TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VƯƠNG VĂN CHO QUẢN LÝ VIỆC ĐỔI MỚI GIẢNG DẠY TIẾNG ANH TRONG CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ CÔNG LẬP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VƯƠNG VĂN CHO
QUẢN LÝ VIỆC ĐỔI MỚI GIẢNG DẠY TIẾNG ANH TRONG CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ CÔNG LẬP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Thành phố Hồ Chí Minh, 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VƯƠNG VĂN CHO
QUẢN LÝ VIỆC ĐỔI MỚI GIẢNG DẠY TIẾNG ANH TRONG CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ CÔNG LẬP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 62 14 05 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS.TS.ĐOÀN VĂN ĐIỀU
2 TS.VÕ VĂN NAM
Thành phố Hồ Chí Minh, 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Vương Văn Cho
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỔI MỚI GIẢNG DẠY TIẾNG ANH TRONG CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ CÔNG LẬP 10
1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu quản lý đổi mới giảng dạy tiếng Anh 10
1.1.1 Một số nghiên cứu ở nước ngoài 10
1.1.2 Một số nghiên cứu ở Việt Nam 19
1.2 Một số khái niệm cơ bản 31
1.2.1 Quản lý, quản lý nhà trường 31
1.2.2 Đổi mới và đổi mới giảng dạy tiếng Anh 35
1.2.3 Quản lý đổi mới giảng dạy tiếng Anh 37
1.3 Đổi mới giảng dạy tiếng Anh trong nhà trường Trung học cơ sở công lập 38
1.3.1 Khái quát về giảng dạy tiếng Anh trong nhà trường Trung học cơ sở công lập 38
1.3.2 Định hướng, yêu cầu đổi mới giảng dạy tiếng Anh trong nhà trường Trung học cơ sở công lập 42
1.3.3 Nội dung đổi mới giảng dạy tiếng Anh trong nhà trường Trung học cơ sở công lập 46
1.4 Quản lý đổi mới giảng dạy tiếng Anh trong nhà trường Trung học cơ sở công lập 48
1.4.1 Chức năng quản lý đổi mới giảng dạy tiếng Anh trong nhà trường 48
1.4.2 Nội dung quản lý đổi mới giảng dạy tiếng Anh trong nhà trường Trung học cơ sở công lập 54
Tiểu kết chương 1 66
Trang 5CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐỔI MỚI GIẢNG DẠY
TIẾNG ANH TRONG CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC
CƠ SỞ CÔNG LẬP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 67
2.1 Một số đặc điểm giảng dạy tiếng Anh trong các trường Trung học cơ sở công lập Thành phố Hồ Chí Minh 67
2.2 Tổ chức khảo sát thực trạng về quản lý đổi mới giảng dạy tiếng Anh trong các trường Trung học cơ sở công lập tại thành phố Hồ Chí Minh 69
2.2.1 Mẫu khảo sát 69
2.2.2 Mô tả công cụ khảo sát 70
2.2.3 Cách thức xử lý số liệu 71
2.3.1 Đánh giá của CBQL về thực trạng về quản lý đổi mới giảng dạy tiếng Anh trong các trường Trung học cơ sở công lập tại TP HCM 73
2.3.2 Đánh giá khái quát các chức năng quản lý đổi mới giảng dạy tiếng Anh trong các trường Trung học cơ sở công lập tại Thành phố Hồ Chí Minh 76
2.3.3 Đánh giá cụ thể các chức năng quản lý đổi mới giảng dạy tiếng Anh trong các trường Trung học cơ sở công lập tại Thành phố Hồ Chí Minh 84
2.3.4 Đánh giá về công tác quản lý đổi mới giảng dạy tiếng Anh trong các trường Trung học cơ sở công lập tại Thành phố Hồ Chí Minh thông qua quản lý hoạt động học tập tiếng Anh của học sinh 99
2.4 Tình hình và nguyên nhân ảnh hưởng đến việc quản lý đổi mới giảng dạy tiếng Anh trong các trường Trung học cơ sở công lập tại Thành phố Hồ Chí Minh 107
2.4.1 Nguyên nhân có liên quan đến nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực) 108
2.4.2 Nguyên nhân có liên quan đến chế độ, cơ chế quản lý đổi mới giảng dạy tiếng Anh trong các trường Trung học cơ sở công lập tại Thành phố Hồ Chí Minh 110
Trang 62.5 Đánh giá chung 111
2.5.1 Mặt mạnh 111
2.5.2 Mặt yếu 112
CHƯƠNG 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ VÀ THỰC NGHIỆM ĐỔI MỚI GIẢNG DẠY TIẾNG ANH TRONG CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ CÔNG LẬP TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 115
3.1 Cơ sở xác lập biện pháp 115
3.1.1 Cơ sở pháp lý 115
3.1.2 Cơ sở lý luận 117
3.1.3 Cơ sở thực tiễn 117
3.2 Một số nguyên tắc xây dựng biện pháp quản lý việc đổi mới giảng dạy tiếng Anh trong các trường Trung học cơ sở công lập tại Thành phố Hồ Chí Minh 118
3.2.1 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống - cấu trúc 118
3.2.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 118
3.2.3 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 119
3.2.4 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa và phát triển 119
3.2.5 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi và hiệu quả 119
3.3 Nhóm biện pháp quản lý đổi mới giảng dạy tiếng Anh của hiệu trưởng trong các trường Trung học cơ sở công lập tại Thành phố Hồ Chí Minh 120
3.3.1 Nhóm biện pháp 1: Nâng cao nhận thức về đổi mới giảng dạy tiếng Anh cho cán bộ quản lý, giáo viên trong các trường Trung học cơ sở công lập tại Thành phố Hồ Chí Minh 120
3.3.2 Nhóm biện pháp 2: Thực hiện tốt các chức năng quản lý đổi mới giảng dạy tiếng Anh trong các trường Trung học cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh 124
3.4 Mối quan hệ giữa các nhóm biện pháp 140
3.5 Khảo nghiệm các biện pháp quản lý đổi mới giảng dạy tiếng Anh trong các trường Trung học cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh 142
Trang 73.5.1 Tổ chức khảo nghiệm 142
3.5.2 Kết quả khảo nghiệm 144
3.6 Thực nghiệm biện pháp quản lý đổi mới giảng dạy tiếng Anh trong các trường Trung học cơ sở công lập tại Thành phố Hồ Chí Minh 160
3.6.1 Khái quát về thực nghiệm biện pháp quản lý đổi mới giảng dạy tiếng Anh trong các trường Trung học cơ sở công lập tại TP HCM 160
3.6.2 Tiến hành thực nghiệm 162
3.6.3 Biện pháp thực nghiệm 163
3.6.4 Kết quả thực nghiệm biện pháp quản lý đổi mới GDTA trong thực nghiệm 165
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 185
CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LUẬN ÁN 191
TÀI LIỆU THAM KHẢO 192 PHỤ LỤC 1
PHỤ LỤC 2
Trang 9
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Ý nghĩa của từng giá trị trung bình đối với thang đo khoảng cách 143
Bảng 3.2 Kết quả khảo nghiệm tính khả thi và cần thiết của các biện pháp
nâng cao nhận thức đổi mới giảng dạy tiếng Anh cho cán bộ quản lý, giáo viên 144
Bảng 3.3 Kết quả khảo nghiệm tính khả thi và cần thiết của các biện pháp
tăng cường các chức năng quản lý đổi mới giảng dạy tiếng Anh 146
Bảng 3.4 Kết quả khảo nghiệm tính khả thi và cần thiết của các biện pháp
quản lý các điều kiện hỗ trợ đổi mới đổi mới giảng dạy tiếng Anh trong các trường Trung học cơ sở công lập Thành phố Hồ Chí Minh 148
Bảng 3.5 Kết quả khảo nghiệm tính khả thi và cần thiết của các biện pháp
được xây dựng nhằm nâng cao công tác quản lý đổi mới giảng dạy tiếng Anh 150
Bảng 3.6 Mẫu nghiên cứu thực nghiệm của đề tài 160
Bảng 3.7 Cách tính điểm 163
Bảng 3.8 Đánh giá về sự cần thiết của việc đổi mới giảng dạy tiếng Anh ở
trường Trung học cơ sở công lập tại Thành phố Hồ Chí Minh trước và sau thực nghiệm 166
Bảng 3.9 Đánh giá về tầm quan trọng của việc đổi mới giảng dạy tiếng
Anh ở trường Trung học cơ sở công lập tại Thành phố Hồ Chí Minh trước và sau thực nghiệm 166
Bảng 3.10 Đánh giá về mức độ phong phú, đa dạng của các phương pháp
giảng dạy tiếng Anh ở trường Trung học cơ sở công lập tại Thành phố Hồ Chí Minh trước và sau thực nghiệm 167
Bảng 3.11 Đánh giá về mức độ đa dạng của các hình thức giảng dạy tiếng
Anh ở trường Trung học cơ sở công lập tại Thành phố Hồ Chí Minh trước và sau thực nghiệm 167
Trang 10Bảng 3.12 Đánh giá về chất lượng đội ngũ GV GDTA trong các trường
THCS công lập tại TP HCM so với yêu cầu đổi mới trước và sau thực nghiệm 168
Bảng 3.13 Đánh giá về hiệu quả quản lí đổi mới giảng dạy tiếng Anh trong
các trường THCS công lập tại TP HCM trước và sau thực nghiệm 169
Bảng 3.14 Đánh giá hiệu quả của từng biện pháp cụ thể trong công tác quản
lý đổi mới GDTA trong các trường THCS công lập tại TP HCM trước và sau thực nghiệm 170
Bảng 3.15 Đánh giá của CBQL về hiệu quả thực hiện tổ chức bồi dưỡng
năng lực GDTA cho GV trong trường THCS công lập TP HCM trước và sau thực nghiệm 171
Bảng 3.16 Đánh giá của GV về hiệu quả thực hiện tổ chức bồi dưỡng năng
lực GDTA cho GV trong trường THCS công lập TP HCM trước
và sau thực nghiệm 174
Bảng 3.17 Đánh giá của CBQL về hiệu quả thực hiện chỉ đạo phân công
GV GDTA trong các trường THCS công lập tại TP HCM trước
Trang 11DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
Sơ đồ 1.1 Thành tố quản lý 33
Sơ đồ 1.2 Mối quan hệ của các chức năng trong một chu trình quản lý 54
