ám thị, sự tác động lên hành vi, tâm lý con người làm thay đổi hành vi ứng xử cũng như tâm lý, ý thức của người bị ám thị do tiếp nhận thông tin một cách không phê phán. ám thị có thể được thực hiện bằng các phương tiện ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ. ám thị có thể diễn ra trong giao tiếp thông thường, nhưng cũng có khi là một dạng giao tiếp được tổ chức đặc biệt để áp đặt một cách không kháng cự cho người bị ám thị một số thông tin (như áp đặt ý kiến, các đánh giá hay tâm trạng, cũng như hình thành niềm tin...). ám thị có thể tồn tại dưới dạng ám thị bên ngoài (người ám thị tác động vào người bị ám thị) hoặc tự ám thị (người ám thị và người bị ám thị là một). Có ám thị bằng lời nói (
Trang 1ám thị, sự tác động lên hành vi, tâm lý con người làm thay đổi hành vi
ứng xử cũng như tâm lý, ý thức của người bị ám thị do tiếp nhận thông tinmột cách không phê phán ám thị có thể được thực hiện bằng các phươngtiện ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ ám thị có thể diễn ra trong giao tiếpthông thường, nhưng cũng có khi là một dạng giao tiếp được tổ chức đặcbiệt để áp đặt một cách không kháng cự cho người bị ám thị một số thôngtin (như áp đặt ý kiến, các đánh giá hay tâm trạng, cũng như hình thànhniềm tin ) ám thị có thể tồn tại dưới dạng ám thị bên ngoài (người ám thịtác động vào người bị ám thị) hoặc tự ám thị (người ám thị và người bị ámthị là một) Có ám thị bằng lời nói (ngôn ngữ, ngữ điệu) và ám thị phi lờinói (nét mặt, cử chỉ, hành động) Về phương pháp, có ám thị trực tiếp hoặc
ám thị gián tiếp Hiệu quả của ám thị phụ thuộc vào đặc điểm của người ámthị, người bị ám thị và mối quan hệ, tình cảm giữa họ Về khách quan, sức
ám thị có thể tăng lên trong các điều kiện, hoàn cảnh có thảm họa (tự nhiênhoặc nhân tạo) hoặc các tình huống trong đời sống chính trị - xã hội khixuất hiện hành vi (tâm lý) đám đông, dưới ảnh hưởng của tuyên truyền,quảng cáo, hay ý nghĩa lớn của thông tin mới, uy tín đặc biệt lớn của ngườilãnh đạo Trong đời sống và hoạt động quân sự, ám thị có tác dụng nhấtđịnh đối với việc giáo dục chính trị, tư tưởng, xây dựng niềm tin cho bộđội ám thị có thể được sử dụng trong y học quân sự để điều trị một số bệnhtâm thần và thể chất cho thương, bệnh binh Tuy nhiên, trước hết người ámthị (cán bộ, thầy thuốc ) phải có trình độ, kinh nghiệm và có uy tín lớn đốivới người bị ám thị (quân nhân, thương bệnh binh )
ảo giác khi cất cánh, sự tri giác sai của phi công khi cất cánh ảo giác
khi cất cánh thường xảy ra ở hai trường hợp sau: 1.Trong khi cất cánh khỏiđường băng, phi công nhìn địa tiêu trên đường băng sân bay không chính xác
Trang 2nên tưởng tượng ra rằng mình đã thoát ly khỏi mặt đất ( đường băng) hoặc đãcất cánh nhưng vẫn tưởng tượng rằng mình đang chạy đà trên đường băng 2.Khi cất cánh, do bị ảnh hưởng của trạng thái tâm lý căng thẳng nên trí tưởngtượng của phi công quá cao; hoặc do quá mệt mỏi nên hoạt động chức năngcủa các cơ quan cảm giác của phi công kém, hoặc do nhiễu của môi trườngsân bay: ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm Để tránh ảo giác khi cất cánh, phi công
và chỉ huy bay cần chủ động khắc phục, loại bỏ các nguyên nhân dẫn đến ảogiác khi cất cánh để đảm bảo an toàn bay
ảo giác khi hoạt động trên biển, sự tri giác các sự vật, hiện tượng một
cách sai lệch của bộ đội hải quân khi đang hoạt động trên biển Chẳng hạn,khi đi ở luồng hẹp chiến sỹ hải quân cảm thấy tốc độ tàu dường như nhanhhơn do ảnh hưởng bởi sự di chuyển của các đối tượng trên bờ; tiếng ồn củamáy tàu khi làm việc nghe như to hơn do dội vào vách đá; trong đêm tối quansát các vật dường như chúng ở gần hơn so với thực tế ảo giác khi hoạt độngtrên biển xuất hiện do các nguyên nhân khách quan như: hình dáng, màu sắc,đối tượng, ánh sáng, sự bố trí sắp xếp của các vật thể và các nguyên nhân chủquan như về sinh lý: do quá mệt mỏi, say sóng, khó chịu; về tâm lý: do quácăng thẳng, lo lắng, thiếu tin tưởng, thiếu kinh nghiệm Để khắc phục ảo giáckhi hoạt động trên biển, chiến sĩ hải quân cần có tinh thần đòi hỏi cao với bảnthân, có trách nhiệm và chu đáo trong công việc, phát triển các phẩm chất vàkinh nghiệm cần thiết, tích lũy kiến thức và cách quan sát khi hoạt động trênbiển, tự kiểm tra, làm quen với các loại ảo giác điển hình và có phương phápkhắc phục chúng
ảo giác trong hoạt động quân sự, sự tri giác sai lệch các sự vật, hiện
tượng của quân nhân trong quá trình hoạt động quân sự Có thể xảy ra ảo giác
Trang 3về các thuộc tính không gian, thời gian và các thuộc tính vận động của sự vật,hiện tượng Nguyên nhân khách quan là do ranh giới giữa mục tiêu với cácvật xung quanh không rõ ràng; một số loại vũ khí trang bị có những thuộctính, đặc điểm bề ngoài tương tự nhau; do đối phương ngụy trang, nghi binh.Nguyên nhân chủ quan là do thiếu hiểu biết, thiếu kinh nghiệm thực tiễnchiến đấu, trạng thái tâm - sinh lý không tốt ( ốm đau, quá lo lắng, sợ hãi ).Trong huấn luyện và thực tiễn chiến đấu cần chú ý công tác ngụy trang, nghibinh, đánh lừa địch Đồng thời, thường xuyên nâng cao năng lực quan sát cho
bộ đội, hạn chế thấp nhất hiện tượng ảo giác
áp lực nhóm, sự tác động tâm lý của nhóm lên các thành viên, buộc các
thành viên phải tuân theo chuẩn mực chung của nhóm, phục tùng lợi ích củanhóm để nhóm tồn tại, phát triển và thực hiện vai trò xã hội của mình Trongquá trình phát triển, nhóm đã hình thành các chuẩn mực riêng do chính cácthành viên xây dựng nên để điều chỉnh các mối quan hệ giữa họ Trong hoạtđộng thực tiễn, các thành viên bắt buộc phải tuân theo các chuẩn mực đó vàkết quả là tạo ra "áp lực nhóm" Có nhiều cách thức tạo ra áp lực nhóm Cáchphổ biến nhất là dùng dư luận nhóm Thông qua sự phán xét, đánh giá, biểuthị thái độ chung của nhóm đối với các thành viên, tạo áp lực buộc các thànhviên của nhóm phải điều chỉnh nhận thức, thái độ, hành vi của mình phù hợpvới yêu cầu, lợi ích của nhóm Lợi ích của nhóm có thể phù hợp hoặc khôngphù hợp với lợi ích chung của tập thể, cộng đồng Vì vậy, áp lực nhóm có thểtạo ra những kết quả về hành vi của các cá nhân theo chiều tích cực hoặc tiêucực Nắm bắt áp lực của các nhóm xã hội trong tập thể đơn vị, để từ đó điềuchỉnh nó phục vụ cho hoạt động chung của đơn vị là một yêu cầu trong thựchiện chức trách của người lãnh đạo, chỉ huy đơn vị, nhất là ở các đơn vị cơ sởtrong quân đội
Trang 4Angôlrít hoạt động của trắc thủ quân sự, (tiếng La tinh: Algorithm
-cái quy định trước; -cái được xây dựng trên cơ sở một hệ thống các quy tắc;một trật tự các thao tác nhất định) Bảng quy tắc quy định thứ tự thực hiệncác thao tác điều khiển (vận hành) vũ khí, khí tài của trắc thủ quân sự Nếutrắc thủ khi vận hành hệ thống vũ khí, khí tài quân sự tuân thủ nghiêm ngặttrật tự các thao tác (hay Angôlrít) của hoạt động thì nhất định đạt được kếtquả Angôlrít là khái niệm chủ yếu của toán lô-gíc được vận dụng vàotrong Tâm lý học kỹ sư quân sự để xây dựng các quy trình vận hành các tổhợp vũ khí, khí tài quân sự Angôlrít hoạt động của trắc thủ quân sự có cấutrúc bao gồm: thứ tự danh mục các nhiệm vụ bắt buộc phải giải quyết; các
dữ liệu ban đầu; các chỉ tiêu (hoặc các quy tắc, quy phạm) quy định thaotác chuẩn để đạt tới kết quả Trong huấn luyện, cần hình thành cho trắc thủthói quen tuân thủ nghiêm ngặt các Angôlrit hoạt động
ảnh hưởng của môi trường chiến đấu đến tâm lý quân nhân, toàn
bộ những tác động của môi trường chiến đấu (bao gồm toàn bộ các yếu tốkhông gian, thời gian của trận chiến đấu; tính chất nguy hiểm ác liệt của trậnđánh; các loại vũ khí, kỹ thuật được sử dụng; tương quan lực lượng; điều kiệnđịa hình, thời tiết; tính biến động, bất ngờ của hoàn cảnh; tác động của chiếntranh tâm lý của địch v.v ) đến tư tưởng và tâm lý của quân nhân Sự ảnhhưởng diễn ra theo hai hướng: hướng "cường" và hướng "nhược" Hướng
"cường" là những ảnh hưởng có tính chất "dương tính" mang chiều hướngtích cực, nâng đỡ hoạt động của quân nhân, hoạt hóa các chức năng hoạt độngtâm lý Hướng "nhược" là những ảnh hưởng "âm tính", mang chiều hướngtiêu cực, kìm hãm và cản trở hoạt động, làm rối loạn các chức năng hoạt độngtâm lý Nguyên nhân là do hoạt động chiến đấu của quân nhân luôn diễn ratrong những điều kiện nguy hiểm, ác liệt Quân nhân phải hoạt động thườngxuyên trong trạng thái căng thẳng, mệt mỏi cả về tâm lý và thể lực, từ đó dẫn
Trang 5đến nảy sinh quá trình ức chế trong hoạt động của hệ thần kinh, gây nên cácrối loạn tâm lý ( giảm trí nhớ, tri giác nhầm lẫn, tư duy kém linh hoạt ) Đểkhắc phục những ảnh hưởng tiêu cực của môi trường chiến đấu đến tâm lýquân nhân yêu cầu trong huấn luyện sát thực tế chiến đấu, hình thành cho bộđội các biểu tượng chính xác về địch, về ta, về địa hình, thời tiết; tiến hành
mô phỏng bức tranh toàn cảnh về trận đánh hiện đại, (tiếng nổ, khói lửav.v ); đưa bộ đội vào huấn luyện trong các điều kiện khó khăn, gian khổ,phức tạp để rèn luyện tính độc lập, sự bền vững cảm xúc, ý chí chiến đấu, tinhthần vượt qua khó khăn, nguy hiểm
ảnh hưởng của môi trường đến hoạt động của trắc thủ quân sự,
tác động của toàn bộ những yếu tố vật lý, hóa học, tâm - sinh lý, xã hội lêntrắc thủ khi đang điều khiển vũ khí, khí tài, kỹ thuật quân sự làm ảnhhưởng đến hiệu quả hoạt động đó Tâm lý học kỹ sư quân sự phân loại cácyếu tố tác động của môi trường thành 4 nhóm sau: 1 nhóm những yếu tốnảy sinh trực tiếp từ quan hệ tác động qua lại giữa người - máy; 2 nhómnhững yếu tố nảy sinh gián tiếp do thiết kế khí tài; 3 nhóm những yếu tốnảy sinh do các điều kiện vệ sinh khi làm việc; 4 nhóm những yếu tố nảysinh từ môi trường bên ngoài Tác động của những yếu tố trên đã làm thayđổi một loạt các chức năng tâm - sinh lý của trắc thủ theo các hướng tíchcực và tiêu cực Theo hướng tiêu cực, chúng có thể làm giảm tốc độ, độchính xác của các phản ứng tâm - vận động, gây ra chóng mệt mỏi, làmgiảm khả năng làm việc của trắc thủ Từ đó, trong thực tiễn hoạt động quân
sự luôn đặt ra vấn đề cần thiết phải đảm bảo các điều kiện làm việc tối ưucho hoạt động của trắc thủ
ảnh hưởng của môi trường đến các ngưỡng cảm giác khi bay, tác
động từ môi trường hoạt động bay có thể làm tăng hay giảm độ nhạy cảm
Trang 6tuyệt đối hoặc độ nhạy cảm sai biệt của các cơ quan cảm giác của phi công.
