Các vấn đề bản thể luận trong triết học Mác – Lênin và vận dụng của Đảng ta trong thực tiễn cách mạng Việt Nam. A. Vấn đề bản thể luận I Khái niệm về bản thể luận trước Mác. 1. Quan niệm về bản thể luận trong triết học phương Đông. 1.1. Quan niệm của triết học Trung Quốc cổ trung đại về bản thể luận: Với quan điểm duy vật chất phác và tư tưởng biện chứng tự phát, lấy tự nhiên để giải thích những gì thuộc về tự nhiên. Đây là quan niệm học thuyết về sự liên hệ, sự tác động của các yếu tố cơ bản có trong thế giới là âm và dương và ngũ hành là bản thể làm nên sự tồn tại của thế giới. Quan điểm về Đạo của Lão tử là quan điểm tiêu biểu của người Trung Quốc cổ đại về bản thể luận. Theo Lão tử, “Đạo” là cái có trước trời đất, trống không và lặng yên nhưng lại có ở mọi nơi, là nguồn gốc của vạn vật. Nó là sự thống nhất của thế giới, là bản nguyên sâu kín, huyền diệu mà từ đó vạn vật có danh tính, có hình thể được sinh ra. Đạo là thực thể vật chất của khối “hỗn độn”, “mập mờ”, “thấp thoáng” không có đặc tính, không có hình thể, nhìn không nhìn thấy, nghe không nghe thấy, bắt không bắt được, chẳng thể gọi tên. Nó tồn tại bất luận con người có nhận thức được hay không. 1.2. Quan niệm của triết học Ấn Độ cổ trung đại về bản thể luận. Các nhà triết học ở Ấn Độ cho rằng bản thể của thế giới chính là các vị thần có tính chất tự nhiên, vũ trụ tồn tại ba thế lực có liên hệ mật thiết với nhau là thiên giới, trần thế và địa ngục. Sớm nhất là trong khoảng thế kỷ VIII – VI trước Công Nguyên, bộ kinh Upanisad đã cho rằng bản nguyên tối cao bất diệt của thế giới là “tinh thần vũ trụ tối cao” Brahman, đó là thực thể duy nhất, có trước, tồn tại vĩnh viễn, bất diệt, là cái từ đó tất cả thế giới đều nảy sinh ra và nhập về nó sau khi chết. Ngoài ra có nhiều các trường phái khác nhau như phái Samkhya, trường phái Nyaya Vaisesika và Phật giáo. Một khái niệm khác của Phật giáo khi đề cập đến vấn đề bản thể luận là “không”. Và trong kinh Phật có cụm từ “sắc sắc không không” để nói về sự vô thường của cuộc sống. Vạn vật tự sinh tự diệt, chuyển biến không ngừng trong từng phút giây. 2. Quan niệm về bản thể luận trong triết học phương Tây. Khái niệm “bản thể luận” được xuất hiện ở thế kỷ XVII tại phương Tây. Khái niệm này liên hệ mật thiết và hữu cơ với quá trình hình thành triết học phương Tây tới mức chính nó, chính sự lý giải về nó đã tạo thành bản chất của phương pháp tư duy triết học Tây Âu. Trong mỗi thời kỳ, triết học Phương Tây lại có những nhà triết học tiêu biểu với nhiều quan niệm về “bản thể luận” khác nhau, điều đó đã tạo nên một bức tranh đầy màu sắc về triết học phương Tây. 2.1. Quan niệm của triết học Hy lạp cổ đại. Talet (624546 TCN) cố gắng đi tìm một nguồn gốc chung, một thực thể chung làm cơ sở của mọi vật. Đối với ông, thực thể đó chính là nước. Trong công cuộc đi tìm cách xây dựng “bản thể luận mới”, chúng ta phải kể đến Pitago (571497 TCN). Ông vừa là nhà triết học vừa là nhà toán học. Ông cho rằng bản nguyên thể giới là những con số. Con số là lực lượng chi phối toàn bộ thế giới theo một quy luật nhất định. Vì vậy, con số không chỉ là bản nguyên của toàn bộ sự vật mà còn là cơ sở của hiện tượng tinh thần. Con số tồn tại vĩnh viễn nên linh hồn cũng bất tử. Nó chỉ chuyển từ dạng này sang dạng khác. Tuy nhiên, uy luật toán học chỉ là một loại quy luật, ngoài ra còn rất nhiều những quy luật khác. Hêraclit (khoảng 530 470 TCN) được coi là đại biểu vĩ đại nhất của chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng. Ông quan niệm về bản thể luận của thế giới là lửa. Lửa là nguồn gốc của mọi sự trong vũ trụ, là cơ sở của linh hồn con người. Theo ông, cả vũ trụ là một ngọn lửa vĩnh hằng, khồng không bùng cháy và tàn lụi. Lửa trao đổi với tất cả và tất cả trao đổi với lửa. Cũng như chúng ta đổi hàng hóa vấy vàng và vàng thành hàng hóa. Đêmôcrit (460370TCN) đã tiếp tục con đường phân tích những cấu trúc của tồn tại, trong quan hệ của nó với nguyên tử. Theo Đê mô crits, cơ sở của thế giới vật chất là nguyên tử. Nguyên tử là các hạt vật chất nhỏ, không thể phân chia được và tồn tại vĩnh viễn. Tuy nhiên, các nguyên tử khác nhau về hình thức, trật tự và tư thế. Nguyên tử không những vô hạn về số lượng mà còn vô hạn về hình thức. Các nguyên tử không kết hợp với nhau tùy tiện , ngẫu nhiên mà theo trật tự nhất định. Sở dĩ các sự vật của thế giới khác nhau là do cấu tạo của nguyên tử khác nhau lại được sắp xếp theo những trật tự khác nhau và đặc biệt là ở những tư thế khác nhau. 2.2. Quan niệm triết học Tây Âu thời trung cổ. Tiêu