1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng để nâng cao hiệu quả công tác quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng tại xã môn sơn, huyện con cuông, tỉnh nghệ an

85 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 1,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc nghiên cứu về chi trả dịch vụ môi trường rừng là một hướng đi mới, không chỉ giải quyết hài hòa các vấn đề cấp thiết đặt ra mà còn góp phần hoàn thiện hệ thống giám sát - đánh giá t

Trang 1

Tr-ờng đại học vinh Khoa địa lý – quản lý tài nguyên

Bùi thị th-ơng

Nghiên cứu cơ chế chi trả dịch vụ môi tr-ờng rừng để nâng cao hiệu quả công tác quản lý và bảo vệ rừng tại xã môn sơn,

huyện con cuông, tỉnh nghệ an

đồ án tốt nghiệp đại học

Ngành: quản lý tài nguyên và môi tr-ờng

Trang 2

Nghệ an, 2016 Tr-ờng đại học vinh Khoa địa lý – quản lý tài nguyên

Bùi thị th-ơng

Nghiên cứu cơ chế chi trả dịch vụ môi tr-ờng rừng để nâng cao hiệu quả công tác quản lý và bảo vệ rừng tại xã môn sơn,

huyện con cuông, tỉnh nghệ an

đồ án tốt nghiệp đại học

Ngành: quản lý tài nguyên và môi tr-ờng

Lớp : 53K4 - QLTN&MT Khóa : 2012 - 2016

GVHD : ThS Đậu Khắc Tài

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Sự thành công nào cũng luôn gắn liền với những sự hỗ trợ, giúp đỡ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp của người khác Trong suốt thời thực hiện khóa luận tốt nghiệp này em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp

đỡ của quý Thầy Cô, gia đình và bạn bè

Trước hết em xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu trường Đại học Vinh , các Thầy Cô giáo trong Khoa Địa Lý - Quản lý tài nguyên đã truyền đạt cho

em những kiến thức trong học tập cũng như làm hành trang trong cuộc sống

Em xin chân thành cảm ơn cán bộ và nhân dân xã Môn Sơn, cán bộ lãnh đạo và cán bộ công nhân viên trong Ban quản lí Vườn Quốc Gia Pù Mát,c cán

bộ phòng quản lí bảo vệ rừng; Hạt kiểm lâm; Vườn Quốc Gia Pù Mát Đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình học tập và triển khai nghiên cứu, thu thập số liệu để hoàn thành đề tài

Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến Th.S Đậu Khắc Tài -

người thầy đã tận tình hướng dẫn em trong quá trình học tập và giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này

Mặc dù đã hết sức cố gắng, nhưng do đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là các dịch vụ chi trả rừng, các giải pháp cải thiện sinh kế cộng đồng bền vững cần tham khảo nhiều ý kiến của chuyên gia nhưng với quỹ thời gian lại

ít và trình độ còn hạn chế nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được các ý kiến đóng góp bổ sung của các thầy cô giáo để hoàn thành khóa luận tốt hơn

Kính chúc mọi người luôn vui vẻ, hạnh phúc, dồi dào sức khỏe và thành công trong công việc

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 1

A PHẦN MỞ ĐẦU 7

1 Lý do chọn đề tài 7

2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 8

2.1 Mục tiêu của đề tài 8

2.2 Nhiệm vụ của đề tài 9

3, Nội dung và phạm vi nghiên cứu 9

3.1 Nội dung nghiên cứu 9

4, Quan điểm nghiên cứu 10

4.1 Quan điểm hệ thống 10

4.2 Quan điểm lịch sử 10

4.3 Quan điểm tổng hợp lãnh thổ 11

4.4 Quan điểm phát triển bền vững 11

5, Phương pháp nghiên cứu 11

5.1 Phương pháp thu thập, xử lý và tổng hợp tài liệu 11

5.2 Phương pháp chuyên gia 12

5.3 Phương pháp khảo sát thực địa 13

5.4 Phương pháp phỏng vấn 13

5.5 Phương pháp thống kê, so sánh 13

6, Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 13

7, Cấu trúc đề tài 14

B PHẦN NỘI DUNG 15

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN TRONG NGHIÊN CỨU CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG TẠI XÃ MÔN SƠN, HUYỆN CON CUÔNG, TỈNH NGHỆ AN 15

1.1 Cơ sở lý luận 15

1.1.1 Tài nguyên rừng và vai trò của tài nguyên rừng 15

1.1.1.1 Khái niệm tài nguyên rừng 15

Trang 5

1.1.2.1 Khái quát chung về chi trả dịch vụ môi trường 17

1.1.1.2 Nội dung chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng 20

1.1.1.3 Nền tảng cơ bản của cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng 26

1.2 Cơ sở thực tiễn 27

1.2.1 Tổng quan về chi trả dịch vụ môi trường rừng trên thế giới 27

1.2.2 Tổng quan về chi trả dịch vụ môi trường rừng ở Việt Nam 31

1.2.2.1 Tổng quan về chi trả dịch vụ môi trường rừng ở Việt Nam 31

1.2.2.2 Một số thách thức đặt ra cho chi trả dịch vụ môi trường rừng ở Việt Nam 33

1.3 Quy trình nghiên cứu 36

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝVÀ BẢO VỆ RỪNG TẠI XÃ MÔN SƠN, HUYỆN CON CUÔNG, TỈNH NGHỆ AN 37

2.1 Khái quát về Vườn quốc gia Pù Mát 37

2.2 Khái quát về xã Môn Sơn 39

2.2.1 Vị trí địa lý 39

2.2.2 Đặc điểm tự nhiên 40

2.2.2.1 Địa hình 40

2.2.2.2 Khí hậu 40

2.2.2.3 Sông ngòi 41

2.2.2.4 Đất đai 41

2.2.2.5 Sinh vật 42

2.2.3 Tình hình kinh tế xã hội 42

2.2.3.1 Đặc điểm dân cư và thành phần dân tộc 42

2.2.3.2 Y tế, giáo dục 44

2.2.3.3 Cơ sở hạ tầng 45

2.2.3.4 Tình hình phát triển kinh tế 46

2.3 Thực trạng công quản lý bảo vệ và phát triển rừng tại VQG Pù Mát 48

2.3.1 Tình hình sử dụng đất lâm nghiệp 48

2.3.2 Giao đất, giao rừng 52

Trang 6

2.3.3 Thực trạng công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng tại xã

Môn Sơn 55

2.3.3.1 Thực trạng quản lí và bảo vệ rừng trên địa bàn xã Môn Sơn 55

2.3.3.2 Thực trạng phát triển rừng 57

2.3.6 Đánh giá chung về những tồn tại trong quản lý, bảo vệ và sử dụng rừng 61

CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ BẢO VỆ RỪNG THÔNG QUA CƠ CHẾ CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG TẠI XÃ MÔN SƠN, HUYỆN CON CUÔNG, TỈNH NGHỆ AN 62

3.1 Cơ sở đề xuất các giải pháp quản lý và bảo vệ rừng thông qua cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng tại xã Môn Sơn 62

3.1.1 Hiệu quả về KT - XH - MT của chi trả dịch vụ môi trường rừng tại xã Môn Sơn 62

3.1.1.1 Phân tích hiệu quả về kinh tế 62

3.1.1.2 Phân tích hiệu quả về môi trường 67

3.1.1.3 Phân tích hiệu quả về xã hội 69

3.1.2 Tính toán lợi ích kinh tế của các bên khi tham gia dịch vụ môi trường rừng 71

3.1.2.1 Lợi ích của những người chủ rừng 71

3.1.2.2 Lợi ích của hoạt động thủy lợi 73

3.1.2.3 Đánh giá chung về lợi ích của các bên tham gia 73

3.2 Các vấn đề thách thức đặt ra cho chỉ trả dịch vụ môi trường rừng tại Môn Sơn 74

3.2.1 Tỷ lệ giải ngân thấp 74

3.1.2.3 Chi phí giao dịch cao 75

3.1.2.4 Những người sử dụng dịch vụ là khối tư nhân có những bất lợi nếu so sánh với người sử dụng dịch vụ là công ty Nhà nước 75

3.1.2.5 Đánh đổi giữa tính hiệu quả, công bằng và hiệu ích 75 3.3 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý và

Trang 7

3.3.2 Kết hợp PFES với các chương trình, chính sách lâm nghiệp 77

3.3.3 Chính phủ nên có thêm những văn bản cụ thể hướng dẫn cách thức tiến hành dự án đồng thời có chính sách khuyến khích nhiều người nghèo tham gia PFES 78

3.3.4 Chính phủ cần cải thiện điều kiện của hệ thống quyền sử dụng đất 78

3.3.5 Chính phủ cần xây dựng các quy định pháp lý chặt chẽ hơn về trách nhiệm của các bên tham gia 78

3.3.6 Thành lập và quản lý Quỹ chi trả dịch vụ môi trường rừng 79

3.3.7 Xây dựng các mô hình trình diễn về kinh doanh rừng có hiệu quả cao 79

3.3.8 Tổ chức tuyên truyền, phổ biến cho người dân các kiến thức thiết yếu về dịch vụ môi trường rừng, vai trò và trách nhiệm của họ khi tham gia PFES 80

C KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 81

1, Kết luận 81

2, Kiến nghị 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Dự báo dân số của 7 xã huyện Con Cuông thuộc vùng đệm

năm 2013 39

Bảng 2.2 Dân số và thành phần dân tộc 43

Bảng 2.3 Những đặc trƣng dân số của xã Môn Sơn 44

Bảng 2.4: Cơ sở giáo dục xã Môn Sơn 45

Bảng 2.5 Diện tích đất rừng của xã Môn Sơn do VQG Pù Mát quản lí năm 2013 49

Bảng 2.6 Diện tích đất rừng của xã Môn Sơn do Ban lâm nghiệp xã quản lí năm 2013 50

Bảng 2.7 Diện tích giao khoán đất rừng của VQG Pù Mát cho các hộ gia đìnhtrên địa bàn xã Môn Sơn tính đến năm 2014( ha) 53

Bảng 2.8 Dự kiến quy hoạch diện tích giao khoán bảo vệ rừng cho cộng đồng giai đoạn 2010-2020 54

