinh sẽ bắt đầu tan chảy Nước từ các sông băng tan chảy sẽ chảy về các đại dương, làm tăng mực nước biển Hơn một thế kỷ qua, mực nước biển đã tăng lên 4 - 8 inch Nếu nhiệt độ toàn cầu tăng thêm 2 độ nữa sẽ dẫn đến sự tan chảy hoàn toàn của núi băng Greenland, sẽ làm cho mực nước biển tăng 5 - 6 mét Một sự gia tăng như thế
sẽ làm cho nhiều vùng thấp như vùng bờ biển Vịnh Hoa Kỳ và Bangladesh cũng như các đảo như Lakswadweep sẽ chìm dưới nước
Việt Nam có ĐDSH cao, có các HST đa dạng Tuy nhiên, trong thời gian qua, do những nguyên nhân khác nhau, ĐDSH và các HST, đặc biệt là các HST rừng - HST có ĐDSH cao nhất bị suy thoái trầm trọng Diện tích rừng trồng, rừng ngập mặn ven biển bị suy thoái nghiêm trọng (giảm 80%
Trang 23diện tích) do bị chuyển đổi thành các ao đầm nuôi trồng thủy hải sản thiếu quy hoạch Trong những năm gần đây, rừng tuy có tăng lên về diện tích, nhưng tỷ lệ rừng nguyên sinh cũng vẫn chỉ khoảng 8% (so với 50% của các nước trong khu vực)
Đây là một thách thức lớn đối với Việt Nam để ứng phó với BĐKH trong các hoạt động thực hiện mục tiêu của Công ước ĐDSH nhằm tăng cường hiệu quả bảo tồn và dịch vụ của các HST rừng trong giảm thiểu thiên tai, bảo vệ tài nguyên nước và giảm phát thải CO2
Nhiệt độ trung bình tăng sẽ làm thay đổi vùng phân bố và cấu trúc quần
xã sinh vật của nhiều HST Các loài nhiệt đới sẽ giảm đi trong các HST ven biển và có xu hướng chuyển dịch lên các đới và vĩ độ cao hơn trong các HST trên cạn
Nhiệt độ tăng còn làm gia tăng khả năng cháy rừng, nhất là các khu rừng trên đất than bùn, vừa gây thiệt hại tài nguyên sinh vật, vừa tăng lượng phát thải khí nhà kính và làm gia tăng BĐKH
Trong thời gian gần đây, diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp do sức ép dân số, đô thị hóa, công nghiệp hóa và bị chuyển đổi mục đích sử dụng Hiện tượng xói mòn, rửa trôi, hoang mạc hóa và ô nhiễm do hóa chất nông nghiệp ngày càng gia tăng
Dưới tác động của BĐKH, nhất là nước biển dâng làm mất đi nơi ở của
cư dân và phần đất màu mỡ nhất cho sản xuất nông nghiệp, đây sẽ là thách thức lớn cho ngành nông nghiệp trong tương lai gần Thiên tai, bão lũ gia tăng
sẽ làm tăng hiện tượng xói mòn, rửa trôi, sạt lở bờ sông, bờ biển, bồi lắng lòng dẫn ảnh hưởng nghiêm trọng tới tài nguyên đất Hiện tượng thiếu nước
và hạn hán sẽ dẫn tới hoang mạc hóa, đặc biệt là các tỉnh miền Trung
d Tác động của BĐKH đến sức khỏe
Báo cáo ngắn gần đây nhất của ủy ban liên quốc gia về BĐKH đã khẳng định, BĐKH gây ra tử vong và bệnh tật thông qua hậu quả của các dạng thiên tai như sóng nhiệt, bão, lũ lụt, hạn hán… Do nhiều bệnh sẽ gia
Trang 24tăng dưới tác động của sự thay đổi nhiệt độ và hoàn cảnh, nhất là các bệnh truyền qua vật trung gian như sốt rét, sốt xuất huyết, viêm não qua môi trường nước và một số bệnh khác (suy dinh dưỡng, bệnh về phổi…) Những bệnh này đặc biệt ảnh hưởng lớn tới các vùng kém phát triển, đông dân và có tỷ lệ đói nghèo cao
Đặc biệt, ở Việt Nam trong thời gian qua cũng xuất hiện một số bệnh mới ở người và động vật (tả, cúm gia cầm, bệnh tai xanh…) nhiều bệnh có diễn biến phức tạp và bất thường hơn (sốt xuất huyết) và gây ra những thiệt hại đáng kể
e Tác động của BĐKH tới vùng ven biển
Vùng ven biển là nơi chịu tác động nặng nề nhất của thiên tai mà trước hết là bão, sóng thần, lũ lụt gây những tổn thất nặng nề về người và tài sản Chỉ tính riêng năm 2006, thiệt hại do bão gây ra ở Việt Nam lên tới 1.2 tỷ USD
Nước biển dâng gây hiện tượng ngập lụt, mất nơi ở và diện tích sản xuất (nông nghiệp, thủy sản và làm muối), gây nhiễu loạn các HST truyền thống Hiện tượng xâm nhập mặn sẽ gia tăng, các HST đất ngập nước ven biển, nhất là rừng ngập mặn, môi trường sống của các loài thủy hải sản, bức tường chắn sóng và giảm tác động của sóng, bão, nguồn sống hàng ngày của cộng đồng địa phương sẽ bị thu hẹp nhanh chóng Các cơ sở hạ tầng, nhất là các cảng, khu công nghiệp, giao thông sẽ bị tác động mạnh, thậm chí phải cải tạo, nâng cấp hoặc di dời
Nước biển dâng và nhiệt độ tăng sẽ làm ảnh hưởng lớn tới các rạn san
hô, HST có tính đa dạng cao và có ý nghĩa quan trọng đối với tự nhiên và đời sống con người, lá chắn hiệu quả chống xói mòn bờ biển và rừng ngập mặn San hô là các động vật rất nhạy cảm với các yếu tố sinh thái, nhất là nhiệt độ
