1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Kích thích kinh tế và lạm phát hậu Covid

11 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 361,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết bàn về tiền có dấu hiệu “nghẽn” lại trong hệ thống tài chính trung gian, vận tốc lưu thông của tiền đang ở mức thấp. Để gia tăng sản lượng và tránh lạm phát, Việt Nam cần thúc đẩy vòng quay của tiền, tăng tốc chuyển đổi số và tăng năng suất lao động. Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

Quách Doanh Nghiệp* Nguyễn Văn Thiện Tâm*

Tóm tắt

Trong bối cảnh đại dịch Covid-19, kinh tế Việt Nam có dấu hiệu giảm tốc, để hỗ trợ nền kinh tế, Chính phủ Việt Nam đã tung nhiều gói kích thích, một lượng lớn tiền đã được đổ vào trong lưu thông Tuy nhiên, tiền có dấu hiệu “nghẽn” lại trong hệ thống tài chính trung gian, vận tốc lưu thông của tiền đang ở mức thấp Để gia tăng sản lượng và tránh lạm phát, Việt Nam cần thúc đẩy vòng quay của tiền, tăng tốc chuyển đổi số và tăng năng suất lao động

Từ khóa: Vận tốc của tiền, lạm phát

1 Mở đầu

Lạm phát của Việt Nam ở thời điểm tháng 2-2021 tăng cao nhất trong vòng 8 năm qua, làm dấy lên lo ngại một sự gia tăng lạm phát trong thời gian tới Tuy nhiên, theo dự báo

từ Ngân hàng HSBC, lạm phát trung bình của Việt Nam trong năm 2021 chỉ ở mức 3%,

do tình hình dịch bệnh kéo dài, thị trường lao động tiếp tục trì trệ nên mức cầu thấp, từ

đó lạm phát sẽ thấp

Trong bối cảnh cần khôi phục nền kinh tế sau đại dịch Covid-19, Chính phủ Việt Nam

đã và đang thực hiện các chính sách mở rộng tiền tệ phối hợp với mở rộng tài khóa để thúc đẩy tăng trưởng GDP Trong năm 2019 và 2020, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã 3 lần(1)

hạ các loại lãi suất điều hành nhằm thực hiện chính sách mở rộng tiền tệ, kích thích nền kinh tế Hành động này của NHNN, theo lý thuyết về số lượng tiền, có thể dẫn đến áp lực

* Trường Đại học Kinh tế TP HCM | Email liên hệ: tamnvt@ueh.edu.vn

(1) https://vnexpress.net/ha-lai-suat-dieu-hanh-tac-dong-the-nao-den-nen-kinh-te-4099333.html

Trang 2

lạm phát do cung tiền tăng Do đó, câu hỏi đặt ra là liệu trong tương lai chúng ta có gánh chịu một thời kỳ lạm phát tăng vọt khi cung tiền quá mức hay không?

Để phần nào trả lời cho câu hỏi này, bên cạnh khái niệm lượng cung tiền, chúng ta cần quan tâm thêm đến một thước đo khác về sức khỏe của nền kinh tế có liên quan, đó chính là vận tốc của tiền (velocity of money)

Theo lý thuyết số lượng tiền của Milton Friedman: M*V = P*Q (1), với M là lượng cung tiền, V là vận tốc (vòng quay) của tiền, P là GDP price deflator (đo lường sự thay đổi giá của tất cả các loại hàng hóa và dịch vụ sản xuất trong một nền kinh tế), Q là khối lượng hàng hóa và dịch vụ được giao dịch

Vận tốc của tiền (V) được tính bằng cách lấy GDP (được tính bằng P*Q) của nền kinh

tế chia cho cung tiền M (M) Nếu tỷ lệ này đang tăng lên thì điều này cho thấy có nhiều giao dịch giữa các doanh nghiệp và cá nhân đang diễn ra, nói cách khác có nhiều người tiêu dùng đang chi nhiều tiền hơn

Tốc độ lưu thông tiền liên quan đến tần suất của các giao dịch tiền tệ trong nền kinh

tế Một đơn vị tiền phục vụ cho nhiều giao dịch theo thời gian Vận tốc của tiền cao hơn thường là dấu hiệu của một nền kinh tế lành mạnh, bởi ở đó lượng tiền dùng cho mỗi kỳ giao dịch là ít, từ đó với một lượng tiền cho trước sẽ thúc đẩy vòng quay của tiền diễn ra nhanh hơn Tần suất của các giao dịch tiền tệ phụ thuộc vào quyết định của từng cá nhân

sử dụng tiền trong nền kinh tế Khi mọi người quyết định sử dụng tiền nhanh hơn, tốc độ tăng lên và điều này sẽ đẩy nhanh tác động của việc mở rộng tiền tệ Ngược lại, khi công chúng sử dụng tiền có sẵn chậm hơn, tốc độ giảm