Sơ đồ 1.3 Mô hình quản lý đổi mới giảng dạy tiếng Anh 65
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) là động lực để phát triển kinh tế xã hội, là nhân
tố có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng nguồn nhân lực của một quốc gia Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc xây dựng một nền giáo dục toàn diện nhằm đào tạo ra những con người “vừa hồng, vừa chuyên”, vừa có phẩm chất vừa có năng lực Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã từng bước hoàn thiện đường lối phát triển giáo dục trong thời kỳ Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa (CNH, HĐH) và hội nhập quốc tế Trước yêu cầu đổi mới của đất nước, Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương khóa XI của Đảng đã có Nghị quyết số 29-NQ/TƯ ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Ngoài ra, GD&ĐT cùng với khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, cải thiện nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn CNH, HĐH
Đề án của Bộ GD&ĐT về dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008 - 2020 đã nêu: “ trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc
tế, những bất cập của việc dạy và học ngoại ngữ trước đòi hỏi của sự phát triển kinh
tế và trước nhu cầu hội nhập, mở rộng giao lưu vượt ra khỏi phạm vi quốc gia của đông đảo nhân dân tồn tại Tình trạng lãng phí, kém hiệu quả của việc dạy và học ngoại ngữ, những khó khăn trong việc trao đổi nguồn nhân lực trong phạm vi hợp tác song phương hoặc đa phương… đòi hỏi phải xem xét một cách nghiêm túc thực trạng dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân trong những năm qua Từ đó, nghiên cứu kĩ lưỡng, hoạch định một chiến lược dạy và học ngoại ngữ vừa khả thi, vừa đáp ứng được những yêu cầu phát triển tương lai của nước ta” [23, tr.3-4]
Qua kết quả của các kỳ thi tuyển sinh đầu vào THPT, tốt nghiệp THPT hay tuyển sinh đại học cho thấy phần lớn HS thể hiện sự hạn chế nhất định về điểm số ở môn tiếng Anh Thực tế nước ta còn thiếu nhiều đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có năng lực, trình độ để đảm đương được công việc, nhất là khả năng sử dụng
Trang 13ngoại ngữ vào công tác Các tập đoàn kinh tế nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, đa phần đều sử dụng tiếng Anh nhưng nguồn nhân lực của ta thông thạo ngoại ngữ này còn ít, chưa đủ đáp ứng yêu cầu của các nhà đầu tư mong đợi Nhằm khắc phục những tồn tại hiện nay, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số: 1400/QĐ-TTg Mục tiêu chung trong Quyết định số: 1400/QĐ-TTg ký ngày 30/9/2008 về việc phê duyệt Đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn
2008 - 2020” có ghi rõ: “Thực hiện đổi mới toàn diện việc dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân nhằm đảm bảo đến năm 2015 nâng cao rõ rệt trình
độ ngoại ngữ của một số đối tượng ưu tiên, đồng thời triển khai chương trình dạy và học ngoại ngữ mới đối với các cấp học và trình độ đào tạo, tạo điều kiện để đến năm 2020 tăng đáng kể tỷ lệ thanh thiếu niên Việt Nam có đủ năng lực sử dụng ngoại ngữ một cách độc lập và tự tin trong giao tiếp, học tập và làm việc trong môi trường đa ngôn ngữ, đa văn hoá, biến ngoại ngữ trở thành thế mạnh của người dân Việt Nam” [23, tr 32]
Ngày 31/01/2012 Chủ tịch UBND TP HCM cũng đã ban hành Quyết định số
448/QĐ-UBND về phê duyệt Đề án “Phổ cập và nâng cao năng lực sử dụng tiếng Anh cho HS phổ thông và chuyên nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2011 - 2020” với mục tiêu chung là “Đổi mới toàn diện việc dạy và học tiếng Anh, triển khai chương trình dạy và học tiếng Anh mới ở các cấp học, trình độ đào tạo, để đến năm 2015 đạt được bước tiến rõ rệt về trình độ, năng lực sử dụng tiếng Anh cho học sinh phổ thông và các trường chuyên nghiệp của Thành phố Hồ Chí Minh” [66, tr.1] Đây là cơ sở quan trọng để việc đổi mới giảng dạy tiếng Anh (GDTA) cũng như công tác quản lý đổi mới GDTA cho HS trung học tại TP HCM cần được quan tâm nhiều hơn
Việc quản lý GDTA ở các trường THCS công lập hiện nay phụ thuộc vào nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kết quả chất lượng đào tạo như: nhận thức của các cấp quản lý, đội ngũ GV, HS, cha mẹ HS, môi trường giáo dục, cơ sở vật chất (CSVC), phương tiện dạy học (PTDH), chương trình, sách giáo khoa, phương pháp dạy học (PPDH), cách ra đề thi… đặc biệt là việc tổ chức quản lý còn nhiều vấn đề cần phải
Trang 14xem xét Vì thế, việc nghiên cứu quản lý đổi mới GDTA trong các nhà trường hiện nay như một yêu cầu cấp thiết đặt ra cho các nhà lãnh đạo quản lý giáo dục (QLGD) các cấp Do đó, nghiên cứu vấn đề quản lý đổi mới GDTA trong các trường THCS công lập ở giai đoạn hiện nay có vai trò quan trọng và cần được nghiên cứu nghiêm túc, toàn diện, chuyên sâu để nhanh chóng đúc kết thành những cơ sở lý luận, vận dụng có hiệu quả vào thực tiễn đời sống xã hội
Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên, đề tài, chúng tôi chọn
đề tài nghiên cứu: “Quản lý việc đổi mới giảng dạy tiếng Anh trong các trường
Trung học cơ sở công lập Thành phố Hồ Chí Minh”
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa lý luận, khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý đổi mới GDTA trong các trường THCS công lập TP HCM, xây dựng hệ thống biện pháp quản lý đổi mới GDTA trong các trường THCS công lập TP HCM nhằm nâng cao chất lượng quản lý GDTA cho HS các trường THCS công lập TP HCM
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quản lý hoạt động dạy học tiếng anh trong các trường THCS công lập
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý đổi mới GDTA trong các trường THCS công lập TP HCM
4 Giả thuyết khoa học
Công tác quản lý đổi mới GDTA trong các trường THCS công lập TP HCM đã
đạt được một số kết quả nhất định Tuy nhiên, việc thực hiện các chức năng quản lý như lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo thực hiện và kiểm tra đánh giá thực hiện kế hoạch đổi mới quản lý GDTA trong các trường THCS công lập TP HCM vẫn còn một số hạn chế nhất định, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn Nếu xác định đúng thực trạng và xây dựng hệ thống biện pháp quản lý đổi mới GDTA trong các trường THCS công lập TP HCM theo các chức năng quản lý một cách khoa học, cần thiết và khả thi thì có thể góp phần nâng cao chất lượng quản lý đổi mới GDTA trong các trường THCS công lập TP HCM
Trang 155 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý đổi mới GDTA trong các trường THCS
- Thực nghiệm một biện pháp quản lý đổi mới GDTA ở trường THCS công lập có lớp tăng cường tiếng Anh theo định hướng của các đề án đã xác lập
6.2 Về địa bàn: Nghiên cứu một số trường THCS công lập tại TP HCM
6.3 Về thời gian: từ năm 2012 đến năm 2015
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp luận
7.1.1 Tiếp cận hệ thống - cấu trúc
Phương pháp tiếp cận hệ thống nghiên cứu đối tượng một cách toàn diện, trên nhiều mặt dựa vào việc phân tích đối tượng thành các bộ phận và xác định mối quan
hệ hữu cơ giữa các yếu tố của hệ thống để tìm ra quy luật phát triển
Công tác quản lý việc đổi mới GDTA trong các trường THCS công lập vận động và phát triển không ngừng trong nhiều mối quan hệ đa nhân tố Phân tích công tác quản lý việc đổi mới GDTA trong một số trường THCS công lập TP HCM
Trang 16được xem xét trong mối quan hệ với công tác quản lý nói chung cũng như yêu cầu
từ thực tiễn giáo dục và cuộc sống
Giảng dạy tiếng Anh với quản lý việc đổi mới GDTA là một hoạt động, là bộ phận trong giảng dạy với quản lý việc đổi mới giảng dạy nói chung của các trường THCS Vì vậy, cần xem xét việc GDTA với quản lý đổi mới GDTA như một hệ thống, một hoạt động Ngoài ra, cần xem xét hệ thống phân cấp quản lý GDTA ở các trường THCS từ cấp bộ, cấp sở, cấp phòng đến cấp trường để vấn đề nghiên cứu được tiếp cận toàn cục
7.1.2 Tiếp cận lịch sử - logic
Nghiên cứu quản lý việc đổi mới GDTA trong các trường THCS công lập đặt trong quá trình hình thành phát triển của công tác đó từ thời điểm bắt đầu đến hiện tại, ở phần lịch sử nghiên cứu vấn đề và việc trình bày kết quả nghiên cứu một cách logic giữa các phần, các chương Nghiên cứu xác định phạm vi không gian, thời gian và điều kiện hoàn cảnh cụ thể để điều tra thu thập số liệu chính xác, đúng với mục đích nghiên cứu đề tài Các vấn đề có mối quan hệ logic với nhau trên bình diện nghiên cứu
7.1.3 Tiếp cận thực tiễn