và chất lượng nước Nhiệt độ nước biển chỉ cần tăng một vài độ, san hô có thể chết hàng loạt Hiện nay đã có khoảng 30 quốc gia báo cáo có nguy cơ bị mất san hô
Trang 25f Tác động của BĐKH đến an ninh môi trường, an ninh quốc gia BĐKH còn có thể ảnh hưởng tới an ninh môi trường nói riêng và an ninh quốc gia nói chung, tập trung ở những vấn đề sau:
- Sử dụng chung nguồn nước: Việt Nam có khoảng 2/3 tổng lượng nước là từ bên ngoài lãnh thổ chảy vào Việc sử dụng nước phía thượng nguồn, xây dựng các công trình thủy lợi, thủy điện của các quốc gia trên thượng nguồn các sông lớn (sông Hồng, sông Cửu Long) sẽ là một khó khăn rất lớn cho chúng ta trong sử dụng nguồn nước và bảo vệ môi trường BĐKH
sẽ làm suy thoái tài nguyên nước, trong khi nhu cầu dùng nước của các quốc gia đều tăng lên, làm tăng các bất đồng và xung đột có thể có trong sử dụng chung nguồn nước
- Tị nạn môi trường, khí hậu do mất nơi ở hoặc do bệnh tật và nghèo đói Có những cảnh báo cho rằng, vấn đề tị nạn khí hậu không chỉ đơn thuần
là vấn đề xã hội, kinh tế mà có thể còn là vấn đề chính trị
- An ninh, sinh thái do sự nhiễu loạn của nhiều HST, sự xâm lấn của các sinh vật lạ và sinh vật biến đổi gen
g Tác động của BĐKH tới cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng ở đây được hiểu là những công trình xây dựng thuộc tất
cả các lĩnh vực của đời sống và sản xuất như xây dựng, năng lượng, giao thông vận tải, công nghiệp, nông nghiệp, du lịch - dịch vụ Đặc trưng của những đối tượng này là thời gian tồn tại tương đối dài, có thể hàng thế kỷ và chịu tác động trực tiếp và liên tục của khí hậu, thời tiết và hiện nay là BĐKH với xu hướng ngày càng gia tăng
BĐKH sẽ tác động tới tính tiện nghi, tính hữu dụng, sức chịu tải, độ bền, độ an toàn của các công trình được thiết kế
Vì vậy, cần đánh giá tác động của BĐKH cho từng loại cơ sở hạ tầng trong từng địa phương cụ thể để có các giải pháp thích ứng phù hợp là điều quan trọng
Như vậy, BĐKH là một vấn đề phức hợp, vừa mang tính cấp bách trước mắt, vừa mang tính lâu dài, tác động tới tất cả các lĩnh vực, từ tự nhiên
Trang 26đến kinh tế - xã hội trên phạm vi toàn cầu Trong tương lai không xa, những tác động của BĐKH đối với các loại tài nguyên, môi trường, các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội và cả sức khỏe con người sẽ ngày càng thể hiện rõ rệt BĐKH thực chất là vấn đề phát triển bền vững, là một vấn đề mang tính toàn cầu, vì vậy ứng phó với BĐKH cần phải được tiến hành trong một chương trình, kế hoạch quốc gia thống nhất và trong sự hợp tác chặt chẽ với cộng đồng quốc tế, để cùng bảo vệ ngôi nhà chung của chúng ta - Trái đất mà trên đó con người là vốn quý nhất
1.1.2 Ngành trồng trọt
1.1.2.1 Khái niệm
Trồng trọt là nền tảng của sản xuất nông nghiệp, là ngành sản xuất và cung cấp lương thực, thực phẩm cho dân cư, nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến, là cơ sở để phát triển chăn nuôi và còn là nguồn xuất khẩu có giá trị
Hệ thống phân loại cơ cấu ngành trồng trọt bao gồm:
- Cơ cấu sản xuất ngành trồng trọt theo ngành
- Cơ cấu sản xuất ngành trồng trọt theo vùng kinh tế và lãnh thổ
- Cơ cấu sản xuất ngành trồng trọt theo thành phần kinh tế
Hệ thống này có sự gắn bó với nhau, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau,
hỗ trợ nhau nhưng trong đó cơ cấu sản xuất trồng trọt theo ngành giữ vai trò chủ đạo
Ngành trồng trọt bao gồm các tiểu ngành sản xuất, chuyên môn hóa như: sản xuất lương thực, sản xuất cây công nghiêp, cây ăn quả, cay rau đậu, Chúng được hình thành trên cơ sở phân công lao động trong quá trình sản xuất Các tiểu ngành, các bộ phận sản xuất trong ngành trồng trọt phát triển và kết hợp với nhau theo một tỷ lệ nhất định tạo thành cơ cấu ngành trồng trọt
1.1.2.2 Vai trò của ngành trồng trọt
Trang 27Ngành trồng trọt là ngành sản xuất chủ yếu của sản xuất nông nghiệp
Ở nước ta, hàng năm ngành trồng trọt còn chiếm tới 75% giá trị sản lượng nông nghiệp Sự phát triển ngành trồng trọt có ý nghĩa rất to lớn:
- Ngành trồng trọt là ngành sản xuất và cung cấp lương thực, thực phẩm cho con người Phát triển ngành trồng trọt sẽ nâng cao mức sản xuất và tiêu dùng lương thực, thực phẩm bình quân trên đầu người, tạo cơ sở phát triển nhanh một nền nông nghiệp toàn diện