Cụ thể, khi đang bay ở độ cao lớn với vận tốc siêu âm, phi công dễ bị mất khảnăng nhận biết sự thay đổi của cự ly, khoảng cách trong bay biên đội, ngườiphi công thường làm việc trong điều kiện thiếu dưỡng khí, định vị không gianliên tục thay đổi, khả năng nhận biết của phi công trước các tác động giảmtrong khi ở điều kiện bình thường họ đều nhận biết tốt Người phi công có khảnăng làm chủ và điều khiển máy bay tốt sẽ đánh giá chính xác độ cao, vận tốctrong quá trình bay và hạ cánh, khi họ có giới hạn nhạy cảm và độ tinh nhạycao Do vậy, trong luyện tập, cần thường xuyên tạo điều kiện thuận lợi chophi công rèn luyện để tăng độ nhạy cảm của các giác quan, hạn chế và thu hẹpcảm giác sai
Arixtốt (tiếng Pháp: Aristote; tiếng Hy lạp: Aristoteles, khoảng 384
-322, tr.cn), nhà triết học, nhà tư tưởng, nhà giáo dục thời cổ đại Hy Lạp; con
một thầy thuốc của vua xứ Makêđônia; học ở trường Aten, thuộc trường pháiPlaton trong suốt 20 năm, từ lúc ông 17 tuổi Về sau, Aristốt lại đối lập tưtưởng với Platon là thầy dạy của mình và bạn của Alêxanđrơ đại đế Năm 335tr.cn, Arixtốt trở về Aten và mở trường dạy học ở khu Lykeios Là nhà khoahọc "uyên bác nhất trong những nhà triết học Hy Lạp" (Ph.Ăng-ghen), "nhà
tư tưởng lớn nhất cổ đại" (Các Mác) ở phương Tây; Aristốt đã để lại hơn 150công trình khoa học thuộc các lĩnh vực: triết học, tự nhiên học, lôgíc học,
chính trị học, đạo đức học, tu từ học Những tác phẩm chính: "Vật lý học",
"Cơ học", "Bàn về tâm hồn", "Đạo đức học", "Chính trị học", "Siêu hình học", "Về
sự phát sinh và sự biến chất", "Về vận động", "Tu từ học", "Thi ca" v.v Những tư tưởng tâm lý học được ông trình bày có hệ thống trong tác phẩm "Bàn về tâm hồn", trong đó, Aristốt đã nêu quan điểm cho rằng tâm hồn không phải là thân
thể, nhưng là bản chất không thể tách rời của thân thể Tâm hồn là hình thức,
là chức năng, là cái "tự đích" của cơ thể sống ( bản chất, nguyên nhân, mục
Trang 7đích tồn tại của nó) Tâm hồn đồng nghĩa với sự sống mà dấu hiệu bản chấtcủa nó là có trí tuệ, cảm giác, vận động, đứng im trong không gian và trongphát triển với nghĩa là có sinh ra, lớn lên và mất đi Tâm hồn động vật chỉ cócảm giác, do vậy nó ở cấp độ phát triển thấp Vật chất mang tâm hồn là chấtkhí Tâm hồn trí tuệ thuần túy tinh thần, có thể tách khỏi cơ thể vì bản chấtcủa nó thuộc Chúa trời Tâm hồn có hai năng lực là vận động trong khônggian và suy nghĩ Aristốt đã chia ra ba loại tâm hồn: tâm hồn thực vật, tâmhồn động vật và tâm hồn trí tuệ chỉ có ở người, do Thượng đế ban cho Tronglĩnh vực giáo dục, Aristốt sáng lập ra phái Tiêu dao (Peripotos) Ông là mộttrong những người đầu tiên coi con người là một "động vật xã hội" Về pháttriển tâm lý, Aristốt cho rằng, con người sinh ra vốn chỉ có những mầm mốngnăng lực bẩm sinh thôi và do đó phải bằng con đường giáo dục mới có thểphát triển được toàn diện ông quan niệm, giáo dục phải bao gồm 3 chức năng
có quan hệ chặt chẽ với nhau: thể dục, đức dục, trí dục Đó cũng là sự thể hiện
tư tưởng phát triển nhân cách toàn diện con người, đỉnh cao của tư tưởng giáodục thời cổ đại, đã có ảnh hưởng lâu dài suốt nhiều thế kỷ về sau
b
Ban nghiên cứu ứng dụng Tâm lý học quân sự - Viện Khoa học xã
hội nhân văn quân sự - Bộ Quốc phòng, Ban nghiên cứu chuyên ngành
Tâm lý học quân sự, thuộc Viện Khoa học xã hội nhân văn quân sự Bộ Quốcphòng; được thành lập theo Quyết định thành lập Viện Khoa học xã hội nhânvăn quân sự - Bộ Quốc phòng số 1455/QĐ-1998/BQP ngày 27 tháng 10 năm
1998 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Chức năng, nhiệm vụ: 1 Nghiên cứu,phát triển lý luận Tâm lý học Mácxít và Tâm lý học quân sự Mácxít; nghiêncứu (tiếp thu và phê phán) những quan điểm ngoài mác-xít về tâm lý học,Tâm lý học quân sự; nghiên cứu những ảnh hưởng của điều kiện hoạt động
Trang 8quân sự đến tâm lý của quân nhân và tập thể quân nhân; nghiên cứu tâm lýcủa quân nhân và tập thể quân nhân trong hoạt động quân sự; nghiên cứunhững cơ sở và điều kiện tâm lý trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động, giáodục, huấn luyện, quản lý, chỉ huy bộ đội; nghiên cứu những cơ sở và điềukiện tâm lý trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động công tác đảng, công tácchính trị; nghiên cứu những cơ sở và điều kiện tâm lý trong việc nâng caohiệu quả hoạt động dạy học trong các nhà trường quân đội; nghiên cứu thựctrạng đời sống tâm lý của nhân dân, của lực lượng vũ trang nhân dân, quânđội nhân dân trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, lực lượng vũ trangnhân dân, quân đội nhân dân và trong tiến hành chiến tranh nhân dân bảo vệ
Tổ quốc xã hội chủ nghĩa 2 Vận dụng lý luận Tâm lý học Mácxít, trực tiếp làTâm lý học quân sự Mácxít để nghiên cứu những vấn đề tâm lý trong lĩnh vựcquân sự, góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định đường lốixây dựng nền quốc phòng toàn dân, lực lượng vũ trang nhân dân; tham giađấu tranh trên mặt trận tư tưởng lý luận về những vấn đề liên quan đến nộidung nghiên cứu Tham gia giảng dạy cho các đối tượng đào tạo đại học, sauđại học theo sự phân công của trên Hợp tác với các Ban nghiên cứu của Viện,với các Khoa có liên quan của Học viện Chính trị quân sự, với các trung tâmkhoa học trong và ngoài quân đội nghiên cứu, trao đổi thông tin khoa học,giảng dạy và đào tạo cán bộ Thực hiện các nhiệm vụ khác theo chỉ thị cấptrên
Bản chất các mối quan hệ qua lại giữa các quân nhân, trong Quân
đội nhân dân Việt Nam, các mối quan hệ qua lại giữa các quân nhân mangbản chất xã hội chủ nghĩa, biểu hiện sự nhất trí về chính trị - đạo đức, bìnhđẳng về nhân cách, tình hữu nghị giữa các dân tộc, chủ nghĩa yêu nước xã hộichủ nghĩa, tinh thần quốc tế vô sản, các yêu cầu nghiêm túc của điều lệnhquân đội và chuẩn mực đạo đức xã hội chủ nghĩa Nét đặc trưng nhất của các
Trang 9mối quan hệ trong tập thể quân nhân là tình đồng chí, tình bạn chiến đấu, vừatôn trọng, vừa thương yêu lẫn nhau, vừa đòi hỏi cao lẫn nhau để thực hiện tốtnhất nhiệm vụ Bên cạnh các yếu tố khách quan như: yêu cầu của xã hội,nhiệm vụ của đơn vị, chức trách của mỗi quân nhân, điều lệnh quân đội, cácchuẩn mực đạo đức xã hội chủ nghĩa còn có các điều kiện tâm lý như: việcxác định mục đích hoạt động, xu hướng vươn tới mục đích ấy, tính kỷ luật,tính tập thể, truyền thống của tập thể, mục đích, động cơ quan điểm, kiến thứccủa tập thể và sự đồng cảm, ác cảm, lòng tin, uy tín nảy sinh trong quá trìnhchung sống và hoạt động giữa cán bộ và chiến sĩ Từ đó đã hình thành hai loạiquan hệ qua lại trong tập thể: chính thức (các quan hệ phục vụ và quan hệ xãhội - chính trị đã được quy định trong điều lệnh quân đội, điều lệ Đảng, ĐoànThanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh) và không chính thức (những quan hệ sinhhoạt hình thành trên cơ sở các yếu tố tâm lý như đồng cảm, ác cảm, nhucầu mang tính tự phát không được ghi thành văn bản) Cả hai loại quan hệnày đều tác động tích cực hoặc tiêu cực đến hành vi của từng quân nhân vàtoàn đơn vị Do đó, cán bộ chỉ huy, cán bộ chính trị cần quan tâm đúng mứcđến cả hai loại quan hệ đó để có biện pháp điều chỉnh kịp thời theo hướng cólợi cho tập thể.