Bảng 2.9 Diện tích đƣa vào khoanh nuôi cho cả giai đoạn 2012-2020 59

Trang 9

đã và đang khiến cho tài nguyên này đang bị suy giảm một cách nghiêm trọng Đây chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến suy thoái môi trường và biến đổi khí hậu toàn cầu

Ngày nay, nhận thức về tầm quan trọng của rừng ngày một nâng cao, đặc biệt là sự tiếp cận với những cách nghĩ mới về lợi ích mà rừng đem lại Đó được xem là một “hàng hóa”, có thể đem ra trao đổi và mua bán trên thị trường Chính vì vậy, dịch vụ môi trường rừng đã ra đời và đang trở thành một công cụ kinh tế hữu hiệu, một chính sách xã hội mới, sâu, rộng, có hiệu quả tạo ra được nguồn tài chính bền vững cho bảo vệ và phát triển rừng, gia tăng đóng góp của ngành lâm nghiệp trong nền kinh tế quốc dân, góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác bảo vệ tài nguyên rừng

Việc nghiên cứu về chi trả dịch vụ môi trường rừng là một hướng đi mới, không chỉ giải quyết hài hòa các vấn đề cấp thiết đặt ra mà còn góp phần hoàn thiện hệ thống giám sát - đánh giá thực hiện và chi trả dịch vụ môi trường rừng toàn diện, có chiều sâu về cả ba khía cạnh thể chế - môi trường - xã hội với mục đích bảo vệ rừng, môi trường, nguồn nước, góp phần chống biến đổi khí hậu toàn cầu và xóa đói giảm nghèo cho người dân ở nhiều nước trên thế giới

Nằm về phía Tây Nam của huyện Con Cuông, Xã Môn Sơn vai trò vô cùng quan trọng trong vấn đề bảo vệ và phát triển rừng của VQG Pù Mát

Trang 10

Trong những năm gần đây, dân số ở xã Môn Sơn tăng lên khá nhanh dẫn đến nhu cầu về cuộc sống của người dân trong vùng đệm cũng tăng lên đã gây áp lực lớn đến Vườn quốc gia Pù Mát như nhu cầu gỗ làm nhà, chất đốt, tiền

phá rừng làm rẫy, khai thác các loại gỗ quý hiếm và săn bắt động vật hoang

dã nhằm mục đích giải quyết một số nhu cầu trong cuộc sống để tồn tại Điều đó, dẫn đến việc quản lý rừng ở vùng lõi lẫn vùng đệm gặp nhiều khó khăn, chất lượng rừng ngày càng bị giảm sút nghiêm trọng, làm mất đi tính bền vững của các hệ sinh thái rừng

Với những lý do trên, tôi đã lựa chọn đề tài “ Nghiên cứu cơ chế chi trả

dịch vụ môi trường rừng để nâng cao hiệu quả công tác quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng tại xã Môn Sơn, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An” với mong

muốn mang đến một cái nhìn cụ thể hơn về các lợi ích mà cơ chế chi trả dịch

vụ môi trường rừng đem lại Từ đó, nhận thức rõ hơn về kinh nghiệm thực hiện của các nước trên thế giới và rút ra bài học kinh nghiệm cho việc áp dụng PFES tại Việt Nam cũng như đảm bảo phát triển sinh kế cộng đồng bền vững cho các đồng bào dân tộc ít người ở vùng miền núi tại xã Môn Sơn, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An

2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

2.1 Mục tiêu của đề tài

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng, phân tích hiệu quả của các lợi ích từ dịch vụ môi trường mang lại Bên cạnh đó, đề tài nghiên cứu cũng đánh giá những mặt đạt được và chưa đạt được, phân tích những thuận lợi, khó khăn của việc chi trả cho các dịch vụ môi trường rừng tại xã Môn Sơn

Từ đó, đề xuất một số giải pháp phù hợp để góp phần nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ rừng thông qua cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng tại xã Môn Sơn, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An

Trang 11

2.2 Nhiệm vụ của đề tài

Để đạt được mục tiêu trên, đề tài cần thực hiện những nhiệm vụ chính sau:

- Tìm hiểu cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý của dịch vụ môi trường rừng

- Thực trạng thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng tại xã Môn Sơn thuộc vùng đệm VQG Pù Mát, huyện Con Cuông tỉnh Nghệ An

- Đánh giá, so sánh, phân tích hiệu quả về kinh tế - xã hội - môi trường của chi trả dịch vụ môi trường tại xã Môn Sơn thuộc vùng đệm VQG Pù Mát, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An

- Đề xuất các giải pháp đẩy mạnh dịch vụ môi trường rừng và phát triển sinh kế bền vững tại xã Môn Sơn thộc vùng đệm VQG Pù Mát, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An

3, Nội dung và phạm vi nghiên cứu

3.1 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn trong nghiên cứu chi trả dịch vụ môi trường rừng của xã Môn Sơn

- Nghiên cứu điều kiện tự nhiên, dân cư, kinh tế, xã hội của xã Môn Sơn

- Tìm hiểu thực trạng công tác quản lí rừng trên địa bàn xã Môn Sơn, huyện Con Cuông

- Xác định định mức chi trả dịch vụ môi trường rừng của xã Môn Sơn

- Tìm hiểu công tác bảo vệ rừng thông qua cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng của xã Môn Sơn

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi lãnh thổ: nghiên cứu của đề tài được giới hạn trên địa bàn xã

Môn Sơn, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An

- Phạm vi nội dung: nghiên cứu tập trung về chi trả dịch vụ môi trường

rừng tại xã Môn Sơn, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An

- Giới hạn thời gian: từ tháng 3/2016 - tháng 5/2016

Trang 12

4, Quan điểm nghiên cứu

4.1 Quan điểm hệ thống

Trong thực tiễn, mọi sự vật hiện tượng đều là một chỉnh thể toàn vẹn thì bao giờ cùng là một hệ thống được cấu trúc bởi nhiều bộ phận, nhiều thành tố Các bộ phận này có vị trí độc lập, có chức năng riêng và có những quy luật vận động riêng nhưng chúng lại có quan hệ biện chứng với nhau, theo mối quan hệ vật chất và mối quan hệ chức năng và vận động theo quy luật của toàn bộ hệ thống

Quan điểm hệ thống được vận dụng vào đề tài khi xem địa bàn xã Môn Sơn là một hệ thống mở Trong đó cấu trúc đứng là các hợp phần tự nhiên: Địa hình, đất đai, khí hậu, sông ngòi, sinh vật và các hợp phần kinh tế xã hội: dân cư, nguồn lao động, cơ sở vật chất - kỹ thuật Cấu trúc ngang là các đơn

vị lãnh thổ theo đơn vị hành chính gồm có 12 thôn, bản Cấu trúc chức năng

là đường lối chính sách, sự giám sát chỉ đạo của các tổ chức các cơ quan có thẩm quyền Mọi hoạt động quản lý rừng dựa vào cộng đồng trên địa bàn xã Môn Sơn thuộc vùng đệm Vườn quốc gia Pù Mát đều phải chịu tác động qua lại của các yếu tố cấu trúc nội hệ thống và các yếu tố ngoại hệ thống Bên cạnh đó, rừng là một hệ sinh thái tổng thể bao gồm nhiều hệ sinh thái khác nhau Các thành phần trong hệ sinh thái rừng phong phú, đa dạng nhưng phân cấp có hệ thống Vì vậy, việc nghiên cứu chi trả dịch vụ môi trường rừng phải dựa trên quan điểm hệ thống

4.2 Quan điểm lịch sử

Dịch vụ môi trường nói chung và dịch vụ môi trường rừng nói riêng đang ngày càng nhận được nhiều mối quan tâm từ các nhà lập chính sách và các nhà khoa học như một cơ chế để chuyển các giá trị phi thị trường của môi trường thành các khuyến khích tài chính cho người dân địa phương có vai trò cung cấp dịch vụ môi trường rừng Vì vậy, việc nghiên cứu chi trả dịch vụ môi trường rừng không thể bỏ qua lịch sử hình thành và phát triển của cơ chế

Trang 13

Sơn thuộc vùng đệm VQG Pù Mát - tỉnh Nghệ An để nghiên cứu đạt kết quả chính xác nhất

4.3 Quan điểm tổng hợp lãnh thổ

Hệ sinh thái rừng là một khối tổng thể thống nhất Vì vậy, việc nghiên cứu, phân tích, đánh giá chi trả môi trường rừng phải dựa trên quan điểm tổng hợp lãnh thổ Bất kỳ một sự vật, hiện tượng nào cũng tồn tại trên một lãnh thổ nhất định và có sự phân hóa về mặt tự nhiên cũng như kinh tế - xã hội, khác với các lãnh thổ khác Khi nghiên cứu về chi trả dịch vụ môi trường rừng cần phải chú trọng đến “quan điểm lãnh thổ” hay nói cách khác là cần nắm vững kiến thức về sự phân hóa cảnh quan, để nghiên cứu chi trả dịch vụ môi trường rừng một cách hiệu quả

Phạm vi lãnh thổ nghiên cứu đề tài là một đơn vị lãnh thổ cụ thể, trong

đề tài đó là xã Môn Sơn thuộc vùng đệm Vườn quốc gia Pù Mát

4.4 Quan điểm phát triển bền vững

Phát triển bền vững là quan điểm chính mà đề tài muốn hướng tới Việc nghiên cứu chi trả dịch vụ rừng gắn liền với công tác quản lý và bảo vệ rừng

là một trong những việc quan trọng của các nước trên thế giới Trên thực tế, những người bảo tồn, gìn giữ và phát triển dịch vụ môi trường rừng chưa được hưởng những lợi ích xứng đáng mà xã hội phải trả cho các nỗ lực của

họ Còn những người sử dụng các dịch vụ này chưa chi trả hợp lý cho những dịch vụ mà họ được hưởng Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu và Trái Đất nóng lên hiện nay đang trở thành vấn đề nóng trên toàn cầu thì phát triển các dịch

vụ môi trường rừng là cấp thiết hơn bao giờ hết

5, Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp thu thập, xử lý và tổng hợp tài liệu

Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu, phương pháp thu thập, xử lý và tổng hợp tài liệu được thể hiện qua các bước sau:

- Xác định đối tượng, phạm vi và các nội dung thu thập tài liệu theo mục tiêu của đề tài

