Chủ nghĩa Mác – Lê nin ra đời không phải là hiện tượng ngẫu nhiên, mà đó là sự phát triển tất yếu của lịch sử, tương ứng với sự phát triển củ xã hội loài người. Với việc kiến tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử mà hạt nhân là học thuyết về hình thái kinh tếxã hội đã mang lại cho triết học Mác một diện mạo mới, đã tạo nên bước ngoặc cách mạng trong lịch sử tư tưởng triết học nhân loại trong xem xét, nhận thức và cải tạo xã hội. Chủ nghĩa duy vật lịch sử ra đời là một đòn dáng mạnh vào chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo; nó như búa thép của ánh hào quang đập vỡ các quan điểm duy tâm và đánh đuổi chủ nghĩa duy tâm ra khỏi căn hầm trú ngụ cuối cùng là lĩnh vực xã hội, làm cho triết học Mác trở thành triết học hoàn bị.
Trang 1MỤC LỤC
Trang
Trang 2PHẦN I: MỞ ĐẦU
Chủ nghĩa Mác – Lê nin ra đời không phải là hiện tượng ngẫu nhiên,
mà đó là sự phát triển tất yếu của lịch sử, tương ứng với sự phát triển củ xãhội loài người Với việc kiến tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử mà hạt nhân làhọc thuyết về hình thái kinh tế-xã hội đã mang lại cho triết học Mác một diệnmạo mới, đã tạo nên bước ngoặc cách mạng trong lịch sử tư tưởng triết họcnhân loại trong xem xét, nhận thức và cải tạo xã hội Chủ nghĩa duy vật lịch
sử ra đời là một đòn dáng mạnh vào chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo; nó như búathép của ánh hào quang đập vỡ các quan điểm duy tâm và đánh đuổi chủnghĩa duy tâm ra khỏi căn hầm trú ngụ cuối cùng là lĩnh vực xã hội, làm chotriết học Mác trở thành triết học hoàn bị Kể từ đây nhận thức của nhân loại
về thế giới nói chung và xã hội loài người nói riêng thoát khỏi hoàn toàn sự lệthuộc vào các quan điểm duy tâm thần bí, sự vận động và phát triển của xãhội được tuân theo những qui luật khách quan, được biểu hiện trong họcthuyết về hình thái kinh tế -xã hội - nội dung cơ bản cốt lõi của chủ nghĩa duyvật lịch sử Theo Mác sự vận động và phát triển của các hình thái kinh tế - xã
là một quá trình lịch sử tự nhiên thông qua hệ thống các qui luật như; qui luậtquan hệ sản xuất phù hợp với tính chất trình độ của lực lượng sản xuất, quiluật cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng, qui luật đấu tranh giaicấp… Trong đó sự phát triển của lực lượng sản xuất là yếu tố suy đến cùngquyết định sự vận động phát triển của xã hội Đây chính là qui luật cơ bản suyđến cùng quyết định sự vận động phát triển của xã hội loài người, do vậynhận thức đúng qui luật này sẽ trang bị cho chúng ta có phương pháp xem xétđánh giá khoa học trong nghiên cứu về xã hội, đồng thời nó cung cấp nhữngluận cứ khoa học trong việc nhận thức và luận giải các vấn đề kinh tế xã hội
Trang 3đang diễn ra trong thời đại ngày nay, nhất là cuộc cách mạng công nghiệp 4.0đang phát riển như vũ bão.
Mục tiêu nghiên cứu:
Nghiên cứu các vấn đề cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lê nin về mốiliên hệ giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất, vận dụng mối quan hệnày vào thực tiễn cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra ở Việt Namhiện nay
PHẦN II: NỘI DUNG MỐI QUAN HỆ GIỮA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN XUẤT