Bản chất nhân cách quân nhân, Tâm lý học quân sự Mácxít coi nhân
cách quân nhân bao giờ cũng là sản phẩm xã hội - lịch sử, bị quy định bởi cácđiều kiện xã hội - lịch sử và các mối quan hệ xã hội - lịch sử của bản thân họ.Nhân cách quân nhân là một kết cấu tâm lý mới và mang bản chất xã hội Sựhình thành và phát triển nhân cách quân nhân chịu sự tác động qua lại của cácyếu tố xã hội, sinh học và tâm lý, trong đó yếu tố xã hội giữ vai trò quyết địnhnhất Yếu tố xã hội ghi dấu ấn lên toàn bộ các phẩm chất, thuộc tính tâm lý cánhân quân nhân, làm biến đổi cả những đặc điểm sinh vật, tâm lý của quânnhân trong quá trình hoạt động xã hội Trong xã hội có giai cấp, nhân cách
Trang 10quân nhân mang bản chất giai cấp sâu sắc Trong khi khẳng định, nhân cáchquân nhân là sản phẩm của xã hội - lịch sử, tâm lý học quân sự Mácxít coinhân cách quân nhân là chủ thể tích cực có vai trò tác động trở lại đối vớihoàn cảnh; nhân cách quân nhân vừa là khách thể, vừa là chủ thể của các quan
hệ xã hội trong điều kiện hoạt động quân sự Trong bản chất nhân cách quânnhân bao giờ cũng có sự thống nhất biện chứng giữa cái xã hội và cái cá nhân,giữa cái chung, phổ biến với cái riêng, cái đặc thù nhưng cái xã hội, cái chungbao giờ cũng giữ vai trò chủ đạo và quyết định bản chất xã hội của nhân cáchquân nhân
Bắt chước, sự mô phỏng, tái tạo, lặp lại các hành động, hành vi, tâm
trạng, cách thức suy nghĩ, ứng xử của một người hay một nhóm người nào đó
Sự bắt chước có ở mọi giai đoạn phát triển khác nhau của cá nhân Đặc biệt ởtrẻ em, bắt chước giữ một vai trò quan trọng cho phát triển tâm lý Tùy tínhcách từng người và hoàn cảnh cụ thể, người ta có thể bắt chước hành vi tiêucực, lạc hậu hoặc bắt chước hành vi tích cực, tiên tiến Có thể sử dụng cơ chếbắt chước vào thực hiện những mục đích nhất định Trong quân đội, bắtchước được thể hiện dưới nhiều hình thức: làm theo động tác mẫu, học tậpgương điển hình của một cá nhân hoặc đơn vị nào đó, hoặc học cách tổ chứcmột buổi sinh hoạt Muốn vậy, cán bộ phải nói hay, nói đúng và hành độngđẹp, chuẩn xác làm gương cho chiến sĩ học tập noi theo (bắt chước), đồngthời cần kịp thời phát hiện, chấn chỉnh những suy nghĩ, hành động đua đòi, adua (bắt chước) theo những lời nói, việc làm không phù hợp với lối sống, điềulệnh, điều lệ, kỷ luật quân đội
Bầu không khí tâm lý xã hội trong tập thể quân nhân, trạng thái
tâm lý trội của tập thể phản ánh tính chất mối quan hệ giữa các quân nhântrong tập thể, được biểu hiện ra ở thái độ đối với nhau, thái độ đối với lao
Trang 11động, rèn luyện, học tập và chiến đấu của tập thể, thái độ đối với bản thân.Trong tập thể quân nhân, bầu không khí tâm lý xã hội quan hệ chặt chẽ vàphụ thuộc rất lớn vào bầu không khí chính trị - tư tưởng, đồng thời nó có ảnhhưởng to lớn đến toàn bộ đời sống và hoạt động của tập thể và mỗi quânnhân Bầu không khí tâm lý xã hội trong tập thể quân nhân có 2 loại: bầukhông khí tâm lý xã hội tích cực và bầu không khí tâm lý xã hội tiêu cực Bầukhông khí tâm lý xã hội tích cực trong tập thể quân nhân có các biểu hiệnnhư: tâm trạng hồ hởi, phấn khởi tin tưởng chiếm ưu thế trong tập thể, khôngkhí dân chủ được thể hiện rõ nét; mọi quân nhân tự giác, tích cực, mọi quyđịnh được thực hiện nghiêm; quan hệ giữa các quân nhân chân tình, cởi mở,quan tâm lẫn nhau; thái độ đòi hỏi cao ở nhau, không dung túng cho nhau làmviệc xấu; các thành viên có sự hiểu biết lẫn nhau, thông cảm với nhau, lịch sự,
tế nhị trong giao tiếp, tự phê bình và phê bình nghiêm khắc; người lãnh đạo quản lý gương mẫu, có uy tín; kết quả hoạt động của tập thể luôn ở mức cao.Bầu không khí tâm lý xã hội tiêu cực trong tập thể quân nhân biểu hiện tâmtrạng bi quan, chán nản, các thành viên thiếu gắn bó với nhau, không có sựhòa đồng trong tập thể, thường xuất hiện mâu thuẫn, mất đoàn kết; tình trạng
-vi phạm kỷ luật nhiều, kết quả hoàn thành nhiệm vụ thấp Xây dựng bầukhông khí tâm lý xã hội tích cực trong tập thể quân nhân là một nội dungquan trọng của hoạt động công tác đảng, công tác chính trị, là trách nhiệm củalãnh đạo, chỉ huy và cán bộ chính trị ở các đơn vị cơ sở
Biện pháp giải quyết xung đột tâm lý, cách thức, phương pháp người
lãnh đạo, chỉ huy đơn vị sử dụng để giải quyết các xung đội tâm lý trong tậpthể quân nhân Một số biện pháp chính:1 Biện pháp thuyết phục: biện pháp cơbản và chủ yếu của giải quyết xung đột tâm lý Thường có hai kiểu thuyếtphục: dùng những người có uy tín trong tập thể tiếp cận từng bên tham giaxung đột để giải thích, thuyết phục; thông qua giáo dục tập thể, dùng ý kiến tập
Trang 12thể, dư luận của các tổ chức quần chúng trong tập thể để thuyết phục các bêntham gia xung đột tự hòa giải với nhau 2 Biện pháp dùng người thứ ba làmtrung gian hòa giải: Khi cuộc xung đột kéo dài, ngày càng trở nên căng thẳng,cần có sự can thiệp của người thứ ba làm trung gian hòa giải Người thứ baphải là người có phẩm chất và năng lực thuyết phục, có uy tín cao trong tập thể,được hai bên tham gia xung đột chấp nhận, làm trọng tài phân xử đúng sai 3.Cách ly những người tham gia xung đột một cách hợp lý: người lãnh đạo, quản
lý cần tìm cách đưa một trong hai người tham gia xung đột ra khỏi cuộc nhằmlàm giảm bớt diện tiếp xúc của họ 4 Chặn đứng xung đột bằng biện pháp hànhchính mạnh như kiểm điểm, nếu cần có các hình thức kỷ luật Cách xử lý phảibảo đảm công khai, công bằng, dân chủ, bảo đảm sự đoàn kết và mang tínhgiáo dục cao
Biểu tượng của quân nhân, hình ảnh của sự vật, hiện tượng khách
quan đã được cảm giác từ trước, xuất hiện trong ý thức của quân nhân trên cơ
sở nhớ lại hay tưởng tượng Cơ sở sinh lý của biểu tượng là sự hoạt hóa “dấuvết” của các kích thích tác động trước kia lên vỏ não Biểu tượng của quânnhân là một hình thức của nhận thức cảm tính, song nó là bước quá độ chuyểntiếp từ cảm giác và tri giác sự vật, hiện tượng cụ thể đến việc nhận thức kháiniệm, hiện thực dưới hình thức tư duy lôgíc trừu tượng So với tri giác, mức
độ rõ ràng và chính xác của biểu tượng thấp hơn Biểu tượng cho phép quânnhân định hướng đúng đắn trong hoàn cảnh chiến đấu, giải quyết tốt cácnhiệm vụ nhận thức cũng như thực hành Biểu tượng của quân nhân đượcphát triển, hoàn thiện phụ thuộc rất lớn vào xu hướng nhân cách của quânnhân và thực tiễn hoạt động quân sự Các nhu cầu, hứng thú, mong ước, thếgiới quan của cá nhân góp phần quyết định những đặc điểm nào của sự vậthiện tượng mà quân nhân quan sát sẽ được củng cố trong ý thức Để xây dựngcác biểu tượng phù hợp với yêu cầu hoạt động quân sự cho quân nhân, côngtác huấn luyện, giáo dục phải sát với thực tế chiến đấu; thường xuyên luyện
Trang 13tập thực hành trong nhiều hoàn cảnh phức tạp khác nhau; xây dựng động cơ,hứng thú, ham muốn, lòng say mê với chức trách, nghiệp vụ quân sự cho quânnhân; bảo đảm tính chính xác và đầy đủ của những biểu tượng đã được hìnhthành; kịp thời uốn nắn, bổ sung, thay thế những biểu tượng mới có nội dungkhoa học cụ thể, chính xác
Biểu tượng của tưởng tượng, hình ảnh của sự vật, hiện tượng đã tri
giác trước đây được con người chế biến lại trong óc Biểu tượng của tưởngtượng là kết quả của sự cải biến những biểu tượng của trí nhớ, phản ánhnhững sự vật, hiện tượng mà con người chưa nhìn thấy bao giờ Những hìnhảnh của loại biểu tượng này được xây dựng nên do óc tưởng tượng của conngười Khác với quá trình tri giác, biểu tượng của tưởng tượng không còn làhình ảnh cảm tính của sự vật, hiện tượng thu nhận được khi tri giác Trên cơ
sở những biểu tượng của trí nhớ, nhờ các phương thức hành động: phân tách,nhấn mạnh, kết hợp, thay đổi kích thước, điển hình hóa v.v Kết quả là trong
ý thức xuất hiện những mối liên hệ, các cơ cấu và những hình ảnh, những ýnghĩa mới của sự vật, hiện tượng
Biểu tượng của trí nhớ, hình ảnh của sự vật, hiện tượng tri giác trước
đây được chủ thể nhớ lại chính xác nhiều hay ít Là kết quả của hoạt động trínhớ, nhờ trí nhớ mà con người có thể giữ lại trong óc những hình ảnh của sựvật, hiện tượng trước đây đã tác động vào các cơ quan cảm giác Biểu tượngcủa trí nhớ phụ thuộc vào vốn kinh nghiệm của con người, nó bao gồm:những hình ảnh mà con người tri giác từ trước, những kinh nghiệm, những ýnghĩ đã trải qua, những rung cảm đã trải nghiệm, những hoạt động và hành vicủa con người đã xảy ra trong kinh nghiệm trước đây và để lại dấu vết trongtrí nhớ dưới dạng các hình ảnh nhất định Biểu tượng của trí nhớ phụ thuộcvào nhiều yếu tố như: nội dung, tính chất của tài liệu cần nhớ, phương phápghi nhớ Biểu tượng của trí nhớ giúp người quân nhân đúc rút được kinh
Trang 14nghiệm từ thực tiễn hoạt động quân sự để có cách làm hiệu quả hơn trong cáchoạt động quân sự tiếp theo
Biểu tượng thị giác, một loại biểu tượng mà thị giác là cơ quan phân
tích đầu tiên tiếp nhận tác động của sự vật, hiện tượng trong thế giới kháchquan, từ đó hình ảnh của chúng được lưu giữ trong ý thức con người Do cótính trực tiếp và chứa đựng lượng thông tin lớn về đối tượng so với các cơquan cảm giác khác, biểu tượng thị giác có khả năng tác động, điều chỉnh,định hướng hành động rất mạnh Ngoài những chức năng giống như ở các
dạng biểu tượng khác, nó còn có chức năng "định hướng thị giác", tham gia
trực tiếp vào việc xây dựng mô hình ban đầu của hình ảnh vận động Để xâydựng và phát huy hết vai trò của biểu tượng thị giác, trong huấn luyện bộ đội,giáo viên cần luyện tập cho họ tự mình trực tiếp xây dựng các biểu tượng thịgiác, bằng cách tạo ra các điều kiện khách quan như hình ảnh thao trường, địahình, địa vật, sơ đồ, biểu bảng, học cụ trực quan đúng mẫu chuẩn, trình bàyđẹp, rõ ràng; các điều kiện chủ quan như tinh thần, động cơ, thái độ học tậpcủa bộ đội tốt, có nỗ lực ý chí cao trong học tập; giáo viên phải mô phạm,động tác phải chuẩn mực Ngoài ra, giáo viên cần chỉ cho bộ đội biết nhữngđặc điểm diễn ra của quá trình hình thành biểu tượng thị giác để họ chủ động
tự mình xây dựng và biết cách sử dụng chúng trong học tập, rèn luyện ở đơnvị
Biểu tượng thính giác, một loại biểu tượng mà thính giác là cơ quan
phân tích đầu tiên tiếp nhận sự tác động của sự vật, hiện tượng trong thế giớikhách quan, từ đó hình ảnh của chúng được lưu giữ trong ý thức conngười.Biểu tượng thính giác có vai trò quan trọng chỉ sau biểu tượng thị giáctrong xây dựng nên hình ảnh về sự vật, hiện tượng, tham gia vào xây dựng môhình hành động của chủ thể Hầu hết các biểu tượng của quân nhân đều được
Trang 15tạo nên thông qua lời nói( ngôn ngữ), tức là có vai trò của biểu tượng thínhgiác Do vậy, trong huấn luyện, giáo viên ngoài việc chú trọng sử dụngphương pháp mô phỏng âm thanh của hoàn cảnh chiến đấu, tiếng nổ của vũkhí Trong giảng giải nội dung huấn luyện, cần dùng ngôn ngữ rõ ràng, trongsáng, mạch lạc, có độ khái quát phù hợp với nhận thức của bộ đội Đồng thờichú trọng phát huy tự học, tự ôn luyện, yêu cầu mỗi quân nhân dùng lời mô tảlại, trình bày lại nội dung huấn luyện, giúp họ hình thành và phát triển biểutượng thính giác nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả huấn luyện.