Việc khảo sát thực tế quản lý đổi mới GDTA trong các trường THCS công lập, phân tích, đánh giá những kết quả đạt được và những bất cập, tồn tại trong thực tiễn công tác này Dựa vào cơ sở thực tiễn công tác quản lý việc đổi mới GDTA trong các trường THCS công lập, xây dựng biện pháp nhằm quản lý việc đổi mới GDTA trong các trường THCS công lập trong giới hạn nghiên cứu của đề tài
7.1.4 Tiếp cận theo các chức năng quản lý
Quản lý việc đổi mới GDTA trong các trường THCS công lập cũng như quản
lý giảng dạy nói chung, phải được thực hiện theo bốn chức năng chủ yếu là: lập kế hoạch; tổ chức thực hiện kế hoạch; lãnh đạo, chỉ đạo kế hoạch; kiểm tra, đánh giá
kế hoạch Đây là định hướng nghiên cứu chính khi tiếp cận công tác quản lý việc đổi mới GDTA trong các trường THCS công lập
Trang 177.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
7.2.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa các nội dung chủ yếu trong các tài liệu về GDTA với quản lý đổi mới GDTA trong trường THCS công lập, các văn kiện của Đảng, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, các văn bản của Bộ GD&ĐT,
Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT có liên quan, nhằm xây dựng hệ thống cơ sở lý luận
về quản lý đổi mới GDTA trong các trường THCS công lập
7.2.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.2.1 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
Mục đích: Xác định những vấn đề về thực trạng quản lý việc đổi mới GDTA trong các trường THCS công lập TP HCM
Đối tượng điều tra: CBQL, chuyên viên phụ trách tiếng Anh cấp Sở, Phòng GD&ĐT; CBQL (Ban giám hiệu, Tổ trưởng chuyên môn); GV GDTA trong các trường THCS công lập TP HCM
Cách thức thực hiện: Dựa trên cơ sở lý luận đề tài xây dựng phiếu thăm dò mở bao gồm các câu hỏi về từng mặt cần khảo sát của thực trạng việc đổi mới GDTA trong các trường THCS công lập TP HCM được phát và thu trực tiếp Các ý kiến trả lời được tổng hợp và phân loại nhằm cải biến các câu hỏi mở thành câu hỏi lựa chọn Những câu hỏi này kết hợp với phần trưng cầu ý kiến đánh giá bảng hỏi trở thành phiếu thăm dò thử nghiệm Từ các ý kiến thu về ở phiếu thăm dò thử nghiệm, thực hiện kiểm nghiệm độ tin cậy và hoàn thiện thành bảng hỏi chính thức Chúng tôi đã xây dựng ba loại phiếu hỏi dành cho CBQL, GV trong các trường THCS công lập TP HCM
Công cụ thực hiện:
+ Bảng hỏi dành cho CBQL cấp Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT TP HCM (Lãnh đạo, chuyên viên phụ trách tiếng Anh)
+ Bảng hỏi dành cho CBQL ở một số trường THCS công lập TP HCM
+ Bảng hỏi dành cho GV ở một số trường THCS công lập TP HCM (GV GDTA)
Trang 187.2.2.2 Phương pháp phỏng vấn
Mục đích phỏng vấn: Tìm hiểu thêm về thực trạng đổi mới GDTA và quản lý đổi mới GDTA; các biện pháp thực nghiệm quản lý đổi mới GDTA trong các trường THCS công lập TP HCM Những thông tin thu được từ phỏng vấn được sử dụng góp phần lý giải và minh họa cho việc phân tích số liệu của thực trạng đổi mới GDTA và quản lý đổi mới GDTA và của các biện pháp thực nghiệm quản lý đổi mới GDTA
Đối tượng phỏng vấn: Các chuyên gia về tiếng Anh (Trường ĐHSP TP HCM,
Sở GD&ĐT TP HCM, Phòng GD&ĐT), CBQL (Ban giám hiệu), GV GDTA trong các trường THCS công lập nói trên
Cách thức thực hiện: Sau khi thu số liệu và xử lý thống kê toán học, tiến hành tiếp cận với khách thể khảo sát (các chuyên gia, hiệu trưởng/phó hiệu trưởng (PHT),
GV GDTA), tìm hiểu các thông tin cơ bản về họ Nêu mục đích, lý do và xin sự đồng thuận phỏng vấn Tiến hành phỏng vấn dựa theo bảng phỏng vấn đã soạn sẵn Ghi chép lại, chọn lọc và sử dụng kết quả trong chỉnh thể nghiên cứu của đề tài
7.2.2.3 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm
Mục đích: Dựa trên kết quả đánh giá phân loại GV GDTA về thực trạng quản lý
hoạt động giảng dạy bộ môn tiếng Anh của HT qua các nguồn của Sở GD&ĐT TP HCM, nhằm đưa ra những nhận định, phân tích, đánh giá thực trạng và biện pháp quản lý hoạt động giảng dạy của HT các trường THCS công lập TP HCM
Cách thức thực hiện: Tiến hành xem xét, phân tích các hồ sơ quản lý: Báo cáo
sơ kết, tổng kết, biên bản sinh hoạt chuyên môn về đổi mới GDTA; kế hoạch quản
lý của CBQL và của một vài GV để đánh giá thêm về hoạt động đổi mới GDTA ở một số trường THCS công lập TP HCM cũng như công tác quản lý đổi mới GDTA trong các trường THCS công lập
Trang 197.2.2.4 Phương pháp thực nghiệm
Mục đích: Khẳng định tính khả thi, tính hiệu quả của một số biện pháp đã đề xuất, cụ thể là các biện pháp thực nghiệm trong đề tài nghiên cứu
Đối tượng thực nghiệm: CBQL (BGH), GV GDTA trong một số trường THCS công lập Chưa quan tâm nhiều đến kết quả học tập hay kết quả đánh giá năng lực
sử dụng tiếng Anh vì điều kiện có hạn cũng như đề tài tiếp cận trên bình diện quản
lý là chủ yếu
Cách thức thực hiện: Tiến hành thực nghiệm tại một số trường THCS công lập
có GDTA theo hướng tăng cường trong đó gồm có một nhóm đối chứng và một nhóm thực nghiệm nhằm kiểm chứng hiệu quả các biện pháp thực nghiệm đã đề xuất
7.2.2.5 Phương pháp thống kê toán học
Mục đích: Xử lý số liệu thu được từ phương pháp điều tra bằng bảng hỏi và các phương pháp khác nhằm định lượng kết quả nghiên cứu làm cơ sở để phân tích, bình luận định tính Tương quan của các chỉ số có thể giúp người nghiên cứu xác định những vấn đề cần được quan tâm, chú trọng để từ đó có những biện pháp khả thi, phù hợp với điều kiện thực tế
Cách thức thực hiện: Các thông tin thu thập từ điều tra thực trạng được xử lý
và phân tích trên máy vi tính với phần mềm xử lý thống kê SPSS for Windows 16.0
để tính tần số, thứ hạng, tỷ lệ phần trăm, trị số trung bình, độ lệch chuẩn Ngoài ra, còn có kiểm nghiệm (F, t) khác biệt giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng nhằm kiểm tra hệ số tương quan để khẳng định thực nghiệm có hiệu quả hay không
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
8.1 Ý nghĩa khoa học
Khái quát và làm sáng tỏ các khái niệm “đổi mới giảng dạy”, “quản lý đổi mới
giảng dạy” và lý luận về quản lý đổi mới GDTA trong trường THCS công lập, góp phần vào việc làm rõ ý nghĩa thống nhất các thuật ngữ khoa học trong lĩnh vực này
8.2 Ý nghĩa thực tiễn
Xây dựng hệ thống biện pháp nhằm áp dụng vào thực tiễn cải thiện chất lượng GDTA, quản lý đội ngũ GV GDTA theo hướng đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu góp
Trang 20phần thúc đẩy việc thực hiện Quyết định số 1400/QĐ-TTg ký ngày 30/9/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008 - 2020” và Đề án “Phổ cập và nâng cao năng lực sử dụng tiếng Anh cho HS phổ thông và chuyên nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2011 - 2020” của UBND TP HCM hiệu quả hơn
Luận án góp phần thay đổi tư duy, nhận thức của CBQL các cấp nhất là CBQL cấp trường THCS về quản lý đổi mới GDTA trong trường THCS công lập nhằm góp phần khắc phục hạn chế kỹ năng nghe, nói tiếng Anh của HS Ngoài ra luận án
cũng đề xuất những biện pháp để quản lý đổi mới GDTA trong các trường THCS
công lập góp phần nâng cao hiệu quả GDTA cho HS THCS
9 Cấu trúc của luận án
Chương 3: Biện pháp quản lý và thực nghiệm đổi mới GDTA trong các
trường THCS công lập tại TP HCM
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LUẬN ÁN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 21CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỔI MỚI GIẢNG DẠY TIẾNG ANH TRONG CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
CÔNG LẬP
1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu quản lý đổi mới giảng dạy tiếng Anh
1.1.1 Một số nghiên cứu ở nước ngoài
1.1.1.1 Giảng dạy tiếng Anh và quản lý giảng dạy tiếng Anh
Việc giảng dạy ngoại ngữ, đặc biệt là GDTA đóng một vai trò vô cùng quan trọng Vấn đề quản lý GDTA cũng được đề cập trong bối cảnh hiện nay khi một quốc gia đang hội nhập vào khu vực và thế giới Trong quá trình hội nhập này, một trong những nhu cầu cấp thiết là phải giỏi ngoại ngữ
Năm 1976, Cộng đồng Châu Âu kêu gọi các quốc gia thành viên mở rộng việc dạy và học ngôn ngữ và bảo đảm rằng tất cả HS đều học ít nhất một ngoại ngữ trong khối Châu Âu Năm 1995, trong Sách trắng của Ủy ban Châu Âu, phần Dạy và học – hướng tới một xã hội học tập đã khuyến khích thế hệ trẻ học ít nhất hai ngôn ngữ của Cộng đồng “ mọi người nên thông thạo ngôn ngữ của địa phương và nước ngoài” [110, tr.47]
Thống kê cho thấy, đối với cấp tiểu học, tại các nước Châu Âu, tiếng Anh vẫn
là ngoại ngữ được chọn học nhiều nhất Tuy vậy, tùy từng nước mà tỷ lệ HS chọn môn ngoại ngữ này cũng khác nhau khá nhiều Ví dụ ở Bồ Đào Nha 93% HS chọn học tiếng Anh, ở Tây Ban Nha tỷ lệ này là 71% Tỷ lệ này tại Áo, Thụy Điển và Phần Lan là 56%, 62% và 63% Các nước Đông Âu cũ có tỷ lệ khá thấp: khoảng 20% Đối với cấp trung học, tiếng Anh vẫn là thứ ngoại ngữ được chọn học nhiều nhất (90%) Tỷ lệ này ở các nước Đông Âu cũ cũng khá cao (55 - 82%) [110]