- Ngành trồng trọt là ngành sản xuất và cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp nhẹ, ngành trồng trọt phát triển theo hướng mở rộng dần tỷ trọng diện tích các loại cây công nghiệp, cây ăn quả, cây dược liệu và cây thực phẩm có giá trị kinh tế cao để đáp ứng nhu cầu nguyên liệu phát triển công nghiệp nhẹ, công nghiệp thực phẩm, công nghiệp chế biến
- Phát triển ngành trồng trọt sẽ đảm bảo nguồn thức ăn dồi dào và vững chắc cho ngành chăn nuôi, thúc đẩy sự hình thành các vùng chuyên canh sản xuất cây thức ăn và phát triển công nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi, trên cơ
sở đó chuyển dần chăn nuôi theo hướng sản xuất tập trung và thâm canh cao
- Ngành trồng trọt phát triển có ý nghĩa to lớn và quyết định đến việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp, làm cho năng suất cây trồng tăng, đặc biệt là năng suất cây lương thực tăng, nhờ đó sẽ chuyển nền sản xuất nông nghiệp từ độc canh lương thực sang nền nông nghiệp đa canh có nhiều sản phẩm hàng hóa giá trị kinh tế cao đáp ứng nhu cầu thị trường và góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa
1.1.2.3 Đặc điểm ngành trồng trọt
Ngành trồng trọt nước ta xuất hiện rất sớm và trải qua nhiều giai đoạn
từ khi loài người xuất hiện cho đến nay Trong sản xuất nông nghiệp thì ngành trồng trọt mang đầy đủ những đặc điểm của sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, hoạt động trồng trọt lại có những đặc điểm riêng biệt mà các ngành sản xuất khác trong nông nghiệp không thể có, đó là:
- Sản xuất vừa gắn liền với cây trồng, vừa gắn liền với ruộng đất (hoặc với dung dịch): Trong sản xuất kinh doanh trồng trọt con người tác động vào
Trang 28cây trồng để tạo ra sản phẩm trồng trọt, đồng thời tác động với ruộng đất để thông qua ruộng đất (hoặc dung dịch) tác động lên cây trồng Trong sản xuất trồng trọt phải có những biện pháp tác động vào cây trồng hợp lý để có thể tạo
ra được một số lượng sản phẩm trồng trọt lớn, giá thành giảm, chất lượng cao Đồng thời, cũng phải có những biện pháp đầu tư cải tạo ruộng đất, đầu tư mua sắm công nghệ sạch đảm bảo phát triển bền vững
- Sản xuất mang tính thời vụ rất cao: Tính thời vụ là đặc điểm của sản xuất nông nghiệp, nhưng trong ngành trồng trọt tính thời vụ cao nhất, thể hiện
rõ nhất Nó được quy định bởi quy luật sinh trưởng, phát triển của cây trồng
và các điều kiện tự nhiên, chủ yếu là các yếu tố về khí hậu và thời tiết Vì vậy, trong ngành trồng trọt phải có những biện pháp tích cực để giảm bớt tính thời
vụ Để giảm bớt tính thời vụ các cơ sở sản xuất cần xây dựng cơ cấu cây trồng
đa dạng, hợp lý, ứng dụng công nghệ cao Xây dựng hệ thống luân canh hợp
lý vơi nhiều công thức luân canh hiệu quả, tăng cường trồng xen, tăng vụ
- Sản xuất chủ yếu ở ngoài trời, nên không gian rộng lớn, gắn liền và chịu ảnh hưởng trực tiếp của điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế của cơ sở sản xuất kinh doanh và của vùng: Các cây trồng chủ yếu sinh trưởng và phát triển ở ngoài trời, nên không gian rộng lớn, điều đó dẫn đến sản xuất gắn với điều kiện tự nhiên, nhất là khí hậu thời tiết Đồng thời, nó cũng gắn liền và chịu ảnh hưởng của kết cấu hạ tầng, nhất là giao thông thủy lợi của cơ sở sản xuất kinh doanh và của cả vùng Để tiến hành sản xuất kinh doanh có hiệu quả, phải biết khai thác và lợi dụng điều kiện tự nhiên, kinh tế thuận lợi của vùng, của cơ sở nhằm đẩy mạnh quá trình phát triển và nâng cao hiệu quả sản xuất hàng hóa Đối với vùng đất chật, núi đá, vùng khí hậu khó khăn có thể áp dụng phương pháp sản xuất bằng dung dịch không cần đất (trước hết là các loại cây rau thực phẩm)
1.1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến ngành trồng trọt
a Điều kiện tự nhiên
Các nhân tố tự nhiên là tiền đề cơ bản để phát triển và phân bố ngành trồng trọt, chúng bao gồm: vị trí địa lý, địa hình thổ nhưỡng, khí hậu, thời tiết,
Trang 29hệ sinh thái, tài nguyên đất, nước, rừng, Các nhân tố này có ảnh hưởng quan trọng đối với ngành trồng trọt, nó tác động trực tiếp với sự hình thành vận động và biến đổi của cơ cấu ngành trồng trọt Sự tác động với ảnh hưởng của
cơ cấu điều kiện tự nhiên tới mỗi loại cây trồng không giống nhau Chính từ