biểu nhất trong thời kỳ này là nhà triết học Tômát Đacanh. Triết học của ông được nhờ Thiên Chúa coi là học thuyết duy nhất đúng đắn và làm hệ tư tưởng của mình. Về quan niệm về bản thể luận, ông cho rằng Thượng đế là cơ sở tồn tại của thế giới. 2.3. Quan niệm của triết học Tây Âu thời Phục hưng (TK1516). Về vấn đề bản thể luận trong thời kỳ này, có một nhà triết học tiêu biểu là Gioocđanô Bruno (15481600) ông là nhà triết học, đồng thời là nhà khoa học tự nhiên vĩ đại người Italia. Phạm trù trung tâm trong triết học của ông là Cái duy nhất (Uno). Uno chính là thượng đế tồn tại dưới dạng giới tự nhiên (Tự nhiên thần luận). Ông cũng đã kế thừa và chịu ảnh hưởng của Aritx tốt, ông cho rằng có sự thống nhất giữa vật chất và hình dạng trong Uno, mọi hình dạng chẳng qua chỉ là hình dạng của vật chất mà thôi. Ông cũng tiếp nhận tư tưởng về sự thống nhất vật chất của vũ trụ khi cho rằng: “mọi sự vật đều nằm trong vũ trụ và vũ trụ nằm trong tất cả mọi vật. Chúng ta ở trong vũ trụ và vũ trụ nằm trong chúng ta”. 2.4. Quan niệm của triết học Tây Âu thời kỳ cận đại (TK 1718). Một đại diện tiêu biểu của thời kỳ này là Phăngxi Bêcơn (15611626) người Anh. Ông là người đã kế thừa những tư tưởng duy vật cổ đại Hy Lạp trong quan niệm về thế giới, thể hiện ở chỗ ông thường xuyên trích dẫn và ca ngợi những nhà duy vật. Ông kịch liệt chống lại q
Trang 1MỤC LỤC
A Vấn đề bản thể luận 2
I- Khái niệm về bản thể luận trước Mác 2
1 Quan niệm về bản thể luận trong triết học phương Đông 2
1.1 Quan niệm của triết học Trung Quốc cổ trung đại về bản thể luận: 2
1.2 Quan niệm của triết học Ấn Độ cổ trung đại về bản thể luận 2
2 Quan niệm về bản thể luận trong triết học phương Tây 3
2.1 Quan niệm của triết học Hy lạp cổ đại 3
2.2 Quan niệm triết học Tây Âu thời trung cổ 4
2.3 Quan niệm của triết học Tây Âu thời Phục hưng (TK15-16) 4
2.4 Quan niệm của triết học Tây Âu thời kỳ cận đại (TK 17-18) 4
2.5 Quan niệm trong triết học cổ điển Đức (TK XVIII - nửa đầu TK XIX) 5
2 Bản thể luận là gì? 5
II Các vấn đề bản thể luận trong triết học Mác – Lênin 5
1 Cách tiếp cận, giải quyết vấn đề bản thể luận trong triết học Mác – Lênin 5
2 Quan niệm của triết học Mác – Lênin về vật chất 5
3 Quan niệm của triết học Mác - Lênin về bản chất của ý thức 6
B-Vận dụng của Đảng ta trong thực tiễn cách mạng Việt Nam 11
1 Nhận thức 11
2 Trong hoạt động thực tiễn 22
3 Vận dụng của Đảng ta trước thời kì đổi mới 26
4 Vận dụng của Đảng ta sau thời kì đổi mới 28
5 Một số vấn đề hạn chế 29
6 Giải pháp 31
Trang 2A Vấn đề bản thể luận
I- Khái niệm về bản thể luận trước Mác.
1 Quan niệm về bản thể luận trong triết học phương Đông.
1.1 Quan niệm của triết học Trung Quốc cổ trung đại về bản thể luận:
Với quan điểm duy vật chất phác và tư tưởng biện chứng tự phát, lấy tựnhiên để giải thích những gì thuộc về tự nhiên Đây là quan niệm học thuyết về
sự liên hệ, sự tác động của các yếu tố cơ bản có trong thế giới là âm và dương vàngũ hành là bản thể làm nên sự tồn tại của thế giới
Quan điểm về Đạo của Lão tử là quan điểm tiêu biểu của người TrungQuốc cổ đại về bản thể luận Theo Lão tử, “Đạo” là cái có trước trời đất, trốngkhông và lặng yên nhưng lại có ở mọi nơi, là nguồn gốc của vạn vật Nó là sựthống nhất của thế giới, là bản nguyên sâu kín, huyền diệu mà từ đó vạn vật códanh tính, có hình thể được sinh ra Đạo là thực thể vật chất của khối “hỗn độn”,
“mập mờ”, “thấp thoáng” không có đặc tính, không có hình thể, nhìn không nhìnthấy, nghe không nghe thấy, bắt không bắt được, chẳng thể gọi tên Nó tồn tạibất luận con người có nhận thức được hay không
1.2 Quan niệm của triết học Ấn Độ cổ trung đại về bản thể luận.
Các nhà triết học ở Ấn Độ cho rằng bản thể của thế giới chính là các vịthần có tính chất tự nhiên, vũ trụ tồn tại ba thế lực có liên hệ mật thiết với nhau
là thiên giới, trần thế và địa ngục Sớm nhất là trong khoảng thế kỷ VIII – VItrước Công Nguyên, bộ kinh Upanisad đã cho rằng bản nguyên tối cao bất diệtcủa thế giới là “tinh thần vũ trụ tối cao” Brahman, đó là thực thể duy nhất, cótrước, tồn tại vĩnh viễn, bất diệt, là cái từ đó tất cả thế giới đều nảy sinh ra vànhập về nó sau khi chết Ngoài ra có nhiều các trường phái khác nhau như pháiSamkhya, trường phái Nyaya Vaisesika và Phật giáo
Một khái niệm khác của Phật giáo khi đề cập đến vấn đề bản thể luận là
“không” Và trong kinh Phật có cụm từ “sắc sắc không không” để nói về sự vôthường của cuộc sống Vạn vật tự sinh tự diệt, chuyển biến không ngừng trongtừng phút giây
Trang 32 Quan niệm về bản thể luận trong triết học phương Tây.