Do đặc điểm, tình hình cụ thể của từng nước, một số nước trên thế giới đi theo sáng kiến sử dụng hình thức song ngữ (bằng tiếng nước ngoài và tiếng mẹ đẻ) Vào những năm 60 và 70, một số các quốc gia Trung Âu và Đông Âu đã thành lập hệ thống trường song ngữ dành cho những HS có thành tích cao Vào những năm 90,
Trang 22hệ thống này được dành cho mọi HS trong hệ thống giáo dục phổ thông Cũng trong giai đoạn này, các quốc gia thuộc Liên minh châu Âu như Bỉ, Pháp, Hà Lan, Áo và Phần Lan đã cùng với Đức - một quốc gia mà ngay từ cuối những năm 60 đã thành lập một số trường song ngữ, thực hiện các chương trình song ngữ, thậm chí xây dựng các trường song ngữ, mà ở đó các môn học được dạy trực tiếp thông qua các ngoại ngữ như Đức, Pháp, Anh, Ý, Tây Ban Nha [110]
Khi nói về những khó khăn trong việc thực hiện phương pháp giao tiếp (PPGT), trở ngại từ phía người học là điều cần được xem xét trước tiên Chính việc không tích cực tham gia các hoạt động giao tiếp được tổ chức trong lớp học và không có động cơ thúc đẩy học tập đã dẫn đến tình trạng tiêu cực trong học tập của các lớp học ngoại ngữ Mặc dù việc tham gia các hoạt động giao tiếp được tổ chức trong lớp là một yếu tố mang tính đặc thù của PPGT, nhưng trong báo cáo nghiên cứu xuất bản năm 2001, Smith đã nhận xét các HS và sinh viên (SV) trong xã hội không thuộc nền văn hóa phương Tây, không thích tham gia vào các hoạt động giao tiếp được tổ chức trong lớp học ngoại ngữ Nhà nghiên cứu này phân tích sự ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo của Khổng Tử là yếu tố ngăn cản HS, SV ở Hồng Kông không dám đặt câu hỏi hoặc lên tiếng bày tỏ ý kiến cá nhân của mình để tham gia một cách tích cực vào những hoạt động giao tiếp trong lớp [109]
Nhưng không phải chỉ có người học gây ra những trở ngại trong việc thực hiện PPGT Khó khăn cũng nảy sinh từ phía các GV Các GV dạy tiếng Anh ở các nước châu Á gặp nhiều khó khăn trong công việc của mình vì họ không được đào tạo đúng yêu cầu Ở Indonesia, năm 2000, Jazadi nghiên cứu và phát hiện đa số các GV dạy tiếng Anh chưa được đào tạo chính quy trong lĩnh vực GDTA như một ngoại ngữ và khả năng sử dụng tiếng Anh của chính bản thân những người GV này còn khá kém [89]
Nghiên cứu của Jazadi năm 2000 cho thấy hệ thống thi cử của Indonesia với những đề thi trắc nghiệm theo dạng đọc hiểu và chọn câu trả lời đúng là một nguyên nhân gây ra những khó khăn trong việc vận dụng PPGT Tác giả Jazadi phân tích rằng hình thức thi cử như thế làm cho việc sử dụng ngoại ngữ để giao tiếp thực tế
Trang 23được rèn luyện trong lớp trở nên không quan trọng nếu không muốn nói là vô nghĩa Chính vì lý do này, cả GV lẫn SV đều tập trung vào việc học để đối phó với thi cử
và những kỹ năng giao tiếp vốn là yếu tố đặc thù của PPGT không được thực hiện trong các lớp học ngoại ngữ [89]
Trong bài viết xuất bản năm 2001, Smith đưa ra một đề nghị rất hợp lý về việc nên nhìn nhận một phương pháp sư phạm như một thể động hơn là một thể tĩnh Tác giả Smith cho rằng các GV nên nhìn nhận các PPDH như một quá trình thay đổi hết sức tinh tế với hai cực hoàn toàn khác nhau ở hai đầu: ở điểm xuất phát là những phương pháp phổ biến trong văn hóa của người học và ở đích đến là PPGT Smith hoàn toàn thuyết phục khi khuyên các GV hãy thúc đẩy các học trò của mình vận động để về đích trong quá trình thay đổi tinh tế này [109]
Ngoài ra, Smith còn phân tích thêm tâm lý sợ mất mặt trước đám đông cũng là một yếu tố cản trở việc tham gia các hoạt động giao tiếp được tổ chức trong lớp học ngoại ngữ của các học viên Các HS, SV không đủ mạnh dạn nói trong lớp vì họ sợ khi tham gia vào các hoạt động này, họ sẽ nói sai và như thế sẽ bị mọi người đánh giá thấp Đây cũng là những gì Smith đã ghi nhận được qua nghiên cứu của mình trong các lớp học tiếng Anh ở Hàn Quốc [109]
Sau yếu tố người học và người dạy, hệ thống giáo dục là yếu tố thứ ba góp phần làm cho việc áp dụng PPGT ở môi trường châu Á gặp nhiều khó khăn với những lớp học có sĩ số quá đông và tình trạng thiếu nhất quán giữa việc dạy và thi cử [98] Báo cáo khoa học của Nauman năm 2001 cho biết ở châu Á, một lớp học tiếng Anh có thể đông đến 130 SV Trước hết, người GV không thể quan tâm đến tất cả các SV như nhau trong một lớp học đông như thế Vì vậy, những SV rụt rè, có học lực trung bình hoặc yếu sẽ bị lấn lướt bởi những SV học giỏi hơn và dạn dĩ hơn Từ
đó, những SV chưa giỏi hoặc nhút nhát hầu như không tiến bộ trong học tập hoặc càng lúc càng tụt hậu so với những SV giỏi và dạn dĩ Hơn nữa, một lớp học đông
sẽ là một lớp học gồm nhiều trình độ rất khác biệt Bởi thế, cùng một tài liệu hoặc một hoạt động giao tiếp bằng tiếng Anh, một số SV trong lớp sẽ thấy quá dễ đến
Trang 24mức nhàm chán trong khi một số khác lại thấy quá khó đến mức không thể thực hiện nổi [98]
Những tài liệu nghiên cứu cho thấy những khó khăn trong việc thực hiện PPGT là thách thức mang tính phổ biến đối với việc GDTA ở các nước châu Á bắt nguồn từ việc người học không tham gia các hoạt động giao tiếp trong lớp và thiếu động cơ thôi thúc học những kỹ năng giao tiếp bên cạnh đó, chương trình đào tạo
GV dạy ngoại ngữ chưa đạt yêu cầu, và hệ thống giáo dục chưa giải quyết được tình trạng lớp có sĩ số HS quá đông và sự thiếu nhất quán giữa dạy học và thi cử cũng là yếu tố gây khó khăn khá rõ Với cái nhìn được mở rộng trong bối cảnh bao quát hơn, những khó khăn này vượt quá tầm giải quyết của cá nhân người GV dạy ngoại ngữ Thực sự, những vấn đề này phải được đưa vào xem xét trong kế hoạch phát triển quốc gia của các nước châu Á để có thể xây dựng một nền tảng tiếng Anh phù hợp làm cơ sở cho khả năng hội nhập xu hướng toàn cầu hóa trên thế giới hiện nay Khả năng hội nhập này không chỉ mang lại những tiến bộ về khoa học – kỹ thuật và những phát triển về kinh tế mà còn mang lại rất nhiều ích lợi về phát triển văn hóa, giáo dục và con người [98]
Trong lĩnh vực dạy và học tiếng Anh, Slavin (2008) cũng khẳng định một trong những thành phần có tính then chốt nhất trong việc học là động lực học tập mọi sinh viên đều có động lực học tập Các quốc gia có nền giáo dục phát triển rất quan tâm đến động lực học tập người học Vấn đề này đã đuợc nghiên cứu rất nhiều, hình thành nên một hệ thống lý thuyết vững chắc và ứng dụng vào giảng dạy
từ lâu trên thế giới như thuyết Học tập hành vi, thuyết nhu cầu của Maslow, thuyết Quy kết, thuyết Kỳ vọng Các thuyết này cung cấp những thông tin: GV có thể tạo nên sự khác biệt rất lớn trong động lực học tập của nguời học và động lực học tập đóng vai trò quyết định chất luợng học tập Động lực học tập tạo nên một nguồn sức mạnh, nguồn năng luợng mạnh mẽ khiến chủ thể hành động và duy trì hành động để đạt được kết quả Nhiều nhà khoa học nhận định rằng HS chịu học hay không liên quan rất nhiều đến động lực học tập Nếu người học có động lực, chất luợng học tập
sẽ vượt trội Theo Slavin (2008), một trong những yếu tố làm tăng động lực của
Trang 25nguời học là PPDH của GV Tác giả Slavin còn cung cấp những thông tin khẳng định GV có thể tạo nên sự khác biệt rất lớn ở động lực học tập ở người học Những chiến lược mà nhà giáo dục có thể sử dụng nhằm tăng động lực học tập người học như phải khơi dậy sự hứng thú học tập, kích thích trí tò mò, sử dụng đa dạng các hình thức trình bày, giảng bài thú vị, giúp người học thiết lập những mục tiêu của chính mình, cung cấp những phản hồi rõ ràng, tức thời và thường xuyên [108] Đối với Châu Á việc dạy và học tiếng Anh có hai vai trò quan trọng: Thứ nhất
là thiết lập sự đồng dạng của mỗi nhóm văn hóa và dân tộc bằng cách sử dụng cả tiếng Anh và tiếng mẹ đẻ của mỗi nhóm ở các nước Châu Á; thứ hai là tiếng Anh đóng vai trò mở cửa nhìn ra thế giới Trong tiến trình này, dạy tiếng Anh là cách tăng tốc phát triển quốc gia, là cách hiểu thêm các nền văn hóa khác và dạy tiếng Anh như là công cụ giao tiếp quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hóa Nhiều dân tộc nói tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai hoặc ngoại ngữ ở các nước Châu Á ngày càng gia tăng nhanh chóng Vì vậy tiếng Anh ở Châu Á đóng vai trò rất quan trọng trong thế giới hội nhập toàn cầu hóa Nghiên cứu những đặc điểm khác biệt của tiếng Anh ở các nước Châu Á để xác định vai trò của nó nhằm đặt ra mục tiêu định hướng việc dạy và học tiếng Anh trong môi trường Châu Á là rất quan trọng [74]