1.1 Phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu xã hội của triết học Mác.
Các quan điểm, trường phái triết học trước Mác tuy có lấy xã hội làmđối tượng nghiên cứu song chỉ dừng lại ở mức độ giải thích sự tồn tại của xãhội theo những quan điểm khác nhau và đều rơi vào chủ nghĩa duy tâm tôngiáo Mặc dù chủ nghĩa duy vật trước Mác đã đóng một vai trò to lớn đối với
sự phát triển của xã hội, của khoa học và triết học Tuy nhiên, đó là chủ nghĩaduy vật không triệt để Nghĩa là nó chỉ duy vật trong giải thích thế giới tựnhiên, nhưng còn duy tâm trong giải thích xã hội, lịch sử, tinh thần Do vậy,chủ nghĩa duy vật trước C.Mác đã không đánh đổ được chủ nghĩa duy tâmmột cách hoàn toàn Chủ nghĩa duy tâm vẫn còn nơi ẩn trú của nó là lĩnh vực
xã hội, lịch sử, tinh thần Chủ nghĩa duy vật của C.Mác đã giải thích một cáchduy vật, khoa học không chỉ thế giới tự nhiên, mà cả lĩnh vực xã hội, lịch sử,tinh thần Điều đó không có nghĩa là triết học phương tây trước Mác là sai trái
là vô giá trị mà nó vẫn là cơ sở, nguồn gốc lý luận cho sự ra đời và thành côngcủa triết học Mác Lịch sử triết học phương tây trước Mác khởi đầu từ triếthọc Hi Lạp cổ đại vào khoảng thế kỷ thứ VI trước công nguyên và kết thúc ởnền triết học cổ điển Đức vào những năm 40 của thế kỷ XIX tồn tại khoảng
2500 năm Bao gồm những trường phái, trào lưu, học thuyết của các triết giaphương tây, phản ánh hệ thống quan điểm thế giới quan và phương pháp luận
Trang 4về các vấn đề tự nhiên-xã hội- tư duy Trong đó bao hàm các hệ thống triếthọc duy vật, triết học duy tâm, phép biện chứng và phép siêu hình qua đó thểhiện rõ tính kế thừa và phát triển của tư tưởng triết học xuyên suốt chiều dàilịch sử trở thành hạt nhân lý luận của hệ tư tưởng các giai cấp thống trị, phảnánh sinh động những biến đổi thăng trầm trong sự vận động, biến đổi, pháttriển của xã hội phương tây Ngay từ khi mới ra đời cho đến khi hoàn thành
sứ mệnh lịch sử của mình triết học phương tây trước Mác đã thực sự trở thànhhạt nhân lý luận của các hệ tư tưởng của các giai cấp đóng vai trò tiến bộ lịch
sử, vì vậy họ cần đến thế giới quan duy vật vô thần gắn chặt với khoa học tựnhiên và tư tưởng biện chứng vì lẽ đó mà thành tựu cơ bản của triết họcphương tây trước Mác là chủ nghĩa duy vật gắn chặt với khoa học tư nhiên,làm cho triết học phương tây trước Mác thực sự là loại hình triết học tự nhiên,
ở đó giới tự nhiên là đối tượng, là trung tâm nghiên cứu của mọi vấn đề triếthọc Trong khi đó các vấn đề về chính trị, xã hội và nhân văn có đặt ra cũngnhư cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật chống chủ nghĩa duy tâm, giữaphép biện chứng với phép siêu hình, giữa khoa học và tôn giáo có diễn rathậm chí là quyết liệt trong những giai đoạn lịch sử nhất định, song bao trùmvẫn là quyền uy, sự thắng thế của thế giới quan duy vật vô thần gắn chặt vớikhoa học tự nhiên tạo nên bức tranh về triết học-văn hóa-xã hội đa màu, đasắc Do tính bút chiến, tính phê phán của triết học phương tây trước Mác là rất
rõ ràng, đồng thời tư tưởng biện chứng với tư cách là phương pháp tư duytriết học ra đời và cùng tồn tại với phép siêu hình ở triết học phương tây trướcMác, theo đó cuộc đấu tranh giữa hai phương pháp tư duy này cùng với cuộcđấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm, giữa khoa học vớitôn giáo đã khẳng định rõ con người có khả năng nhận thức được thế giới,giải thích và cải tạo thế giới Các lý luận, tư tưởng của các thời kỳ trở thànhvòng khâu kế tiếp nói lên sự vận động, phát triển không ngừng của các tưtưởng triết học cho đến khi có sự xuất hiện của tác phẩm “Tuyên ngôn Đảngcộng sản” vào tháng 02 năm 1848 đã đánh dấu chấm hết cho sự thống trị của
Trang 5triết học phương tây trước Mác Chính sự đa dạng sắc thái và thành tựu củatriết học phương tây trước Mác đã góp phần quan trọng trong hình thànhphương pháp tiếp cận nghiên cứu và thành công trong nghiên cứu vấn đề xãhội của triết học Mác.