Khái niệm “bản thể luận” được xuất hiện ở thế kỷ XVII tại phương Tây.Khái niệm này liên hệ mật thiết và hữu cơ với quá trình hình thành triết họcphương Tây tới mức chính nó, chính sự lý giải về nó đã tạo thành bản chất củaphương pháp tư duy triết học Tây Âu Trong mỗi thời kỳ, triết học Phương Tâylại có những nhà triết học tiêu biểu với nhiều quan niệm về “bản thể luận” khácnhau, điều đó đã tạo nên một bức tranh đầy màu sắc về triết học phương Tây
2.1 Quan niệm của triết học Hy lạp cổ đại.
Ta-let (624-546 TCN) cố gắng đi tìm một nguồn gốc chung, một thực thểchung làm cơ sở của mọi vật Đối với ông, thực thể đó chính là nước
Trong công cuộc đi tìm cách xây dựng “bản thể luận mới”, chúng ta phải
kể đến Pi-ta-go (571-497 TCN) Ông vừa là nhà triết học vừa là nhà toán học.Ông cho rằng bản nguyên thể giới là những con số Con số là lực lượng chi phốitoàn bộ thế giới theo một quy luật nhất định Vì vậy, con số không chỉ là bảnnguyên của toàn bộ sự vật mà còn là cơ sở của hiện tượng tinh thần Con số tồntại vĩnh viễn nên linh hồn cũng bất tử Nó chỉ chuyển từ dạng này sang dạngkhác Tuy nhiên, uy luật toán học chỉ là một loại quy luật, ngoài ra còn rất nhiềunhững quy luật khác
Hê-ra-clit (khoảng 530 - 470 TCN) được coi là đại biểu vĩ đại nhất của chủnghĩa duy vật và phép biện chứng Ông quan niệm về bản thể luận của thế giới
là lửa Lửa là nguồn gốc của mọi sự trong vũ trụ, là cơ sở của linh hồn conngười Theo ông, cả vũ trụ là một ngọn lửa vĩnh hằng, khồng không bùng cháy
và tàn lụi Lửa trao đổi với tất cả và tất cả trao đổi với lửa Cũng như chúng tađổi hàng hóa vấy vàng và vàng thành hàng hóa
Đê-mô-crit (460-370TCN) đã tiếp tục con đường phân tích những cấu trúccủa tồn tại, trong quan hệ của nó với nguyên tử Theo Đê - mô crits, cơ sở củathế giới vật chất là nguyên tử Nguyên tử là các hạt vật chất nhỏ, không thể phânchia được và tồn tại vĩnh viễn Tuy nhiên, các nguyên tử khác nhau về hìnhthức, trật tự và tư thế Nguyên tử không những vô hạn về số lượng mà còn vôhạn về hình thức Các nguyên tử không kết hợp với nhau tùy tiện , ngẫu nhiên
Trang 4mà theo trật tự nhất định Sở dĩ các sự vật của thế giới khác nhau là do cấu tạocủa nguyên tử khác nhau lại được sắp xếp theo những trật tự khác nhau và đặcbiệt là ở những tư thế khác nhau.
2.2 Quan niệm triết học Tây Âu thời trung cổ.
Tiêu biểu nhất trong thời kỳ này là nhà triết học Tô-mát Đa-canh Triết họccủa ông được nhờ Thiên Chúa coi là học thuyết duy nhất đúng đắn và làm hệ tưtưởng của mình Về quan niệm về bản thể luận, ông cho rằng Thượng đế là cơ
sở tồn tại của thế giới
2.3 Quan niệm của triết học Tây Âu thời Phục hưng (TK15-16).
Về vấn đề bản thể luận trong thời kỳ này, có một nhà triết học tiêu biểu làGiooc-đa-nô Bru-no (1548-1600) ông là nhà triết học, đồng thời là nhà khoa học
tự nhiên vĩ đại người Italia Phạm trù trung tâm trong triết học của ông là Cáiduy nhất (Uno) Uno chính là thượng đế tồn tại dưới dạng giới tự nhiên (Tựnhiên thần luận) Ông cũng đã kế thừa và chịu ảnh hưởng của Aritx- tốt, ông chorằng có sự thống nhất giữa vật chất và hình dạng trong Uno, mọi hình dạngchẳng qua chỉ là hình dạng của vật chất mà thôi Ông cũng tiếp nhận tư tưởng về
sự thống nhất vật chất của vũ trụ khi cho rằng: “mọi sự vật đều nằm trong vũ trụ
và vũ trụ nằm trong tất cả mọi vật Chúng ta ở trong vũ trụ và vũ trụ nằm trongchúng ta”
2.4 Quan niệm của triết học Tây Âu thời kỳ cận đại (TK 17-18).
Một đại diện tiêu biểu của thời kỳ này là Phăng-xi Bê-cơn (1561-1626)người Anh Ông là người đã kế thừa những tư tưởng duy vật cổ đại Hy Lạptrong quan niệm về thế giới, thể hiện ở chỗ ông thường xuyên trích dẫn và cangợi những nhà duy vật Ông kịch liệt chống lại quan điểm của triết học kinhviện về vật chất (thụ động, trừu tượng, chế cứng, không vận động, dùng trongtranh luận…) Ông đưa ra khái niệm “vật chất thứ nhất” để đối lập với khái niệmvật chất này của triết học kinh viện, trên cơ sở đó, ông đưa ra 19 dạng vận độngkhác nhau của “vật chất thứ nhất”
Nhà triết học thứ hai trong thời kỳ này là Rơ-nê Đê-các-tơ (1596-1654),nhà triết học và khoa học nổi tiếng người Pháp Khi giải quyết vấn đề cơ bản của
Trang 5triết học, Đê-các-tơ đứng trên lập trường nhị nguyên luận Ông thừa nhận có haithực thể vật chất và tinh thần tồn tại độc lập với nhau, cùng song song là nguồngốc của mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới.