Ở Đông Á (Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản) và Đông Nam Á (Thái Lan, Indonesia, Malaysia ), các nước này đều dứt khoát chọn tiếng Anh là ngoại ngữ bắt buộc Còn các thứ tiếng khác có thể được dạy như môn tự chọn hoặc môn bắt buộc thứ hai [74]
Gần đây, có công trình nghiên cứu của nhóm tác giả Jurakovic, Linda; Tatkovic, Nevenka; Juricic, Marijana ở Porec, Croatia về việc QL các trường tiểu học và trường THCS Công trình nghiên cứu này thực hiện vào năm 2006 và đăng trên tạp chí khoa học hàng năm (2080 - 9069) năm 2011 thừa nhận các chức năng quản lý như lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra để quản lý tất cả các mặt nhà trường như các công ty doanh nghiệp trong môi trường xã hội cạnh tranh Từ đó, đưa ra 20 nhiệm vụ cần phải hoàn thành trong trường học như thiết lập những kế hoạch phát triển nhà trường theo từng giai đoạn dài hạn và ngắn hạn; dự kiến để
Trang 26phát triển những kế hoạch này, xác định đội ngũ… trong đó có đề cập đến việc nghiên cứu nhu cầu và sự mong đợi liên tục của từng thành viên trong cơ sở giáo
dục (nhiệm vụ 18) [92, tr.5] Các tác giả này cũng quan tâm đến đội ngũ nhưng
nghiên cứu ở khía cạnh nhu cầu và nguyện vọng của họ để tìm cách đáp ứng tạo điều kiện phát triển nhà trường
Các nghiên cứu trên đều cho thấy đổi mới GDTA và quản lý đổi mới GDTA đều nhấn mạnh về nhân tố con người: GV và CBQL, trong đó đề cập đến vai trò quan trọng về QL của HT HT có điều hành nhằm tác động tốt đến GV thì mục tiêu đổi mới trong kế hoạch của nhà trường mới có thể đạt được
1.1.1.2 Đổi mới giảng dạy tiếng Anh và quản lý việc đổi mới giảng dạy tiếng Anh
Đổi mới GDTA là một vấn đề cấp bách và thường xuyên phải đặt ra đối với giáo dục nói chung và giáo dục THCS nói riêng, nhằm góp phần không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo giảng dạy ngoại ngữ Cấp bách là vì chất lượng sản phẩm đào tạo còn thấp, chưa đáp ứng những đòi hỏi khắc nghiệt của thị trường lao động trong và ngoài nước Thường xuyên là vì đối tượng đào tạo luôn thay đổi, mục tiêu đào tạo phải tính đến những yêu cầu, đòi hỏi của nền kinh tế thị trường luôn biến động, của tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế Do đó trên lĩnh vực giáo dục, đổi mới giảng dạy vẫn luôn là một vấn đề được đề cập và bàn luận rất sôi nổi
từ nhiều thập kỷ qua
Ở các nước Đông Nam Á việc dạy và học song ngữ là truyền thống khá lâu đời, đặc biệt ở các nước thuộc địa cũ như Malaysia, Philippines, Brunei, Singapore Thái Lan, một nước chưa từng là thuộc địa, gần đây cũng có những bước cải cách hết sức mạnh dạn trong lĩnh vực song ngữ Từ năm 2001, đất nước này đã thành lập một loạt các trường học chương trình tiếng Anh (EP) và trường chương trình mini tiếng Anh (MEP) Các trường này dạy tiếng Anh với thời lượng 18 tiết/tuần Mục đích loại trường mới này nhằm hỗ trợ cuộc Cải cách giáo dục Thái Lan và sử dụng tiếng Anh như là ngôn ngữ dạy và học Mục đích cuối cùng của chương trình này là nâng cao trình độ thông thạo tiếng Anh của HS Thái Lan Trong các trường này các môn học (trừ môn tiếng Thái và các môn xã hội) đều được dạy thông qua tiếng Anh
Trang 27Hiện nay Thái Lan đã khởi xướng chương trình song ngữ tại 112 trường, trong đó
có 56 trường theo chương trình EP và 56 trường theo chương trình MEP Tại các trường này, GV tiếng Anh có đủ năng lực từ mọi nguồn, không phân biệt quốc tịch được tuyển dụng rộng rãi và công khai [74]
Michael Fullan (2007), Viện Nghiên cứu Giáo dục Ontario, Đại học Toronto, tác giả của nhiều quyển sách nghiên cứu về quản lý đổi mới giáo dục mạnh dạn cho rằng, đổi mới là sự thay đổi mọi thứ về con người, ổn định hay không do mối quan
hệ trực tiếp của nó tác động đến đời sống con người Đây chính là chân lý trong việc GDTA ở bất cứ nền giáo dục quốc gia nào [97] Nhận định này cho thấy con người là mục tiêu của sự đổi mới đồng thời cũng là nhân tố tác động vào sự đổi mới
Nghiên cứu của Rod Bolitho (2012) trong bài viết “Kế hoạch và chương trình: Kinh nghiệm quản lý đổi mới giảng dạy tiếng Anh hiện nay” nhận định như sau:
- Sự thay đổi là một quá trình không giống như một sản phẩm Kế hoạch đổi mới cần phải chấp nhận quá trình đó và tìm cách đánh giá, phân tích kỹ quá trình cũng như kết quả thu được Bảng kết quả này được thừa nhận tùy theo mức độ linh hoạt của kế hoạch đã xây dựng được điều chỉnh về những nhu cầu cần thiết và chọn mốc thời gian ưu tiên thích hợp để thực hiện
- Mục tiêu kế hoạch thay đổi có hệ thống trên phạm vi rộng lớn và cần được xem như công việc lâu dài Kế hoạch dạng này được xem như một phương tiện khởi động đột phá bước đầu của sự đổi mới tốt hơn là đánh giá nó qua kết luận cuối cùng
- Một kế hoạch đổi mới bắt đầu không dựa trên sự nghiên cứu kỹ càng và không
có quan điểm đổi mới được kế hoạch hóa xây dựng trên cơ sở nghiên cứu tỉ mỉ thì chẳng khác nào xây nhà trên cát Trước sau gì cũng không thể tránh khỏi sự đổ vỡ
- Giáo viên thường là mục tiêu đầu tiên của sự đổi mới, nhưng họ cũng là những tác nhân đổi mới trước tiên Họ cần được lôi cuốn vào kế hoạch ngay từ giai
đoạn sớm nhất và tự nguyện chủ động đổi mới [75] Nhận định này cho thấy GV là nhân tố quan trọng cần được quan tâm trong việc đổi mới quản lý đội ngũ GV
- Những kế hoạch đổi mới thành công có đặc trưng là tư duy của những người tham gia chủ yếu trong quá trình đổi mới với sự am hiểu tiếp cận tốt về kế hoạch và
Trang 28cùng có những điểm chung liên kết với tư duy của những đồng nghiệp cùng quan tâm đến việc đổi mới [75]
Tác giả David Hayes (2012), trong bài viết nghiên cứu về “Một số yếu tố để kế hoạch thành công: Văn hóa, sự tham gia và năng lực về đổi mới giảng dạy tiếng Anh” chia sẻ một số kinh nghiệm như sau:
Về chính sách và nguồn lực: Có ba bài học kinh nghiệm quan trọng đối với
người CBQL Thứ nhất, đổi mới trong dạy học tiếng Anh cần được hiện thực hóa
trong phạm vi hệ thống giáo dục riêng, ảnh hưởng của việc đổi mới đó về mọi lãnh
vực của hệ thống cũng cần được xem xét, cân nhắc kỹ trong quá trình thực hiện; thứ
hai, đổi mới nghiệp vụ sư phạm đặc biệt quan trọng cần tiến hành đổi mới song song
theo phương thức tay trong tay, có theo dõi, kiểm tra nghiêm túc; thứ ba, cần chuẩn bị
sẵn sàng và có đủ nguồn lực về tài chính, vật lực, nhân lực để thực hiện sự đổi mới
Về hỗ trợ đồng nghiệp: Có ba điểm mấu chốt mà CBQL chịu trách nhiệm đổi
mới cần lưu ý Thứ nhất, mọi sự đổi mới đều cần có sự hỗ trợ của những người
được phân công nhiệm vụ để thực hiện việc đổi mới Đó là GV bộ môn Những GV này phải được thăm dò ý kiến và ý kiến của họ cần được tôn trọng ở mọi giai đoạn
trong suốt quá trình đổi mới; thứ hai, việc bồi dưỡng thường xuyên phải được tiến hành ở mọi giai đoạn trong suốt quá trình đổi mới theo hình thức đào tạo tập trung có hiệu quả và bồi dưỡng thường xuyên trong nhà trường; thứ ba, phát
triển cộng đồng học tập chuyên môn giữa các GV là cần thiết để phát triển nhà trường; sắp xếp thời gian và tranh thủ cơ hội để trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn là nhiệm vụ trọng tâm để hỗ trợ đồng nghiệp cùng nhau phát triển
Về quản lý: Tác giả cho rằng có ba vấn đề cần chia sẻ đối với CBQL Thứ
nhất, năng lực quản lý của các chuyên viên cấp bộ có thể bảo đảm sự thừa nhận đổi
mới về hình thức bên ngoài nhưng chưa chắc bảo đảm đổi mới thực sự bên trong
lớp học; thứ hai, quản lý đổi mới có hiệu quả ở mọi cấp trong ngành giáo dục thật là
quan trọng nếu đạt được mục tiêu Với chế độ thủ trưởng thì CBQL nhà trường có
vai trò cực kỳ quan trọng; thứ ba, ngay cả GV cần được bồi dưỡng thường xuyên ở
mọi giai đoạn trong suốt quá trình đổi mới thì những người chịu trách nhiệm quản
Trang 29lý đổi mới (CBQL giáo dục, chuyên viên hướng dẫn đào tạo, HT nhà trường) cũng cần được bồi dưỡng như vậy [75]
Nghiên cứu của hai tác giả Denise E Murray và MaryAnn Christison (2012) trong bài viết “Nhận thức về việc đổi mới giảng dạy tiếng Anh: Môi trường và tài liệu” đưa ra một số kết luận: Trong việc nghiên cứu môi trường, hoàn cảnh địa phương, CBQL cần xem xét, tìm hiểu kiến thức và lòng tin của GV; chất lượng và nội dung chương trình, tài liệu giảng dạy của GV; nhận thức về ngôn ngữ và việc học ngôn ngữ ở địa phương nghiên cứu Nếu GV GDTA trên khắp toàn cầu theo quan điểm ba vòng của Kachru đều chủ động thích nghi với thực tiễn đổi mới thì họ cần được bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn thích hợp để phát triển thông thạo tiếng Anh, kiến thức sư phạm và ngôn ngữ học của họ; củng cố lòng tin của họ về ngôn ngữ, việc dạy và học ngôn ngữ Hơn nữa, CBQL cần hiểu rằng dạy học là dạng hoạt động có ý thức và phức tạp mà GV phải chấp nhận và thích nghi với thực tiễn không ngừng biến động GV cần được bồi dưỡng để cập nhật những phương pháp mới phù hợp với thực tiễn CBQL cần đảm bảo rằng hệ thống tổ chức có bộ máy hoạt động thông suốt và tương tác chặt chẽ với nhau Họ cần đầu tư chương trình bồi dưỡng GV một cách đồng bộ, thống nhất, mô hình thực tiễn đổi mới và phát huy việc đổi mới Họ cần kiểm tra tài liệu nội bộ được duyệt để sử dụng trong nhà trường, những GV nòng cốt cần triển khai tài liệu của chính họ nghiên cứu và biết