- Tiến hành thu thập tài liệu có liên quan, điều tra và thăm dò ý kiến

Trang 14

- Xử lý, phân tích, tổng hợp tài liệu

Các tài liệu thu thập được xử lý, phân tích và tổng hợp tài liệu trong đề tài theo nhiều hình thức khác nhau Các tài liệu được tổng hợp theo từng danh mục riêng dựa vào đề cương nghiên cứu đề tài Bên cạnh đó, danh sách các tài liệu tham khảo cũng được lập ra để làm cơ sở cho việc đối chiếu giữa các yếu

tố riêng biệt tạo nên cái tổng thể của đề tài Trong nghiên cứu khoa học, phương pháp thu thập xử lý tài liệu, tư liệu rất quan trọng Các nguồn tài liệu được thu thập từ các công trình nghiên cứu, các dự án đã nghiệm thu, các báo cáo định kỳ hàng năm, sách báo liên quan, các số liệu, tài liệu sử dụng trong

đề tài Các tài liệu sử dụng cho đề tài được thu thập từ Vườn quốc gia Pù Mát, UBND huyện Con Cuông, UBND xã Môn Sơn, các trạm kiểm lâm, thôn, bản,…

Sau khi thu thập số liệu, tài liệu phục vụ cho mục đích của đề tài, tiếp theo tiến hành xử lý thông tin bằng các phương pháp thống kê, phân tích, so sánh, nhằm rút ra các kết quả cần thiết Thông tin khi đã qua xử lý sẽ phản ánh được nội dung của vấn đề, xác định được tiềm năng của địa phương Từ

đó đề ra những giải pháp, kiến nghị hợp lý và có tính thiết thực cho vẫn đề nghiên cứu

5.2 Phương pháp chuyên gia

Để có thông tin chính xác về thực trạng chi trả dịch vụ môi trường rừng, hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp, cơ sở ước lượng khả năng hấp thụ cacbon

từ rừng… thì ngoài việc nghiên cứu tài liệu, nghiên cứu thực địa, đề tài đã tham khảo các ý kiến chuyên gia trong lĩnh vực lâm nghiệp những người có kinh nghiệm trong lĩnh vực nghiên cứu , đặc biệt là hỏi ý kiến của giáo viên, các cán bộ tại VQG Pù Mát, UBND xã Môn Sơn Đồng thời tham khảo kinh nghiệm của một số người dân xã Môn Sơn để làm căn cứ cho đề tài nhằm đưa

ra kết quả một cách xác đáng, có căn cứ khoa học và thực tiễn đồng thời làm

cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ tài

Trang 15

5.3 Phương pháp khảo sát thực địa

Khi thực hiện đề tài này tác giả đã tiến hành khảo sát thực địa tại xã Môn Sơn - huyện Con Cuông - tỉnh Nghệ An Các kết quả đạt được như: tổng quan

về các điều kiện tự nhiên và tình hình phát triển KT - XH, tìm hiểu về thực trạng công tác quản lý và bảo vệ rừng tại xã Môn Sơn

5.4 Phương pháp phỏng vấn

Phỏng vấn là phương pháp giúp người nghiên cứu kiểm chứng giữa các

số liệu thông tin thu thập được so với thực tế, biết được một số Để từ đó rút

ra sự chính xác của các thông tin, để phù hợp với mục tiêu ban đầu của đề tài cần tiến hành phỏng vấn một số đối tượng sau:

- Phỏng vấn các cán bộ quản lý của Vườn quốc gia

- Phỏng vấn các cán bộ các Hạt kiểm lâm, phỏng vấn cán bộ ban lâm

nghiệp xã Môn Sơn

- Phỏng vấn một số gia đình tại xã Môn Sơn

5.5 Phương pháp thống kê, so sánh

Phương pháp thống kê, so sánh được sử dụng trong việc thống kê các số liệu về hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp, diện tích rừng…để có những cơ sở cho việc nghiên cứu chi trả dịch vụ môi trường rừng Trong quá trình sử dụng phương pháp thống kê, so sánh, các nguồn cung cấp số liệu cũng như sự thống nhất về mặt thời gian luôn được chọn lọc để đảm bảo tính nhất quán, chính xác cho việc phân tích Ngoài ra, các số liệu thống kê giúp cho việc so sánh, đánh giá thực trạng quản lý và bảo vệ rừng trước và sau khi có cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng

6, Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Về mặt khoa học, đề tài góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý cho việc

nghiên cứu chi trả dịch vụ môi trường rừng Từ đó, tiết kiệm nguồn ngân sách cho nhà nước, giúp các nhà quản lý có cách nhìn mới về cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng Đồng thời, đề tài còn góp phần đảm bảo sự phát triển bền vững trong khai thác, sử dụng, bảo vệ và phát triển rừng thông qua cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng

Trang 16

Về mặt thực tiễn, đề tài cung cấp thêm một công cụ kinh tế thiết thực

trong khai thác giá trị từ rừng, giúp người quản lý có cái nhìn trực quan về tầm quan trọng của các dịch vụ môi trường rừng để bảo vệ rừng tốt hơn, đồng thời tạo điều kiện để người dân có thể tiếp cận, đặc biệt là đồng bào các dân tộc ít người ở vùng miền núi xã Môn Sơn và góp phần phát triển sinh kế cộng đồng bền vững trong tương lai Bên cạnh đó, nghiên cứu này cũng là “cầu nối” giữa các hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn, các ban quản lý với các tổ chức, cá nhân sử dụng trực tiếp các giá trị dịch vụ môi trường rừng

để sản xuất, kinh doanh các sản phẩm được hưởng lợi từ rừng Hơn thế nữa, dịch vụ môi trường rừng còn mang lại cách nhìn nhận thêm về thị trường mua bán phát thải Cacbon, tiềm năng phát triển du lịch sinh thái về giá trị thẩm mỹ

và giá trị văn hóa để thấy rằng dịch vụ môi trường rừng mang lại lợi ích kinh

tế - xã hội - môi trường khá lớn cho các bên tham gia Vô hình dung, dịch vụ môi trường rừng đã đưa các giá trị trừu tượng hóa gắn liền với bảo vệ tài nguyên rừng để có những đánh giá, so sánh thiết thực và đề xuất các giải pháp

để nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ rừng đối với đồng bào các dân tộc ít người ở vùng miền núi, góp phần dần dần thay đổi ý thức của cộng đồng dân

cư thôn trong bảo vệ rừng

7, Cấu trúc đề tài

Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn trong nghiên cứu chi trả dịch

vụ môi trường rừng tại xã Môn Sơn, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý và bảo vệ rừng tại xã Môn Sơn, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An

Chương 3: Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản

lý và bảo vệ rừng thông qua cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng tại xã Môn Sơn, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An

Trang 17

B PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN

TRONG NGHIÊN CỨU CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG TẠI XÃ MÔN SƠN, HUYỆN CON CUÔNG, TỈNH NGHỆ AN

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Tài nguyên rừng và vai trò của tài nguyên rừng

1.1.1.1 Khái niệm tài nguyên rừng

Rừng là quần xã sinh vật có diện tích đủ lớn mà trong đó cây rừng là thành phần chủ yếu Giữa các quần xã sinh vật và môi trường, các thành phần trong quần xã sinh vật phải có mối quan hệ mật thiết để đảm bảo khác biệt giữa cảnh quan rừng và các loại cảnh quan khác

Năm 1930, Morozov đưa ra khái niệm: Rừng là một tổng thể cây gỗ, có mối liên hệ lẫn nhau, nó chiếm một phạm vi không gian nhất định ở mặt đất

và trong khi quyển Rừng chiếm phần lớn bề mặt trái đất và là một bộ phận của cảnh quan địa lý

Năm 1952, M.E Tcachenco phát biểu: Rừng là một bộ phận của cảnh quan địa lý, trong đó bao gồm một tổng thể các cây gỗ, cây bụi, cây cỏ, động vật và vi sinh vật Trong quá trình phát triển của mình chúng có mối quan hệ sinh học và ảnh hưởng lẫn nhau và với hoàn cảnh bên ngoài

Năm 1974, I.S Mê lê khôp cho rằng: Rừng là sự hình thành phức tạp của

tự nhiên, là thành phần cơ bản của sinh quyển địa cầu

1.1.1.2 Vai trò của tài nguyên rừng

Sự quan hệ của rừng và cuộc sống đã trở thành một mối quan hệ hữu cơ Không có một dân tộc, một quốc gia nào không biết rõ vai trò quan trọng của rừng trong cuộc sống Vai trò đó được biểu hiện rất rõ ràng về mặt tự nhiên cũng như kinh tế xã hội và mội trường

a,Về mặt tự nhiên

Rừng có tác dụng điều hòa khí hậu toàn cầu thông qua việc làm giảm đáng kể lượng nhiệt chiếu từ mặt trời xuống bề mặt trái đất do che phủ của tán

Trang 18

rừng thường rất lớn so với các loại hình sử dụng đất khác, đặc biệt là vai trò hết sức quan trọng của rừng trong việc duy trì chu trình carbon trên trái đất

mà nhờ đó nó có tác dụng tích cực đến sự giảm thiểu sự biến đổi khí hậu toàn cầu

Thực vật sống mà chủ yếu là các hệ sinh thái rừng có khả năng giữ lại và tích trữ lượng lớn carbon trong khí quyển Vì thế sự tồn tại của thực vật và các hệ sinh thái rừng có vai trò đáng kể trong việc chống lại hiện tượng ấm lên toàn cầu và làm ổn định khí hậu