sự tác động không giống nhau đó làm cho số lượng và quy mô của các loại cây trồng khác nhau, tạo nên sự phân biệt về cơ cấu cây trồng giữa các vùng trong cả nước: giữa đồng bằng và miền núi hay là ngay bản thân trong một lãnh thổ
- Đất đai
Đất đai là cơ sở đầu tiên, quan trọng nhất để tiến hành trồng trọt Quỹ đất, tính chất đất và độ phì của đất có ảnh hưởng đến quy mô, cơ cấu, năng suất và sự phân bố cây trồng “Đất nào, cây ấy”, kinh nghiệm dân gian đã chỉ
rõ vai trò của đất đối với sự phát triển và phân bố ngành trồng trọt
- Khí hậu và nguồn nước
Khí hậu và nguồn nước có ảnh hưởng mạnh mẽ tới việc xác định cơ cấu cây trồng, thời vụ, khả năng xen canh, tăng vụ và hiệu quả sản xuất nông nghiệp ở từng địa phương Sự phân chia các đới trồng trọt chính trên thế giới như nhiệt đới, cận nhiệt, ôn đới và cận cực liên quan tới sự phân đới khí hậu
Sự phân mùa của khí hậu quy định tính mùa vụ trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
Như vậy, ta có thể thấy quá trình sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp gắn liền với quá trình sinh học và gắn bó chặt chẽ với nhân tố tự nhiên
b Kinh tế - xã hội
Nhóm này bao gồm các nhân tố như: thị trường (thị trường trong và ngoài nước) phát triển cơ sở hạ tầng nông nghiệp, nông thôn; hệ thống các chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước, vốn, cơ sở hạ tầng, kinh nghiệm, tập quán và truyền thống sản xuất của dân cư, dân số và lao động, Nhóm nhân
tố này luôn có tác động mạnh mẽ tới sự hình thành và biến đổi cơ cấu nông nghiệp nói chung và cơ cấu trồng trọt nói riêng
Trang 30Trong các nhân tố trên thì nhân tố thị trường có điều kiện quyết định tới
sự phát triển và biến đổi cơ cấu ngành trồng trọt, bởi nó chỉ tồn tại và vận dụng thông qua hoạt động của con người Thông qua đó phản ánh cơ cấu ngành của từng vùng, từng địa phương
Tuy nhiên, do mức độ tiếp nhận thông tin khác nhau và khả năng xử lý cũng khác nhau, điều kiện sản xuất bị chi phối dẫn đến lượng người tham gia vào sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của ngành trồng trọt cũng không giống nhau Như vậy, nhu cầu sản xuất hàng hóa và thị trường là điều kiện quyết định sự biến đổi về chất của cơ cấu cây trồng Suy cho cùng thì nhu cầu về nông sản và môi sinh của xã hội càng cao thì càng thúc đẩy cơ cấu cây trồng chuyển biến theo hướng tiến bộ
c Tiến bộ khoa học - kỹ thuật
Trong thời đại ngày nay, các nhân tố thuộc khoa học - kỹ thuật có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự hình thành và phát triển của các vùng sản xuất hàng hóa nông nghiệp nói chung và vùng chuyên môn hóa trồng trọt nói riêng
Thứ nhất, đó là những tiến bộ trong khâu sản xuất và cung ứng giống cây trồng mới, có khả năng thích ứng sự biến đổi của khí hậu, khả năng chống chịu bệnh, ổn định năng suất cây trồng, ổn định sản lượng sản phẩm trồng trọt
Thứ hai, là phổ biến đến người sản xuất nông nghiệp hệ thống quy trình
kỹ thuật tiên tiến
Thứ ba, là sự phát triển của quy trình công nghệ bảo quản và chế biến sản phẩm để vận chuyển sản phẩm đi tiêu thụ phủ khắp các thị trường trong nước và xuất khẩu ra thị trường thế giới
d Vai trò quản lý, định hướng của Nhà nước
Trong điều kiện ngành trồng trọt nước ta còn lạc hậu và tính tự phát của người dân còn khá cao, do đó hay dẫn đến tình trạng “được mùa - mất giá và mất mùa - được giá” Cùng với những yếu tố đó, vai trò quản lý, định hướng của Nhà nước là một yếu tố có phần tiên quyết trong sự thành công của ngành trồng trọt
Trang 31Chính sách ruộng đất với mục tiêu là quản lý, sử dụng sao cho có hiệu quả, đồng thời bảo vệ độ phì nhiêu của đất đai, vì trong ngành trồng trọt, đất
là tư liệu sản xuất chủ yếu
Chính sách khuyến nông phải được Nhà nước tổ chức từ Trung ương đến cơ sở, giúp nông dân phát triển sản xuất và phổ biến tiến bộ kỹ thuật trồng trọt
1.1.3 Tác động của biến đổi khí hậu đến ngành trồng trọt
BĐKH sẽ có tác động tiêu cực nhiều mặt đến môi trường sống của con người và sinh vật Trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn, ngoài thủy lợi, thủy sản thì trồng trọt được nhận định là ngành chịu ảnh hưởng nặng
nề nhất
BĐKH làm giảm năng suất cây trồng, dẫn đến nguy cơ mất an ninh lương thực Báo cáo đánh giá của IPCC về tác động của BĐKH lên cây lương thực cho thấy ở vùng nhiệt đới, nhiệt độ trung bình tăng lên sẽ ảnh hưởng xấu tới năng suất, do ảnh hưởng trực tiếp đến thời ký nở hoa, thụ phấn (10C đối với lúa mì và ngô, 20C đối với lúa nước) Nếu tăng lên 30