sử dụng PTDH hiện đại một cách thông minh [75]
Các nghiên cứu trên đều cho thấy đổi mới GDTA và quản lý đổi mới GDTA
đều nhấn mạnh về nhân tố con người: GV và CBQL Quan trọng hơn cả là đội ngũ
GV GDTA Chính họ là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục trong nhà trường
CBQL cần nhận thức đúng về điều này để có biện pháp quản lý hiệu quả Đặc biệt
là việc bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ thường xuyên cho GV và kể cả bản thân
CBQL Các nhân tố còn lại đều hỗ trợ cho công tác quản lý đổi mới GDTA tốt hơn
Trong nhà trường THCS, đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo là mục tiêu phải đạt được của quá trình dạy học; quản lý hoạt động dạy học cũng là công việc chiếm thời gian nhiều nhất, khó khăn nhất của người CBQL Trên thực tế, đã có
Trang 30nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học, trong đó có hoạt động đổi mới GDTA và quản lý việc đổi mới GDTA để tìm ra những biện pháp quản lý tốt hơn
Có thể nói, việc nghiên cứu về quản lý giảng dạy nói chung và quản lý GDTA
ở các nước đã có những thành quả lớn lao, đóng góp vào trào lưu cải cách giáo dục hiện đại Các nhà QLGD Việt Nam có thể nghiên cứu các công trình này để vận dụng vào việc quản lý đổi mới GDTA phù hợp với tình hình thực tiễn ở nước ta Đặc biệt đối với các công trình nghiên cứu dạy và học tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai hoặc như ngoại ngữ ở một số nước châu Á hay khu vực Đông Nam Á như Thái Lan, Malaysia cũng như vấn đề quản lý GDTA nói chung và quản lý đổi mới GDTA nói riêng
1.1.2 Một số nghiên cứu ở Việt Nam
1.1.2.1 Giảng dạy tiếng Anh và quản lý giảng dạy tiếng Anh
Trong lĩnh vực hoạt động GDTA, một số tác giả ở Việt Nam cũng tập trung nghiên cứu vào nguồn lực con người, chủ yếu về năng lực giảng dạy của GV và năng lực quản lý của HT Theo điều tra của Lê Văn Cảnh vào năm 2002, các GV dạy tiếng Anh của Việt Nam đều tốt nghiệp chuyên ngành tiếng Anh từ các trường cao đẳng và đại học Tuy nhiên, rất nhiều giảng viên đại học có năng lực và nhiệt tình, thực chất họ lại không thể vận dụng PPGT xuyên suốt quá trình làm việc với
SV của mình; do đó, về mặt sư phạm, các SV không có yếu tố “thị phạm” Nói cách khác, không được kiến tập thường xuyên những giờ dạy theo PPGT, không được tiếp xúc với những ví dụ mẫu của PPGT một cách thường trực Tất yếu, khi các SV này tốt nghiệp ra trường thành GV đứng trên bục giảng, họ khó lòng có khả năng thực hiện PPGT thành công trong khi dạy học trò của mình [42] Điều này cho thấy PPGT là PPDH đặc trưng của bộ môn học tiếng nước ngoài mà bản thân GV còn gặp khó khăn, lúng túng nên dẫn đến chất lượng học tập tiếng Anh của HS là hệ quả tất nhiên
Tham khảo chương trình đào tạo của các trường đại học và cao đẳng, tác giả
Lê Văn Cảnh chỉ ra phần lớn thời gian trong chương trình đào tạo của các trường
Trang 31này dành cho việc cung cấp kiến thức về tiếng Anh và rèn luyện khả năng sử dụng tiếng Anh cho SV Trong khi đó, thời gian dành cho rèn luyện nghiệp vụ sư phạm chỉ chiếm gần 40% toàn bộ chương trình đào tạo Như vậy, kiến thức học thuật về ngoại ngữ và kỹ năng sử dụng ngoại ngữ được chú trọng hơn trong khi kiến thức và năng lực về giảng dạy ngoại ngữ không được quan tâm đúng mức Chính phương hướng đào tạo này đưa đến hệ quả các GV dạy ngoại ngữ không đủ bản lĩnh tổ chức
và điều động các hoạt động sư phạm trong các lớp học thực tế nói chung và trong việc tổ chức và điều động các hoạt động giao tiếp mang tính sư phạm trong các lớp học vận dụng PPGT nói riêng [72]
Tác giả Lê Phước Kỳ xác nhận trong nghiên cứu của mình vào năm 2002 rằng những lớp học có sĩ số đông như thế thực sự là một trở ngại lớn cho việc áp dụng PPGT [95] Bởi vậy, việc áp dụng PPGT ở Việt Nam phải được quan tâm trong một
kế hoạch có quy mô quốc gia và ý kiến của các GV về những khó khăn trong việc thực hiện phương pháp này phải được lắng nghe và thảo luận tìm cách giải quyết thật tích cực Bộ GD&ĐT cần phải thực hiện cải cách đối với chương trình đào tạo
ở các trường đại học và cao đẳng sư phạm để đảm bảo cung cấp cho xã hội một lực lượng GV có năng lực thực sự trong việc giảng dạy ngoại ngữ theo PPGT
Các GV cần được Nhà nước và ngành GD&ĐT dành cho những cơ hội nâng cao, cập nhật kiến thức và năng lực sư phạm thông qua các hội thảo, các chương trình học tập đặc biệt miễn phí, các chương trình học bổng Đề xuất này xuất phát từ tác giả Lê Văn Cảnh đã báo cáo trong nghiên cứu của mình công bố năm 2002 rằng trong lĩnh vực GDTA, những nỗ lực nâng cao chất lượng giảng dạy của các GV nhận được rất nhiều nguồn tài trợ quốc tế Văn hóa có một vai trò quan trọng trong việc học một ngôn ngữ Vì thế, khi áp dụng PPGT, yếu tố văn hóa phải được quan tâm đúng mức, nếu không, e rằng kết quả sẽ không thể diễn ra như mong đợi Với
lý lẽ này, một mặt, những nghiên cứu giới thiệu về văn hóa của Việt Nam cần được thực hiện nhiều hơn nhằm giúp các GV người nước ngoài đến từ các nước sử dụng tiếng Anh không thuộc nền văn hóa châu Á có thể kiên nhẫn hơn và khéo léo hơn trong khi làm việc với các SV Việt Nam Mặt khác, các tài liệu về văn hóa phương
Trang 32Tây cũng cần được giới thiệu với các SV Việt Nam để SV Việt Nam có thể thích nghi với phương pháp học mới một cách dễ dàng hơn [72]
Bên cạnh những yếu tố tập quán văn hóa vừa nêu trên, có một yếu tố không thể không nói đến ở đây là các HS học ngoại ngữ nhưng không có một động cơ thúc đẩy tích cực thôi thúc sự nỗ lực học tập của họ Nghiên cứu thực tế học và dạy tiếng Anh ở Việt Nam, tác giả Bock kết luận rằng phần lớn HS, sinh viên dường như chỉ quan tâm đến việc đối phó với các kỳ thi Và các kỳ thi không hề kiểm tra năng lực giao tiếp bằng ngoại ngữ của học trò Tác giả còn nhận thấy các SV chỉ muốn kiếm việc làm, và rất nhiều việc làm ở Việt Nam không đòi hỏi khả năng sử dụng tiếng Anh lưu loát Vì thế, các HS, SV Việt Nam không bỏ công sức học tập ngoại ngữ để giao tiếp [69]
Trong hai năm 2004 và 2005 Nguyễn Hữu Châu và cộng sự (Viện nghiên cứu chiến lược giáo dục) đã tiến hành nghiên cứu cấp Nhà nước về đánh giá chất lượng
và hiệu quả triển khai đại trà chương trình, SGK mới bậc tiểu học và THCS Trong nghiên cứu của mình, nhóm tác giả đã xác định cơ sở khoa học của việc đánh giá chương trình, SGK mới; đánh giá quy trình xây dựng chương trình mới; nghiên cứu
so sánh chương trình, SGK mới với chương trình, SGK trước; nghiên cứu đánh giá mức độ phù hợp của chương trình, SGK mới đối với tâm - sinh lý HS tại 4 tỉnh: Nam Định, Sơn La, Kon Tum, Đồng Tháp; đánh giá chất lượng lĩnh hội tri thức của
HS qua bài kiểm tra trắc nghiệm của HS lớp 1, lớp 2, lớp 6 và 7 ở 80 trường tiểu học và 80 trường THCS của 5 tỉnh: Nam Định, Sơn La, Kon Tum, Ninh Thuận và Đồng Tháp; nghiên cứu đánh giá khả năng thực hiện chương trình, SGK mới của
GV thông qua bảng hỏi; nghiên cứu khảo sát hiện trạng tổ chức dạy học ở các trường; xây dựng báo cáo kết quả đánh giá chất lượng, hiệu quả triển khai chương trình, SGK mới ở tiểu học và THCS; nghiên cứu đề xuất giải pháp điều chỉnh chương trình, SGK mới [17]
Về hoạt động hội thảo quản lý GDTA cũng có một số nghiên cứu có liên quan Nhìn chung, những nghiên cứu này đề cập đến quản lý chất lượng giảng dạy trên bình diện chung là chủ yếu
Trang 33Năm 2006, Dự án THCS cũng đã tiến hành nghiên cứu đánh giá tác động của chương trình đào tạo mới thông qua việc đánh giá giảng viên của một số trường CĐSP trong toàn quốc nhằm hiểu rõ sự thay đổi chức năng của người giảng viên trước yêu cầu đổi mới giáo dục, các năng lực và kỹ năng sư phạm của người GV trong bối cảnh xã hội đang đổi mới để vận dụng vào công tác đào tạo ở các trường
sư phạm