2.5 Quan niệm trong triết học cổ điển Đức (TK XVIII - nửa đầu TK XIX).
Bản thể luận duy tâm cổ điển Đức chịu tác động của những điều kiện kinh
tế - xã hội và chính trị đương thời Trong khi Anh và Pháp tiến nhanh trên conđường tư bản chủ nghĩa thì nước Đức vẫn là một nước lạc hậu về kinh tế vàchính trị Vì giai cấp tư sản Đức yếu kém, không đủ khả năng nắm chính quyền,nên các nhà lý luận của giai cấp này là những nhà triết học duy tâm, sáng lập racác hệ thống triết học rất trừu tượng, tách khỏi đời sống thực tiễn
2 Bản thể luận là gì?
Bản thể luận là những lý luận nghiên cứu về bản chất của sự tồn tại
3 Đối với quan niệm của triết học thì bản thể luận chỉ sự tồn tại khác với thực tiễn luận chỉ sự tư duy.
II Các vấn đề bản thể luận trong triết học Mác – Lênin
1 Cách tiếp cận, giải quyết vấn đề bản thể luận trong triết học Mác – Lênin.
Gồm 4 vấn đề:
- Bản chất của thế giới là vật chất, thế giới thống nhất ở tính vật chất
- Chỉ có một thế giới duy nhất và thống nhất mọi sự vật hiện tượng lại vớinhau đó là thế giới vật chất
- Mọi bộ phận của thế giới vật chất đều có mối liên hệ chặt chẽ với nhau
- Thế giới vật chất tồn tại vĩnh viễn, vô hạn và vô tận
2 Quan niệm của triết học Mác – Lênin về vật chất.
• Đối với Lê nin, vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tạikhách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác phảnánh lại và tồn tại lệ thuộc vào cảm giác
• Vật chất tồn tại khách quan bên ngoài ý thức của con người và khôngphụ thuộc vào ý thức
Trang 6• Con người có khả năng cảm giác được tồn tại khách quan của vật chất(không thể cảm giác)
• Ý thức của ông chỉ sự phản ánh thế giới hiện thực
3 Quan niệm của triết học Mác - Lênin về bản chất của ý thức.
Theo định nghĩa của triết học Mác - Lenin ý thức xuất hiện là có nguồngốc tự nhiên đồng thời là kết quả trực tiếp của thực tiễn xã hội- lịch sử- conngười, theo đó ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất khách quan vào bộ óc conngười và có sự cải biến và sáng tạo
Nguồn gốc của ý thức
Theo quan điểm của chủ nghĩa Lenin thì trong lịch sử triết học, vấn đềnguồn gốc, bản chất của ý thức là một trong những vấn đề trung tâm của cuộcđấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm
Nguồn gốc của ý thức bao gồm: nguồn tự nhiên và nguồn gốc xã hội
Về mặt tự nhiên
Ý thức là một thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ
óc người, là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ não người Nếu không có
sự tác động của thế giới khách quan vào bộ não người và không có bộ não ngườivới tính cách là cơ quan vật chất của ý thức thì sẽ không có ý thức Bộ nãongười và sự tác động của thế giới khách quan vào bộ não người là nguồn gốc tựnhiên của ý thức Các nhân tố bao gồm:
Bộ óc:
Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định rằng ý thức là thuộc tính của mộtdạng vật chất sống có tổ chức cao là bộ óc người Bộ óc người hiện đại là sảnphẩm của quá trình tiến hoá lâu dài về mặt sinh vật - xã hội và có cấu tạo rấtphức tạp, gồm khoảng 14 - 15 tỷ tế bào thần kinh Các tế bào này tạo nên nhiềumối liên hệ nhằm thu nhận, xử lý, dẫn truyền và điều khiển toàn bộ hoạt độngcủa cơ thể trong quan hệ với thế giới bên ngoài thông qua các phản xạ có điềukiện và không điều kiện
Trang 7Sự phản ánh:
Cũng theo chủ nghĩa Mác-Lênin, hoạt động ý thức con người diễn ra trên
cơ sở hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc người Sự phụ thuộc của ý thức vàohoạt động của bộ óc thể hiện ở chỗ khi bộ óc bị tổn thương thì hoạt động ý thức
sẽ bị rối loạn Tuy nhiên, nếu chỉ có bộ óc người mà không có sự tác động củathế giới bên ngoài để bộ óc phản ánh lại tác động đó thì cũng không thể có ýthức Phản ánh là thuộc tính chung, phổ biến của mọi đối tượng vật chất Phảnánh là năng lực giữ lại, tái hiện lại của hệ thống vật chất này những đặc điểmcủa hệ thống vật chất khác
Trong quá trình phát triển lâu dài của thế giới vật chất, thuộc tính phản ánhcủa vật chất cũng phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp:
1 Phản ánh vật lý: Là hình thức phản ánh đơn giản nhất ở giới vô sinh, thểhiện qua các quá trình biến đổi cơ, lý, hoá
2 Phản ánh sinh học: Là những phản ánh trong sinh giới trong giới hữusinh cũng có nhiều hình thức khác nhau ứng với mỗi trình độ phát triển của thếgiới sinh vật
3 Phản ánh ý thức: là hình thức cao nhất của sự phản ánh thế giới hiệnthực, ý thức chỉ nảy sinh ở giai đoạn phát triển cao của thế giới vật chất, cùngvới sự xuất hiện của con người
Mặt xã hội