C sẽ gây ra tình trạng cực kỳ căng thẳng cho tất cả các loại cây trồng ở tất cả các vùng Nhiệt
độ tăng 10
C sẽ làm giảm năng suất ngô từ 5 - 20% và có thể giảm đến 60% nếu nhiệt độ tăng thêm 40C Tương tự, năng suất lúa có thể giảm 10% đối với mỗi độ tăng thêm Các cây trồng khác cũng sẽ chịu tác động tương tự của BĐKH, nhất là cây ăn quả á nhiệt đới như vải, nhãn Năng suất các loại cây này có khả năng giảm đáng kể khi nhiệt độ mùa đông tăng cao
BĐKH còn có nguy cơ làm đảo lộn cơ cấu cây trồng: làm tăng nhiệt độ
và làm thay đổi thời gian sinh trưởng, phát triển của các loại cây trồng; do đó, làm giảm khả năng thâm canh, tăng vụ và đảo lộn cơ cấu các loại cây trồng
Nhu cầu nước tăng cao dẫn đến thiếu hụt nước cho cây trồng: nhiệt độ tăng khiến nhu cầu tưới nước lớn và dẫn đến thiếu hụt nguồn nước sử dụng cho trồng trọt Trong điều kiện nhiệt độ tăng thêm 10C, nhu cầu tưới nước cho cây trồng sẽ tăng 10%, làm cho năng lực tưới của các công trình thủy lợi như
Trang 32hiện nay không đáp ứng đủ Do đó, chúng ta cần xây dựng các công trình và
hệ thống thủy lợi đảm bảo cho nhu cầu thay đổi này
Nước biển dâng cao sẽ khiến cho nhiều vùng đất ven biển, khu vực đồng bằng bị nhiễm mặn, diện tích gieo trồng sẽ bị thu hẹp, gây ra hiện tượng thiếu đất canh tác, khiến an ninh lương thực sẽ trở thành gánh nặng của mọi quốc gia
BĐKH cũng làm thay đổi quy luật thủy văn của các con sông, gây nên hiện tượng hạn hán Nhiều nơi trên bề mặt Trái đất đã phải gánh chịu hiện tượng thiếu nước trầm trọng, dẫn đến sự biến đổi về nguồn nước, đất đai, nhiệt độ kéo theo sự thay đổi lớn về cơ cấu cây trồng và mùa vụ
BĐKH làm thay đổi điều kiện sinh sống của các loài sinh vật, làm mất
đi hoặc thay đổi các mắt xích trong chuỗi thức ăn và lưới thức ăn, dẫn đến tình trạng biến mất của một số loài sinh vật và ngược lại, xuất hiện nguy cơ gia tăng các loài sâu bệnh Nhiệt độ tăng trong mùa đông sẽ tạo điều kiện cho nguồn sâu bệnh qua đông dễ dàng hơn, các lứa sâu có khả năng phát triển nhanh hơn và gây hại mạnh hơn BĐKH có thể làm phát sinh một số chủng, loài sâu mới, gây hại không những trong sản xuất mà còn trong bảo quản nông sản, thực phẩm
Nhiệt độ tăng cũng làm thay đổi quy luật phân hóa mầm hoa và nở hoa của các loại cây trồng, đặc biêt là các loại cây trồng có nguồn gốc ôn đới và nhiệt đới, qua đó ảnh hưởng lớn đến quy luật mùa vụ, năng suất và sản lượng các loại cây trồng này
Hiện tượng thời tiết cực đoan có xu hướng ngày càng gia tăng, gây bất lợi rất lớn đến sản xuất nông nghiệp nói chung và ngành trồng trọt nói riêng Trong những năm trở lại đây, số cơn bão ảnh hưởng trực tiếp đến nông nghiệp ngày càng gia tăng và tình trạng khô hạn gay gắt cũng như các mùa lũ liên tiếp xảy ra ở các vùng miền khác nhau đã làm thiệt hại đáng kể đến sản xuất ngành trồng trọt
1.2 Cơ sở thực tiễn
Trang 331.2.1 Khái quát ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến ngành trồng trọt ở Việt Nam
Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, một trong năm ổ bão của khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, là nước đứng thứ 2 trong 5 nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của BĐKH, thường xuyên phải đối mặt với các loại hình thiên tai Trong những năm qua, thiên tai xảy ra ở khắp các khu vực trên
cả nước, gây ra nhiều tổn thất to lớn về người, tài sản, cơ sở hạ tầng, kinh tế, văn hóa - xã hội và tác động xấu đến môi trường
Tác động của biến đổi khí hậu đối với kinh tế - xã hội Việt Nam là rất nghiêm trọng và là một thách thức cho mục tiêu xóa đói giảm nghèo, các mục tiêu thiên niên kỷ và sự phát triển bền vững của đất nước; đặc biệt, sản xuất nông nghiệp nói chung và ngành trồng trọt nói riêng được coi là một trong những lĩnh vực được đánh giá dễ bị tổn thương nhất do tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng
- BĐKH dẫn đến tình trạng diện tích gieo trồng bị thu hẹp, đất trồng bị nhiễm mặn