Rừng bảo vệ độ phì nhiêu và bồi dưỡng tiềm năng của đất, ở vùng có đủ rừng thì dòng chảj bị chế ngự, ngăn chặn được nạn bào mòn, nhất là trên đồi núi dốc tác dụng ấy có hiệu quả lớn, nên lớp đất mặt không bị mỏng, mọi đặc tính lý hóa và vi sinh vật học của đất không bị phá hủy, độ phì nhiêu được duy trì Nếu rừng bị phá hủy, đất bị xói, quá trình đất mất mùn và thoái hóa dễ xảy ra rất nhanh chóng và mãnh liệt Đồng thời các quá trình feralitic, tích tụ sắt, nhôm, hình thành kết von, hóa đá ong, lại tăng cường lên, làm cho đất mất tính chất hóa lý, mất vi sinh vật, không giữ được nước, dễ bị khô hạn, thiếu chất dinh dưỡng, trở nên rất chua, kết cứng lại, đi đến cằn cỗi, trơ sỏi đá Rừng điều tiết nước, phòng chống lũ lụt, xói mòn thông qua điều hòa nguồn nước giảm dòng chảy bề mặt chuyển nó vào lượng nước ngấm xuống đất và vào tầng nước ngầm Khắc phục được xói mòn đất, hạn chế lắng đọng lòng sông, lòng hồ, điều hòa được dòng chảy của các con sông, con suối (tăng lượng nước sông, nước suối vào mùa khô, giảm lượng nước sông suối vào mùa mưa)

b,Về mặt kinh tế

Rừng cung cấp một sản lượng lớn lâm sản phục vụ nhu cầu của người tiêu dùng Từ các loại gỗ, tre, nứa các nhà kinh doanh thiết kế tạo ra hàng trăm mặt hàng đa dạng và phong phú như trang sức, mĩ nghệ, dụng cụ lao động, thuyền bè truyền thống, cho tới nhà ở hay đồ dùng gia đình hiện

Trang 19

Rừng là nguồn dược liệu vô giá Từ ngàn xưa, con người đã khai thác các sản phẩm của rừng để làm thuốc chữa bệnh, bồi bổ sức khỏe Ngày nay, nhiều quốc gia đã phát triển ngành khoa học “dược liệu rừng” nhằm khai thác có hiệu quả hơn nữa nguồn dược liệu vô cùng phong phú của rừng và tìm kiếm các phương thuốc chữa bệnh nan y

Hoạt động du lịch sinh thái ngành dịch vụ phát triển lên từ rừng Nhiều

dự án phát triển du lịch sinh thái được hình thành gắn liền với các vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên, các khu rừng có cảnh quan đặc biệt Du lịch sinh thái không chỉ phục vụ nhu cầu về mặt tinh thần mà còn tăng thêm thu nhập cho dân địa phương Thông quá đó, người dân đã gắn bó với rừng hơn, tham gia tích cực hơn trong công tác bảo vệ và xây dựng rừng Thêm một vấn

đề đặt ra về môi trường bị ảnh hưởng bởi hoạt động du lịch và làm thế nào để quản lí môi trường nói chung và của các loài động vật, thực vật rừng nói riêng

1.1.2 Dịch vụ môi trường rừng

1.1.2.1 Khái quát chung về chi trả dịch vụ môi trường

Dịch vụ môi trường (Environmental Services) là những dịch vụ và chức

năng được cung cấp bởi hệ sinh thái và có những giá trị nhất định về kinh tế Các nhóm dịch vụ môi trường bao gồm:

- Chức năng phòng hộ đầu nguồn

- Bảo vệ đa dạng sinh học

- Bảo vệ cảnh quan thiên nhiên

- Hấp thụ Cacbon

Dịch vụ môi trường rừng là việc cung ứng và sử dụng bền vững các giá

trị sử dụng của môi trường rừng như điều tiết nguồn nước, bảo vệ đất, chống bồi lắng lòng hồ, ngăn chặn lũ lụt, lũ quét, cảnh quan, đa dạng sinh học…(Điều 4, chương I, Quyết định 380/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 10 tháng 4 năm 2008) Trong đó, giá trị môi trường rừng được hiểu là giá trị mà rừng làm lợi cho môi trường, do bản thân các khu rừng tạo ra nhưng

Trang 20

không chỉ sử dụng bởi những người quản lý, bảo vệ và phát triển rừng mà còn bởi toàn xã hội với việc xem xét đến các dịch vụ môi trường rừng thì các giá trị này được xem xét như một loại hàng hóa công cộng, có thể do cả xã hội sử dụng mà người làm rừng không quản lý và điều tiết được quá trình và khai thác của chúng

Chi trả dịch vụ môi trường rừng: là quan hệ kinh tế (trao đổi) giữa

người sản xuất cung ứng dịch vụ môi trường rừng (người bán) cho người hưởng thụ dịch vụ môi trường rừng (người mua, người phải chi trả)

Chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES) thực chất là một cơ chế chi trả dựa trên việc người cung cấp hay người sử dụng có được lợi ích từ các dịch

vụ sinh thái để dẫn đến việc quản lý và bảo vệ chúng Cơ chế này cần có sự thiết lập rõ ràng để đảm bảo nó hoạt động thực sự hiệu quả trong một thời gian dài và có thể nhân rộng ra quy mô lớn hơn Theo Wunder (2005) các tiêu chí của PFES là:

- Tự nguyện trong giao dịch

- Các dịch vụ môi trường cần được xác định rõ

- Có ít nhất một người cung cấp dịch vụ môi trường

- Có ít nhất một người mua dịch vụ môi trường

- Nếu và chỉ với điều kiện là người cung cấp dịch vụ môi trường phải đảm bảo việc cung cấp dịch vụ môi trường (mang tính điều kiện)

Dựa trên các tiêu chí này, nghiên cứu chi trả dịch vụ môi trường rừng được xây dựng qua ba bước chính sau đây:

- Nhận dạng và xác định các dịch vụ môi trường rừng

- Xem xét giá trị kinh tế của các dịch vụ môi trường rừng Trong bước này ta sẽ xác định giá cho các dịch vụ Việc tính toán các giá trị kinh tế có thể dựa trên các giá trị bằng tiền cho hàng hóa và dịch vụ được cung cấp bởi môi trường tự nhiên, dù có hay không giá trị thị trường vẫn rất hữu ích trong việc

Trang 21

Nguyên tắc chi trả dịch vụ môi trường rừng

Theo Noordwijk đã đưa ra 4 nguyên tắc để xây dựng cơ chế chi trả dịch

vụ môi trường rừng:

- Tính thực tế: việc chi trả phải gắn kết với các mức thay đổi đo đếm

được của dịch vụ môi trường

- Tính điều kiện: chi trả dựa trên hiệu quả và nếu có thể là dựa vào kết

quả đầu ra Tính điều kiện cũng có nghĩa việc chi trả chỉ thực hiện nếu người cung cấp dịch vụ môi trường tuân thủ hợp đồng Tính điều kiện đồng thời yêu cầu các chính sách và khung thể chế hỗ trợ cùng với sự giám sát hiệu quả và phạt vi phạm đối với các trường hợp không tuân thủ, điều mà rất nhiều mô hình PES khó đạt được trên thực tế

- Tính tự nguyện: chi trả dựa trên sự đồng thuận một cách tự do và

được thông tin trước của tất cả các bên, với mức đền đáp phù hợp với tất cả mọi bên tham gia; và

- Tính hướng nghèo: (hoặc ít nhất không làm tăng sự bất bình đẳng)

Cụ thể hơn, với việc chi trả cho dịch vụ môi trường rừng, Điều 7 chương I, Quyết định 380/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định như sau:

- Việc chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng trực tiếp do người được chi trả và người phải chi trả thực hiện trên cơ sở hợp đồng thoả thuận theo nguyên tắc thị trường

- Mức tiền chi trả sử dụng dịch vụ môi trường rừng gián tiếp do Nhà nước quy định được công bố công khai và điều chỉnh khi cần thiết

- Các tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ môi trường rừng phải chi trả tiền sử dụng dịch vụ môi trường rừng cho người được chi trả dịch vụ môi trường rừng và không thay thế cho thuế tài nguyên nước hoặc các khoản phải nộp khác theo quy định của pháp luật

- Đối với tổ chức kinh doanh, tiền chi trả cho việc sử dụng dịch vụ môi trường rừng được tính vào giá thành sản phẩm của bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng

Trang 22

Các hình thức chi trả dịch vụ môi trường

Có hai hình thức thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng:

- Chi trả dịch vụ môi trường rừng trực tiếp: là việc người sử dụng

dịch vụ môi trường rừng (người phải chi trả) trả tiền trực tiếp cho người cung ứng dịch vụ môi trường (người được chi trả)

- Chi trả dịch vụ môi trường rừng gián tiếp: là việc người sử dụng

dịch vụ môi trường rừng chi trả gián tiếp cho người cung ứng dịch vụ môi trường rừng thông qua một số tổ chức và thực hiện theo quy định

(Điều 6 chương I, Quyết định 380/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ) 1.1.1.2 Nội dung chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng

Hướng tới việc phát triển bền vững, Quyết định 380/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ra đời ngày 10/04/2008 đã quy định rõ về việc cần thiết phải xây dựng thí điểm cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng tại một số tỉnh, sau đó rút kinh nghiệm và nhân rộng mô hình này trên cả nước

Ngoài những căn cứ pháp lý trên, còn phải kể đến một số nghị định cũng như báo cáo dự án trồng và phát triển rừng như:

Trang 23

+ Kế hoạch số 1660/KH-BNN-PC ngày 12/06/1008 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về kế hoạch tổ chức triển khai Quyết định 380/QĐ-TTg ngày 10/04/2008 của Thủ tướng Chính phủ

+ Nghị định số 05/2008/NĐ-CP ngày 14/01/2008 của Chính phủ về Quỹ bảo vệ và phát triển rừng

+ Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính phủ về Chính

sách chi trả dịch vụ môi trường rừng

+ Thông tư số 80/2011/TT-BNNPTNT ngày 23/11/2011 về hướng dẫn phương pháp xác định tiền chi trả

+ Thông tư số 60/2012/TT-BNNPTNT ngày 09/11/2012 quy định về nguyên tắc, phương pháp xác định diện tích rừng trong lưu vực phục vụ chi trả dịch vụ môi trường rừng

+ Thông tư liên tịch số 62/2012/TTLT-BNNPTNT-BTC ngày 16/11/2012 hướng dẫn cơ chế quản lý sử dụng tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng

Có thể nói, Việt Nam đã trở thành quốc gia đầu tiên tại châu Á ban hành và triển khai chính sách PFES ở cấp quốc gia

Nhiều nghiên cứu hiện nay đã đánh giá giá trị của rừng theo quan điểm kinh tế, nghĩa là lượng hoá các lợi ích mà rừng mang lại cho cuộc sống con người qua các con số chứ không còn đơn thuần là kể ra những lợi ích đó Dựa trên chính các kết quả này, giá trị dịch vụ môi trường rừng ngày càng được thừa nhận rộng rãi hơn Các nghiên cứu thực hiện trên phạm vi thế giới