Để ý thức có thể ra đời, bên những nguồn gốc tự nhiên thì điều kiện quyếtđịnh cho sự ra đời của ý thức là nguồn gốc xã hội, thể hiện ở vai trò của laođộng, ngôn ngữ và các quan hệ xã hội
“Sau lao động và cùng với lao động là ngôn ngữ đó là hai sức kích thích chủ yếu của sự chuyển biến bộ não loài vật thành bộ não loài người, từ tâm lý động vật thành ý thức”
-Engels-Lao động:
Trang 8Là hoạt động đặc thù của con người, là hoạt động bản chất người Đó làhoạt động chủ động, sáng tạo, có mục đích Lao động đem lại cho con ngườidáng đi thẳng đứng, giải phóng hai tay Điều này cùng với chế độ ăn có thịt đãthực sự có ý nghĩa quyết định đối với quá trình chuyển hoá từ vượn thành người,
từ tâm lý động vật thành ý thức
“Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người,
và như thế đến một mức độ và trên một ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói: Lao
động đã sáng tạo ra bản thân con người”
-Engels-Việc chế tạo ra công cụ lao động có ý nghĩa to lớn là con người đã có ýthức về mục đích của hoạt động biến đổi thế giới Thực chất của hoạt động laođộng là tác động vào thế giới khách quan, làm biến đổi thế giới nhằm thỏa mãnnhu cầu của con người Nhờ có lao động, bộ não con người được phát triển vàngày càng hoàn thiện, làm cho khả năng tư duy trừu tượng của con người ngàycàng cao Cũng là lao động ngay từ đầu đã liên kết con người lại với nhau trongmối liên hệ tất yếu, khách quan Mối liên hệ đó không ngừng được củng cố vàphát triển đến mức làm nảy sinh ở họ một nhu cầu "cần thiết phải nói với nhaumột cái gì đó" Và ngôn ngữ xuất hiện
Ngôn ngữ:
Theo quan điểm của triết học Mác - Lê nin thì ngôn ngữ là phương tiện đểcon người giao tiếp trong xã hội, là hệ thống tín hiệu thứ hai, là cái vỏ vật chấtcủa tư duy, là hình thức biểu đạt của tư tưởng Ngôn ngữ là yếu tố quan trọng đểphát triển tâm lý, tư duy của con người và xã hội loài người
Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng về bản chất, ý thức là sự phản ánhkhách quan vào trong bộ óc con người một cách năng động, sáng tạo
Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan:
Thể hiện rằng nội dung của ý thức do thế giới khách quan quy định Ý thức
là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan vì nó nằm trong bộ não con người
Ý thức là cái phản ánh thế giới khách quan nhưng nó là cái thuộc phạm vi chủquan, là thực tại chủ quan Ý thức không có tính vật chất, nó chỉ là hình ảnh tinh
Trang 9thần, gắn liền với hoạt động khái quát hóa, trừu tượng hóa, có định hướng, cólựa chọn ý thức là sự phản ánh thế giới bởi bộ não con người.
Ý thức là sự phản ánh sáng tạo thế giới:
- Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người,
là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Tuy nhiên, không phải cứ thế giớikhách quan tác động vào bộ óc người là tự nhiên trở thành ý thức Ngược lại, ýthức là sự phản ánh năng động, sáng tạo về thế giới, do nhu cầu của việc conngười cải biến giới tự nhiên quyết định và được thực hiện thông qua hoạt độnglao động
“Ý thức chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc con người và được cải biến đi trong đó”.
-Karl
Marx Sự phản ánh sáng tạo của ý thức biểu hiện ở sự cải biến cái vật chất dichuyển vào trong bộ não con người thành cái tinh thần, thành những hình ảnhtinh thần Sáng tạo của ý thức là sáng tạo của phản ánh, dựa trên cơ sở của phảnánh, trong khuôn khổ và theo tính chất, quy luật của phản ánh
- Tính sáng tạo của ý thức được thể hiện ra rất phong phú Trên cơ sởnhững cái đã có, ý thức có thể tạo ra tri thức mới về sự vật, có thể tưởng tượng
ra những cái không có trong thực tế Ý thức có thể tiên đoán, dự báo về tươnglai, có thể tạo ra những ảo tưởng, huyền thoại, những giả thuyết, lý thuyết khoahọc hết sức trừu tượng và có tính khái quát cao
- Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc người, songđây là sự phản ánh đặc biệt – phản ánh trong quá trình con người cải tạo thếgiới Quá trình ý thức là quá trình thống nhất của 3 mặt là: trao đổi thông tingiữa chủ thể và đối tượng phản ánh Tiếp đến là mô hình hóa đối tượng trong tưduy dưới dạng hình ảnh tinh thần và cuối cùng là chuyển mô hình từ tư duy rahiện thực khách quan
- Ý thức là sự phản ánh sáng tạo, vì phản ánh đó dù trực tiếp hay gián tiếp,
dù dười dạng ý tưởng thì bao giờ cũng phải dựa vào những tiền đề vật chất, dựatrên hoạt động thực tiễn nhất định Sự sáng tạo của ý thức không đối lập, loại
Trang 10trừ, tách rời sự phản ánh mà ngược lại thống nhất với phản ánh, trên cơ sở củaphản ánh.