Bộ máy phân tích (của hệ thần kinh trung ương), cơ quan làm nhiệm
vụ tiếp nhận và phân tích các kích thích khác nhau từ bên ngoài và cả từ bêntrong cơ thể, gồm 3 bộ phận cơ bản: 1 bộ phận ngoại biên, gồm các thụ cảmthể (đầu tận cùng của dây thần kinh nằm ở ngoại vi) có nhiệm vụ tiếp nhậnkích thích; 2 bộ phận dẫn truyền, gồm các dây thần kinh hướng tâm (truyềntín hiệu từ bộ phận ngoại biên đến cơ quan thần kinh trung ương) và dây thầnkinh ly tâm (truyền mệnh lệnh từ cơ quan thần kinh trung ương đến các cơquan vận động); 3 cơ quan thần kinh trung ương, gồm các trung khu thầnkinh có chức năng khác nhau, được phân bố trong não bộ và ở bán cầu đạinão thực hiện sự tiếp nhận và giải mã các xung động thần kinh qua quá trìnhtổng hợp và phân tích thông tin Kết quả của quá trình này là các quyết địnhđáp lại hành động hay không hành động và lưu giữ các thông tin nhận được từkích thích
c
Cá nhân, cá thể người, một đơn vị người riêng biệt không thể chia cắt
được, có những đặc điểm riêng phân biệt người này với người khác Cá nhân
có sự phân biệt rõ ràng đối với nhóm, tập thể, cộng đồng, xã hội Nói tới cánhân là nói đến sự tồn tại của một con người và phải xét tới cả mặt sinh lý,
Trang 16tâm lý và xã hội Con người từ khi sinh ra đã là một cá nhân và là một thựcthể sinh vật - xã hội, có ý thức, có ngôn ngữ, là chủ thể của hoạt động lịch sử
và hoạt động nhận thức Trong quá trình sống, thông qua học hỏi, tích lũykinh nghiệm, cá nhân dần dần gia nhập vào các mối quan hệ xã hội và thựchiện các hoạt động dẫn đến hình thành và phát triển các phẩm chất xã hội.Mỗi quân nhân vừa là một nhân cách đồng thời còn là một cá nhân với nhữngđặc điểm riêng của người đó như các đặc điểm về thể trạng, kinh nghiệmsống, tính khí, thói quen, các ham thích cá nhân Cán bộ chỉ huy, cán bộchính trị cần tính đến những đặc điểm cá nhân đó của mỗi quân nhân trongquản lý, huấn luyện và giáo dục bộ đội
Cá tính, tổng thể những nét tính cách, tâm lý đặc trưng của con người
làm nên nét độc đáo của nhân cách người đó, không giống một ai Cá tínhbiểu hiện rõ ở các nét trí tuệ, cảm xúc, ý chí và tất cả các biểu hiện khác củatâm lý nhân cách Mỗi người đều có đặc điểm tâm lý, sinh lý khác nhau nên
cá tính cũng khác nhau Cá tính thường được hình thành và bộc lộ trong hoạtđộng thực tiễn của cá nhân dưới tác động của môi trường xã hội Tiền đề vậtchất hình thành cá tính là các tố chất giải phẫu- sinh lý trong con người Dovậy, cá tính của con người mang tính ổn định tương đối Tuy nhiên, cá tính cóthể được cải tạo và biến đổi dưới tác động của giáo dục; có thể thay đổi đượctùy thuộc ý chí chủ quan của cá nhân và tác động của môi trường xã hội
Các cấp độ sáng tạo, phản ánh bản chất có tính cấu trúc tầng bậc của
cơ chế sáng tạo Có bốn cấp độ của quá trình sáng tạo: 1 cấp độ phân tíchlôgíc: ở giai đoạn này, chủ thể sáng tạo phải sử dụng các tri thức, hiểu biết đểgiải quyết vấn đề; 2 cấp độ làm việc của trực giác: chủ thể dùng trực giác như
là công cụ để giải quyết vấn đề; 3 cấp độ ngôn ngữ hóa trực giác: chủ thể sửdụng ngôn ngữ để diễn đạt tường minh cả kết quả và cả cơ chế, quá trình sáng
Trang 17tạo; 4 cấp độ hoàn thiện kết quả sáng tạo: chủ thể trình bày hoàn chỉnh quátrình sáng tạo từ đặt vấn đề, cách giải quyết vấn đề, tu chỉnh cách giải quyếtvấn đề, hoàn thiện kết quả sáng tạo Trong hoạt động sáng tạo, chủ thể chủyếu dùng tư duy để giải quyết nhiệm vụ sáng tạo Yêu cầu chủ thể phải rấtuyên bác về trí tuệ và có trực giác tốt, đồng thời sát thực tiễn mới có khả năngsáng tạo tốt
Các cấu thành tâm lý, hệ thống các quá trình, trạng thái tâm lý được
củng cố, trở thành định hình chiếm ưu thế, phản ánh những hoàn cảnh sốngquen thuộc đối với con người Dựa vào mức độ phức tạp về cấu trúc, theomức độ ảnh hưởng đối với hoạt động, Tâm lý học đã chia các cấu thành tâm
lý thành hai loại: cấu thành tâm lý giản đơn: gồm các kiến thức, kỹ xảo, kỹ
năng, thói quen nói lên kinh nghiệm và trình độ đào tạo nghề nghiệp của con
người; cấu thành tâm lý phức tạp: gồm các thuộc tính tâm lý cá nhân như xu
hướng, tính cách, khí chất, năng lực Đó là những đặc điểm tâm lý bền vữngnhất giữ vai trò là cơ quan điều chỉnh cao nhất và thường xuyên nhất hành vi
và hoạt động của từng cá nhân Nghiên cứu nắm vững các đặc điểm, nộidung, cấu trúc cũng như các đặc trưng, đặc điểm tâm lý quá trình hình thành,phát triển của các cấu thành tâm lý vận dụng vào trong giáo dục, huấn luyện
bộ đội là yêu cầu rất quan trọng trong hoạt động của các cán bộ chỉ huy, cán
bộ chính trị ở đơn vị cơ sở
Các chỉ số của sự phát triển trí tuệ, có nhiều quan điểm khác nhau về
cách xác định các chỉ số của sự phát triển trí tuệ Dựa theo cách tiếp cận cấutrúc trí tuệ hai thành phần của N.A Menchinxcaia, có hai chỉ số: tri thức đượcphản ánh và phương thức phản ánh tri thức N.D Levitov đưa ra các chỉ sốnhư: tính độc lập của tư duy sự bền vững của mức độ lĩnh hội tài liệu học tập,tốc độ định hướng trí tuệ khi giải quyết những bài toán độc đáo, khả năng đi
Trang 18sâu vào bản chất của tài liệu nghiên cứu, óc phê phán V.A Cruchetxki lại đưa
ra các chỉ số: nhịp độ tiến bộ, tốc độ của hoạt động và của khái quát, tính tiếtkiệm của tư duy Tâm lý học sư phạm quân sự đánh giá sự phát triển cácphẩm chất trí tuệ của học viên theo các chỉ số sau: tốc độ của sự định hướngtrí tuệ khi giải quyết nhiệm vụ thể hiện ở khả năng phát triển vấn đề chínhxác, tính tích cực của hành động trí tuệ; tính khái quát, mềm dẻo của hànhđộng trí tuệ thể hiện ở khả năng khái quát nhanh, có những ý tưởng sáng tạo
Sự phát triển của các thao tác trí tuệ thể hiện ở kỹ năng phân tích, tổng hợp,
so sánh, khái quát hóa trừu tượng hóa, kỹ năng phát hiện các mâu thuẫn, tìmnguyên nhân
Các chỉ số độ tin cậy tâm lý trong hoạt động của trắc thủ quân sự,
sự phù hợp của các đặc điểm tâm lý nhân cách trắc thủ với đặc điểm hoạtđộng điều khiển vũ khí, khí tài quân sự Để xác định độ tin cậy của hoạt độngtrắc thủ, tâm lý học kỹ sư quân sự đã chỉ ra ba nhóm yếu tố quy định, đó là:
sự hoàn thiện của máy móc, khí tài, kỹ thuật; mức độ thục luyện của trắc thủ;những đặc điểm cá nhân trắc thủ Theo các nhà tâm lý học kỹ sư quân sự thìnhóm yếu tố thuộc những đặc điểm cá nhân trắc thủ có ý nghĩa đặc biệt Dovậy các nghiên cứu của tâm lý học kỹ sư quân sự đang tập trung nghiên cứu,làm rõ các kiểu loại nhân cách trắc thủ và mức độ phù hợp của từng kiểu nhâncách trắc thủ với hoạt động điều khiển vũ khí, khí tài quân sự, đồng thời cũngquy định chỉ số độ tin cậy tâm lý trong hoạt động của họ
Các giai đoạn hình thành kỹ xảo, phản ánh sự khác nhau về tính chất,
mục đích cũng như đặc điểm của quá trình tập luyện có hướng dẫn để hànhđộng được tự động hóa Quá trình hình thành kỹ xảo tuân theo các giai
đoạn sau: 1 giai đoạn phân tích - tổng hợp: ở giai đoạn này, hành động
được chia nhỏ thành những động tác, cử động để luyện tập Sau đó kết hợplại theo trình tự các động tác trong một hành động hoàn chỉnh Đặc điểm:
Trang 19động tác diễn ra chậm, còn nhiều sai sót Thường xuyên có sự giám sát của
ý thức, đòi hỏi sự tập trung chú ý và nỗ lực ý chí cao, nên mức độ tiêu haonăng lượng thần kinh và cơ bắp lớn, hành động căng thẳng và chóng mệtmỏi Yêu cầu: luyện tập tỷ mỉ từng động tác riêng lẻ, đảm bảo độ chínhxác, chưa yêu cầu cao về tốc độ Sau đó luyện tập kết hợp các động tác
thành một hành động hoàn chỉnh; 2 giai đoạn hoàn thiện: các động tác
được thực hiện một cách nhanh chóng, chính xác hơn, sự phối hợp cácđộng tác nhịp nhàng, đúng quy cách hơn Đặc điểm: ý thức vẫn phảithường trực giám sát các khâu của hành động, vẫn cần có sự tập trung chú
ý và nỗ lực ý chí nhất định Yêu cầu: nâng cao tính chính xác và tốc độ củahành động, từng bước giải phóng ý thức khỏi một số khâu của hành động,
giảm bớt được mức độ căng thẳng trong hành động; 3 giai đoạn tự động hóa: các động tác được thực hiện một cách tự nhiên, nhanh chóng, chính
xác, sự phối hợp các động tác nhịp nhàng, hành động đạt tốc độ và hiệuquả cao Đặc điểm: ý thức hầu như đã được giải phóng, không phải trựctiếp giám sát tất cả mọi khâu của hành động mà chỉ thường trực sẵn sàngđiều chỉnh động tác khi cần thiết ở những khâu chủ yếu của hành động ởgiai đoạn này, đỡ tiêu hao năng lượng thần kinh cơ bắp, không đòi hỏi sựtập trung chú ý và sự nỗ lực ý chí Nắm vững các giai đoạn hình thành kỹxảo, cán bộ chỉ huy có cơ sở khoa học để vạch ra tiến trình huấn luyện phùhợp, đảm bảo nội dung phương pháp huấn luyện đạt được tốc độ và hiệuquả
Các giai đoạn phát triển của tập thể quân nhân, phản ánh sự biến
đổi về chất mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa hoạt động chung vì xãhội và trình độ phát triển tâm lý xã hội của tập thể quân nhân Sự phát triển
của tập thể quân nhân trải qua các giai đoạn cơ bản sau: 1 giai đoạn tổng hợp ban đầu, Các thành viên xem xét quan sát lẫn nhau, quan sát người
Trang 20lãnh đạo và người lãnh đạo cũng quan sát xem xét mỗi thành viên về mặtnhân cách ở giai đoạn này, quân nhân chưa ý thức được mục đích hoạt
động của tập thể 2 giai đoạn phân hóa, tập thể hình thành các nhóm
không chính thức tích cực cũng như tiêu cực tùy theo sự ăn ý về sở thích,
cá tính, thói quen giữa các quân nhân ở giai đoạn này, quân nhân đã ý
thức rõ mục đích hoạt động của tập thể 3 giai đoạn ổn định, mục đích
hoạt động của tập thể đã được mọi người nhất trí coi như mục đích hoạtđộng của bản thân, mọi quân nhân căn cứ vào mục đích hoạt động của tậpthể mà quan tâm, giúp đỡ đòi hỏi cao lẫn nhau, tập thể đã thực hiện tốt cácchức năng của mình trong mọi hoàn cảnh
Các giai đoạn phát triển trí tuệ, phản ánh sự vận động, biến đổi về
chất mang tính tuần tự trong quá trình phát triển cá thể của các giai đoạnphát triển trí tuệ con người phụ thuộc vào độ tuổi và hoạt động chủ đạo tươngứng Trí tuệ của mỗi người hình thành và phát triển theo các giai đoạn khácnhau Hiện đang có nhiều quan điểm khác nhau trong phân chia các giai đoạn