Nước biển dâng cao sẽ khiến cho nhiều vùng đất ven biển, khu vực đồng bằng bị nhiễm mặn, diện tích gieo trồng sẽ bị thu hẹp gây ra hiện tượng thiếu đất canh tác, đảm bảo an ninh lương thực sẽ trở thành gánh nặng cho mọi quốc gia Ở nước ta, theo dự báo IPCC (2007), nếu nước biển dâng lên 1m sẽ có khả năng ảnh hưởng tới 12% diện tích và 10% dân số Việt Nam làm ngập 5.000 km2 ở Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) và 15.000 - 20.000 km2 ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) tương đương với 300.000 - 500.000 ha tại ĐBSH và 1,5 - 2 triệu ha tại ĐBSCL và hàng trăm ngàn hecta ven biển miền Trung; ước tính Việt Nam sẽ có khả năng mất đi 7% diện tích đất nông nghiệp, tổng sản lượng lương thực giảm 12%, giảm ít nhất 5 triệu tấn lương thực, đe dọa nghiêm trọng an ninh lương thực
Tại các vùng ven biển khu vực đồng bằng sông Cửu Long, trong báo cáo của các địa phương, diện tích đất ở và đất trồng trọt đang có chiều hướng ngày càng bị ngập mặn và thu hẹp do nạn xâm thực của nước biển Đặc biệt
Trang 34khu vực Mũi Cà Mau (tỉnh Cà Mau) là nơi chịu ảnh hưởng rõ rệt nhất của biến đổi khí hậu Ở đây biển đang lấn dần vào đất liền rất nhanh, do chịu tác động của thủy triều ở cả hai phía Tây và Đông Ngay cả các khu rừng ngập mặn dày đặc, vốn được xem là bức tường xanh của đất Mũi, cũng xảy ra tình trạng sạt lở đất khá nghiêm trọng Theo báo cáo của cơ quan chức năng, hiện nay, ven bờ biển của tỉnh Cà Mau, tổng chiều dài bị sạt lở đã lên đến trên 40 cây số, trong số đó có 4 khu sạt lở đặc biệt nguy hiểm
- BĐKH làm giảm năng suất cây trồng dẫn đến nguy cơ mất an ninh lương thực
Tại miền Trung và vùng duyên hải Nam Trung Bộ, hầu hết các tỉnh ven biển như Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi… cũng đang phải chịu tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu Nạn nước biển xâm thực đã gây ra sạt lở đất tại nhiều địa phương, đặc biệt là trong mùa mưa bão Tại huyện Duy Xuyên (tỉnh Quảng Nam) hàng năm, tình trạng sạt lở ở đây đã trở nên nghiêm trọng Rất nhiều diện tích đất sản xuất và đất ở của người dân
đã lần lượt bị cuốn theo sóng biển, khiến cho việc phát triển kinh tế - xã hội của địa phương đình đốn, người dân gặp rất nhiều khó khăn trong sản xuất và
ổn định cuộc sống Bình quân mỗi năm, các tỉnh miền Trung có 12 vạn ha lúa
bị úng ngập, trong đó có trên 3,6 vạn ha bị mất trắng, 7 vạn ha bị ảnh hưởng
và có trên 6,2 vạn ha hoa màu bị ngập Bên cạnh đó, hạn hán cũng là một trong những nguyên nhân gây thiệt hại cho ngành trồng trọt, nhất là các tỉnh Bắc Trung Bộ có vụ Hè Thu thường bị khô hạn do ảnh hưởng của gió Tây khô nóng
Trên hệ thống đê sông Hồng ở Bắc Bộ và sông Cửu Long ở Nam Bộ thường xuyên bị lũ đe dọa, gây ngập lụt hàng triệu hecta đất canh tác làm suy giảm năng suất cây trồng, ảnh hưởng đến cuộc sống của hàng triệu người dân
- BĐKH gây đảo lộn cơ cấu cây trồng
Nhiệt độ tăng làm thay đổi thời gian sinh trưởng, phát triển của các loại cây trồng, làm thay đổi quy luật phân hóa mầm hoa và nở hoa; do đó, làm giảm khả năng luân canh, tăng vụ và đảo lộn cơ cấu các loại cây trồng,
Trang 35đặc biệt là những cây trồng ưa lạnh ở vụ đông và cây á nhiệt đới như đào, mận, mơ
- Nhu cầu nước tăng cao dẫn đến thiếu hụt nước cho cây trồng
- Thời tiết thay đổi thất thường dẫn đến hạn hán và làm tăng nguy cơ xuất hiện các loại sâu bệnh
BĐKH làm thay đổi quy luật thủy văn của các con sông, gây nên hiện tượng hạn hán Trong 5 năm qua, các tỉnh ĐBSH đã phải gánh chịu hiện tượng thiếu nước trầm trọng ở vụ Đông Xuân do mực nước sông Hồng xuống thấp dưới mức thấp nhất trong lịch sử 100 năm qua
BĐKH cũng làm thay đổi điều kiện sinh sống của các loài sinh vật, dẫn đến tình trạng biến mất của một số loài và ngược lại làm xuất hiện nguy cơ gia tăng các loài “thiên địch” Trong thời gian 2 năm trở lại đây, dịch rầy nâu, vàng lùn, LXL ở Đồng bằng sông Cửu Long diễn ra ngày càng phức tạp ảnh hưởng đến khả năng thâm canh tăng vụ và làm giảm sản lượng lúa Ở miền Bắc trong vụ Đông Xuân 2007 - 2008 sâu quấn lá nhỏ cũng đã phát sinh thành dịch, thời cao điểm diện tích lúa bị hại đã lên đến 400.000 ha, gây thiệt hại đáng kể đến năng suất làm tăng chi phí sản xuất Vụ mùa năm 2009, miền Bắc cũng đã bắt đầu xuất hiện một số bệnh lạ trên lúa, tương tự như bệnh vàng lùn, LXL ở ĐBSCL, riêng Nghệ An diện tích lúa bị hại đã lên đến gần 6.000
Trang 36Trong số liệu công bố tại Chương trình mục tiêu Quốc gia ứng phó với BĐKH (Bộ TNMT, năm 2008), số đợt không khí lạnh ảnh hưởng đến nước ta