Các nhà kinh tế học cho chia tiền thành 2 loại Tiền chủ yếu được mọi người và các công ty dùng cho các giao dịch gọi là “tiền hoạt động” Ngoài ra, tiền cũng được dùng để tiết kiệm và tích lũy gọi là “tiền nhàn rỗi” Càng có nhiều tiền “nhàn rỗi” trong nền kinh

tế, tốc độ vận chuyển của tiền càng giảm

Ngoài ra, từ công thức (1) chúng ta có thể tính được P = MV/Q, như vậy sự thay đổi trong giá hàng hóa – hình thành nên mức lạm phát sau này – không chỉ bị ảnh hưởng duy nhất bởi lượng cung tiền mà còn có vai trò của vận tốc tiền trong nền kinh tế Khi vận tốc của tiền tăng (V) tương ứng với sự gia tăng trong sản lượng (Q) thì có thể lạm phát vẫn giữ được ở mức thấp

Trang 3

2 Thực trạng của nền kinh tế Việt Nam

Hình 1 cho thấy vận tốc của tiền ở Việt Nam đã liên tục giảm xuống mức rất thấp trong vòng 20 năm trở lại đây Một vận tốc tiền thấp như vậy có phải do tiền nhàn rỗi quá nhiều trong dân?

Hình 1: Mối quan hệ giữa GDP, M2 và Vận tốc của tiền

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Hình 2: Mối quan hệ giữa Lạm phát, tăng trưởng GDP và Vận tốc của tiền

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

0 1 2 3 4 5 6

100,000,000,000.00

200,000,000,000.00

300,000,000,000.00

400,000,000,000.00

500,000,000,000.00

600,000,000,000.00

700,000,000,000.00

800,000,000,000.00

1995 1997 1999 2001 2003 2005 2007 2009 2011 2013 2015 2017 2019

M2 GDP VM

0 1 2 3 4 5 6

-5

0

5

10

15

20

25

1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019

Inf gGDP MV

Trang 4

Từ Hình 2 có thể thấy tốc độ tăng trưởng bình quân GDP của Việt Nam nằm trong khung từ 5-10%, ít có biến động mạnh và gần như đi ngang trong vòng 20 năm kể từ năm

2000 Về mặt lạm phát, ở Việt Nam trong giai đoạn này có 2 đỉnh lạm phát rơi vào năm

2008 và năm 2011, sau năm 2011 mức lạm phát ở Việt Nam đã giảm liên tục

Bức tranh về nền kinh tế Việt Nam trong thời gian qua với vài điểm nhấn cung tiền liên tục tăng, quy mô và tốc độ tăng trưởng GDP tăng nhẹ, vận tốc của tiền giảm và lạm phát cũng giảm mạnh Hiện tượng này tương thích với lượng tiền nhàn rỗi đang đổ vào tiết kiệm và các kênh đầu tư như bất động sản hoặc cổ phiếu trong suốt thời gian qua tại Việt Nam

Nhìn chung chúng ta có thể thấy tình trạng lạm phát thấp phù hợp với vận tốc của tiền ngày càng giảm ở Việt Nam, điều này cho thấy sự sụt giảm trong giao dịch, tiêu dùng của doanh nghiệp và hộ gia đình sau năm 2011 Vận tốc tiền giảm ám chỉ dòng tiền trao từ tay người này đến người khác đang rất chậm Thay vào đó phần lớn lượng tiền có thể đã được sử dụng để đổ vào các kênh đầu tư như chứng khoán, bất động sản hoặc tồn tại dưới dạng tiết kiệm hơn là vào khu vực sản xuất, tiêu dùng Dòng tiền này có thể là nguồn gốc cho tình trạng bong bóng bất động sản, bong bóng chứng khoán trong thời gian vừa qua Những phân tích trên đã cho thấy bức tranh kinh tế Việt Nam từ năm 2019 trở về trước Bước vào năm 2020 với sự xuất hiện của đại dịch Covid-19, những chỉ số trên ở Việt Nam đã có những thay đổi như thế nào? Có thể thấy, với những nỗ lực trong việc khống chế đại dịch và giữ vững tăng trưởng kinh tế, Việt Nam đã trở thành một trong số

ít các quốc gia đạt tăng trưởng dương trong năm 2020 Đây là kết quả của hàng loạt điều chỉnh, thay đổi chính sách cũng như các gói hỗ trợ kinh tế được ban hành Rõ ràng lượng cung tiền trên thị trường tăng lên, nhưng liệu các chính sách này có thực sự tác động tích cực đến vận tốc tiền của Việt Nam cũng như tăng trưởng kinh tế?