phát triển trí tuệ J Piagiê cho rằng, mỗi lứa tuổi có đặc trưng riêng về chất
lượng trí tuệ và được coi là một giai đoạn phát triển, đó là: trí tuệ cảm giácvận động (từ 0 - 1,5; 2 tuổi); trí tuệ tiền thao tác (2 - 6; 7 tuổi); thao tác cụ thể(7; 8 - 11; 12 tuổi ); thao tác hình thức (sau 11 - 12 tuổi) H Wallon cho rằng
sự phát triển trí tuệ của trẻ phải thường xuyên gắn với toàn bộ quá trình xã hộihóa nhân cách Ông chia ra các giai đoạn phát triển trí tuệ như sau: xung động(0 - 6 tháng); cảm xúc (6 - 10 tháng); giác động (10 - 14 tháng); phóng chiếu(14 tháng đến 2 tuổi); cá thể hoá ( từ 3 - 6 tuổi); đến trường (từ 6 - 12; 13
tuổi); dậy thì (13; 14 - 15; 16 tuổi) L.X Vưgôtxki lại căn cứ vào sự vận động
từ lứa tuổi này sang lứa tuổi khác để phân chia các giai đoạn phát triển trí tuệ,
với cơ sở là hiện tượng khủng khoảng tâm lý lứa tuổi Theo L.X Vưgôtxki thì
có các giai đoạn phát triển trí tuệ sau: sơ sinh (0 - 2 tháng); tuổi ẵm ngửa (2tháng - 1 năm); tuổi ấu thơ (1 - 3 năm); trước tuổi đi học (3 - 7 tuổi); tuổi học
Trang 21sinh (8 - 12 tuổi); tuổi dậy thì (14 - 18 tuổi); tuổi trưởng thành A.N Lêônchep
xuất phát từ cách tiếp cận hoạt động để nghiên cứu sự phát triển trí tuệ và chorằng, dấu hiệu để xác định chuyển từ giai đoạn này sang giai đoạn khác củaphát triển trí tuệ là sự thay đổi kiểu hoạt động chủ đạo Theo đó, Đ.BEncônhin đưa ra bảng phân kỳ giai đoạn phát triển trí tuệ trong mỗi lứa tuổitương ứng với một hoạt động chủ đạo như sau: sơ sinh (mới sinh - 1 tuổi);tuổi thơ (1 - 3 tuổi); mẫu giáo (3 - 5, 7 tuổi); học sinh nhỏ (6, 7 tuổi - 11, 12tuổi); học sinh lớn (12 - 16 , 17 tuổi); thanh niên và trưởng thành (từ 18 tuổitrở lên) Đây là quan điểm phân giai đoạn phát triển trí tuệ có tính khoa họccao, được ứng dụng nhiều trong thực tiễn
Các hình thức tư duy, cách thức biểu đạt hoạt động tư duy mang tính
biện chứng của con người, trong đó ý nghĩ của con người vận động đi từ cáichung đến cái riêng, từ nguyên nhân đến kết quả và từ kết quả đến nguyênnhân, từ hiện tượng đến bản chất Những hình thức tư duy cụ thể của con
người gồm: khái niệm, phán đoán, suy lý Khái niệm là hình thức tư duy,
trong đó khái quát hóa các tài liệu của kinh nghiệm mà người ta thu lượmđược trong quá trình phát triển xã hội - lịch sử Nguồn khởi đầu hình thànhcác khái niệm là những hình tượng cảm tính của sự vật Song thông tin nàychưa đủ Các khái niệm gắn chặt với những thuộc tính bản chất nhất của sựvật và hiện tượng, thể hiện bản chất của chúng Như vậy, muốn xây dựngđược khái niệm, tư duy phải vượt ra khỏi giới hạn của nhận thức cảm tính Trong quá trình tư duy, ý thức của con người thoát ra khỏi những hình tượngriêng lẻ, ngẫu nhiên và nhờ các từ, dấu hiệu, công thức thay thế thực tại, thaythế các quan hệ khách quan của sự vật, hiện tượng mà bao quát được các quan
hệ đó một cách đầy đủ hơn, diễn đạt các quan hệ đó một cách chính xác hơn
và sau đó áp dụng chúng vào các tình huống khác nhau Trong ý thức của mỗingười đều có một hệ thống khái niệm ít nhiều phản ánh toàn vẹn thế giới, xã
Trang 22hội và tự nhiên xung quanh người đó trong sự thống nhất của nó Phán đoán
là hình thức tư duy khẳng định hay phủ định những mối liên hệ, những thuộctính nào đó của sự vật, hiện tượng Khái niệm và phán đoán hình thành trong
ý thức của con người trong sự thống nhất biện chứng Khái niệm hình thành
từ phán đoán Ngược lại, trong mỗi phán đoán con người lại vận dụng cáckhái niệm qua đó làm giàu thêm khái niệm hoặc đi tới những khái niệm mới
Suy lý là từ phán đoán này suy ra phán đoán khác, những tri thức mới được
suy ra từ những tri thức cũ, đã biết Người ta phân biệt hai dạng suy lý, đó là:quy nạp (từ các trường hợp riêng đi đến kết luận chung) và diễn dịch (từ cácluận đề chung đi đến các trường hợp riêng) Quy nạp và diễn dịch có quan hệqua lại với nhau và kiểm nghiệm lẫn nhau Trong quá trình tư duy, nảy sinhnhững phỏng đoán, những giả thuyết Trong các phỏng đoán và giả thuyết conngười tiên đoán với độ tin cậy nào đó lời giải cho những câu hỏi đặt ra cho tưduy Các khái niệm, phán đoán, suy lý thể hiện hoạt động tư duy biện chứngcủa con người Trong các khái niệm, phán đoán, suy lý, ý nghĩ của con ngườivận động đi từ cái riêng đến cái chung và từ cái chung đến cái riêng, từnguyên nhân đến kết quả, từ hiện tượng đến bản chất Các khái niệm, phánđoán, suy lý thể hiện sự thống nhất và khác biệt giữa cái chung và cái riêngbiệt, giữa cái ngẫu nhiên và cái tất nhiên, thể hiện mối liên hệ qua lại, sựchuyển hóa lẫn nhau và sự đấu tranh giữa các mặt đối lập Hoạt động quân sự
có đặc điểm luôn phải ra quyết định trong những tình huống khẩn trương,căng thẳng, thiếu thông tin lại không được phạm sai lầm vì gắn với sinh mạng
bộ đội và tính chất của nhiệm vụ phải hoàn thành Do vậy cần phát triển tất cảcác hình thức tư duy cho bộ đội, nhất là cho đội ngũ sĩ quan để trong mọihoàn cảnh đề ra được quyết định đúng đắn
Các khía cạnh tâm lý trong ra quyết định, việc người lãnh đạo vận
dụng các kiến thức tâm lý để ra được các quyết định đúng đắn:
Trang 231 phải cân nhắc kỹ lưỡng các điều kiện, tình huống, hoàn cảnh, bảo đảmtính luận cứ đúng đắn của các quyết định đề ra Điều này liên quan trực tiếpđến năng lực chuyên môn của người chỉ huy cũng như những kinh nghiệmđược tích lũy trong thực tiễn hoạt động quân sự của họ; 2 phải tính đến kếhoạch và đặc điểm công tác của người dưới quyền cũng như khả năng thựchiện của họ Vì cấp dưới chính là những người trực tiếp thực hiện các quyđịnh, mệnh lệnh, chỉ thị của người lãnh đạo, chỉ huy Tính đến điều này, cácquyết định mới mang tính khả thi, không chồng chéo, mới phát huy được sứcmạnh, sở trường của cấp dưới; 3 phải tính đến cả đặc điểm tâm lý cá nhâncủa người trực tiếp thừa hành công việc (đó là các đặc điểm về các quá trìnhtâm lý nhận thức, quá trình cảm xúc, tình cảm, quá trình ý chí, đặc điểm về xuhướng, tính cách, năng lực, khí chất ); 4 phải tính đến hiệu quả giáo dục củacác quyết định Mọi quyết định trong lãnh đạo quản lý đều tác động đến nhậnthức, tình cảm, ý chí của quân nhân Do đó, cần cân nhắc thận trọng trước khiđưa ra một quyết định nào đó (đặc biệt những quyết định liên quan đến sinhmệnh chính trị con người, đến khen thưởng, kỷ luật ).
Các mối quan hệ qua lại trong tập thể quân nhân, các hình thức,
các dạng liên hệ thực tế và giao tiếp giữa các quân nhân trong quá trình sống
và hoạt động cùng nhau Các mối quan hệ này được hình thành trên cơ sở cácyêu cầu khách quan của nhiệm vụ chính trị, đặc điểm tổ chức, chức năng,nhiệm vụ của quân đội, đơn vị và từ nhu cầu của mỗi quân nhân Tính chất vàbiểu hiện của các mối quan hệ qua lại giữa các quân nhân phụ thuộc vào cácđiều kiện tâm lý - xã hội đã hình thành nên tập thể cơ sở quân nhân Các mốiquan hệ qua lại góp phần tạo nên sự liên kết, gắn bó chặt chẽ, thống nhất vàsức mạnh tập thể quân nhân Những mối quan hệ tích cực sẽ góp phần củng
cố đoàn kết tập thể, nâng cao hiệu suất của tập thể, phát triển nhân cách quânnhân, hình thành bầu không khí tâm lý - đạo đức lành mạnh Tính tích cực của
Trang 24mỗi nhân cách quân nhân, sự giúp đỡ lẫn nhau vượt qua các khó khăn tănglên, sẽ hạn chế được các xung đột, các nhóm tiêu cực Theo chức trách quânnhân có quan hệ chỉ huy - phục tùng, quan hệ phối hợp công tác Theo quychế tổ chức có quan hệ chính thức hay không chính thức Theo tính chất hoạtđộng có quan hệ công việc, quan hệ sinh hoạt.
Các phẩm chất nhân cách giáo viên quân sự, tổng hợp các phẩm
chất xã hội cần thiết của người giáo viên quân sự đảm cho họ hoàn thành tốtchức trách nhiệm vụ mà Nhà nước, quân đội giao cho, bao gồm:
1 xu hướng chính trị - tư tưởng, thể hiện lòng trung thành với Đảng, Tổquốc và nhân dân, toàn tâm toàn ý phụng sự sự nghiệp đổi mới của Đảng Cóbản lĩnh chính trị vững vàng, thái độ tích cực vận dụng các quan điểm tưtưởng, đường lối, chủ trương Nghị quyết của Đảng vào trong giảng dạy; tíchcực đấu tranh phê phán các quan điểm lý luận không đúng, kiên quyết bảo vệcác nguyên tắc của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh Say sưa,yêu mến nghề nghiệp sư phạm quân sự 2 có phẩm chất đạo đức trong sáng,mẫu mực của người thầy, mẫu mực về lối sống, có tinh thần vì tập thể, có ýthức tổ chức kỷ lụât, đoàn kết tốt 3 có năng lực sư phạm, thể hiện: khả năngtruyền đạt nội dung học tập, dạy cho học viên cách suy nghĩ, vận dụng kiếnthức vào thực tiễn; nắm vững nghệ thuật sư phạm, hùng biện, hành vi, cử chỉ -điệu bộ mẫu mực, làm mực thước cho học viên noi theo; có óc quan sát, khảnăng làm việc với con người, hiểu con người, gắn bó với học viên; quan hệgiao tiếp rộng rãi, mẫu mực sư phạm với học viên; có khả năng tổ chức hoạtđộng nhận thức, rèn luyện, nghiên cứu khoa học của học viên, chỉ huy, quản
lý tốt lớp học viên
Các quá trình tâm lý, sự phản ánh năng động hiện thực khách quan
dưới các hình thức khác nhau của hiện tượng tâm lý Quá trình tâm lý diễn ra
Trang 25có khởi đầu, diễn biến và kết thúc như là một phản ứng vòng tròn mà khởiđầu và kết thúc luôn gắn bó chặt chẽ với nhau, đảm bảo tính liên tục, tính chủ
ý của tâm lý Các quá trình tâm lý nảy sinh là do các tác động từ thế giới bênngoài và từ bên trong cơ thể Tâm lý học chia các quá trình tâm lý ra thành:
các quá trình tâm lý nhận thức, bao gồm cảm giác tri giác, biểu tượng, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng; các quá trình cảm xúc gồm các trải nghiệm tâm lý tích cực, tiêu cực; các quá trình ý chí như quyết định, thực hiện quyết định,
nỗ lực ý chí Các quá trình tâm lý giúp con người hình thành nên hệ thống trithức, hiểu biết về thế giới, cách thức điều chỉnh hành vi, hoạt động của mình