Thông tin Khoa học (số 11-2009) của Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội (Trường ĐHNN - ĐHQGHN) bàn về một trong những không gian rộng lớn của Ngôn ngữ học ứng dụng: Các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến dạy - học ngoại ngữ Với sự diễn đạt mạch lạc và đủ luận cứ, công trình “Các quan điểm tâm lý dạy học ngoại ngữ” của tác giả Trần Hữu Luyến cung cấp cho người đọc những hiểu biết cần thiết về quá trình dạy - học ngoại ngữ nhìn từ góc độ Tâm
lý học liên tưởng, Tâm lý học hành vi và Tâm lý học hoạt động [62]
Trong khi đó, tác giả Hoàng Văn Vân, trong công trình “Nghiên cứu phát triển
hệ thống các nhóm nội dung và phương pháp giảng dạy, nâng cao năng lực tiếng Anh cho sinh viên đại học và học viên cao học ở Đại học Quốc gia Hà Nội đáp ứng nhu cầu hội nhập khu vực và toàn cầu hóa”, đã phác thảo một bức tranh đa sắc màu
về vị thế của tiếng Anh và tình hình dạy tiếng Anh ở một số nước trong hai khu vực Đông Á và Đông Nam Á [62] Thông tin trong công trình này về thực trạng đào tạo tiếng Anh không chuyên ở ĐHQGHN và những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học tiếng Anh không chuyên là một trong những căn cứ giúp hoạch định quyết sách về nâng cao chất lượng đào tạo tiếng Anh không chuyên ở ĐHQGHN và các cơ sở đào tạo khác trong toàn quốc Cũng trong tài liệu này, các PPDH ngôn ngữ đã được trình bày một cách có hệ thống, dễ hiểu trong công trình “Phương pháp phát triển năng lực giao tiếp cho sinh viên chuyên ngữ ở giai đoạn đầu” của Đỗ Bá Quý - một chuyên gia giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực GDTA [62] Đề xuất của tác giả này về một mô hình phát triển năng lực giao tiếp phù hợp và bền vững cho SV chuyên ngữ ở giai đoạn đầu cùng với những kiến nghị rất cụ thể đối với các cấp quản
Trang 34lý đào tạo có ý nghĩa thực tiễn lớn lao, khơi gợi những mạch suy nghĩ, những hướng nghiên cứu mới về các thủ pháp giảng dạy cụ thể trong giáo học pháp ngoại ngữ Ngày 07/04/2011, Trường Đại học Hải Phòng kết hợp với Đại sứ quán Hoa Kỳ
đã tổ chức Hội thảo quốc tế “Quản lý chất lượng đào tạo tiếng Anh tại các trường đại học giai đoạn 2011 - 2015” Tham dự Hội thảo có các đại biểu, khách mời đại diện Bộ GD&ĐT, Đại sứ Quán Hoa Kỳ, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ; Sở Ngoại vụ, Sở Nội vụ, Sở GD&ĐT Hải Phòng; Viện Anh ngữ ELI (Hoa Kỳ), Trung tâm Anh ngữ Apollo, Chương trình Fulbright; các trường đại học, cao đẳng; các chuyên gia trong lĩnh vực GDTA cùng đại diện cơ quan thông tấn báo chí Hội thảo nhằm nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc dạy và học tiếng Anh; trao đổi kinh nghiệm đào tạo và quản lý đào tạo Anh ngữ giữa các trường đại học; tìm kiếm khả năng hợp tác, liên kết trong đào tạo và quản lý đào tạo bộ môn tiếng Anh; trao đổi và chia sẻ kinh nghiệm về PPDH, học tập tiếng Anh; giao lưu văn hoá Việt Nam - Hoa Kỳ và thiết lập mối quan hệ hợp tác giữa các trường học của hai nước; giúp các giảng viên, SV các trường cao đẳng, đại học ở Việt Nam có cơ hội để trau giồi, chia sẻ kiến thức về các PPDH tiếng Anh hiệu quả và hiện đại [112]
Nội dung chương trình Hội thảo được trình bày với năm tham luận của các chuyên gia Hoa Kỳ, Viện Anh ngữ Hoa Kỳ, các nhà giáo dục, các học giả nước ngoài, 24 tham luận của tác giả trong nước Hội thảo tập trung thảo luận vào một số trọng tâm ở tầm vi mô và phạm vi trường đại học: Nhận diện những tồn tại trong việc dạy và học tiếng Anh hiện nay ở trường đại học Việt Nam và nguyên nhân chủ yếu: khách quan, chủ quan; những thay đổi, điều chỉnh nào là cần thiết, có tính khả thi cao để tăng hiệu quả dạy và học tiếng Anh; Làm thế nào để huy động được
“nguồn lực con người” của trường (SV, giảng viên, CBQL, nhân viên) để tăng cường chất lượng đào tạo tiếng Anh; làm thế nào để quản lý tốt hoạt động dạy và học tiếng Anh đáp ứng nhu cầu của xã hội, nhà sử dụng lao động đối với SV tốt nghiệp về trình độ sử dụng tiếng Anh… Tại Hội thảo, các chuyên gia Anh ngữ Hoa
Kỳ đã thuyết trình về các PPDH tiếng Anh hiện đại, hiệu quả dành cho SV quốc tế
Trang 35nói chung và cho SV Việt Nam nói riêng; trao đổi về những kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy [112]
Gần đây, nhóm tác giả của Học viện Quản lý Giáo dục do Trần Ngọc Giao chủ biên cho ra đời tập giáo trình “Quản lý trường phổ thông”, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam ấn hành năm 2013 Tập giáo trình này chia thành năm mô đun với 20 chuyên đề cụ thể nhằm tạo điều kiện nghiên cứu, giúp bồi dưỡng CBQL trường PT quản lý toàn diện nhà trường, nhưng một số chuyên đề vẫn chưa cập nhật kịp thời một số văn bản phù hợp với tình hình quản lý hiện nay Chẳng hạn như việc xếp loại GV, NV hiện nay không xếp loại tốt mà đổi thành loại xuất sắc [33]
Các tác giả nghiên cứu và đi sâu ở những bình diện khác nhau nhưng đều
nhằm giải quyết mối quan hệ giữa GV và người quản lý; những nội dung quản lý
hoạt động dạy học của HT Đặc biệt chú ý nhiều đến đội ngũ GV và đổi mới các
PPDH trong đó nhấn mạnh PPGT trong GDTA
Song song đó, có thể đề cập đến một số tác giả sau có những quan tâm cụ thể đến quản lý dạy học và dạy học từng môn học:
Tác giả Hà Sĩ Hồ và Lê Tuấn đi sâu nghiên cứu về mục tiêu, nội dung, biện pháp quản lý trường THCS cũng khẳng định: “Việc quản lý hoạt động dạy và học (hiểu theo nghĩa rộng) là nhiệm vụ quản lý trung tâm của nhà trường” và “Người hiệu trưởng phải luôn luôn kết hợp một cách hữu cơ quá trình dạy và học” [40, tr.28] Tác giả Nguyễn Văn Lê chú ý tới công tác bồi dưỡng GV về tư tưởng chính trị, về chuyên môn nghiệp vụ để nâng cao năng lực giảng dạy cho họ [46, tr.5] Qua nghiên cứu thực trạng chất lượng GV, nhóm nghiên cứu gồm các ông Nguyễn Ngọc Hợi; Phạm Minh Hùng và Thái Văn Thành (Đại học Vinh) cũng cho
rằng, muốn nâng cao chất lượng giáo dục thì trước hết phải nâng cao chất lượng
đội ngũ GV Các nhà nghiên cứu này cho rằng, những yếu tố tạo thành chất lượng
giáo dục gồm có: GV, chương trình và SGK; PPDH; CSVC, thiết bị dạy học Trong đó, GV là yếu tố có vai trò quyết định hàng đầu đến chất lượng giáo dục Để nâng cao chất lượng GV thì cần phải đổi mới phương pháp đào tạo, bồi dưỡng GV; xây dựng hệ thống chính sách cho GV; xây dựng cơ chế tuyển chọn, đánh giá GV
Trang 36và quản lý toàn diện các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ của GV Đặc biệt chú
trọng việc bồi dưỡng GV để nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường
1.1.2.2 Đổi mới giảng dạy tiếng Anh và quản lý đổi mới giảng dạy tiếng Anh
Định hướng đổi mới giảng dạy trong đó trọng tâm là đổi mới PPDH đã được thống nhất theo tư tưởng tích cực hóa hoạt động học tập của HS dưới sự tổ chức hướng dẫn của GV Việc này đòi hỏi HS tự giác chủ động tìm tòi, phát hiện, giải quyết nhiệm vụ nhận thức và ý thức vận dụng linh hoạt, sáng tạo các kiến thức kỹ năng đã thu nhận được Đối với việc dạy học môn ngoại ngữ ở trường THCS thì quan điểm này càng đúng vì không ai có thể thay thế người học trong việc nắm các phương tiện giao tiếp và sử dụng chúng trong hoạt động giao tiếp bằng chính năng lực giao tiếp của mình
Tác giả Nguyễn Thị Thúy Hồng (2009) cho rằng phương pháp giảng dạy đặc biệt có những tác động mạnh mẽ đến chất lượng học tập, nhất là đối với đặc điểm sinh viên Việt Nam có những phẩm chất gây trở ngại cho việc học ngôn ngữ như nhút nhát, thụ động, không thích cộng tác với bạn bè, tính tự giác học tập và năng động chưa cao , đồng thời đề xuất PPDH tiếng Anh phải thay đổi theo hướng cho
SV thực hành theo nhóm, theo cặp, xen kẽ các trò chơi trong các giờ giảng, thiết kế các bài tập theo hướng tạo tính chủ động sáng tạo nhằm khắc phục những trở ngại trên Như vậy, PPDH nói chung, phuơng pháp dạy tiếng Anh nói riêng, đóng vai trò lớn trong việc thúc đẩy động lực học tập, từ đó làm thay đổi hiệu quả học tập tiếng Anh của người học [117]
Cần phải chú trọng và quan tâm đến PPDH, thay đổi PPDH dựa trên những quy luật động lực học tập của người học là yếu tố then chốt Quan điểm của tác giả Trần Lê Hữu Nghĩa (2008) nhìn nhận khá toàn diện về tình hình giảng dạy và học tập tại các trường đại học nước ta khi cho rằng GV vẫn là người ra quyết định, là nhân vật trung tâm của lớp học Sinh viên Việt Nam không được dạy bằng phuơng pháp tích cực, chủ yếu là nghe giảng và ghi chép thiếu sự tuơng tác [118] Vì vậy, thay đổi PPDH là vấn đề sống còn
Trang 37Đặc biệt là ngày 03/01/2009 tại Thành phố Vinh tỉnh Nghệ An, Bộ GD&ĐT
đã tổ chức hội thảo: “Chỉ đạo, quản lý hoạt động đổi mới phương pháp giảng dạy ở các trường Trung học phổ thông”, do ông Nguyễn Thiện Nhân chủ trì Bên cạnh, còn có các tác giả như Vũ Thị Lợi, Nguyễn Hạnh Dung, Dương Thị Nụ, Hồ Thị Thanh Hà, Phạm Văn Khai, Đặng Văn Hùng, Thân Trọng Liên Nhân đã nghiên cứu