Khác với các nhà triết học trước đó Mác đã nghiên cứu xã hội bắt đầu
từ nền sản xuất vật chất, coi sản xuất vật chất là cơ sở của sự tồn tại và pháttriển của xã hội mà trong đó sự tồn tại của con người với tư cách là chủ thểsáng tạo ra toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần Vận dụng triết học duy vậtbiện chứng vào việc xem xét xã hội, nghiên cứu lịch sử hình thành và pháttriển xã hội loài người, Mác không chỉ làm cho chủ nghĩa duy vật trở nênhoàn bị, triệt để, mà còn hơn thế nữa, sáng lập ra chủ nghĩa duy vật lịch sửvới tư cách một cuộc cách mạng trong toàn bộ quan niệm về lịch sử xã hộicủa thế giới Khi khẳng định chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác là thành
tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học, Lênin đã coi đó là “một lý luận khoa học hết sức hoàn chỉnh và chặt chẽ Lý luận này đã thay thế cho sự lộn xộn
và sự tùy tiện, vẫn ngự trị từ trước tới nay trong các quan niệm về lịch sử
và chính trị, đồng thời chỉ cho chúng ta thấy rằng, do chỗ lực lượng sản xuất lớn lên, thì từ một hình thức tổ chức đời sống xã hội này, nảy ra và phát triển lên như thế nào một hình thức tổ chức đời sống xã hội khác, cao hơn"1 Với việc phát hiện ra quan niệm duy vật về lịch sử, Mác không chỉloại bỏ được khiếm khuyết căn bản của những lý luận lịch sử trước đó và
"lần đầu tiên giúp chúng ta nghiên cứu một cách chính xác như khoa lịch
sử tự nhiên, những điều kiện xã hội của đời sống quần chúng và những biến đổi của những điều kiện ấy, mà còn mở đường cho việc nghiên cứu rộng rãi và toàn diện quá trình phát sinh, phát triển và suy tàn của các hình thái kinh tế xã hội"2 Khi nghiên cứu một xã hội cụ thể - xã hội tư bảnvới quan niệm này, Mác đã khám phá ra các quy luật của sự phát triển xã
hội, xây dựng nên học thuyết về hình thái kinh tế - xã hội và quan niệm về
sự phát triển xã hội với tư cách một quá trình lịch sử - tự nhiên Đúng như
Trang 6Lênin đã chỉ rõ, khi nghiên xã hội tư bản với tư cách một chỉnh thể xã hội,Mác đã làm nổi bật riêng lĩnh vực kinh tế và trong tất cả mọi quan hệ xãhội, làm nổi bật riêng những quan hệ sản xuất, coi đó là những quan hệ cơbản, ban đầu và quyết định tất cả mọi quan hệ khác; đồng thời, đem quynhững quan hệ xã hội vào những quan hệ sản xuất, và đem quy những quan
hệ sản xuất vào trình độ của những lực lượng sản xuất Bằng cách đó,
Lênin khẳng định, C.Mác đã "có được một cơ sở vững chắc để quan niệm
sự phát triển của những hình thái xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên"3 Trong toàn bộ lịch sử tư tưởng xã hội, Lênin nhấn mạnh, quan niệm
duy vật về lịch sử của C.Mác là một "quan niệm khoa học duy nhất về lịch
sử, một nguyên lý đã được chứng minh một cách khoa học và do vậy, tư tưởng coi sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên của ông, tự bản thân nó, cũng đã là một tư tưởng thiên tài rồi"4 Trong khi quan niệm khoa học về xã hội thì triết học Mác đãnghiên cứu và giải quyết đúng đắn về vấn đền con người và vai trò của conngười trong xã hội đó với tư cách là một bộ phận quan trọng cấu thành lựclượng sản xuất Mác coi tiền đề đầu tiên của mọi sự tồn tại của con người -
đó là con người phải có khả năng sống rồi mới có thể làm ra lịch sử, Máccho rằng, hành vi lịch sử đầu tiên của con người là sản xuất ra bản thân đờisống vật chất Với quan niệm này, khi phê phán quan điểm duy tâm tư biệncủa Hêghen về con người, Mác đã đưa ra quan niệm coi con người là một
thực thể sinh học - xã hội hiện thực và khẳng định "con người không phải