- Phản ánh và sáng tạo là hai mặt thuộc bản chất của ý thức Ý thức –trong bất kỳ trường hợp nào cũng là sự phản ánh và chính thực tiễn xã hội củacon người tạo ra sự phản ánh phức tạp, năng động, sáng tạo của bộ óc
Ý thức là sản phẩm lịch sử của sự phát triển xã hội nên về bản chất là có tính xã hội:
- Ý thức không phải là một hiện tượng tự nhiên thuần túy mà là một hiệntượng xã hội Ý thức bắt nguồn từ thực tiễn lịch sử-xã hội, phản ánh những quan
hệ xã hội khách quan
“Ngay từ đầu, ý thức đã là một sản phẩm xã hội, và vẫn như vậy đến chừng nào con người còn tồn tại”.
-Karl Marx và
Engels-Theo Lenin thì nếu coi tư tưởng (ý thức) là có tính vật chất tức là một bướcsai lầm đến chỗ lẫn lộn chủ nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm
*Hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan:
Ý thức là “hình ảnh” về hiện thực khách quan trong óc người với nội
dung phản ánh là khách quan và hiện thực phản ánh là chủ quan
Ý thức là sự phản ánh tích cực sáng tạo gần với thực tiễn xã hội Trong
đó được chia thành:
- Trao đổi thông tin có lựa chọn
- Xây dựng vào học thuyết lý luận khoa học
- Thông qua hoạt động thực tiễn để cải tạo thực tiễn
- Ý thức mang bản chất lịch sử xã hội do điều kiện và quan hệ xã hộiquyết định
Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
Theo quan niệm của chủ nghĩa duy vật biện chứng thì vai trò của vật chấtđối với ý thức chính là
- Vật chất quyết định nguồn gốc của ý thức
Trang 11- Vật chất quyết định nội dung của ý thức
Đảng kiến định vận dụng, bổ sung, phát triển tư tưởng của chủ
nghĩa Mác – Lênin trong cuộc đổi mới ở Việt Nam.
Những tư tưởng của V.I. Lê-nin đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng tavận dụng đúng đắn, sáng tạo vào thực tế cách mạng Việt Nam Đặc biệt, trongthời kỳ đổi mới, Đảng ta đã nhận thức rõ luận điểm có tính phương pháp luậnhết sức sâu sắc của V.I. Lê-nin về mối quan hệ biện chứng giữa “tính phổ biến”
và “tính đặc thù” của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội: “Tất cả các dân tộc đều
sẽ đi lên chủ nghĩa xã hội, đó là điều không thể tránh khỏi, nhưng tất cả các dântộc đều tiến tới chủ nghĩa xã hội không phải một cách hoàn toàn giống nhau;mỗi dân tộc sẽ đưa đặc điểm của mình vào hình thức này hay hình thức khác củachế độ dân chủ, vào loại này hay loại khác của chuyên chính vô sản, vào nhịp độnày hay nhịp độ khác của việc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các mặt khácnhau của đời sống xã hội”
Dù hết sức kiên quyết, không ngừng bảo vệ, phát triển học thuyết Mác,nhưng chính V.I Lê-nin cũng nhiều lần nhấn mạnh: “Chúng ta không hề coi lýluận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại,chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những
người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống” Tinh thần đó của ông và những
người mác-xít sau này đã gợi mở cho Đảng ta về việc bổ sung, phát triển họcthuyết Mác - Lênin trong bối cảnh mới hiện nay
Trang 12Trong thời kỳ đổi mới, luận điểm của V.I Lê-nin về “phân tích cụ thể một
tình hình cụ thể, đó là bản chất, linh hồn sống của chủ nghĩa Mác” đã luôn được
Đảng ta quán triệt như một nguyên lý phương pháp luận khoa học và cách mạngcủa Đảng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, thể hiện trên nhữngphương diện chủ yếu sau:
o Thứ nhất, tư tưởng của V.I Lê-nin là cơ sở lý luận, được vận dụng kiên
định và sáng tạo, từng bước định hình con đường và bước quá độ lên chủ nghĩa
xã hội phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam.
Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã vận dụng và phát triển sáng tạo chủnghĩa Mác - Lênin cho phù hợp với điều kiện mới của Việt Nam, từ đó đã đúckết những luận điểm lý luận phù hợp với mô hình chủ nghĩa xã hội của ViệtNam Đó là những luận điểm lý luận về mục tiêu và đặc trưng của xã hội xã hộichủ nghĩa Việt Nam, về con đường lên chủ nghĩa xã hội của nước ta
Trong bước chuyển đổi từ “Chính sách cộng sản thời chiến” sang “Chínhsách kinh tế mới” vào mùa xuân năm 1921, V.I Lê-nin đã tự phê phán về nhữngsai lầm nghiêm trọng khi coi thường quy luật khách quan và yêu cầu cần thayđổi căn bản những quan niệm, tư duy trước đây về chủ nghĩa xã hội Lĩnh hộitinh thần đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12-1986) đã
tạo ra bước ngoặt trong đổi mới tư duy về con đường lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Phương châm “Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự
thật”, xuất phát từ thực tiễn, tôn trọng quy luật khách quan là khởi nguồn cho
những sáng tạo của Đảng khi xác định mô hình và bước đi trong quá trình xâydựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Đại hội thừa nhận sự tồn tại khách quan củanền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần trong buổi đầu thời kỳ quá độ Nhữngquan điểm đổi mới về tư duy kinh tế nêu trên Hội nghị Trung ương 6 khóa VI(3-1989) khẳng định và bổ sung với những bước tiến mới Từ kinh nghiệm của 5
năm đổi mới, Đại hội VII của Đảng (6-1991) đã thông qua Cương lĩnh xây dựng
đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Cương lĩnh đã xác định sáu đặc trưng cơ bản của chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Trang 13So với sáu đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà Cương lĩnh xây dựng
đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) đã nêu ra, Đại
hội X đã bổ sung hai đặc trưng là xây dựng “xã hội dân giàu, nước mạnh, côngbằng, dân chủ, văn minh” và “có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa củanhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản” Đạihội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (tháng 1-2011) tiếp tục bổ sung và
phát triển Cương lĩnh cho phù hợp với thực tiễn công cuộc xây dựng chủ nghĩa
xã hội ở nước ta, trong đó có những đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa ViệtNam
Cương lĩnh năm 1991 đã vạch ra bảy phương hướng cơ bản của quá trình
xây dựng xã hội mới theo những đặc trưng được xác định Sau 20 năm thực
hiện Cương lĩnh năm 1991, từ việc tổng kết thực tiễn công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã bổ sung, phát triển
nhận thức về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, thể hiện ở tám phương hướng
cơ bản nhằm thực hiện thành công mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá
độ là xây dựng được về cơ bản nền tảng kinh tế của chủ nghĩa xã hội và kiếntrúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hóa phù hợp, tạo cơ sở để đưa ViệtNam trở thành một nước xã hội chủ nghĩa ngày càng phồn vinh, hạnh phúc.Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Ðảng (tháng 1-2016) tiếp tụckhẳng định và phân tích sâu sắc hơn tám đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam cho phù hợp hơn với thực tiễn, bối cảnh mới Đại hội XII rút ra ba kết
luận quan trọng: 1- Những thành tựu đó tạo tiền đề, nền tảng quan trọng để nước
ta tiếp tục đổi mới và phát triển mạnh mẽ trong những năm tới; 2- Những thànhtựu đó khẳng định đường lối đổi mới của Đảng là đúng đắn, sáng tạo; 3- Những
thành tựu đó khẳng định con đường lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp
với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử.
Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đến nay, Đảng ta đã nhận thức lại,thấm nhuần quan điểm thực tiễn, lịch sử - cụ thể và phát triển nhằm khắc phụcnhững cách hiểu, cách nghĩ, cách làm giản đơn, siêu hình, giáo điều, duy ý chí,trái quy luật khách quan về thời kỳ trước đổi mới, theo đúng tinh thần của V.I.
Trang 14Lê-nin Đổi mới, do đó, không phải là xa rời hay từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin,
phủ nhận chủ nghĩa xã hội khoa học mà trái lại, là sự nhận thức đúng đắn và đầy đủ hơn, là sự phát triển sáng tạo hơn nữa bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, của chủ nghĩa xã hội khoa học để tiến hành xây
dựng chủ nghĩa xã hội một cách có căn cứ khoa học và thực tiễn
o Thứ hai, tư tưởng của V.I Lê-nin về NEP là cơ sở nền tảng để Đảng ta
phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa - sự phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào thực tiễn Việt Nam trong bối cảnh mới
V.I Lê-nin đã bổ sung, cụ thể hóa lý luận Mác về thời kỳ quá độ bằng thời
kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, tập trung phân tích về quá
độ trong kinh tế V.I. Lê-nin đã chỉ ra năm thành phần kinh tế nước Nga đươngthời, đồng thời chủ trương thực hiện “những bước quá độ nhỏ”, bắc những
“chiếc cầu nhỏ” để đi lên chủ nghĩa xã hội Trong “Chính sách kinh tế mới”, cơchế thị trường được sử dụng để kích thích sản xuất, kêu gọi đầu tư tư bản dưới
sự định hướng, kiểm soát của Nhà nước; lợi ích của các chủ thể được quan tâm
đã có tác dụng phục hồi lực lượng sản xuất nhanh chóng, thúc đẩy kinh tế pháttriển, đời sống của công nhân, nông dân được cải thiện Nhờ có chính sách này
mà đến cuối năm 1925, về cơ bản, Liên Xô đã hoàn thành việc khôi phục nềnkinh tế quốc dân
Theo tinh thần NEP của V.I Lê-nin, Đại hội VI đã đề ra đường lối đổi mới,trong đó có đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nhằm tạo ra động lực thúc đẩy cácđơn vị kinh tế và quần chúng lao động hăng hái phát triển sản xuất, nâng caonăng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế Tuy nhiên, phải 15 năm sau, kháiniệm “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” mới chính thức được xácđịnh từ Đại hội IX của Đảng (năm 2001) Đến Đại hội XII (năm 2016), ĐảngCộng sản Việt Nam đã có bước phát triển tư duy rất rõ nét về kinh tế thị trườngkhi xác định đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa Đại hội XII xác định, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩaViệt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tếthị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng
Trang 15giai đoạn phát triển của đất nước, là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhậpquốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do ĐảngCộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ,công bằng, văn minh”.