ở các hoạt động tâm lý phức tạp, các quá trình tâm lý khác nhau kết hợp vớinhau tạo thành dòng ý thức đảm bảo cho chủ thể phản ánh đúng hiện thựcnhằm thực hiện tốt các hoạt động khác nhau Các quá trình tâm lý thườngdiễn ra với tốc độ nhịp điệu, cường độ khác nhau phụ thuộc vào đặc điểm củacác kích thích từ bên ngoài và phụ thuộc vào trạng thái tâm lý lúc đó của chủthể Để nâng cao chất lượng nhận thức cũng như phát triển các phẩm chấtnhân cách quân nhân, cán bộ trong lực lượng vũ trang nhân dân cần nghiêncứu nắm vững những đặc điểm, quy luật diễn ra và những yêu cầu về phẩmchất các quá trình tâm lý của quân nhân để hình thành ở họ đáp ứng yêu cầu,đòi hỏi của hoạt động quân sự
Các thành phần tâm lý của tính kỷ luật tập thể quân nhân, những
yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau trong quá trìnhtạo thành tính kỷ luật của tập thể quân nhân bao gồm: 1.tính kỷ luật cao củatừng thành viên Đây là một phẩm chất chính trị, đạo đức của nhân cách quânnhân, nhờ nó mà quân nhân sẵn sàng tuân thủ pháp luật Nhà nước, kỷ luậtquân đội, mệnh lệnh, chỉ thị cấp trên Nếu mỗi thành viên trong tập thể có tỉnh
kỷ luật cao thì tập thể đó dễ dàng trở thành một tập thể có kỷ luật; 2.tổ chứchoạt động của đơn vị phù hợp với đặc điểm hoạt động của từng quân, binhchủng, đúng với đòi hỏi của luật pháp Nhà nước, điều lệnh, điều lệ quân đội;
Trang 263 bầu không khí tâm lý chung của tập thể lành mạnh, thái độ đòi hỏi cao lẫnnhau, tin tưởng nhau, đoàn kết gắn bó, sẵn sàng giúp đỡ nhau hoàn thànhnhiệm vụ; 4 sự gương mẫu, tính kỷ luật cao của đội ngũ cán bộ, sĩ quan đơn
vị trong quản lý - chỉ huy, duy trì, tổ chức mọi hoạt động của đơn vị theo điềulệnh quản lý bộ đội; 5 các tác động cùng chiều từ môi trường xã hội và vấn
đề củng cố kỷ luật quân sự ở đơn vị cơ sở Trong thực tiễn củng cố và nângcao tính kỷ luật của các tập thể quân nhân cần chú ý quan tâm toàn diện tất cảmọi yếu tố trên, không tuyệt đối hóa hoặc coi nhẹ một yếu tố nào
Các thao tác tư duy, cách thức thực hiện hành động tư duy nhằm giải
quyết nhiệm vụ trong một tình huống nhận thức cụ thể Các thao tác tư duydiễn ra kế tiếp nhau, đan xen nhau bao gồm: phân tích, tổng hợp, so sánh, trừutượng hóa, khái quát hóa, cụ thể hóa, phân loại, hệ thống hóa Thông qua thaotác tư duy giúp người quân nhân tìm ra được bản chất sự vật, hiện tượng, từ
đó có biện pháp tác động phù hợp đạt hiệu quả Phân tích là thao tác tư duy
phân chia một khách thể phức hợp ra thành các bộ phận cấu thành của nó
Tổng hợp là thao tác tư duy cho phép trong quá trình phân tích- tổng hợp thống nhất, nhận thức của chủ thể chuyển từ cái bộ phận lên cái toàn thể So sánh, thao tác tư duy cho phép chủ thể so sánh các đối tượng, hiện tượng, các
thuộc tính và các quan hệ của chúng với nhau, tìm ra cái chung, cái khác biệt
giữa chúng Trừu tượng hóa, là bỏ qua những thuộc tính, liên hệ không bản
chất để phản ánh những thuộc tính, liên hệ bản chất, quy luật của sự vật, hiện
tượng nhận thức Khái quát hóa, thao tác tư duy giúp chủ thể liên kết nhiều đối tượng theo một dấu hiệu chung nào đó Cụ thể hóa, thao tác tư duy giúp chủ thể nhận thức đi từ cái chung đến cái riêng Phân loại là sắp xếp từng sự vật hiện tượng riêng biệt vào một nhóm sự vật hay hiện tượng Hệ thống hóa
là sự sắp xếp các đối tượng theo một trật tự nhất định
Các thuộc tính tâm lý, những phẩm chất tâm lý ổn định, bền vững của
nhân cách, giữ vai trò điều chỉnh thường xuyên và cao nhất mọi hành vi, hoạt
động của con người Các thuộc tính tâm lý nhân cách bao gồm: xu hướng,
Trang 27tính cách, khí chất, năng lực Được hình thành trên cơ sở các quá trình, trạng
thái tâm lý, đến lượt mình, các thuộc tính tâm lý lại tác động ảnh hưởng trở lạiđến các quá trình, trạng thái tâm lý Các thuộc tính tâm lý cá nhân biểu hiệnnội dung bên trong của nhân cách, tạo nên giá trị xã hội của nó Người chỉhuy, cán bộ chính trị đơn vị cần hiểu rõ các thuộc tính tâm lý cá nhân của cấpdưới để có chương trình, kế hoạch, biện pháp giáo dục, lãnh đạo họ một cáchđúng đắn
Các yếu tố quy định sự hình thành nhân cách quân nhân, tập hợp
các yếu tố bên trong và bên ngoài đóng vai trò là nguồn gốc, động lực của quátrình hình thành, phát triển nhân cách quân nhân Tâm lý học quân sự Mácxítxem nhân cách quân nhân được hình thành, phát triển trong sự tác động qualại, ảnh hưởng lẫn nhau, quy định lẫn nhau, thâm nhập vào nhau không thể
tách rời của các yếu tố xã hội, sinh vật và tâm lý Yếu tố xã hội là cái bên
ngoài được chuyển vào trong con người quân nhân, trong quá trình quân nhânsống, hoạt động và tham gia vào các quan hệ xã hội Yếu tố xã hội ghi dấu ấntrong toàn bộ các phẩm chất, thuộc tính tâm lý cá nhân quân nhân và làm biếnđổi cả những đặc điểm sinh học trong con người quân nhân Yếu tố xã hội có
ý nghĩa quyết định sự hình thành, phát triển nhân cách quân nhân, được biểuhiện rõ nét trong các đặc điểm quan trọng nhất của nhân cách quân nhân như
xu hướng nghề nghiệp quân sự, thế giới quan, nhu cầu, động cơ phục vụ quân
đội, hệ tư tưởng, tâm lý xã hội, các kinh nghiệm và thông tin xã hội Yếu tố sinh học trong nhân cách quân nhân bao gồm các đặc điểm cá nhân về thể
tạng, cấu trúc thân hình, kiểu loại thần kinh, các tố chất để hình thành nănglực v.v Yếu tố sinh vật là tiền đề vật chất không thể thiếu; là cơ sở quan trọngcủa sự hình thành nhân cách quân nhân, có ảnh hưởng nhất định đến nhữngphẩm chất thuộc tính tâm lý nhân cách, đến toàn bộ đời sống tâm lý quân
Trang 28nhân, ảnh hưởng đến sức làm việc, trạng thái tâm lý, tư tưởng, tình cảm, thái
độ của quân nhân đối với chức trách, nhiệm vụ và các mối quan hệ trong công
tác, sinh hoạt Yếu tố tâm lý bao gồm toàn bộ những đặc điểm cá thể trong sự
phản ánh tâm lý của chủ thể đối với hiện thực khách quan; là những nét đặcthù của các quá trình nhận thức, cảm xúc, ý chí của các trạng thái và thuộctính tâm lý Các đặc điểm tâm lý đó tạo ra những nét riêng mang tính khônglặp lại của bộ mặt tinh thần của quân nhân Yếu tố tâm lý được hình thành do
sự tác động qua lại giữa yếu tố xã hội và yếu tố sinh vật, là điều kiện chủ quan
để mỗi quân nhân tiếp thu có chọn lọc những tác động từ hoàn cảnh xã hội,môi trường quân sự
Cảm giác, sự phản ánh vào ý thức con người những thuộc tính, phẩm
chất riêng lẻ của sự vật, hiện tượng khi chúng đang trực tiếp tác động vào giácquan Cảm giác là nguồn khởi đầu của mọi hiểu biết về thế giới, là cơ sở đầutiên để điều chỉnh hoạt động của con người trước những hiện tượng phức tạpcủa đời sống Cảm giác cung cấp tư liệu bao gồm toàn bộ những dấu hiệu bềngoài chủ yếu của các đối tượng, hiện tượng như hình dáng, độ lớn, mầu sắc,
âm thanh, mùi vị và cả trạng thái hoạt động của các cơ quan bên trong cơ thể(cảm giác cơ, cảm giác đau ) cho tri giác, biểu tượng, tư duy, tưởng tượng vàtrí nhớ Cảm giác nảy sinh trên cơ sở hoạt động của các cơ quan thần kinh đặcbiệt gọi là khí quan phân tích Cơ sở sinh lý của cảm giác là hoạt động phản
xạ theo cơ chế vòng, phản xạ đảm bảo thường xuyên các mối liên hệ ngượccủa con người với thế giới bên ngoài Có nhiều cách phân loại cảm giác Cáchphân loại thông dụng nhất là dựa theo tên các cơ quan cảm giác như: thínhgiác, thị giác, xúc giác Theo phát triển chủng loại, cảm giác nảy sinh trên cơ
sở tính nhạy cảm đối với các kích thích không mang tính sinh học từ môitrường bên ngoài Khác với động vật, ở con người, cảm giác cũng được giántiếp bởi hoạt động có đối tượng, bởi toàn bộ quá trình phát triển lịch sử của xã
Trang 29hội Đặc điểm này cần được vận dụng vào trong giáo dục, huấn luyện cho bộđội để có độ tinh nhậy cao nhất của hoạt động các cơ quan cảm giác của quânnhân.
Cảm thụ tin từ tiếng nói của trắc thủ, quá trình người trắc thủ nhận
và xử lý thông tin truyền tới ở dạng ngôn ngữ, tiếng nói Đây là một hànhđộng nhận thức phức tạp, bao gồm các thao tác: 1 cơ quan cảm giác (thínhgiác) nhận thông báo; 2 trắc thủ tiến hành phân tích dòng âm thanh ra thànhtừng từ, đồng thời phân tích, hiểu rõ những đặc điểm âm thanh của từ đó; 3.tìm, phát hiện ý nghĩa của từng từ, từng câu hoặc cả đoạn thông báo (đây là
thông tin chính cần thông báo) Việc nhận ra ý nghĩa thông tin chứa đựng
trong từ, âm thanh của từ là đặc trưng tâm lý quan trọng nhất của khả năngcảm thụ tin từ tiếng nói của trắc thủ Trong thực tiễn, ý nghĩa của thông tinchứa trong thông báo bằng lời rất khác nhau ở mức độ tùy thuộc vào vai tròcủa thông tin đó đối với nhiệm vụ được giao của trắc thủ Do được huấn luyệnnên mỗi trắc thủ đều có khả năng nhất định nhận và phát hiện ra ý nghĩa, mức
độ quan trọng của thông tin tức thì dựa theo bảng mã chuẩn hoặc có thể tự xáclập ý nghĩa thông tin theo chức trách, nhiệm vụ của mình Từ đó đặt ra yêucầu trong huấn luyện trắc thủ cần có các bài tập luyện chuyên biệt để pháttriển khả năng nhận biết thông tin truyền tới bằng lời nói một cách nhanhchóng, chính xác, không để lỡ thời cơ tiêu diệt địch
Cảm xúc, (gốc Latinh : emoveo - sự chao đảo, nổi sóng), trạng thái tâm
lý nảy sinh khi cá nhân đánh giá ý nghĩa của những yếu tố tác động tới bảnthân ở dạng các trải nghiệm trực tiếp hài lòng hay không hài lòng, thỏa mãnhay không thỏa mãn về mức độ đáp ứng các nhu cầu thực tế của cá nhân.Hình thức biểu hiện thông thường nhất của cảm xúc là những trải nghiệmthường xuyên của cá nhân về đói, no, về mùi vị, về đau khổ, ngọt ngào
Trang 30Theo phát triển chủng loại, cảm xúc nảy sinh với vai trò là công cụ để chủ thểđánh giá ý nghĩa toàn bộ những yếu tố thuộc môi trường bên trong và bênngoài đối với sự tồn tại, phát triển của nó Cảm xúc có ảnh hưởng trực tiếptới hành vi và đóng vai trò là động cơ hoạt động của con người Cảm xúc có
các hình thức cụ thể, bao gồm tình cảm, tâm trạng, xúc cảm, đam mê Tình cảm là một trong những hình thức phản ánh hiện thực khách quan vào trong ý
thức con người Đó chính là trải nghiệm của chủ thể về các quan hệ của mìnhvới thế giới bên ngoài, với tất cả những gì mà nó đang nhận thức, hành động