là một sinh vật trừu tượng, ẩn náu đâu đó ở ngoài thế giới, mà con người chính là thế giới con người, là nhà nước, là xã hội"5 Với việc đặt ra theomột cách mới nhiệm vụ nhận thức đời sống xã hội hiện thực của con người,Mác đã triệt để phê phán quan điểm của Phoiơbắc về con người Khi phêphán Phoiơbắc đã hòa tan thế giới tôn giáo vào cơ sở trần tục của nó, hòa
tan bản chất tôn giáo vào bản chất con người, Mác đã khẳng định: "Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng
Trang 7biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội"6 Với luận điểm coi giới tự nhiên là thân thể vô cơ của conngười, Mác đã khẳng định rằng, con người là một bộ phận của giới tựnhiên Song, hoạt động sinh sống của con người, theo Mác, là hoạt độngsinh sống có ý thức và do vậy, bằng hoạt động lao động của mình, conngười đã làm biến đổi bản chất tự nhiên và tạo ra bản chất xã hội của chínhmình Rằng, con người không chỉ sống trong môi trường tự nhiên, mà cònsống trong môi trường xã hội, nên tự nhiên và xã hội trong mỗi con ngườigắn bó khăng khít với nhau; yếu tố sinh học trong mỗi con người khôngphải tồn tại bên cạnh yếu tố xã hội, mà chúng hòa quyện vào nhau và tồntại trong yếu tố xã hội; do vậy, bản tính tự nhiên được chuyển vào bản tính
xã hội và được cải biến ở trong đó Và, chỉ có trong xã hội, con người mớithể hiện bản chất tự nhiên và xã hội của mình; do vậy, tự nhiên và xã hộithống nhất với nhau trong bản chất con người, làm cho con người trở thànhmột chỉnh thể tồn tại với cả hai mặt tự nhiên và xã hội, hình thành nên mốiquan hệ khăng khít: Con người - tự nhiên - xã hội Khẳng định bản chấtcon người là tổng hòa những quan hệ xã hội, Mác còn tiến hành phân tích
vị thế chủ thể, vai trò sáng tạo lịch sử của con người Xem xét vị thế củacon người trong tiến trình phát triển của lịch sử, Mác đã đi đến quan niệmrằng, khuynh hướng chung của tiến trình phát triển lịch sử được quy địnhbởi sự phát triển của lực lượng sản xuất - kết quả của nghị lực thực tiễn củacon người Hoạt động thực tiễn này, đến lượt nó, lại bị quy định bởi nhữngđiều kiện sinh tồn của con người, bởi một hình thức xã hội đã tồn tại trướckhi có những lực lượng sản xuất ấy Mỗi thế hệ con người bao giờ cũngnhận được những lực lượng sản xuất do thế hệ trước tạo ra và sử dụngchúng làm phương tiện cho hoạt động sản xuất mới Nhờ sự chuyển giaolực lượng sản xuất này mà con người đã hình thành nên mối liên hệ tronglịch sử loài người, hình thành lịch sử loài người Lực lượng sản xuất và cảquan hệ sản xuất - quan hệ xã hội của con người, ngày càng phát triển thì lịch
Trang 8sử đó càng trở thành lịch sử loài người Với quan niệm này, Mác kết luận:
"Xã hội… là sản phẩm của sự tác động qua lại giữa những con người, lịch sử
xã hội của con người luôn chỉ là lịch sử của sự phát triển cá nhân của những con người"7 Con người vừa là chủ thể, vừa là đối tượng của tiến trình pháttriển lịch sử, con người làm nên lịch sử của chính mình và do vậy, lịch sử làlịch sử của con người, do con người và vì con người Khẳng định bản chất xãhội của con người và vị thế chủ thể sáng tạo lịch sử của con người, Máccòn đi đến quan niệm rằng, trình độ giải phóng xã hội luôn được thể hiện ra
ở sự tự do của xã hội; giải phóng cá nhân tạo ra động lực cho sự giải phóng
xã hội và đến lượt mình, giải phóng xã hội lại trở thành điều kiện thiết yếucho sự giải phóng cá nhân; con người tự giải phóng mình và qua đó, giảiphóng xã hội, thúc đẩy tiến bộ xã hội Rằng, con người được giải phóng vàđược tự do phát triển toàn diện - đó là một trong những đặc trưng cơ bảncủa chế độ xã hội mới, chế độ xã hội mà giai cấp vô sản cách mạng vàchính đảng của nó có sứ mệnh phải xây dựng
Với phương pháp tiếp cận đúng đắn khoa học Mác đã tìm ra chìakhóa để luận giải sự phát triển của xã hội loài người là một quá trình