Như vậy, từ sự thúc bách của cuộc sống, từ nghiên cứu kinh nghiệm củacác nước trong quá trình đổi mới cũng như nghiên cứu kế thừa tư tưởng các nhàkinh điển của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, Đảng ta đã thực hiện đổi mới, sáng tạothừa nhận kinh tế nhiều thành phần, chấp nhận cơ chế thị trường và khẳng định
nó không đối lập với chủ nghĩa xã hội, thực hiện phát triển nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa Chính V.I Lê-nin cũng đã từng nhấnmạnh: “Chúng ta không hình dung một thứ chủ nghĩa xã hội nào khác hơn làchủ nghĩa xã hội dựa trên cơ sở tất cả những bài học mà nền văn minh lớn củachủ nghĩa tư bản đã thu được”
Thứ ba, các nguyên lý của chủ nghĩa Mác, đặc biệt là tư tưởng của V.I Lê-nin được Đảng ta vận dụng, phát triển vào xây dựng, củng cố liên minh giai cấp và đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sức mạnh của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội
Trong giai đoạn lãnh đạo Cách mạng Tháng Mười, V.I Lê-nin đã vận dụngsáng tạo những quan điểm của C Mác và Ph Ăng-ghen về liên minh giai cấpvào thực tiễn cách mạng nước Nga và xây dựng được liên minh giai cấp công -nông bền vững, góp phần to lớn vào thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười và sựnghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội Đặc biệt, V.I Lê-nin còn nhiều lần nhấnmạnh tới vai trò của trí thức và khẳng định, muốn thu hút họ vào công cuộc xâydựng chủ nghĩa xã hội thì cần phải “đảm bảo cho các người trí thức những điềukiện lao động tốt nhất”
Tư tưởng của V.I Lê-nin được Đảng ta nghiên cứu thấu đáo, rút ra nhữngkinh nghiệm quý báu để xây dựng liên minh giai cấp, tầng lớp ở nước ta trongthời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là từ khi khởi xướng công cuộc đổi
mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Cương lĩnh năm 1991 rất coi
trọng việc thực hiện liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và
Trang 16đội ngũ trí thức, do giai cấp công nhân lãnh đạo với ý nghĩa là nền tảng chính trị
- xã hội của Nhà nước của dân, do dân, vì dân, là nền tảng của khối đại đoàn kếttoàn dân tộc
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam (năm2001) không chỉ tiếp tục khẳng định tính tất yếu của liên minh công - nông - tríthức trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa,
mà còn đặc biệt coi trọng vấn đề này, coi đây là động lực quan trọng trong quátrình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đại hội chỉ rõ: “Độnglực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minhgiữa công nhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo
Kế thừa và phát triển tinh thần đó trong bối cảnh mới, các Văn kiện Đại hộiđại biểu toàn quốc lần thứ X, XI và XII đều tiếp tục khẳng định vai trò, tính tấtyếu của liên minh giữa giai cấp công nhân, nông dân và đội ngũ trí thức đối vớiviệc củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và đối với sự nghiệp xây dựng chủnghĩa xã hội ở Việt Nam, có bổ sung những quan điểm, định hướng và giải phápmới
o Thứ tư, tư tưởng của V.I Lê-nin về Đảng Cộng sản kiểu mới đã được
vận dụng sáng tạo, đem lại những thành tựu trong xây dựng và củng cố vai trò Đảng Cộng sản cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội ở Việt Nam - nhân tố quan trọng hàng đầu bảo đảm cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đi đến thắng lợi.
Khi Đảng Cộng sản trở thành đảng cầm quyền thì năng lực lãnh đạo và sứcchiến đấu của Đảng phụ thuộc rất nhiều vào kỷ luật đảng và phẩm chất tiền
phong của đảng viên Tháng 5-1920, trong tác phẩm “Bệnh ấu trĩ “tả khuynh”
trong phong trào cộng sản”, V.I Lê-nin viết: “Những người Bôn-sê-vích sẽ
không giữ được chính quyền, tôi không nói được tới hai năm rưỡi, mà ngay cảđến hai tháng rưỡi cũng không được nữa, nếu đảng ta không có kỷ luật hết sứcnghiêm minh, kỷ luật sắt thật sự” Theo ông, có ba kẻ thù chính mà người cộng
sản của đảng cầm quyền phải kiên quyết đấu tranh là “tính kiêu ngạo cộng sản
chủ nghĩa; nạn mù chữ, sự ngu dốt, cản trở việc giáo dục chính trị và nạn hối
Trang 17lộ, tham nhũng” Thấm nhuần sâu sắc những tư tưởng này của V.I. Lê-nin, kể
từ khi thành lập đến nay, Đảng ta luôn đặc biệt coi trọng công tác xây dựngĐảng Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị về xây dựng, chỉnh đốn Đảng
Đó là cơ sở, tiền đề vững chắc bảo đảm cho Đảng luôn trong sạch, vững mạnh,hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình
Gần 35 năm qua, nhất là trong 10 năm gần đây, nhận thức về công tác xâydựng Đảng có nhiều đổi mới Đảng ta nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắchơn vị trí của công tác xây dựng Đảng Đảng ta luôn khẳng định xây dựng Đảng
là nhiệm vụ then chốt, là vấn đề sống còn đối với sự nghiệp cách mạng
Nhận thức của Đảng ta về công tác xây dựng Đảng ngày càng đầy đủ,khách quan và khoa học; thể hiện sự vận dụng sáng tạo những nguyên tắc củachủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng Đảng - đội tiền phong của giai cấp côngnhân - phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam Đảng ta đã thực hiện lời dihuấn của V.I Lê-nin là phải dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng và các đoàn
thể chính trị - xã hội; đó phải là những tổ chức bộ máy phục vụ chính trị chứ
chính trị không phục vụ bộ máy Theo V.I Lê-nin, chính trị được đề cập ở đâychính là cuộc sống của nhân dân, lợi ích của nhân dân, là số phận của hàng triệutriệu con người
o Thứ năm, Đảng ta vận dụng tư tưởng của V.I Lê-nin trong xây dựng
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là trong nhận diện và xử lý mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ.
Sau khi Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, vấn đề xác định và phânđịnh nhiệm vụ lãnh đạo của Đảng với nhiệm vụ quản lý của Nhà nước được V.I.Lê-nin quan tâm và chỉ rõ: Chừng nào mà Ban Chấp hành Trung ương Đảng vàtoàn Đảng còn tiếp tục làm công tác quản lý hành chính, nghĩa là quản lý nhànước thì Đảng không thể gọi là người lãnh đạo được Năm 1922, V.I Lê-nin chorằng, giữa Đảng và các cơ quan Xô-viết hiện nay có những quan hệ không đúngđắn và phải nâng cao uy quyền của Hội đồng dân ủy Vào những ngày thángcuối đời, V.I. Lê-nin trăn trở rất nhiều về việc cải tổ bộ máy nhà nước Ông chỉ
ra tình trạng bộ máy nhà nước vẫn ngày càng cồng kềnh, nặng nề; chức năng và