đã chỉ ra cơ cấu cho các loại dịch vụ môi trường rừng là: hấp thụ các-bon chiếm 27%; bảo tồn đa dạng sinh học chiếm 25%; phòng hộ đầu nguồn chiếm 21%; bảo vệ cảnh quan chiếm 17% và các giá trị khác chiếm 10% Thực tiễn tại Việt Nam cũng cho thấy những tín hiệu đáng mừng của việc thay đổi trong nhận thức của con người về các giá trị của dịch vụ môi trường rừng Rừng không chỉ là nguồn tài nguyên quý giá mà còn có chức năng bảo vệ cho các khu vực hạ lưu, vì thế Việt Nam đã xác định cần thiết phải xây dựng một cơ chế quản lý rừng hiệu quả hơn thay thế cho các

Trang 24

phương pháp trước đây theo quan điểm coi dịch vụ môi trường rừng là một loại hàng hoá Đây là cơ sở tiền đề quan trọng cho “Cơ chế chi trả cho dịch

vụ môi trường rừng”

Mục tiêu của PFES tại Việt Nam là: bảo vệ diện tích rừng hiện có, nâng cao chất lượng rừng, gia tăng đóng góp của ngành lâm nghiệp vào nền kinh tế quốc dân, giảm nhẹ gánh nặng lên ngân sách Nhà nước cho việc đầu tư vào bảo vệ và phát triển rừng và đảm bảo an sinh xã hội của người làm nghề rừng Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có một đánh giá và nghiên cứu toàn diện về thực trạng triển khai PFES ở Việt Nam

Trên thế giới, việc nghiên cứu và triển khai dự án chi trả dịch vụ môi trường rừng đã được chú ý từ những năm 90 của thế kỷ 20 Rất nhiều nghiên cứu đã được tiến hành, điển hình như nghiên cứu của Trường Đại học California, nhằm xác định khái niệm chi trả dịch vụ môi trường rừng, chi trả cho ai và mức chi trả là bao nhiêu Các nghiên cứu đã tính toán ra giá trị của rừng trong việc bảo vệ đất, nước, không khí, đa dạng sinh học làm cơ sở đưa ra mức chi trả của xã hội đối với dịch vụ môi trường rừng Đây là cơ

sở tiền đề cho các nước đi sau, như Việt Nam, tham khảo và kế thừa để áp dụng vào thực tiễn bảo vệ môi trường, cụ thể là cho môi trường rừng Thực tế cho thấy, PES đã được áp dụng ở rất nhiều nơi trên thế giới như châu Phi, châu Á, Đông Âu, châu Mỹ Latinh và đã có những thành công nhất định Trong đó, Costa Rica là một trong những nước đầu tiên xây dựng và thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, bao gồm giá trị hấp thụ Cac bon, phòng hộ đầu nguồn, đa dạng sinh học và bảo vệ cảnh quan Thành công của các nước đi trước là bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc xây dựng và triển khai chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng - một chính sách còn hết sức mới mẻ này

Trang 25

b, Nội dung chính sách :

- Toàn bộ diện tích rừng tự nhiên, rừng trồng thuộc quy hoạch rừng phòng hộ và rừng đặc dụng

- Diện tích rừng tự nhiên, rừng trồng là rừng sản xuất đủ tiêu chuẩn phòng hộ thì sẽ xác định giá trị dịch vụ môi trường rừng trong thời gian chưa khai thác

- Giá trị dịch vụ môi trường rừng được xác định theo từng loại rừng: rừng gỗ, rừng hỗn giao, tre nứa (đối với rừng tự nhiên) và rừng đã có trữ lượng và chưa có trữ lượng (đối với rừng trồng)

- Chỉ xác định những giá trị gián tiếp khả thi và có khả năng tính toán được (thông qua kết quả nghiên cứu thực té đã được công bố tại Việt Nam)

- Các tổ chức, các nhân sử dụng trực tiếp các giá trị dịch vụ môi trường rừng để sản xuất hàng hoá hoặc kinh doanh các sản phẩm được hưởng lợi từ rừng, bao gồm: các công trình thuỷ lợi, thuỷ điện, nước sinh hoạt, du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng

- Các tổ chức, cá nhân có hoạt động gây tác động ảnh hưởng có hại đến môi trường rừng như khai thác khoáng sản, công trình giao thông và các hoạt động sản xuất gây ô nhiễm không khí

- Các ban quản lý rừng phòng hộ và đặc dụng được nhận phí chi trả dịch vụ môi trường rừng để đầu tư cho công tác bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng, rừng phòng hộ

- Các hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư được Nhà nước giao rừng, khoán bảo vệ rừng là rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất

- Các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư thôn được giao đất, giao rừng sản xuất (rừng trồng và rừng tự nhiên), khi rừng đã đủ

Trang 26

tiêu chuẩn phòng hộ trong thời gian chưa khai thác sẽ được hưởng phí chi trả dịch vụ môi trường rừng đối với giá trị phòng hộ do rừng tạo ra

Căn cứ Thông tư liên tịch số 62/2012/TTLT-BNNPTNT-BTC về hướng dẫn cơ chế quản lý sử dụng tiền chi trả dịch vụ môi trường; bên sử dụng dịch

vụ môi trường rừng sẽ mua dịch vụ từ các chủ rừng, số tiền chi trả sẽ được điều phối từ Quỹ bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam và tiền nhận ủy thác từ các đối tượng sử dụng dịch vụ môi trường rừng cấp tỉnh:

+ Quỹ bảo vệ và phát triển rừng Việt Nam

- Được trích tối đa 0,5% trên tổng số tiền thực nhận ủy thác trong năm ( bao gồm cả tiền lãi thu được từ số tiền bên sử dụng dịch vụ môi trường chậm trả, lãi tiền gửi từ nguồn chi trả dịch vụ môi trường rừng ) để chi cho các hoạt động nghiệp vụ của Quỹ Mức trích cụ thể do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quyết định

- Số tiền còn lại chuyển giao cho Quỹ bảo vệ và phát triển rùng cấp tỉnh theo quy định tại Thông tư số 80/2011/TT-BNNPTNT ngày 23/11/2011 của

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn phương pháp xác định tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng

+ Quỹ bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh:

- Trích tối đa 10% trên tổng số tiền thực nhận ủy thác trong năm ( bao gồm cả tiền lãi thu được từ số tiền bên sử dụng dịch vụ môi trường chậm trả, lãi tiền gửi từ nguồn chi trả dịch vụ môi trường rừng ) để chi cho các hoạt động của Quỹ bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh Mức trích do UBND cấp tỉnh quyết định;

- Dự phòng tối đa 5% theo quy định tại Điều 6, Thông tư số BTC;

85/2012/TT Số tiền còn lại chi trả cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng theo quy định tại Thông tư số 80/2011/TT-BNNPTNT

Trang 27

- Chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn sử dụng toàn

bộ số tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng để quản lý, bảo vệ, phát triển rừng

và nâng cao đời sống

- Chủ rừng là tổ chức nhà nước có thực hiện khoán bảo vệ rừng sử sụng 10%

Số tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng cho các chi phí quản lý để chi cho các hoạt động, lập hồ sơ, bản đồ quản lý các khu rừng cung ứng dịch vụ môi trường rừng, kiểm tra, giám sát, nghiệm thu, đánh giá, tuyên truyền Số tiền 90% còn lại được sử dụng như sau:

+ Trường hợp chủ rừng khoán toàn bộ diện tích rừng được chi trả dịch vụ môi trường rừng thì chi trả toàn bộ cho các hộ nhận khoán để quản lý bảo vệ rừng và nâng cao đời sống

+ Trường hợp chủ rừng khoán một phần diện tích rừng được chi trả dịch

vụ môi trường rừng cho các hộ nhận khoán, phần diện tích còn lại chủ rừng tiếp tục tổ chức bảo vệ rừng, thì số tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng của diện tích rừng này là nguồn thu của chủ rừng

+ Mức tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng cho tổ chức, cá nhân nhận khoán theo quy định tại Thông tư số 80/2011/TT-BNNPTNT

+ Đối với các tổ chức không phải là chủ rừng

- Nhà nước lập phương ánhỗ trợ kinh phí quản lý bảo vệ rừng từ nguồn thu tiền chi trả dịch vụ môi trường gửi Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thấm định, tổng hợp trong kế hoạch chi trả dịch vụ môi trường rừng trình UBND cấp tỉnh phê duyệt Mức kinh phí hỗ trợ bình quân cho 1ha rừng

Trang 28

không cao hơn số tiền chi trả bình quân đối với diện tích rừng cung ứng dịch

vụ môi trường rừng trên địa bàn tỉnh

1.1.1.3 Nền tảng cơ bản của cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng

a, Nguyên tắc người được hưởng lợi phải trả tiền

Trong các mô hình quản lý môi trường cũng như các giải pháp quản

lý môi trường trước đây, chúng ta thường hay sử dụng nguyên tắc người gây

ô nhiễm phải trả tiền (Polluter pays) Cơ chế này yêu cầu những người gây

ra các tác động có hại đến môi trường phải có trách nhiệm chi trả và cải tạo lại môi trường Tuy nhiên, thực tế cho thấy cơ chế này cũng có một số hạn chế nhất định vì người gây ô nhiễm thường không muốn trả tiền hoặc không khắc phục các thiệt hại về môi trường

Trái với các cơ chế quản lý trước đây, PFES không hoạt động theo cơ chế người đây ô nhiễm phải trả tiền mà hướng tới một cơ chế khác là người được hưởng lợi từ dịch vụ môi trường rừng sẽ trả tiền cho việc thụ hưởng

đó Các nhà kinh tế đã tiến hành nhiều nghiên cứu và chỉ ra rằng, sẽ hiệu quả hơn nếu trả tiền để con người giữ gìn môi trường hơn là bắt họ phải chi trả cho những thiệt hại môi trường mà họ đã gây ra Một ví dụ cụ thể là, thay vì phạt những người dân ở vùng thượng lưu vì đã chặt phá rừng gây

ra lũ lụt cho vùng hạ lưu thì chi trả cho họ một khoản tiền để họ giữ các khu rừng đó và đem lại lợi ích cho dân ở vùng hạ lưu Những người ở hạ lưu trước đây không phải trả tiền cho bất cứ lợi ích nào họ nhận được từ môi trường rừng thì nay họ sẽ chi trả một phần cho các lợi ích mà họ được hưởng Đây là một cách tiếp cận rất mới của PFES, coi dịch vụ môi trường rừng

là hàng hoá và nếu ta nhận được lợi ích từ hàng hoá thì hiển nhiên ta phải trả tiền để được tiêu dùng nó Dựa trên cách tiếp cận này, các giá trị của dịch vụ môi trường, đặc biệt là dịch vụ môi trường rừng sẽ được đánh giá một cách chính xác hơn