lịch sử tự nhiên Đúng như Ăngghen khẳng định “Trên hành tinh của chúng ta, Sáclơ Đácuyn đã tìm ra qui luật phát triển của thế giới hữu
cơ Mác đã phát hiện ra qui luật cơ bản chi phối sự vận động và phát triển của xã hội loài người ”8
1.2: Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất với quan
Trang 9người Ba quá trình này không tách biệt với nhau, trong đó sản xuất vậtchất giữ vai trò là cơ sở của sự tồn tại và phát triển của xã hội và xét đếncùng quyết định toàn bộ sự vận động của đời sống xã hội Như vậy xã hộitồn tại và phát triển được trước hết là nhờ sản xuất vật chất Lịch sử của xãhội, do vậy trước hết cũng là lịch sử phát triển của sản xuất vật chất Mác
cho rằng “ Việc sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt vật chất trực tiếp… tạo ra một cơ sở, từ đó mà người ta phát triển các thể chế nhà nước, các quan điểm pháp quyền, nghệ thuật và thậm chí cả những quan điểm tôn giáo của con người ta”10 Để thực hiện được quá trình sản xuất con ngườiphải thực hiện mối “quan hệ song trùng” của bản thân sự sản xuất xã hội,
đó là quan hệ của con người với tự nhiên và quan hệ của con người với conngười trong quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội Quan hệ giữa conngười với tự nhiên là mặt kỹ thuật của sản xuất, trong đó con người sửdụng sức lao động và công cụ lao động tác động vào tự nhiên làm cải biếncác vật tự nhiên tạo ra của cải vật chất nhằm thỏa mãn nhu cầu của conngười và của xã hội loài người gọi là lực lượng sản xuất Quan hệ giữa conngười với cong người trong quá trình sản xuất là mặt xã hội của sản xuấtgọi là quan hệ sản xuất
Quá trình sản xuất bao giờ cũng diễn ra trong một phương thức sảnxuất nhất định Giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất luôn thốngnhất hữu cơ tạo thành hai mặt cơ bản của một phương thức sản xuất.Phương thức sản xuất với tính cách là phạm trù cơ bản của chủ nghĩa duyvật lịch sử, là cách thức mà con người tiến hành sản xuất chính là sự thốngnhất giữa lực lượng sản xuất ở một trình độ nhất định và quan hệ sản xuấttương ứng, biểu hiện cách thức con người thực hiện quá trình sản xuất vậtchất ở những giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội loài người
Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiêntrong quá trình sản xuất Lực lượng sản xuất thể hiện năng lực thực tiễn củacon người trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất Lực lượng sản xuất bao
Trang 10gồm người lao động với kỹ năng, trình độ, tri thức, kinh nghiệm lao động của
họ và tư liệu sản xuất, trước hết là công cụ lao động Trong quá trình sản xuất,lao động của con người và tư liệu sản xuất, trước hết là công cụ lao động, kết
hợp với nhau tạo thành lực lượng sản xuất, trong đó, "lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là người lao động."11 Chính người laođộng là chủ thể của quá trình lao động sản xuất, với sức mạnh và kỹ năng laođộng của mình, sử dụng tư liệu lao động, trước hết là công cụ lao động, tácđộng vào đối tượng lao động để sản xuất ra của cải vật chất Cùng với quá trìnhlao động sản xuất, sức mạnh và kỹ năng lao động của con người ngày càngđược tăng lên, đặc biệt là trí tuệ của lao động ngày càng cao Ngày nay, vớicuộc cách mạng khoa học và công nghệ, lao động trí tuệ ngày càng đóng vai tròchính yếu Cùng với người lao động, công cụ lao động cũng là một yếu tố cơbản của lực lượng sản xuất, đóng vai trò quyết định trong tư liệu sản xuất.Công cụ lao động do con người sáng tạo ra, là "sức mạnh của tri thức đã đượcvật thể hóa", nó "nhân" sức mạnh của con người trong quá trình lao động sảnxuất Công cụ lao động là yếu tố động nhất của lực lượng sản xuất Cùng vớiquá trình tích lũy kinh nghiệm, với những phát minh và sáng chế kỹ thuật, công