Điều gì xảy ra ở Việt Nam khi cả nền kinh tế đã và đang đối mặt với đại dịch Covid-19?

Trang 5

Hình 3: Tăng trưởng tín dụng ở Việt Nam

Nguồn: Tổng cục Thống kê

Hình 3 minh họa cho vấn đề tăng trưởng tín dụng và tổng phương tiện thanh toán của nền kinh tế trong bối cảnh cả nền kinh tế đang gồng mình bước qua đại dịch Covid-19 Có thể thấy một nghịch lý là trong khi Chính phủ liên tục bơm tiền vào nền kinh tế thì tăng trưởng tín dụng và tổng phương tiện thanh toán lại sụt giảm Từ khi dịch Covid-19 bùng phát đến cuối năm 2020 đã có 95 văn bản được ban hành nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và người dân với 4 gói chính sách lớn Cụ thể, Chính phủ Việt Nam đã tung gói 250.000 tỷ đồng hỗ trợ tín dụng, 180.000 tỷ hỗ trợ giãn hoãn nộp thuế, 16.000 tỷ cho vay lãi suất 0%, gói tài khóa 30.000 tỷ và hàng loạt biện pháp khác để giúp doanh nghiệp vượt qua Covid-19 Tiếp sau đó là gói hỗ trợ an sinh xã hội 62.000 tỷ đồng theo Nghị quyết

42/NQ-CP về các biện pháp hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid-19 Lượng tiền khổng lồ đó rõ ràng có thể đã bị “mắc kẹt” trong hệ tài chính cộng với tâm lý e dè trong tiêu dùng của người dân, tất cả điều này đã làm giảm vận tốc của tiền trong nền kinh tế

và kết quả là tăng trưởng GDP sẽ không đạt như mức kỳ vọng Các điều kiện giải ngân cho doanh nghiệp sản xuất, dịch vụ khá ngặt nghèo và hệ thống an sinh xã hội có thể xem

là “cũ kỹ” ở Việt Nam đã khiến hiệu năng của chính sách hỗ trợ giảm xuống rõ rệt Những ngành nghề mũi nhọn, thâm dụng lao động nhưng giờ đang lao đao trước đại dịch như dệt may, du lịch, hộ kinh doanh cá thể khó lòng tiếp cận các gói vay hỗ trợ với lãi suất 0% của Chính phủ, hoặc vay trả lương (do tiêu chuẩn khắt khe, do thiếu tài sản đảm bảo ), như nhận định của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Hiệp hội Du lịch Việt Nam, Hiệp hội Dệt may Việt Nam, có thể là một nguyên nhân lớn

0%

1%

2%

3%

4%

5%

6%

7%

8%

9%

Tăng trưởng tín dụng đang giảm

Tổng phương tiện thanh toán Tín dụng

Trang 6

gây nghẽn nhu cầu vốn dùng cho sản xuất ở phía cầu Khi người lao động bị mất việc, giảm thu nhập thì vận tốc tiền cũng khó tăng lên được, khi nhu cầu tiêu dùng giảm, kéo theo sản xuất giảm cuối cùng tăng trưởng GDP của nền kinh tế cũng chững lại

Hệ thống an sinh xã hội còn cồng kềnh về khâu quản lý và nặng nề về mặt hành chính nên các gói cứu trợ dù lớn và chủ trương dù đúng đắn nhưng khả năng hấp thụ chính sách cũng sẽ hạn chế Những nỗ lực cứu trợ của Chính phủ đối với những người lao động bị ảnh hưởng bởi Covid-19 cần tập trung hơn vào những người cần được hỗ trợ nhất, với quá trình triển khai nhanh chóng và hiệu quả hơn, đồng thời cần phải gia tăng độ phủ rộng của chính sách đến các đối tượng cần hỗ trợ, đó là những kinh nghiệm được rút ra

từ lần triển khai gói cứ trợ an sinh xã hội thứ nhất

Việc quan sát những biến số kinh tế, nhất là trong giai đoạn trước và sau khủng hoảng,

là vô cùng cần thiết Điều này càng quan trọng hơn bởi tính khó dự báo của dịch

Covid-19 Chính vì thế, tại đây, nhóm tác giả mong muốn phân tích một khái niệm được các quốc gia trên thế giới thường xem xét khi đề cập đến khả năng một nước hồi phục sau khủng hoảng, đó là “vận tốc thoát ly" (escape velocity), cũng như tìm hiểu mối liên kết giữa vận tốc của tiền và vận tốc thoát ly của nền kinh tế