Trang 29

b, Sự sẵn lòng chi trả (Willingness to pay – WTP)

WTP là thước đo độ thoả mãn, đồng thời là thước đo lợi ích và là đường cầu thị trường tạo nên cở sở xác định lợi ích đối với xã hội từ việc tiêu thụ hoặc bán một mặt hàng cụ thể

Nền tảng của PFES chính là việc những người cung cấp dịch vụ môi trường rừng sẽ nhận được một khoản tiền cho việc họ chấp nhận bảo vệ môi trường (tính điều kiện) và mức chi trả này phụ thuộc vào sự thoả thuận với bên nhận được lợi ích từ các lợi ích từ môi trường rừng Mặc dù nhiều nhà nghiên cứu chỉ ra các đặc điểm khác của PFES PFES là một cơ chế giao dịch tự nguyện giữa ít nhất một người cung cấp và một người sử dụng đối với các hàng hoá dịch vụ môi trường, thì tính điều kiện vẫn là đặc điểm rõ nhất phân biệt PFES với các cách tiếp cận trước đây

Nhà kinh tế học Ronald Coase cũng đưa ra quan điểm rằng cơ sở của PFES là dựa trên sự thoả thuận lợi ích giữa hai bên thông qua việc mặc cả để đưa ra một mức giá hợp lý Thông qua việc thoả thuận, hai bên có thể đạt được mức lợi ích mà mình mong muốn đối với các dịch vụ môi trường

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Tổng quan về chi trả dịch vụ môi trường rừng trên thế giới

Mặc dù PFES là một khái niệm mới, được đưa vào tư duy và thực tiễn bảo tồn gần một thập kỷ trở lại đây, tuy nhiên, nó đã nhanh chóng trở nên phổ biến ở một số nước Sự phát triển của PFES ngày càng được lan rộng và ở một số nước PFES co n được thể chế hoá trong các văn bản pháp luật Hiện nay, PFES đã nổi lên như một giải pháp chính sách để khuyến khích, chia sẻ các lợi ích trong cộng đồng và xã hội Các nước phát triển ở Mỹ La Tinh đã sử dụng các mô hình PFES sớm nhất Ở châu Âu, Chính phủ một

số nước cũng đã quan tâm đầu tư và thực hiện nhiều chương trình, mô hình PFES Ở châu Úc, Australia đã luật pháp hoá quyền phát thải cácbon từ năm

1998, cho phe p các nhà đầu tư đăng ký quyền sở hữu hấp thụ cácbon của rừng PES cũng đã được phát triển và thực hiện thí điểm tại châu Á như Indonesia, Philippines, Trung Quốc, Ấn Độ, Nepal và Việt Nam Đặc biệt là

Trang 30

Indonesia và Philippines đã có nhiều nghiên cứu điển hình về PFES đối với quản lý lưu vực đầu nguồn

Cho đến nay, hàng trăm sáng kiến mới về PFES đã được xây dựng trên khắp toàn cầu Costa Rica, Mexico và Trung Quốc đã xây dựng các chương trình PFES quy mô lớn, chi trả trực tiếp cho các chủ đất để thực hiện các biện pháp sử dụng đất nhằm tăng cường cung cấp các dịch vụ thuỷ văn, bảo tồn đa dạng sinh học, chống xói mòn, hấp thụ cácbon và vẻ đẹp cảnh quan Trong khuôn khổ hỗ trợ của Quỹ Quốc tế về Phát triển nông nghiệp (IFAD), Trung tâm Nông - Lâm thế giới (ICRAF) đã đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức về khái niệm PFES bằng Chương trình chi trả cho người nghèo vùng cao dịch vụ môi trường (RUPES) ở châu Á RUPES đang tích cực thực hiện các chương trình thí điểm ở Indonesia, Philippines và Nepal Từ năm 2001-2006, nhiều nhà tài trợ cũng đã khảo sát khả thi các chương trình PFES ở châu Á

Từ các mô hình PFES ở các nước cho thấy, quản lý và bảo vệ đầu nguồn đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý và bảo vệ tài nguyên và đa dạng sinh học Dịch vụ bảo vệ đầu nguồn được hầu hết các nước thí điểm áp dụng, nhằm tạo nguồn tài chính bền vững và chia sẻ lợi ích cho cộng đồng trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học

Từ năm 2002, Quỹ phát triển Nông nghiệp quốc tế (IFAD) đã hỗ trợ đền đáp cho người nghèo vùng cao các dịch vụ môi trường mà họ cung cấp (RUPES) tại 6 điểm nghiên cứu hành động gồm: Sumberjaya, Bungo và Singkarak ở Indonesia; Bakun và Kalahan thuộc Philippines; Kulekhani ở Nepal và 12 điểm học tập tại khu vực Châu Á Mục đích của RUPES là “xây dựng cơ chế mới để cải thiện sinh kế và an ninh tài nguyên cho cộng đồng nghèo vùng cao ở Châu Á” thông qua xây dựng các cơ sở về các cơ chế nhằm đền đáp người nghèo vùng cao về các dịch vụ môi trường họ cung cấp cho các cộng đồng trong nước và trên phạm vi toàn cầu

Trang 31

+ Hiểu được rằng chi trả dịch vụ môi trường nhằm xoá đói giảm nghèo

Dự án RUPES cho thấy hiệu quả xoá đói giảm nghèo thể hiện rõ rệt nhất tại điểm mà dự án sử dụng giải pháp “hưởng dụng có điều kiện” tại vùng

“pho ng hộ đầu nguồn”

Tại điểm nghiên cứu ở Sumberjaya, dự án RUPES giúp nhân rộng từ 5 cam kết lâm nghiệp cộng đồng đầu tiên (Huttan Kemasyarakatan hay HKM) lên đến khoảng 70% diện tích rừng đã được ký cam kết Đến nay, các kết quả cho thấy các cam kết này là sự thành công đối với tất cả các bên liên quan Dự

án RUPES đã giảm đáng kể chi phí giao dịch của các cam kết thông qua việc đơn giản hoá thủ tục hành chính và nâng cao chất lượng dịch vụ lâm nghiệp tại địa phương Tiêu chí sử dụng để đánh giá các cam kết sau 5 năm đầu là cơ

sở cho tiêu chuẩn quốc gia mới về các phương thức canh tác tốt tạo được tiềm năng ảnh hưởng quan trọng

Tại Philippines, chính vấn đề này lại là cơ sở của sự tự tôn trọng và độc lập về kinh tế Các cam kết liên quan đến bảo vệ rừng hay bảo vệ nguồn nước và việc đo i quyền được chi trả cho dịch vụ phòng hộ đầu nguồn có thể

ít hơn dự kiến ban đầu Tuy nhiên, việc duy trì chất lượng môi trường (thường xảy ra ở các khu vực do chính phủ quản lý) là rất quan trọng nhưng cần xem xét thoả đáng các nhu cầu của người dân bản địa

+ Xây dựng các chính sách và thể chế để thúc đẩy hoạt động chi trả dịch vụ môi trường ở cấp địa phương, quốc gia và quốc tế

Để việc chi trả cho cộng đồng vùng cao một cách có hệ thống thì phải xác định và giải quyết được các hạn chế, khó khăn phát sinh trong quá trình thực hiện Các hạn chế và khó khăn này gồm thiếu năng lực thể chế, chính trị, khung pháp lý và tài chính và thậm chí quyền lợi và cam kết của cộng đồng bị hạn chế Dự án RUPES cũng đã kiểm nghiệm các hạn chế về mặt thể chế như xung đột và tranh giành quyền lực của các cơ quan chính phủ trong việc quản

lý các dịch vụ môi trường do người dân địa phương mang lại

Trang 32

+ Liên kết người cung cấp dịch vụ môi trường với người mua dịch vụ môi trường trong các cơ chế chi trả dịch vụ môi trường thử nghiệm

Dự án RUPES hoạt động giúp làm rõ khái niệm dịch vụ môi trường là

gì và ai là đối tượng hưởng lợi từ các dịch vụ này, dịch vụ này được lấy từ đâu

và tạo ra bằng cách nào Dự án RUPES có được nhiều bài học kinh nghiệm thông qua các hoạt động nghiên cứu hành động Liên quan đến các chức năng phòng hộ đầu nguồn, các kế hoạch chi trả đã thu được những kết quả to lớn mặc dù thiếu hỗ trợ tài chính liên quan đến vấn đề biến đổi khí hậu trên quy

mô toàn cầu

Kinh nghiệm từ dự án RUPES chỉ ra rằng mối quan hệ lâu dài là cần thiết với mức độ điều kiện phù hợp Số lượng người mua dịch vụ tự nguyện cam kết chi trả phí dài hạn và có điều kiện với cộng đồng địa phương vẫn còn rất ít Các doanh nghiệp như nhà máy thuỷ điện, công ty cung cấp nước thành phố là những đối tượng thường không đưa ra cam kết dài hạn với cộng đồng địa phương vì họ cho rằng đây là mặt hàng không có nhiều người mua để lựa chọn Hơn nữa, mối quan hệ giữa các doanh nghiệp này với cộng đồng thường xảy ra xung đột và điều đó chứng tỏ rằng cộng đồng vùng cao cũng nhận ra được tầm quan trọng và vai trò của họ Do đó, các kế hoạch chi trả dịch vụ môi trường có thể được sử dụng để hợp thức hoá cơ chế chia sẻ trách nhiệm về sinh kế và đạt được mục tiêu kinh tế bền vững