cụ lao động không ngừng được cải tiến và hoàn thiện Chính sự cải tiến vàhoàn thiện không ngừng công cụ lao động đã làm biến đổi toàn bộ tư liệu sảnxuất Xét đến cùng, đó là nguyên nhân sâu xa của mọi biến đổi xã hội Trình độphát triển của công cụ lao động là thước đo trình độ chinh phục tự nhiên củacon người, là tiêu chuẩn phân biệt các thời đại kinh tế trong lịch sử
Trong sự phát triển của lực lượng sản xuất, khoa học đóng vai trò ngàycàng to lớn Sự phát triển của khoa học gắn liền với sản xuất và là động lựcmạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển Ngày nay, khoa học đã phát triển đếnmức trở thành nguyên nhân trực tiếp của nhiều biến đổi to lớn trong sản xuất,trong đời sống và trở thành "lực lượng sản xuất trực tiếp" Những phát minhkhoa học trở thành điểm xuất phát ra đời những ngành sản xuất mới, nhữngmáy móc thiết bị mới, công nghệ mới, nguyên vật liệu mới, năng lượng mới
Trang 11Sự thâm nhập ngày càng sâu của khoa học vào sản xuất, trở thành một yếu tốkhông thể thiếu được của sản xuất đã làm cho lực lượng sản xuất có bước pháttriển nhảy vọt, tạo thành cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại Yếu
tố trí lực trong sức lao động đặc trưng cho lao động hiện đại không còn là kinhnghiệm và thói quen của họ và là tri thức khoa học Có thể nói; khoa học vàcông nghệ hiện đại là đặc trưng cho lực lượng sản xuất hiện đại Đúng nhưMác dự đoán khoa học phát triển đến một trình độ nhất định sẽ trở thành lựclượng sản xuất trực tiếp tham gia vào qua trình sản xuất Ngày nay khoa họccông nghệ có sự phát triển như vũ bão và được ứng dụng rộng rãi vào quá trìnhsản xuất tạo ra năng, suất, chất lượng nhảy vọt Tuy nhiên khoa học không phải
là yếu tố thứ ba của lực lượng sản xuất, mà các yếu tố của khoa học và côngnghệ thẩm thấu sâu vào từng bộ phận của lực lượng sản xuất Được biểu hiệnthông qua trình độ công cụ lao động, trình độ, kỹ năng kinh nghiệm, tri thứccủa người lao động Khoa học và công nghệ hiện đại chính là đặc điểm của sảnxuất hiện đại và do vậy nó hoàn toàn có thể được coi là đặc trưng cho lựclượng sản xuất trong thời đại ngày nay
Quan hệ sản xuất được hình thành khách quan trong quá trính sảnxuất và tái sản xuất xã hội, xuất phát từ các nhu cầu về quan hệ giữa conngười với con người về sở hữu các của cải vật chất được tạo ra trong quátrình đó Đây chính là mặt xã hội của sản xuất biểu hiện mối qua hệ giữangười với người trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất, nó bao gồm bamối qua hệ cơ bản; quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất; quan hệ trong tổchức và quản lý sản xuất; quan hệ trong phân phối sản phẩm lao động Cácquan hệ này gắn bó chặt chẽ với nhau trong đó quan hệ sở hữu về tư liệusản xuất là cơ bản, giữ vai trò quyết định Quan hệ sản xuất do con ngườitạo ra, nhưng nó hình thành một cách khách quan trong quá trình sản xuất,
không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người C.Mác viết: "Trong sản xuất, người ta không chỉ quan hệ với giới tự nhiên Người ta không thể sản xuất được nếu không kết hợp với nhau theo một cách nào đó để hoạt
Trang 12động chung và để trao đổi hoạt động với nhau Muốn sản xuất được, người ta phải có những mối liên hệ và quan hệ nhất định với nhau; và quan hệ của họ với giới tự nhiên, tức là việc sản xuất"12 Quan hệ sản xuất là hình thức xã hộicủa sản xuất; giữa ba mặt của quan hệ sản xuất thống nhất với nhau, tạo thànhmột hệ thống mang tính ổn định tương đối so với sự vận động, phát triểnkhông ngừng của lực lượng sản xuất.