và có quan hệ Tâm trạng là những trải nghiệm cảm xúc tương đối yếu, nhưng
tồn tại khá lâu bên trong và có đặc điểm là chủ thể không ý thức rõ rệt được
các nguyên nhân, các yếu tố gây ra nó Xúc cảm là những trải nghiệm mạnh,
diễn ra nhanh và có thể làm thay đổi nhận thức, ý chí của chủ thể Quy luậtcủa sự hình thành xúc cảm là: động cơ thúc đẩy hành vi, nỗ lực nội tâm, kếtquả đạt được càng nhỏ bấy nhiêu thì xúc cảm nảy sinh càng mạnh bấy nhiêu
Đam mê là những trải nghiệm mạnh mẽ, sâu sắc và có tính ổn định trong
khoảng thời gian dài Cảm xúc thường mang tính hoàn cảnh và tính khái quát,thời gian tồn tại ngắn và là một động lực tinh thần mạnh Cảm xúc của conngười thường dễ bị chi phối bởi điều kiện, hoàn cảnh và liên quan chặt chẽvới các nhu cầu
Cảm xúc của quân nhân, hình thức đặc thù của sự phản ánh hiện
thực khách quan vào trong não người quân nhân, biểu hiện ra qua các trảinghiệm, thái độ của chủ thể đối với sự vật, hiện tượng liên quan đến việc thỏamãn nhu cầu của bản thân quân nhân Cảm xúc là một trạng thái cụ thể củatình cảm, có tính nhất thời, nảy sinh trong các hoàn cảnh, tình huống cụ thể,diễn ra trong một thời gian ngắn và luôn thay đổi, thường kèm theo nhữngbiến đổi nhất định về mặt sinh lý Cơ sở sinh lý thần kinh của cảm xúc lànhững phản xạ không điều kiện có liên quan với những hoạt động của vùngdưới vỏ não Cảm xúc của quân nhân bị chi phối bởi điều kiện xã hội, chịu
Trang 31ảnh hưởng của kinh nghiệm xã hội Đặc trưng của cảm xúc: tính nhận thức;tính độc đáo; tính xã hội; tính khái quát; tính ổn định; tính chân thực; tính đốicực Cảm xúc được thể hiện ra bằng các hành vi bên ngoài: trong các nét mặt,điệu bộ, trong cử chỉ, giọng nói, âm sắc Có nhiều loại cảm xúc Theo ảnhhưởng đối với hoạt động của quân nhân, có nhóm cảm xúc phấn chấn vànhóm cảm xúc mềm yếu; theo tính chất và tác dụng đối với đời sống và hoạtđộng của quân nhân có cảm xúc tích cực và cảm xúc tiêu cực; theo hình thứcbiểu hiện có tâm trạng, xúc động, say mê và stress; theo mức độ phức tạp vềnội dung có cảm xúc cấp thấp, cảm xúc cấp cao Cảm xúc có vai trò to lớntrong hoạt động, là động lực chi phối mạnh mẽ mọi hoạt động hàng ngày củaquân nhân Việc hình thành ở quân nhân khả năng làm chủ cảm xúc trong đờisống sinh hoạt và cũng như trong chiến đấu là rất quan trọng Trong giáo dục,huấn luyện bộ đội cần làm cho mọi quân nhân nhận thức được rõ mặt tích cực
và cũng như mặt tiêu cực của cảm xúc mà tự giác, tự điều chỉnh thái độ hành
vi cho phù hợp, làm cho mọi quân nhân tự ý thức và định hướng đúng cảmxúc của mình trong các tình huống cụ thể, không để cho cảm xúc tự phát chiphối hành vi, khi thực tế hoạt động trong lĩnh vực quân sự đòi hỏi phải tựkiềm chế
Căng thẳng cảm xúc của trắc thủ quân sự, trạng thái tâm lý khi trắc
thủ thực hiện các hành động ý chí do phải thực hiện một hoạt động khókhăn, nguy hiểm, hoặc sắp phải thực hiện hoạt động đó, hoặc đang chờ đợidấn thân vào nguy hiểm Căng thẳng cảm xúc của trắc thủ thực chất là quátrình điều chỉnh tâm lý nhất định Đó là quá trình đòi hỏi chủ thể phải huyđộng một loạt các chức năng của cơ thể cùng lúc do có sự tác động củanhiều tác nhân vừa khác nhau lại vừa giống nhau, hoặc của sự xuất hiệncác tín hiệu mới lạ trên màn hiện sóng Cơ sở sinh lý học của căng thẳngcảm xúc ở trắc thủ là các phản ứng sinh học diễn ra bên trong cơ thể ảnh
Trang 32hưởng của căng thẳng cảm xúc thường theo hai hướng "cường" và
"nhược" ở hướng "cường", nó có thể làm tăng khả năng làm việc của trắcthủ ở hướng "nhược", nó làm giảm khả năng làm việc nếu chủ thể ở trongtrạng thái căng thẳng cảm xúc quá mức, quá lâu, đặc biệt ở những người dễ
có cảm xúc mềm yếu
Căng thẳng tâm lý cực trị, trạng thái tâm lý nảy sinh trong trường hợp
hoạt động của cơ thể đòi hỏi phải huy động các quá trình tâm lý chức nănglàm việc ở ngưỡng tuyệt đối trong thời gian dài, làm tiêu hao các nguồn dựtrữ thông thường trong cơ thể Căng thẳng tâm lý cực trị xuất hiện khi cónhững tác động, ảnh hưởng mạnh đến hoạt động sống bình thường của cơ thểnhư: nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp; sự kìm hãm do các hoạt động bìnhthường diễn ra kéo dài và đơn điệu, ít thay đổi; một số điều kiện làm việc củacác ngành nghề chuyên môn quân sự yêu cầu cùng một lúc phải nhớ một khốilượng lớn các tín hiệu tri giác và thính giác; khối lượng chú ý luôn thay đổi (ví dụ, hoạt động của các trắc thủ ra-đa ngồi trước màn hiện sóng; các pháothủ trực chiến dưới nắng nóng mùa hè; các sĩ quan tham mưu trong phiên trực
ở hầm chỉ huy; các chiến sĩ thông tin trên cabin ) Cơ sở sinh học của căngthẳng cực trị là do các phản ứng sinh học đáp ứng sự tiêu hao năng lượng lớn
để duy trì cường độ làm việc cao của các quá trình tâm lý chức năng, do đólàm xuất hiện sự mệt mỏi, cảm giác sai lệch, thiếu chính xác Để chịu đựnglâu dài các căng thẳng cực trị quân nhân phải được chuẩn bị về tâm lý, thểlực
Căng thẳng tâm lý siêu cực trị, mức độ căng thẳng tâm lý cao nhất
trong hoạt động quân sự biểu hiện ra ở một tổ hợp phức tạp những rung độngtâm lý, sự tác động lẫn nhau giữa các chức năng tâm lý Căng thẳng siêu cựctrị nảy sinh trong hoàn cảnh quân nhân phải thực hiện một hoạt động khó
Trang 33khăn, nguy hiểm, đe dọa trực tiếp đến tính mạng, đòi hỏi chủ thể phải huyđộng nguồn dự trữ cuối cùng có tính chất thay thế của cơ thể để duy trì hoạtđộng Để quân nhân hoạt động đạt hiệu quả cao, họ phải được chuẩn bị tâm lývượt qua trạng thái căng thẳng siêu cực trị Con đường chủ yếu là thông quarèn luyện trong những điều kiện, hoàn cảnh khó khăn, phức tạp khác nhau màhình thành ở quân nhân các phẩm chất tâm lý cần thiết như: các quá trình tâm
lý nhận thức phát triển, khả năng tư duy sáng tạo, các phẩm chất cảm xúc, ýchí, trình độ chuyên môn nghề nghiệp, sự trải nghiệm v.v
Căng thẳng tâm lý tối ưu, căng thẳng vừa sức chịu đựng của con
người, gây ra trạng thái tích cực, làm cho hoạt động diễn ra thuận lợi, có hiệusuất cao Cơ sở sinh lý của căng thẳng tâm lý tối ưu là quá trình hưng phấn cótác dụng gây trương lực cho hoạt động cơ thể làm cho con người tỉnh táo,hăng hái, đầy nghị lực, dẻo dai và bền bỉ, có thể vượt khả năng lúc bìnhthường Hoạt động quân sự luôn diễn ra với cường độ cao, gian khổ, ác liệttác động gây ra căng thẳng tâm lý cho quân nhân Khi cường độ của sự căngthẳng tâm lý chưa vượt ra khỏi giới hạn chịu đựng của quân nhân sẽ ảnhhưởng tích cực đến hiệu suất hoạt động ở trạng thái căng thẳng tâm lý tối ưungười quân nhân luôn sẵn sàng và mọi hành động được thực hiện một cáchnhanh gọn, chính xác, tư duy mạch lạc, phản ứng mau lẹ và tập trung vàohướng cần thiết
Căng thẳng tâm lý trong hoạt động của trắc thủ quân sự, trạng thái
cảm xúc được thể hiện ở mức độ suy giảm tạm thời các chức năng tâm lý (trínhớ, chú ý, tư duy ) cũng như khả năng kết hợp các động tác và khả nănglàm việc của trắc thủ Căng thẳng trong hoạt động của trắc thủ có các dạngsau: căng thẳng gây kìm hãm, ức chế tâm lý; căng thẳng dạng “xung” gây nêncác cử động vô thức, sai sót tăng, đầu óc thiếu tỉnh táo; Căng thẳng gây
Trang 34“nhiễu loạn” tâm lý; căng thẳng diễn ra ở cường độ thấp, thoảng qua Căngthẳng là hiện tượng tâm lý gây nhiều khó khăn cho hoạt động của trắc thủ,làm giảm hiệu suất làm việc và có thể dẫn tới mất khả năng làm việc Nguyênnhân gây căng thẳng tâm lý của trắc thủ chủ yếu là do tác động từ bên ngoài,
từ hoàn cảnh chiến đấu khẩn trương, nguy hiểm, hoặc có thể do sai lầm trong
hệ phương pháp đào tạo trắc thủ, hoặc có thể là nguyên nhân bên trong donhững đặc điểm tâm lý cá nhân bẩm sinh, đặc biệt ở các cá nhân có độ bềnvững cảm xúc thấp
Cận tâm lý, phân ngành của tâm lý học nghiên cứu các lĩnh vực thể
hiện khả năng giao tiếp của con người với những người đang sống khác hoặcnhững người đã chết thông qua việc sử dụng các quá trình tâm lý Cận tâm lýcũng là một khái niệm dùng để chỉ một số giả thuyết, quan điểm (hiện cònđang tranh luận) về các hiện tượng tâm lý thuộc loại tri giác siêu cảm tính(thần giao cách cảm, đoán điềm ) Nghiên cứu về lĩnh vực cận tâm lý đượcbắt đầu từ cuối thế kỷ XIX và đến nay vẫn chưa có những kết luận cuối cùng
về các hiện tượng tri giác siêu cảm tính này Bước đầu, những nghiên cứu vềcận tâm lý đã hỗ trợ cho việc phát hiện một số hiện tượng tâm lý loại này rấtcần được nghiên cứu và lý giải như khả năng tìm mộ Cho đến nay, cận tâm
lý vẫn là đối tượng của các cuộc tranh luận Đa số các nhà khoa học cho rằng,thần giao cách cảm phải trở thành đối tượng nghiên cứu nghiêm túc của nhiềungành khoa học, trong đó có khoa học tâm lý
Cấu trúc tâm lý hoạt động của trắc thủ quân sự, tổ hợp các hành
động, các thao tác mà người trắc thủ thực hiện độc lập, hoặc thực hiện cùngvới máy móc, kỹ thuật được xắp xếp theo đúng cơ cấu lôgíc, tính không gian,thời gian của chúng nhằm đạt tới kết quả nhất định trong một hoàn cảnh, điềukiện xác định Phân tích cấu trúc tâm lý hoạt động của trắc thủ quân sự bao
Trang 35gồm các công việc sau: 1 xây dựng bảng danh mục các nhiệm vụ, chỉ ra cácyếu tố điều kiện quy định hiệu quả hoạt động của trắc thủ, trạng thái làm việccủa trắc thủ trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ đó; 2 xây dựng Angolritgiải quyết các nhiệm vụ ở góc độ kỹ thuật quân sự; 3 xây dựng Angolrit giảiquyết các nhiệm vụ ở cấp độ thao tác - tâm lý; 4 lập biểu so sánh Angolritthao tác vận hành khí tài theo mẫu tiêu chuẩn với các mẫu tình huống hay cósai sót điển hình để tránh; 5 lập các biểu đồ Angolrit thực hiện các thao tácvận hành khí tài theo đúng đặc tính không gian, thời gian của chúng; 6 xácđịnh mức độ phù hợp với các quy luật tâm lý học kỹ sư của các hành động,các thao tác vận hành máy của trắc thủ Tất cả các nhiệm vụ mà trắc thủ phảithực hiện, các yếu tố ảnh hưởng quy định hiệu quả hoạt động có trong cấutrúc hoạt động đều được phản ánh trong đồ thị tâm lý nghề nghiệp của trắcthủ.