3 Đâu là “vận tốc thoát ly” cho nền kinh tế Việt Nam

Trong vật lý, “vận tốc thoát ly” có nghĩa là tốc độ cần thiết để thoát ra khỏi lực kéo của trọng lực và tự do mà không cần thêm một lực đẩy nào khác

Trong kinh tế, “vận tốc thoát ly” là nhu cầu cho một nền kinh tế để tăng trưởng với một tỷ lệ phù hợp nhằm thoát khỏi một cuộc suy thoái và trở về tốc độ tăng trưởng kinh

tế dài hạn bình thường Nền kinh tế khi đó duy trì được tốc độ tăng trưởng liên tục, thoát khỏi sự trì trệ gây ra bởi các lực kéo vô hình

Nếu nền kinh tế đạt được một vận tốc thoát ly, chúng ta sẽ thấy một vòng tròn tương

hỗ bao gồm tăng trưởng GDP, tăng doanh thu thuế, gia tăng niềm tin và gia tăng đầu tư Khi đạt tới vận tốc thoát ly này, chúng ta sẽ không cần hỗ trợ nền kinh tế với một chính sách tiền tệ mở rộng và tài khóa mở rộng thêm nữa Tăng trưởng sẽ tự duy trì bằng hoạt động bình thường của khu vực tư nhân

Vậy để đạt được vận tốc thoát ly, Việt Nam cần những yếu tố nào? Điều quan trọng nhất, chìa khóa để đạt được vận tốc thoát ly là gia tăng năng suất (productivity growth) Năng suất cải thiện không chỉ đến từ động lực của chính phủ mà còn từ chính các doanh nghiệp – một nhân tố quan trọng tác động đến mức tăng năng suất quốc gia Trong khi

đó, nếu tăng năng suất thôi thì chưa đủ mà còn phải gia tăng niềm tin của người tiêu dùng Bởi lẽ, niềm tin sụt giảm sẽ là lực cản trong quá trình đạt được vận tốc thoát ly, vì trong

Trang 7

giai đoạn trì trệ, tiêu dùng và đầu tư của người dân và doanh nghiệp sẽ giảm làm cho vận tốc tiền cũng từ đó giảm theo Ngoài ra, các yếu tố như mức lương, tỷ lệ thất nghiệp hay hoạt động của các ngân hàng cũng cần được xem xét

Những phân tích trên góp phần đưa ra một số giải pháp gợi ý cho nền kinh tế Việt Nam nhằm thoát khỏi sự trì trệ hậu Covid-19

3.1 Tăng vận tốc của tiền góp phần kích thích niềm tin tiêu dùng và đầu tư vào sản xuất của người dân và doanh nghiệp

Tăng tốc vận tốc của tiền có thể là chìa khóa để khôi phục tăng trưởng kinh tế ở mức mạnh mẽ hơn Việc gia tăng vận tốc của tiền làm nhanh chóng thay đổi chủ sở hữu và sau

đó tốc độ tăng trưởng kinh tế khá hơn Khi tiền được đưa vào tay những người tiêu tiền nhanh chóng sẽ kích thích cho nhu cầu sản xuất, khi sản xuất tăng sẽ tăng nhu cầu việc làm, lao động sẽ có thu nhập và quá trình tiêu dùng lại tiếp diễn

Như vậy để tăng GDP có thể thông qua cách làm tăng vận tốc của tiền trong nền kinh

tế Muốn vận tốc tiền tăng lên cần thúc đẩy việc chi tiêu cho hàng hóa, dịch vụ (consumption) Một đơn vị tiền dùng để chi tiêu cho hàng hóa và dịch vụ có vận tốc càng nhanh (qua tay người tiêu dùng) thì nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ sẽ lớn và cuối cùng thúc đẩy gia tăng GDP

Trong xã hội, những người có thu nhập thấp thường là nhóm chi tiêu tiền nhanh nhất cho hàng hóa và dịch vụ mỗi khi họ có tiền trong tay bởi họ có ít động lực tiết kiệm, trong khi đó những người có thu nhập càng cao thì càng ít chi tiêu hoặc tốc độ chi tiêu tiền trong tay của họ sẽ chậm hơn Nói cách khác tiền sẽ “nghẽn” khi ở trong tay nhóm có thu nhập cao Lý do là người có thu nhập cao sẽ dành phần lớn tiền để đầu tư hoặc tiết kiệm, điều này hoàn toàn ít xảy ra đối với nhóm thu nhập thấp Một khi tiền được dùng cho đầu

tư hoặc tiết kiệm thì vận tốc của tiền sẽ chậm lại, do đó khả năng thúc đẩy tăng trưởng GDP sẽ thấp hơn so với khi tiền đi vào khu vực tiêu dùng và sản xuất