đã giảm đi rõ rệt trong 2 thập kỷ qua nhưng những biểu hiện dị thường lại xuất hiện Đầu năm 2008, trận rét lịch sử kéo dài 40 ngày đã làm 150 nghìn
ha lúa, 9600 ha mạ bị chết Chỉ tính riêng về giống, thiệt hại đã lên tới 180 tỷ đồng, thiệt hại khoảng 200 tỷ đồng,… tại các tỉnh miền núi phía Bắc Các xu hướng thời tiết như các cơn bão ảnh hưởng đến nước ta không theo quy luật hoặc tác động của gió mùa đông bắc vượt qua đèo Hải Vân đến các tỉnh phía Nam đã và đang ngày càng rõ nét
Do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, những năm gần đây các cơn bão có diễn biến khá bất thường, gia tăng cả về số lượng và cường độ bão, đặc biệt là việc xuất hiện nhiều hơn những cơn “siêu bão” tàn phá hệ thống đê điều, gây thiệt hại cây trái và mùa màng, nhất là vùng đồng bằng sông Hồng và miền Trung, dẫn đến nguy cơ mất an ninh lương thực
1.2.2 Khái quát ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến ngành trồng trọt ở tỉnh Nghệ An
Không nằm ngoài quá trình BĐKH toàn cầu, tính chất và mức độ BĐKH ở tỉnh Nghệ An vừa phản ánh xu thế nóng lên đã và đang tiếp diễn trên phạm vi toàn thế giới, vừa phản ánh tính bất ổn định của chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa đã khiến cho vùng đất lắm thiên tai này càng phải chịu thêm nhiều khốn khó, ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh… Giai đoạn 2000 - 2015, ngành trồng trọt tỉnh Nghệ An đã gặp nhiều khó khăn, một trong các nguyên nhân là do tỉnh đã phải hứng chịu
34 trận bão đổ bộ trực tiếp, đặc biệt là đợt rét đậm kéo dài gần 40 ngày hồi tháng 11 năm 2008 và 2 trận lũ liên tiếp vào tháng 10 năm 2010 mà theo nhận định, đây là trận lũ 100 năm mới có một lần, lượng mưa phổ biến trên địa bàn tỉnh Nghệ An từ 100 đến 300mm, một số nơi mưa trên 300mm như Nghi Lộc 406mm; Cửa Hội 357mm; Đô Lương 302mm; Nam Đàn 355mm Ngoài ra, năm 2007 cũng là một năm để lại thiệt hại khá nặng nề, trong năm có 7 cơn bão hoạt động trên biển Đông, 4 cơn bão đổ bộ vào Việt Nam, trong đó có 2
Trang 37cơn bão ảnh hưởng trực tiếp đến Nghệ An là cơn bão số 2 và số 5 Bão đổ bộ
đã gây mưa to đến rất to và lũ lớn trên các sông, dẫn đến ngập lụt và mất trắng hàng ngàn hecta cây trồng, thiệt hại nặng nề cho nhân dân trong vùng
Theo đánh giá của Trung tâm KTTV tỉnh Nghệ An và các cơ quan chuyên môn, Nghệ An là một trong những địa phương chịu nhiều tác động của thiên tai, BĐKH được mệnh danh là một “túi mưa chảo lửa” Từ số liệu hơn 40 năm, qua nghiên cứu nhận thấy những biểu hiện và tác động của BĐKH, thiên tai đối với khu vực Nghệ An khá rõ, với các biểu hiện:
Ngoài những đợt thiên tai như bão, lũ có tính thường niên, thời gian qua Nghệ An còn phải đối mặt với những biến đổi bất thường như nắng nóng gay gắt, rét đậm (nhiệt độ trung bình ngày ≤150C) hay rét hại kéo dài (nhiệt
độ không khí trung bình ngày ≤130
C) như đợt rét hại kéo dài mùa Đông Xuân
2008 - 2009 với nhiệt độ xuống thấp nhất trong vòng 40 năm qua hay là đợt nắng nóng trên dưới 400 C trong suốt 10 ngày liền hồi tháng 7 năm 2010 gây nên sự cạn kiệt ở các con sông
Ở Nghệ An (trong đó có Nghi Lộc), số đợt rét đậm rét hại là lên tới 6 -
7 đợt Đặc biệt số đợt rét hại tăng lên trong những năm gần đây
Nguồn: Trung tâm Dự báo KTTV Nghệ An
Ở Nghệ An, nắng nóng trong những năm đầu của thế kỷ XXI diễn ra nhiều hơn so với năm trước đây Cụ thể:
Trang 38Bảng 1.2 Số đợt nắng nóng xảy ra ở Nghệ An trong những năm gần đây
Nguồn: Trung tâm Dự báo KTTV Nghệ An
Qua bảng thống kê cho thấy, số đợt nắng nóng xảy ra trong những năm gần đây có xu hướng tăng lên, năm 2000 chỉ có 6 đợt nắng nóng xảy ra trong năm thì đến năm 2010 đã có 11 đợt nắng nóng và năm 2015 lên tới 17 đợt Giai đoạn 2000 - 2010 có 3 năm số đợt nắng nóng cao nhất là năm 2015 với
17 đợt, năm 2003 và năm 2010 với 11 đợt xảy ra mỗi năm Đặc biệt, từ năm
2007 đến 2010, số đợt nắng nóng tăng đều qua các năm, điều đó cho thấy số đợt nắng nóng xảy ra trên tỉnh Nghệ An ngày càng gay gắt, thời tiết ngày càng khắc nghiệt do chịu ảnh hưởng của BĐKH