Trong ba mặt của quan hệ sản xuất, quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất làquan hệ xuất phát, quan hệ cơ bản, đặc trưng cho quan hệ sản xuất trong từng xãhội Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất quyết định quan hệ về tổ chức quản lýsản xuất, quan hệ phân phối sản phẩm cũng như các quan hệ xã hội khác Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa conngười với tư liệu sản xuất, nói lên tư liệu sản xuất thuộc về ai, ai được quyền sửdụng nó Được biểu hiện bởi các quyền năng được pháp luật thừa nhận và bảo vệnhư; quyền chiếm hữu; quyền sở hữu; quyền định đoạt; quyền hưởng lợi Quan
hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là quan hệ xuất phat, quan hệ cơ bản, quan hệtrung tâm, giữ vai trò quyết định bản chất của quan hệ sản xuất và mục đíchcủa nền sản xuất xã hội Lịch sử phát triển của nhân loại đã chứng kiến có hailoại hình sở hữu cơ bản về tư liệu sản xuất; sở hữu tư nhân và sở hữu côngcộng Sở hữu tư nhân là loại hình sở hữu mà trong đó tư liệu sản xuất tậptrung vào trong tay một số ít người, còn đại đa số không có hoặc có rất ít tưliệu sản xuất Quan hệ sở hữu tư nhân được hình thành và phát triển lâu dàicùng sự phát triển của xã hội và sự phát triển của nền sản xuất háng hóa Cácnhà kinh điển đã chỉ rõ các chế độ sở hữu tư nhân điển hình trong lịch sử đólà; sở hữu tư nhân của xã hội chiếm hữu nô lệ; sở hữu tư nhân trong chế độphong kiến; sở hữu tư nhân trong chủ nghĩa tư bản, trong đó sở hữu tư nhân
tư bản chủ nghĩa là đỉnh cao của loại sở hữu này và tạo ra những tiền đề cầnthiết để xuất hiện một kiểu sở hữu mới tiến bộ hơn Về bản chất chỉ quan hệgiữa người với người trong sản xuất vật chất và trong đời sống xã hội làquan hệ thống trị và bị trị, bóc lột và bị bóc lột Sở hữu công cộng là loại
Trang 13hình sở hữu mà trong đó tư liệu sản xuất thuộc về mọi thành viên của mỗicộng đồng, trong lịch sử có hai loại hình sở hữu công cộng là sở hữu côngcộng cộng sản nguyên thủy và sở hữu công cộng cộng sản chủ nghĩa Nhờ
đó, quan hệ giữa người với người trong mỗi cộng đồng là quan hệ bình đẳng,hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau
Quan hệ tổ chức và quản lý sản xuất trực tiếp tác động đến quá trìnhsản xuất, đến việc tổ chức, điều khiển quá trình sản xuất, là quan hệ có khảnăng quyết định một cách trực tiếp qui mô, tốc độ, hiệu quả và xu hướng củamỗi nền sản xuất cụ thể Nó có thể nắm bắt, kết hợp và phát huy các yếu tố cảuquá trình sản xuất để tạo ra một phương án tối ưu, có thể đẩy nhanh hoặc kìmhãm các quá trình khách quan của sản xuất do đó nó có thể thúc đẩy hoặc kìmhãm quá trình sản xuất Quan hệ tổ chức và quản lý sản xuất do quan hệ sở hữuquyết định và nó phải thích ứng với quan hệ sở hữu Tuy nhiên có trường hợp,quan hệ tổ chức và quản lý không thích ứng với quan hệ sở hữu, làm biến dạngquan hệ sở hữu ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển kinh tế- xã hội Ngày nay
do ứng dụng các thành tựu khoa học quản lý hiện đại vào quán trình tổ chứcquản lý sản xuất thì hiệu quả, vai trò của quan hệ tổ chức quan lý được pháthuy tối đa, đặc biệt trong quan lý vĩ mô nền sản xuất xã hội