Cấu trúc tâm lý hoạt động dạy, tổng hợp các thành phần, đơn vị có
quan hệ qua lại, chuyển hóa lẫn nhau tạo thành điều kiện bên trong bảo đảmcho người dạy tổ chức, điều khiển hoạt động của người học, giúp người họclĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội, tạo ra sự phát triển tâm lý, nhân cáchđáp ứng mục tiêu, yêu cầu đào tạo Các thành phần tâm lý chủ yếu trong cấutrúc tâm lý của hoạt động dạy bao gồm: động cơ, mục đích (nhiệm vụ), điềukiện, phương tiện, phương thức tiến hành hoạt động dạy Động cơ của hoạtđộng dạy được hiện thân ở đối tượng của hoạt động dạy Đó là sự phát triểnnhân cách người học đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đào tạo Do đối tượng củahoạt động dạy là nhân cách người học cho nên, muốn hoạt động dạy có hiệuquả, người dạy phải dựa trên cơ sở ý thức đầy đủ trách nhiệm của bản thânđối với xã hội, với các thế hệ tương lai, phải có lòng yêu nghề, yêu người, cókhát vọng nâng cao nhận thức về mọi mặt để truyền thụ cho thế hệ tương laixứng đáng với vai trò to lớn mà xã hội đã trao cho Đó chính là hệ thống động
cơ đúng đắn của hoạt động dạy Mục đích hoạt động dạy là tạo ra được những
Trang 36hành động học tập tích cực ở người học Mục đích bao trùm của hoạt độngdạy là tạo ra khả năng học tập suốt đời ở người học Mục đích gần là tạo chongười học cách chiếm lĩnh từng khái niệm, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ, chuẩnmực, giá trị trong từng bài, từng tiết học Điều kiện, phương tiện, phươngthức của hoạt động dạy là toàn bộ nhân cách của người dạy (phẩm chất, nănglực, kỹ năng, kỹ xảo sư phạm) cùng với hệ thống giáo khoa, giáo trình, tàiliệu, trang thiết bị kỹ thuật phục vụ giảng dạy được người dạy sử dụng đểgiúp người học lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và phát triển các phẩm chấtnhân cách đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đào tạo Hoạt động dạy là một hệ thốngluôn vận động, phát triển Trong những điều kiện nhất định, các thành phầncấu trúc của nó có sự phát triển cả về số lượng và chất lượng, có thể hoán đổi
vị trí cho nhau tạo ra sự phát triển tâm lý cả ở người dạy và người học
Cấu trúc tâm lý hoạt động học, tổng hợp các thành phần, đơn vị có
quan hệ qua lại, chuyển hóa lẫn nhau tạo thành điều kiện bên trong bảo đảmcho người học lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và những hành vi, hoạt động,những giá trị mới theo mục tiêu, yêu cầu dạy học Các thành phần chủ yếutrong cấu trúc tâm lý của hoạt động học bao gồm: động cơ, mục đích (nhiệmvụ), điều kiện, phương tiện, phương thức học tập Động cơ của hoạt động họcđược hiện thân ở đối tượng của hoạt động học Đó là hệ thống tri thức, kỹnăng, kỹ xảo, thái độ, giá trị, chuẩn mực mà nền giáo dục đặt ra Động cơhọc tập không có sẵn mà được hình thành dần trong quá trình người họcchiếm lĩnh đối tượng học dưới sự tổ chức, điều khiển của người dạy Do đốitượng của hoạt động học rất phong phú, đa dạng nên động cơ hoạt động họccũng rất đa dạng, phong phú Nhưng trong đó, nổi lên là hệ thống những động
cơ nhằm hoàn thiện tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và hệ thống những động cơ quan
hệ xã hội (như được khen thưởng, khẳng định vị thế của bản thân, công ăn,việc làm ) Mục đích hoạt động học bao gồm mục đích xa (bao trùm) và mụcđích gần (cụ thể) Mục đích bao trùm của hoạt động học là chiếm lĩnh đốitượng của hoạt động học Mục đích gần là chiếm lĩnh từng khái niệm, kỹnăng, kỹ xảo, thái độ, chuẩn mực, giá trị trong từng bài, từng tiết học Điều
Trang 37kiện, phương tiện, phương thức của hoạt động học là các hành động học tậpđược người học tự tạo cho mình trong quá trình học dưới sự hướng dẫn, điềukhiển của hoạt động dạy, trên cơ sở bảo đảm các điều kiện phục vụ học tậpnhư giáo trình, giáo khoa, tài liệu, trang thiết bị kỹ thuật Hành động học tậpcủa người học bao gồm: hành động phân tích, tổng hợp, mô hình hóa, cụ thểhóa Để thực hiện các hành động trên, phương tiện chủ yếu của hoạt động học
là tư duy Phương tiện này không có sẵn mà được hình thành trên cơ sở vậndụng các khái niệm đã được lĩnh hội
Cấu trúc tâm lý hoạt động quân sự, hệ thống các thành phần, đơn
vị cấu thành nên tâm lý hoạt động quân sự Những thành phần cấu trúc tâm
lý chủ yếu của hoạt động quân sự là động cơ, mục đích, điều kiện, phươngtiện Những đặc điểm của hoạt động quân sự có ảnh hưởng quyết định đếnnội dung cũng như các thành phần cấu trúc của nó Động cơ của hoạt độngquân sự là những lực thúc đẩy người chiến sĩ tích cực thực hiện các nhiệm vụ,trong đó quan trọng nhất là những động cơ mang ý nghĩa chính trị - xã hộirộng lớn Những động cơ có ý nghĩa hàng đầu của hoạt động quân sự củaquân nhân Quân đội nhân dân Việt Nam là lòng trung thành vô hạn với Đảng,với Tổ quốc và nhân dân, là ý thức trách nhiệm cao, tinh thần tập thể, phẩmchất đạo đức cách mạng Những động cơ đó của quân nhân xuất phát từ nhucầu bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệnhân dân Mục đích của hoạt động quân sự gắn liền với các hành động cụ thểtrong học tập, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu và là biểu tượng củangười quân nhân về kết quả cần đạt tới Để mỗi quân nhân xác định được mụcđích hành động đúng đắn người cán bộ lãnh đạo, chỉ huy cần tiến hành cácbiện pháp nhằm tích cực hóa hoạt động của quân nhân, trang bị cho họ cáckiến thức mọi mặt làm cơ sở cho việc xác định mục đích và chương trìnhhành động Phương thức hành động chính là các cách thức, thủ pháp tiến hànhhoạt động để đạt tới kết quả Chúng quy định các thao tác cụ thể của quân
Trang 38nhân trong việc sử dụng các loại phương tiện vũ khí, kỹ thuật chiến đấu, trongviệc xử lý các tình huống chiến đấu v.v Nội dung và cấu trúc của hoạt độngquân sự không phải là bất biến mà thường xuyên biến đổi theo sự phát triểncủa xã hội nói chung, của lĩnh vực quân sự nói riêng, đặc biệt là sự phát triểncủa nhiệm vụ, của cách đánh, vũ khí, trang bị kỹ thuật trong quân sự
Cấu trúc tâm lý nhân cách quân nhân, hệ thống các thuộc tính tâm lý
trong nhân cách quân nhân bao gồm: xu hướng, tính cách, năng lực, khí chất
Xu hướng nhân cách quân nhân là hệ thống những động cơ bền vững, những
mục đích quan trọng nhất, định hướng và thúc đẩy con người tích cực hoạtđộng nhằm thỏa mãn những nhu cầu của cuộc sống Xu hướng nhân cáchquân nhân có ba bộ phận: xu hướng chính trị - đạo đức; xu hướng nghềnghiệp quân sự; xu hướng sinh hoạt Những nội dung quan trọng nhất trong
xu hướng nhân cách quân nhân là thế giới quan, niềm tin cộng sản, lòng trungthành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của nhân dân, lòng căm thù giặc,
sự hứng thú với nghề nghiệp chuyên môn quân sự, ý thức chăm lo bảo quản
và sử dụng tốt vũ khí, khí tài Tính cách quân nhân là sự kết hợp độc đáo
những đặc điểm tâm lý điển hình, ổn định, bền vững của người quân nhân,được biểu hiện ra trong hệ thống thái độ, hành vi, trong đặc điểm của các quátrình tâm lý, các thuộc tính tâm lý Tính cách quân nhân bao gồm 2 nhóm néttính cách: nhóm nét tính cách biểu thị hệ thống thái độ hành vi của quân nhânvới hiện thực khách quan; nhóm nét tính cách biểu thị các phẩm chất ý chí
của quân nhân Năng lực của quân nhân là tổng hợp những phẩm chất tâm lý
và sinh lý của cá nhân đáp ứng với những yêu cầu của hoạt động quân sự,đảm bảo cho hoạt động đó nhanh chóng thành thạo và đạt kết quả cao Có hailoại năng lực: năng lực chung là những phẩm chất tâm lý cá nhân quân nhân,đảm bảo cho mọi lĩnh vực hoạt động nhanh chóng thành thạo và đạt hiệu quảcao Năng lực riêng là những phẩm chất tâm lý cá nhân đáp ứng cho một loại
Trang 39hoạt động nhất định, đảm bảo cho người quân nhân nhanh chóng thành thạo
và đạt hiệu quả cao trong lĩnh vực hoạt động đó Khí chất quân nhân là toàn
bộ những thuộc tính tâm lý cá nhân quân nhân gắn liền với các đặc điểm hoạtđộng thần kinh cấp cao, quy định động thái hoạt động tâm lý và hành vi củamỗi quân nhân Hiện nay, tâm lý học vẫn phân chia ra bốn kiểu khí chất cơbản là hăng hái (Sanguis) ; nóng nảy (Chole); bình thản (Phlema); ưu tư(Melanhole) Tương ứng với bốn kiểu khí chất này là bốn kiểu người: ngườihăng hái (sôi nổi), người nóng nảy, người bình thản, người ưu tư Mỗi kiểukhí chất đều có mặt mạnh và mặt hạn chế Do đó, trong đánh giá, xem xét, đối
xử với quân nhân phải tính đến đặc điểm khí chất của từng người, tránh nhầmlẫn để phát huy mọi khả năng của quân nhân, góp phần nâng cao sức mạnhcủa quân đội
Cấu trúc tâm lý của niềm tin, sự tổ chức, xắp xếp các thành tố chủ yếu
của niềm tin theo một trật tự và lôgic nhất định, đảm bảo cho các thành tố nàyliên hệ, tác động quy định lẫn nhau trong quá trình hình thành niềm tin, bao
gồm: kiến thức, tình cảm, ý chí Các thành tố này hòa quyện với nhau, trở thành một hợp kim bền vững của nhân cách Kiến thức của các cá nhân được thể hiện
dưới dạng các biểu tượng, khái niệm, phán đoán và các mối liên hệ giữa chúng.Quá trình hình thành kiến thức tuân theo quy luật của quá trình tâm lý nhận thức.Việc nắm kiến thức là khâu đầu tiên của quá trình chuyển hóa kiến thức thành
niềm tin Tình cảm là thái độ của con người đối với những điều đã được tiếp
nhận, đối với những biến đổi trong thế giới hiện thực xung quanh có liên quan
đến nhận thức của con người ý chí là hệ quả tất yếu của quá trình chủ thể lĩnh
hội sâu sắc tri thức bằng thái độ, cảm xúc tích cực, ở bình diện này tri thức đượctiếp nhận đã trở thành vũ khí hành động của con người, lúc này kiến thức đã biếnthành niềm tin cá nhân Nói đến niềm tin là nói đến sự hòa quyện một cách hữu
cơ của các thành tố kiến thức, tình cảm, ý chí của con người, là nói đến hành vi,
Trang 40hành động thực tiễn của con người Không có niềm tin thực sự nào lại không bộc
lộ ra trong hành động cụ thể của con người
Cấu trúc tâm lý sự thành thạo nghiệp vụ quân sự, các thành phần
tâm lý của sự thành thạo nghiệp vụ quân sự của quân nhân bao gồm: kiến thức,
kỹ xảo, kỹ năng Kiến thức là sự phản ánh hiện thực khách quan của con
người dưới dạng những hình ảnh, khái niệm, biểu tượng và mối quan hệgiữa chúng được giữ lại, củng cố trong trí nhớ Kiến thức của quân nhân làtoàn bộ những thông tin, những khái niệm biểu tượng về khoa học tự nhiên,khoa học xã hội, khoa học và nghệ thuật quân sự, được hình thành thông qua
huấn luyện, giáo dục trong lĩnh vực quân sự Kỹ xảo là những thủ pháp, cách
thức hành động đã được củng cố và tự động hóa Cơ sở sinh lý của hành động kỹxảo là hệ thống các phản xạ có điều kiện được sắp xếp theo một trình tự nhấtđịnh thành động hình trong não Tùy theo tính phức tạp của hành động người tachia ra kỹ xảo giản đơn, kỹ xảo phức tạp; dựa vào tính chất của hành động có:
kỹ xảo cảm giác, kỹ xảo vận động, kỹ xảo trí tuệ, kỹ xảo hành động tập thể Kỹ năng là trình độ vận dụng đúng đắn, sáng tạo các kiến thức, kỹ xảo đã có để giải
quyết các nhiệm vụ trong mọi điều kiện, tình huống khác nhau của hoạt độngquân sự Tùy theo tính chất đơn giản hay phức tạp của nhiệm vụ cần giải quyếtngười ta chia ra: kỹ năng đơn giản, kỹ năng phức tạp Kiến thức, kỹ xảo, kỹnăng có mối quan hệ chặt chẽ, kết hợp nhuần nhuyễn với nhau trong cấu trúctâm lý của sự thành thạo nghiệp vụ quân sự của quân nhân Sự thành thạonghiệp vụ quân sự cho phép quân nhân làm chủ được các loại phương tiện, vũkhí, kỹ thuật có trong tay, hoàn thành tốt nhất chức năng, nhiệm vụ trong mọiđiều kiện, hoàn cảnh của hoạt động quân sự
Cấu trúc tâm lý tính kỷ luật của quân nhân, hệ thống các mối liên
hệ ổn định giữa các thành phần cấu thành tâm lý tính kỷ luật của quân