Mặt khác, nhiệt độ tăng cao, hạn hán xảy ra nhiều hơn, làm tăng lượng nước bốc hơi, lượng mưa đầu nguồn ít nên mực nước các hồ xuống thấp Những năm hạn nặng như 2003, 2005, 2010, nhiều tháng hạn hán kéo dài kết hợp với gió lào khô nóng do ảnh hưởng của El - Nino, hầu hết ở nước ở sông Lam và các hồ chứa nước khác để phục vụ tưới tiêu thiếu trầm trọng, các hồ chứa loại vừa bị cạn kiệt không đủ nước cung cấp cho ngành trồng trọt Điều này sẽ làm cho tầng phủ lưu vực và dòng sông khô kiệt, cây cối khô héo, hàng chục ngàn ha lúa bị hạn hán góp phần làm đời sống người dân khó khăn hơn
BĐKH là một trong những nguyên nhân làm cho hiện tượng El - Nino diễn ra ngày càng sâu sắc hơn với những ảnh hưởng ngày càng lớn hơn Sự tương tác này đã dẫn đến nhiệt độ không khí tại tỉnh Nghệ An có thời điểm
Trang 39vượt trên 400
C trong khoảng thời gian dài, gây nên tình trạng hạn hán nghiêm trọng Lượng bốc hơi lớn hơn lượng mưa nhiều lần, đã làm cây trồng khô héo nhanh chóng, làm tăng nguy cơ cháy rừng và làm chết cây hàng loạt
Thêm vào đó, thời gian ngập lụt ở các con sông cũng kéo dài hơn so với những thập niên trước, như sông Cả, sông Cấm, trong các năm 2008,
2009, 2010 đều kéo dài trên dưới 20 ngày…
Theo nghiên cứu gần đây nhất của Sở Tài nguyên và Môi trường Nghệ
An, nhiệt độ trung bình trên địa bàn tỉnh tính theo thập kỷ tăng từ 0,1 - 0,20C, nhiệt độ trung bình giai đoạn 2000 - 2015 so với 10 - 30 năm trước tăng từ 0,3
- 0,60C, riêng vùng Tương Dương tăng từ 0,7 - 1,40C Trong khi đó, lượng mưa lại có xu hướng giảm hẳn với sự biến động lớn cả về không gian, thời gian cũng như cường độ Tuy lượng mưa ít nhưng cường độ mưa lớn gây lũ,
lũ quét ngày một gia tăng Theo đó, tần suất và quy luật của các cơn bão cũng thay đổi Thông thường mùa mưa bão ở Nghệ An là từ tháng 9 đến tháng 11
và chỉ các cơn bão số 7, 8, 9 mới đổ bộ vào Thế nhưng, gần đây, xu hướng bão có sự thay đổi rõ rệt Khoảng thời gian có khả năng xảy ra bão mở rộng từ tháng 8 đến tháng 12 và ngay từ cơn bão số 1 đã có thể đổ vào Nghệ An
Bên cạnh đó, tần suất và quy luật lũ lụt cũng thay đổi Nếu như trước đây, lũ chỉ xuất hiện từ tháng 8 đến tháng 10 thì nay lũ có thể xuất hiện từ tháng 4 đến tháng 12, như cơn lũ tháng 4/2003 gây thiệt hại nặng nề Không chỉ có thế, các cơn lũ còn xảy ra với dòng chảy mạnh hơn, tốc độ nhanh hơn, đỉnh lũ cao hơn khiến người dân không kịp ứng phó, gây thiệt hại nặng nề về người và của Đặc biệt, nguy hại hơn là sự gia tăng của hiện tượng xâm thực
bờ biển và nước biển lấn sâu vào các sông Đến nay, nước biển đã lấn sâu vào các con sông hơn 10 km và hiện tượng nước biển dâng cũng cao hơn 10 năm trước từ 10 - 20cm Tình trạng đó dẫn đến hậu quả nghiêm trọng là sự xâm nhập mặn ngày càng mở rộng Theo thống kê của ngành Nông nghiệp và phát triển nông thôn Nghệ An, lĩnh vực trồng trọt giai đoạn 2000 - 2015 đã bị thiệt hại do tác động và hậu quả của biến đổi khí hậu như sau:
Trang 40Bảng 1.3 Thống kê diện tích lúa và hoa màu bị thiệt hại trên địa bàn tỉnh
Nghệ An do thiên tai, sâu bệnh giai đoạn 2000 - 2015
(Nguồn: Chi cục Thống kê Nghệ An)
Trong những năm gần đây, kết quả thu hoạch của ngành trồng trọt chịu
sự chi phối rất lớn từ sự BĐKH, khái quát như sau:
Năm 2000: Sản xuất mùa vụ trong điều kiện thời tiết khó khăn Tỉnh Nghệ An đã gánh chịu tác động của 3 đợt rét đậm, 2 đợt rét hại trong vụ Đông Xuân và 6 đợt nắng nóng trong vụ Hè Thu, bên cạnh đó là rầy nâu phát triển mạnh và đạo ôn cổ bông xuất nhiều ở vụ Đông Xuân đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động trồng trọt, nhiều hecta hoa màu bị ngập úng, hư hỏng hay gieo trồng lại: có 14.381 ha lúa, 1.858 ha lạc, 680 ha ngô phải gieo trồng lại; 2.617 ha ngô hỏng hoàn toàn, hư hại 4.969 ha rau, 104 ha lạc
Năm 2005: Vụ Đông Xuân diễn biến rất phức tạp, bão số 5 từ 22 - 25/9/2005 với lượng mưa phổ biến từ 80 - 297,8 mm và ảnh hưởng hoàn lưu của bão số 6 ngày 30/9/2005 gây mưa to, lượng mưa phổ biến từ 107,9 - 471,2 mm đã gây ngập úng và nhiều diện tích phải gieo trỉa lại
Năm 2010: Vụ sản xuất Đông Xuân triển khai trong điều kiện thời tiết
có những hiện tượng bất thường, nền nhiệt độ cao hơn so với trung bình nhiều năm, đồng thời giao thoa giữa những ngày mát là những đợt nắng nóng (đợt rét đậm từ ngày 12 - 24/02/2010 tiếp đó đợt nắng nóng từ 25/02/2010 đến 6/3/2010) đã tác động đến sinh trưởng của cây trồng Đặc biệt trên cây lúa xuất hiện bệnh sinh lý trên giống Xi23, IR1820 ở các vùng đầu tư không cân đối, tụ đọng nước, đất chua; trổ sớm hơn so với lịch thời vụ 10 - 15 ngày; giai