về cải tiến PPDH môn tiếng Anh
Về quản lý hoạt động đội ngũ GDTA, vẫn còn ít tác giả nghiên cứu Tuy nhiên, có thể đề cập đến một số giáo trình, công trình nghiên cứu, đề tài đi sâu vào việc nghiên cứu từng lĩnh vực của công tác quản lý trường học như: “Một số giải pháp để nâng cao chất lượng đội ngũ GV trong nhà trường Trung học cơ sở” của Lê Quý Thành ở trường Trung học cơ sở Văn Thủy, Lệ Thủy tỉnh Quảng Bình năm 2008; “Quản lý phát triển đội ngũ GV các trường Trung học phổ thông huyện Hải Hậu tỉnh Nam Định theo quan điểm chuẩn hóa” của Vũ Thế Hưng năm 2011; “Một
số biện pháp xây dựng đội ngũ GV của hiệu trưởng Trung học cơ sở Nguyệt Đức, Thuận Thành” của Phùng Đức Thành năm 2011
Năm 2009, trong một thảo luận xung quanh chiến lược quốc gia về dạy và học ngoại ngữ, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Việt Nam đã nói tới năm 2020 ngoại ngữ sẽ phải
là một thế mạnh của người Việt Nam
Trong “Dự thảo chiến lược quốc gia tầm nhìn 2020 về vấn đề dạy và học ngoại ngữ ở Việt Nam”, Bộ GD&ĐT Việt Nam dự định đầu tư 1 tỷ đô-la cho quá trình này Tuy nhiên, chính thứ trưởng Bộ GD&ĐT và các tác giả của đề án lại cho rằng
để thực hiện được chiến lược này và biến ngoại ngữ trở thành thế mạnh của Việt Nam vào năm 2020, cái khó nhất là vấn đề thiếu đội ngũ GV Đào tạo GV có phương pháp giảng dạy thế nào là vấn đề cần được quan tâm Cụ thể như để đào tạo
GV, có thể không cần đưa các GV ra nước ngoài học tập mà có thể đào tạo ngay trong nước với các chuyên gia từ nước ngoài tới giảng dạy Ngoài ra, nên đầu tư vào việc thay đổi hệ thống đánh giá, kiểm tra SV Một khía cạnh khác cũng nên để
ý là cần xem xét khoảng cách về khả năng ngoại ngữ giữa thành thị và nông thôn
Trang 38Ông khuyến nghị cần đầu tư thêm vào vùng nông thôn để tránh tình trạng mất cân bằng vùng miền
Mới đây, tại hội thảo “Giảng dạy nhiều ngoại ngữ trong nhà trường: Lợi ích và thách thức” do Bộ GD&ĐT, Đề án ngoại ngữ quốc gia (NNQG) 2020 phối hợp tổ chức tại Đà Nẵng, vấn đề này thêm lần nữa được đào sâu trước nhiều khó khăn, thách thức Theo quy định của Bộ GD&ĐT, năm ngoại ngữ (Anh, Pháp, Nhật, Nga, Trung Quốc) được giảng dạy chính trong hệ thống giáo dục quốc dân Tùy điều kiện từng địa phương, một trong năm ngoại ngữ này sẽ được lựa chọn làm môn học bắt buộc trong nhà trường [114]
Tác giả Vũ Thị Tú Anh cho rằng tiếng Anh vẫn là lựa chọn độc tôn, chiếm đến 98% tổng số HS học ngoại ngữ, còn lại là ngoại ngữ khác Tác giả Nguyễn Xuân Thành thì cho biết chương trình tiếng Anh khối tiểu học, triển khai từ lớp 3 với gần 500.000 HS theo học Cấp THCS và THPT, có đến hơn bảy triệu HS đăng ký Tác giả Nguyễn Hoài Chương nhận định: hơn chục năm nay, TP HCM chủ trương đẩy mạnh ngoại ngữ trong trường học Trong đó, có một nhánh học theo chương trình tiếng Anh đề án của Bộ, còn lại theo chương trình tăng cường, tự chọn [114] Theo Đề án dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân đến năm
2020, GV dạy ngoại ngữ phải đạt B2 đối với bậc tiểu học và THCS, C1 đối với bậc THPT, giáo dục thường xuyên, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp theo Khung tham chiếu năng lực ngoại ngữ chung Châu Âu Để đạt được mục tiêu này, các GV cần được tập huấn để nâng cao trình độ tiếng Anh và PPDH giao tiếp, lấy người học làm trung tâm để nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ tại Việt Nam [23] Cũng theo hướng nâng cao hiệu quả GDTA và đổi mới phương pháp GDTA, Hội đồng Anh đã thiết kế khóa học “Tiếng Anh cho giảng dạy” nhằm mục đích nâng cao trình độ tiếng Anh cho GV, đồng thời nâng cao PPDH để đáp ứng các yêu cầu của Đề án Ngoại Ngữ Quốc gia (ĐANNQG) 2020 Khóa học này có 3 cấp độ gồm cấp độ 1 (dành cho GV có trình độ A2), cấp độ 2 (dành cho GV có trình độ B1) và cấp độ 3 (dành cho GV có trình độ B2) Hội đồng Anh đã phối hợp chặt chẽ với ĐANNQG 2020, Bộ GD&ĐT đã thí điểm khóa học này cho một nhóm các GV
Trang 39tại trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng Thời lượng của khóa học là 240 giờ có thể học trực tiếp trên lớp, học trực tuyến hoặc kết hợp cả 2 hình thức Khóa học được thiết kế để thay đổi linh hoạt nhằm đáp ứng yêu cầu của người học Trong dự
án thí điểm, tỷ lệ giữa học trực tiếp và học trực tuyến là 70% - 30% thời lượng khóa học Có 54 GV THCS, trong đó 27 GV ở Đà Nẵng và 27 GV ở Quảng Nam được lựa chọn tham gia chương trình thí điểm Họ ở trình độ B1 trước khi tham gia khóa học
“Tiếng Anh cho giảng dạy” Kết quả: Các học viên đánh giá cao phương pháp học kết hợp này Một GV cho biết: “Học trực tuyến rất hiệu quả về mặt thời gian vì chúng tôi vừa có cơ hội học tập mà không ảnh hưởng tới việc dạy ở trường” [115]
Cũng theo thông tin có liên quan đến đề án, lượng GV tham gia học trực tuyến trên 90% cho thấy Hội đồng Anh đã hoàn thành các giai đoạn học trực tuyến thành công Ngoài ra, Bộ GD&ĐT cũng quan tâm đến tính linh hoạt của khóa học Khóa học này có thể sử dụng phương pháp học trực tiếp trên lớp hoặc học trực tuyến hoặc kết hợp cả hai hình thức trên Cân nhắc giữa tỷ lệ sử dụng Internet cao ở Việt Nam,
mô hình này vừa tiết kiệm chi phí đi lại vừa đảm bảo tính hiệu quả của chương trình Hội đồng Anh cũng thí điểm hình thức kết hợp các giảng viên Việt Nam và các giảng viên Hội đồng Anh Các giảng viên Việt Nam rất thích thú với khóa học này Một giảng viên ở trường Đại học Ngoại Ngữ - Đại học Đà Nẵng cho biết: “Đây
là một khóa học tuyệt vời giúp các GV nắm được cách giảng dạy, quản lý lớp học, động viên học viên hiệu quả và tự tin với nghề dạy học” [115] Hội đồng Anh đang thảo luận với Bộ GD&ĐT để điều chỉnh khóa học cho hiệu quả hơn nữa Ví dụ như
bổ sung thêm phần nâng cao năng lực tiếng Anh Hội đồng Anh hy vọng tương lai đây sẽ là khóa học khả thi cho các chương trình bồi dưỡng GV tiếng Anh thuộc ĐANNQG 2020 của Bộ GD&ĐT
Theo hướng này, tháng 9/2013, Sở GD&ĐT TP HCM và IIG Việt Nam đã ký kết Thỏa thuận Hợp tác giáo dục về việc triển khai đào tạo và chuẩn hóa PPDH cho
GV tiếng Anh của sở bằng chương trình ELTeach Đây là một trong những hoạt động đầu tiên để khởi động lộ trình thực hiện công tác chuẩn hóa Hội thảo về PPDH tiếng Anh được tổ chức với mục đích mang đến cho các GV tiếng Anh và
Trang 40CBQL giáo dục tại TP HCM một cái nhìn toàn diện về phương pháp dạy tiếng Anh trên thế giới hiện nay và giới thiệu các giải pháp tiên tiến bồi dưỡng trình độ tiếng Anh và khả năng sư phạm cho các GV tiếng Anh của TP Tại đây, các chuyên gia giáo dục hàng đầu thế giới đến từ Đại học Michigan (Hoa Kỳ) và Tập đoàn National Geographic Learning (Hoa Kỳ) đã có các phần tham luận chia sẻ thông tin và kinh nghiệm triển khai trên thế giới Cụ thể, ông Freeman Donald đến từ đại học Michigan (Hoa Kỳ) đã có phần trình bày hết sức thú vị về xu hướng và các PPDH tiếng Anh hiện nay trên thế giới Với 25 năm làm việc trong ngành giáo dục và là trưởng Khoa Ngôn ngữ - Đại học Michigan, ông Freeman Donald nổi tiếng là một chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực nghiên cứu, đào tạo GV, xây dựng và ứng dụng các dự án đào tạo GV trên toàn thế giới Tại hội thảo ông Freeman Donald cũng trình bày về chương trình ELTeach - chương trình đào tạo trực tuyến tích hợp bồi dưỡng chuyên môn, kỹ năng, đánh giá và cấp chứng chỉ dành cho GV tiếng Anh
- do Cengage Learning/National Geographic Learning và Viện Khảo Thí Giáo dục Hoa Kỳ (ETS) kết hợp xây dựng Chương trình ELTeach gồm hai khóa học cơ bản: Ngôn ngữ giảng dạy cho GV dạy tiếng Anh - English for Teaching (EfT) và Phương pháp GDTA - Professional Knowledge for ELT (PK) Đối tượng sử dụng của ELTeach là GV Anh ngữ tại các cấp mầm non, tiểu học, THCS, THPT, trung cấp, cao đẳng và đại học; những người đang hoạt động tại lĩnh vực khác muốn chuyển sang dạy tiếng Anh; SV, HS của các trường sư phạm ELTeach hiện đang được sử dụng để bồi dưỡng cho gần 10.000 GV GDTA tại nhiều quốc gia trên thế giới IIG Việt Nam là đại diện phát triển sản phẩm ELTeach tại Việt Nam, Lào, Campuchia
và Myanmar [116] Một trong những nội dung quan trọng là kinh nghiệm GDTA và
áp dụng chương trình ELTeach vào thực tiễn để cải thiện PPDH tiếng Anh trong nhà trường tại Việt Nam cũng được trao đổi khá hữu ích, cụ thể
Các tác giả Việt Nam cũng như nước ngoài đều nghiên cứu và đưa ra nhiều biện pháp quản lý hoạt động dạy học ở nhà trường trong đó có bộ môn tiếng Anh Điều này cho thấy dù là các nhà nghiên cứu trong hay ngoài nước đều có một điểm
chung là cùng nhấn mạnh đến việc bồi dưỡng năng lực giảng dạy của đội ngũ GV