+ Xây dựng tiêu chí và chỉ số để thực hiện các kế hoạch chi trả dịch

vụ môi trường được công bằng và hiệu quả

Dự án RUPES đã đưa ra danh sách các tiêu chí và chỉ số cho việc chi trả cho các dịch vụ môi trường một cách thực tiễn, có điều kiện, tự nguyện và vì người nghèo Các hoạt động tiếp theo là phải tiếp tục tiến hành kiểm nghiệm các tiêu chí này, xây dựng các chỉ số phù hợp với điều kiện cụ thể và tăng cường năng lực quốc gia nhằm giữ vai trò là người môi giới và người trung gian để giảm các chi phí giao dịch

Trang 33

1.2.2 Tổng quan về chi trả dịch vụ môi trường rừng ở Việt Nam

1.2.2.1 Tổng quan về chi trả dịch vụ môi trường rừng ở Việt Nam

Theo Quyết định số 380/TTg ngày 10/4/2008 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách thí điểm PFES, PFES sẽ được triển khai thí điểm tại hai tỉnh Lâm Đồng và Sơn La với các loại dịch vụ: điều tiết nguồn nước; hạn chế xói mòn, bồi lấp; và cảnh quan du lịch

Luật Đa dạng sinh học được thông qua tại Kỳ họp thứ 4, Quốc hội khoá XII có quy định về tài chính cho bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học đề cập đến các nguồn thu từ PFES

Cho đến nay, một số nghiên cứu về giá trị rừng, lượng giá kinh tế các

hệ sinh thái, v.v đã và đang được đề xuất thực hiện Một số dự án nghiên cứu, đánh giá tiềm năng và thí điểm các mô hình PFES ở Việt Nam bước đầu được đề xuất thực hiện đối với 4 loại dịch vụ: bảo vệ đầu nguồn; bảo tồn đa dạng sinh học; du lịch sinh thái; và hấp thụ cácbon

- Bảo vệ đầu nguồn: một số dự án chính đã và đang triển khai: Tạo

nguồn hỗ trợ cho hoạt động bảo vệ vùng đầu nguồn Hồ Trị An; Thanh toán cho nước sông Đồng Nai (2 dự án trên do Quỹ Bảo tồn Hoang dã thế giới - WWF - đề xuất và tổ chức thực hiện);Chương trình bảo tồn đa dạng sinh học khu vực châu Á, đánh giá tiềm năng và xây dựng mô hình thí điểm PFES rừng ở 3 tỉnh Lâm Đồng, Đồng Nai và Bình Phước Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Tổ chức Winrock International tổ chức thực hiện từ năm 2006-2009; Chương trình môi trường trọng điểm

và Sáng kiến hành lang bảo tồn đa dạng sinh học, do Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tài trợ từ năm 2006-2010 Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp với 2 tỉnh Quảng Nam và Quảng Trị thực hiện Dự án này hỗ trợ một

số hoạt động đánh giá và tìm cơ hội thị trường cho PFES ở tỉnh Quảng Nam và Quảng Trị

Bảo tồn đa dạng sinh học: một số dự án chính: Thúc đẩy trồng ca cao

trong bóng râm tại tỉnh Lâm Đồng; MSC- Trai Bến Tre và nước mắm Phú Quốc;VFTN - Thúc đẩy kinh doanh gỗ bền vững (3 dự án trên đều doWWF

Trang 34

đề xuất và tổ chức thực hiện); và Dự án chi trả dịch vụ môi trường - ứng dụng tại khu vực ven biển, do Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên quốc tế (IUCN)

tổ chức thực hiện Các dịch vụ cung cấp, bao gồm: bảo vệ rừng ngập mặn; bảo vệ rạn san hô - nuôi trồng; bảo tồn đa dạng sinh học; và bảo vệ nguồn giống

- Vẻ đẹp cảnh quan: Tạo nguồn tài chính bền vững để bảo vệ cảnh

quan Vườn quốc gia Bạch Mã; Lập quỹ phát triển cho khu bảo tồn biển ở Côn Đảo Các dự án này đều doWWF đề xuất và tổ chức thực hiện

- Hấp thụ cacbon: Dự án xây dựng cơ chế chi trả cho hấp thụ cácbon

trong lâm nghiệp, thí điểm tại huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình Dự án thí điểm trồng 350 ha rừng keo với 300 hộ tham gia Nguồn tài chính bền vững của dự án sẽ gồm nguồn thu bán lâm sản và thương mại tín chỉ cácbon cho thị trường quốc tế Dự án này do Trung tâm nghiên cứu Sinh thái và Môi trường Rừng (RCFEE) - Viện Khoa học Lâm nghiệp tổ chức thực hiện

Hiện tại, Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường thuộc

Bộ Tài nguyên và Môi trường đang đề xuất nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu cơ

sở lý luận, thực tiễn và đề xuất cơ chế chi trả dịch vụ môi trường đất ngập nước ở Việt Nam”, với mục tiêu đề xuất cơ chế PFES phù hợp với điều kiện Việt Nam, nhằm bảo tồn và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước

Ngày nay con người đã nhận thức ra rằng: Nếu con người muốn có cuộc sống an lành, muốn sống tốt thì phải chi trả tiền, phải tổ chức trồng rừng, bảo vệ rừng để rừng sản xuất ra các giá trị sử dụng làm chức năng phòng hộ môi trường, cung ứng cho con người thụ hưởng

Như vậy, những người lao động lâm nghiệp (gọi là các chủ rừng), trực tiếp đầu tư vốn, lao động để trồng rừng, bảo vệ rừng tức là sản xuất ra của

cải vật chất gọi là các giá trị sử dụng của rừng (bao gồm giá trị sử dụng hiện

vật và giá trị sử dụng trừu tượng nêu trên), các giá trị sử dụng này được cung ứng cho mọi thành viên trong xã hội thụ hưởng, thì các chủ rừng phải được

Trang 35

Đề tài quan niệm rằng: giá trị sử dụng trừu tượng của rừng là “loại hàng hoá đặc biệt”, có giá trị rất lớn, chiếm tới 60-80% tổng giá trị kinh tế mà

rừng tạo ra, trên thực tế các giá trị này của rừng đang được đánh giá thấp hơn

so với giá trị vốn có của chúng Do đó, cần phải được hình thành “ thị

trường ” để trao đổi giữa người sản xuất cung ứng các giá trị sử dụng của

rừng với người hưởng thụ các giá trị sử dụng này Các hoạt động trao đổi

cung ứng dịch vụ các giá trị sử dụng từ môi trường rừng như trên được gọi là

Chi trả dịch vụ môi trường rừng Đó là cơ sở để hình thành chính sách chi

trả dịch vụ môi trường rừng ở Việt Nam

1.2.2.2 Một số thách thức đặt ra cho chi trả dịch vụ môi trường rừng ở Việt Nam

Các nước trên thế giới đã và đang thực hiện PFES đã đưa ra những tiêu

chí cho một mô hình PFES hoàn thiện, gồm có:

- Tự nguyện trong giao dịch

- Các dịch vụ môi trường rừng được xác định rõ

- Phải đảm bảo việc cung cấp các dịch vụ môi trường rừng (tính điều kiện)

- Có ít nhất một người cung cấp và ít nhất một người mua dịch vụ môi trường rừng

hạn chế và chưa chính xác

Chi trả dịch vụ môi trường rừng là một khái niệm mới mẻ ở Việt Nam do

đó đưa đến nhiều cách hiểu khác nhau về vấn đề này Chính điều này sẽ gây

ra những khó khăn trong quá trình thực hiện dự án vì không có cách hiểu đồng nhất, chính xác giữa người chi trả, người cung cấp và bên trung gian Chẳng hạn, có rất nhiều người cho rằng PFES là một loại thuế và phí mới về môi trường, đây là quan niệm sai lầm vì PFES dựa trên cơ chế chi trả tự nguyện Do đó, khi hiểu sai sẽ dẫn đến làm sai mà không mang lại hiệu quả mong muốn Người dân thiếu các hiểu biết phổ thông về PFES trong khi các công chức thiếu các hiểu biết chuyên môn để hướng PFES đến với người nghèo, trong đó có việc định hướng thị trường để hướng đến PFES Hệ quả

Trang 36

kéo theo là không định hướng đúng việc triển khai PFES và người dân không thấy được lợi ích mình sẽ có nên không mở rộng được số người tham gia cung cấp dịch vụ môi trường rừng

Bên cạnh đó, thị trường về các dịch vụ môi trường rừng chưa xuất hiện ở Việt Nam, các giá trị của dịch vụ môi trường rừng chưa được đánh giá một cách chính xác nên cũng tạo ra nhiều ngỡ ngàng trong cách tiếp cận PFES Trước đây, chưa có ai đứng ra cung cấp dịch vụ về môi trường rừng và không

có ai bỏ tiền ra cho việc hưởng các lợi ích từ môi trường Vì thế chưa thiết lập được thị trường về các dịch vụ sinh thái nên người dân chưa nhận thức được vai trò và những lợi ích có được từ dự án

Sự dàn trải và chống chéo trong tổ chức và phân công chức năng giữa và trong các bộ làm tăng thêm chi phí giao dịch, đồng thời việc lập kế hoạch và kiểm soát từ trên xuống dưới làm hạn chế sự độc lập của các cơ quan trong việc đề xuất và thực hiện các cách tiếp cận mới Thêm nữa, lãng phí nguồn nhân lực và tăng chi phí giao dịch có thể xảy ra khi có nhiều cơ quan cùng làm lại một việc Đây là một vấn đề tồn tại lâu trong hệ thống hành chính của nước ta, sự chồng chéo nhiệm vụ và chức năng trong thực hiện gây ra lãng phí thời gian và nguồn lực không cần thiết Do đó khi triển khai dự án cần chú ý đến hạn chế này và khắc phục nó

Hiện nay, các quy định có tính pháp lý liên quan đến PFES mới chỉ có Quyết định 380/QĐ – TTg ngày 10 tháng 4 năm 2008 của Thủ tướng và Nghị định số 05/2008/NĐ – CP ngày 14/1/2008 của Chính phủ về thành lập Quỹ bảo vệ và phát triển rừng Khi thực hiện PFES tại các địa phương vẫn thiếu các văn bản hướng dẫn cụ thể triển khai Các chính sách đã có thì còn rất sơ khai, mới chỉ là những bước định hướng ban đầu chưa rõ ràng Chính phủ mới chỉ nhìn nhận PFES qua dưới hình thức thuế và phí và mới chỉ quản