Quan hệ về phân phối sản phẩm lao động là nhân tố có ý nghĩa hết sức
to lớn đối với sự vận động phát triển của nền kinh tế- xã hội Nó có thể thúcđẩy tốc độ và nhịp điệu của sản xuất, làm năng đọng toàn bộ đời sống kinh tế-
xã hội Mặc dù do quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất và quan hệ tổ chức quản
lý sản xuất chi phối, song nó kích thích trực tiếp đến lợi ích của con người,nên nó tác động đến thái độ của con người trong lao động sản xuất, và do đó
có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sản xuất phát triển
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phương thức sảnxuất, chúng tồn tại không tách rời nhau, tác động qua lại lẫn nhau một cáchbiện chứng, tạo thành quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất Đây là quy luật cơ bản nhất của sự vận
Trang 14động, phát triển xã hội Khuynh hướng chung của sản xuất vật chất là khôngngừng phát triển Sự phát triển đó xét đến cùng là bắt nguồn từ sự biến đổi vàphát triển của lực lượng sản xuất, trước hết là công cụ lao động.
Sự phát triển của lực lượng sản xuất được đánh dấu bằng trình độ của lựclượng sản xuất
Trình độ lực lượng sản xuất trong từng giai đoạn lịch sử thể hiện trình
độ chinh phục tự nhiên của con người trong giai đoạn lịch sử đó Trình độ lựclượng sản xuất thể hiện ở trình độ công cụ lao động, trình độ tổ chức lao động
xã hội, trình độ ứng dụng khoa học vào sản xuất, kinh nghiệm kỹ năng laođộng của con người, trình độ phân công lao động Trong trình độ công cụ laođộng là biểu hiện tập trung và rõ nét nhất cuat trình độ lực lượng sản xuất
trong một phương thức sản xuất như Mác đã nhận định “ những thời đại kinh
tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì mà là ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào, với những tư liệu lao động nào”13 Gắn liền với trình
độ của lực lượng sản xuất là tính chất của lực lượng sản xuất Trong lịch sử xãhội, lực lượng sản xuất đã phát triển từ chỗ có tính chất cá nhân lên tính chất
xã hội hóa Khi sản xuất dựa trên công cụ thủ công, phân công lao động kémphát triển thì lực lượng sản xuất chủ yếu có tính chất cá nhân Khi sản xuấtđạt tới trình độ cơ khí, hiện đại, phân công lao động xã hội phát triển thì lựclượng sản xuất có tính chất xã hội hóa
Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượngsản xuất là một trạng thái Sự vận động, phát triển của lực lượng sản xuất
quyết định và làm thay đổi quan hệ sản xuất cho phù hợp với nó Khi một
phương thức sản xuất mới ra đời, khi đó quan hệ sản xuất phù hợp với trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất Sự phù hợp của quan hệ sản xuất vớitrình độ phát triển của lực lượng sản xuất là một trạng thái mà trong đó quan
hệ sản xuất là "hình thức phát triển" của lực lượng sản xuất Trong trạng thái
đó, tất cả các mặt của quan hệ sản xuất đều "tạo địa bàn đầy đủ" cho lựclượng sản xuất phát triển Điều đó có nghĩa là, nó tạo điều kiện sử dụng và kết