Trang 37

nữa, cách tiếp cận về PFES chủ yếu theo cách thức mệnh lệnh và kiểm soát nên nhiều khi không khuyến khích được người dân và doanh nghiệp tham gia Các chính sách quy định về quyền sử dụng đất còn rất bấp bênh, không rõ ràng gây khó khăn trong việc xác định chi trả cho ai và ai là người thực sự được hưởng lợi? Thêm vào đó, các quy định về trách nhiệm của các bên tham gia chưa được xây dựng sẽ gây khó khăn khi phải giải quyết các tranh chấp về quyền lợi trong tương lai

Các cán bộ địa phương chưa được tiếp cận với các vấn đề về dịch vụ môi trường nên năng lực nhận thức và thực hiện còn rất hạn chế, thiếu năng lực để xây dựng, quản lý và giám sát PFES Đội ngũ cán bộ chưa được đào tạo và tập huấn nhiều về đánh giá, quản lý môi trường, chuyên môn về các vấn đề môi trường chưa được nâng cao nên khả năng tiếp nhận và thực hiện cơ chế quản lý môi trường mới còn nhiều khó khăn Ngoài ra, các phương pháp và

kỹ năng để xác định, định lượng và giám sát PFES còn nhiều thiếu thốn nên chưa kiểm soát được hết trách nhiệm của doanh nghiệp và cộng đồng Vì thế, hiện tượng thiếu trách nhiệm trong việc bảo vệ môi trường và thực thi PFES

sẽ là một thách thức lớn đối với những người thực hiện và quản lý PFES

Sự tham gia của người nghèo chưa nhiều và mức chi trả cho dịch vụ môi trường trên 1ha và diện tích rừng giao cho người nghèo còn ít nên mức thu nhập chỉ có thể nói là có cải thiện, chứ không thể đánh giá là giúp người dân thoát nghèo nhanh chóng Hơn nữa, nhiều người dân nghèo không có quyền sửu dụng đất, quyền này chủ yếu tập trung trong tay những người giàu Như vậy, tình trạng thuê người nghèo làm việc và trả công thấp hơn mức chi trả đáng lẽ họ được hưởng rất có thể xảy ra Thực tế là những người mua thường thích giao dịch trực tiếp với người chủ đất hơn là thông qua cộng đồng hay đất không có chứng nhận pháp Trên địa bàn xã Môn Sơn, Ban quản lý Vườn quốc gia Pù Mát phối hợp với chính quyền xã đã tiến hành giao đất giao rừng cho các hộ gia đình, nên đây có thể coi là một cơ chế khuyến khích cho người

Trang 38

nghèo tham gia, tuy nhiên số lượng những chương trình như thế vẫn còn khá hạn chế

1.3 Quy trình nghiên cứu

Hiện nay, cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng được xem là một thị trường khá mới, cần có một quy trình nghiên cứu cụ thể, đảm bảo tính logic, xác thực để đánh giá hiệu quả về mặt KT- XH - KTcác bên tham gia PFES Bên cạnh đó, thông qua cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng để đưa ra một

số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý và bảo vệ rừng tại xã Môn Sơn

Chính vì vậy, đề tài “ Nghiên cứu cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng

để nâng cao hiệu quả quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng tại xã Môn Sơn, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An” phải trải qua quá trình nghiên cứu logic,

đảm bảo về mặt thời gian, dữ liệu để nắm rõ thực trạng công tác quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng Từ đó, phân tích hiệu quả các lợi ích thu được từ cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng để góp phần nâng cao hiệu quả công tác

quản lý và bảo vệ rừng tại xã Môn Sơn

Trang 39

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ

VÀ BẢO VỆ RỪNG TẠI XÃ MÔN SƠN, HUYỆN CON CUÔNG,

TỈNH NGHỆ AN

2.1 Khái quát về Vườn quốc gia Pù Mát

VQG Pù Mát được thành lập từ sự nâng cấp khu bảo tồn thiên nhiên Pù Mát theo quyết định 3355/ QĐ-UB của UBND tỉnh Nghệ An ngày 28/121995 Ngày 8/01/2001, Thủ tướng chính phủ đã ký quyết định số 174/2001/QĐ-Ttg quyết định chuyển hạng khu bảo tồn hạng khu bảo tồn thiên nhiên thành VQG Pù Mát

Ngày 12/7/2002, Thủ tướng đã ký quyết định số 571/2002/QĐ-Ttg phê duyệt các dự án đầu tư xây dựng VQG Pù Mát

Vườn quốc gia Pù Mát nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Nghệ An với diện tích 94.804,4 ha, được chia làm 3 phân khu: Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt có diện tích là 80.779 ha, phân khu phục hồi sinh thái có diện tích là 9.252 ha, phân hành chính - dịch vụ có diện tích là 4.773 ha Diện tích vùng đệm VQG

Pù Mát rộng khoảng 86.000 ha nằm trên địa bàn 16 xã thuộc trên địa bàn 3 huyện, Anh Sơn, Con Cuông, Tương Dương

VQG Pù Mát là khu rừng đặc dụng có diện tích lớn nhất phía Bắc Việt Nam, đại diện cho hệ sinh thái rừng nhiệt đới và á nhiệt đới điển hình trên núi đất khu vực Bắc Trường Sơn Diện tích đất có rừng trong toàn bộ Vườn quốc gia chiếm trên 90%, trong đó rừng nguyên sinh chưa bị tác động chiếm gần 40% Ngoài ra, tính đa dạng sinh vật của Vườn đã được điều tra, ghi nhận gồm 132 loài thú, 361 loài chim; 53 loài bò sát, 33 loài lưỡng cư; 83 loài cá,

39 loài dơi, và 1.080 loài côn trùng, trong đó có gần 100 loài động vật được liệt kê trong sách đỏ Việt Nam và Thế giới cần được bảo tồn Trong thế kỷ 20 các nhà khoa học đã ghi nhận 4 loài thú lớn mới cho thế giới tại Việt Nam thì

cả 4 loài đó đều có mặt tại Vườn quốc gia Pù Mát Cụ thể: Sao La (Pseudoryx

nghetinhensis), Mang Lớn (Muntiacus vuquangensis), Mang Trường Sơn

(Muntiacus truongsonensis), Thỏ Vằn (Nesolagus timminsi) Chính vì vậy

Trang 40

Vườn quốc gia Pù mát đóng vai trò vô cùng quan trọng trong chiến lược bảo tồn đa dạng sinh học của quốc gia, khu vực và quốc tế

chung 61 km đường biên giới quốc gia với nước Cộng hoà Dân chủ Nhân Dân Lào, có chiều rộng trung bình khoảng 20 km (nơi hẹp nhất khoảng 15

km, nơi rộng nhất khoảng 25 km) Phía Tây giáp các xã Tam hợp, Tam Đình, Tam Quang (huyện Tương Dương) Phía Bắc giáp các xã Lạng Khê, Chi Khê, Lục Giã, Môn Sơn (huyện; Con Cuông) Phía Đông giáp các xã Phúc Sơn, Hội Sơn (huyện Anh Sơn)

Hình 2.1 Bản đồ Khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An

Nguồn: VQG Pù Mát,2013

Hiện tại trên địa bàn Con Cuông có hơn 42.000 người dân sinh sống tại 7

xã thuộc khu vực vùng đệm và vùng lõi của Vườn, với tốc độ gia tăng dân số

Ngày đăng: 01/08/2021, 10:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Kim Vui, (2011), Nghiên cứu cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng tại huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Cạn, Luận văn thạc sĩ khoa học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng tại huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Cạn
Tác giả: Đặng Kim Vui
Năm: 2011
2. Nguyễn Tuấn Phú, (2009), Chi trả dịch vụ môi trường từ du lịch tại các Khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam, Tóm tắt chi trả dịch vụ môi trường rừng trong du lịch Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chi trả dịch vụ môi trường từ du lịch tại các Khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Tuấn Phú
Năm: 2009
3. Phạm Thu Thủy, Karen Bennetl, Vũ Tấn Phương, Lê Ngọc Dũng, Nguyễn Đình Tiến, (2013), Nghiên cứu chi trả dịch vụ môi trường rừng tại Việt Nam, Báo cáo chuyên đề 98.Bogor, Indonesia: CIFOR Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chi trả dịch vụ môi trường rừng tại Việt Nam
Tác giả: Phạm Thu Thủy, Karen Bennetl, Vũ Tấn Phương, Lê Ngọc Dũng, Nguyễn Đình Tiến
Năm: 2013
9. UBND huyện Con Cuông, (2012) Báo cáo tổng kết 5 năm thực hiện đề án “Bảo tồn và phát triển bền vững tộc người Đan Lai hiện đang sinh sống tại vùng lõi Vườn quốc gia Pù Mát, huyện Con Cuông tỉnh Nghệ An”, Con Cuông 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết 5 năm thực hiện đề án “Bảo tồn và phát triển bền vững tộc người Đan Lai hiện đang sinh sống tại vùng lõi Vườn quốc gia Pù Mát, huyện Con Cuông tỉnh Nghệ An”
11. UBND xã Môn Sơn. Báo cáo tình hình hình cơ bản xã Con Môn Sơn 2014, Con Cuông năm 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình hình cơ bản xã Con Môn Sơn 2014
4. UBND tỉnh Nghệ An, Vườn Quốc gia Pù Mát, (2014), Báo cáo nhanh phục vụ hội nghị giao ban công tác QLBVR trên các cụm huyện, Vườn quốc gia Pù Mát năm 2014 Khác
5. UBND tỉnh Nghệ An , Vườn Quốc gia Pù Mát, (2013), Báo cáo công tác sử dụng tài nguyên rừng xã Môn Sơn năm 2013 Khác
6. UBND tỉnh Nghệ An, Vườn quốc gia Pù Mát, (2011), Báo cáo mười lăm năm xây dựng và phát triển Vườn quốc gia Pù Mátnăm 2011 Khác
7. UBND tỉnh Nghệ An, Vườn Quốc gia Pù Mát, (2014), Báo cáo hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp năm 2014 Khác
8. UBND tỉnh Nghệ An, (2010), Báo cáo quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững Vườn quốc Gia Pù Mát đến năm 2020 Khác
10. UBND xã Môn Sơn, (2014), Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ, Mục tiêu kinh tế, văn hóa xã hội, quốc phòng an ninh năm 2014 và phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng xã Môn Sơn năm 2015 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w