Ở Việt Nam, khảo sát thu nhập 2016 cho thấy tỷ lệ và quy mô tiết kiệm khá thấp ở nhóm dân cư có thu nhập nghèo và cận nghèo, chiếm khoảng 40% hộ gia đình khảo sát Nhưng bù lại nhóm này lại có lại có tỷ lệ chi tiêu cao so với tiết kiệm nếu so sánh với nhóm 40% dân số giàu và rất giàu

Trang 8

Hình 4: Tỷ lệ hộ gia đình có tiết kiệm

Nguồn: Lê Nguyễn (2020)

Chính phủ cần cải cách mạnh mẽ chính sách an sinh xã hội, để khoản tiền hỗ trợ của Chính phủ được trao tận tay đến người dân kịp thời và nhanh chóng, những người yếu thế không phải vì các thủ tục pháp lý rườm rà mà bị cho ra rìa của xã hội Khi có tiền trao tay họ sẽ sử dụng dịch vụ nhiều hơn, kích thích cho quá trình sản xuất, có lợi cho tăng trưởng kinh tế Với sức mua gia tăng từ nhóm người có thu nhập thấp, hiệu ứng lan tỏa đến nền kinh tế sẽ diễn ra Nhiều việc làm hơn được tạo ra, lương sẽ tăng và tới lượt nó

sẽ tạo một vòng xoáy thúc đẩy kinh tế phát triển Trong một nền kinh tế mà chi tiêu (C) chiếm tỷ trọng cao khoảng 60-70% thì rõ ràng chi tiêu của người dân sẽ là một động lực tăng trưởng kinh tế quan trọng Vì vậy hãy trao tiền vào tay những người đang sẵn sàng

và có nhu cầu chi tiêu nhanh để thúc đẩy vận tốc của tiền trong lưu thông

Trang 9

Hình 5: Số tiền tiết kiệm và chi tiêu năm 2016

Nguồn: Lê Nguyễn (2020)

Hiển nhiên, đến một lúc nào đó điều này có thể gây ra tình trạng lạm phát do giá cả hàng tăng lên, đặc biệt khi năng lực sản xuất bị hạn chế Tuy nhiên, nếu đạt được vận tốc thoát ly càng nhanh thì Chính phủ có thể kết thúc các gói kích cầu kinh tế cũng như NHNN có thể điều chỉnh lãi suất trở về trạng thái ban đầu nhằm giảm áp lực lạm phát Ngoài ra, cần lưu ý không để dòng tiền chảy vào bất động sản hoặc chứng khoán gây ra các bong bóng tài sản, bong bóng giá chứng khoán, vì khi đó hậu quả sẽ trở nên nghiêm trọng và khó kiểm soát hơn

Bên cạnh đó, nâng dần mức lương tối thiểu có thể là một giải pháp cần thiết để bơm tiền đến tận tay khu vực thu nhập thấp, miễn phí cho giáo dục và y tế cũng góp phần gia tăng chi tiêu và đào tạo nguồn lao động Tăng cường đầu tư cho đổi mới, sáng tạo một cách thực chất để gia tăng khối lượng hàng hóa (Q) sản xuất tương xứng với lượng cung tiền (M) có thể là cách tự nhiên kiềm chế bớt lạm phát trong nền kinh tế

Điều này lý giải tại sao các quốc gia như Mỹ lại lựa chọn giải pháp bơm tiền ra nền kinh tế thông qua các gói trợ cấp trực tiếp cho người dân, một phần mong muốn của chính phủ các quốc gia này cũng là để gia tăng GDP Khi người nhận được các khoản trợ cấp tiêu dùng nhanh chóng món tiền này thì nhu cầu về sản xuất sẽ tăng lên, việc làm sẽ được giải quyết và tiền lương lại gia tăng

Trang 10

3.2 Thúc đẩy tăng trưởng tín dụng

Khu vực sản xuất đóng một lực quan trọng để đưa nền kinh tế đạt được vận tốc thoát

ly, do vậy Chính phủ cần có các gói giải pháp khơi thông dòng vốn tín dụng đến các doanh nghiệp, hộ gia đình Bên cạnh đó cần siết chặt các dòng vốn đi vào khu vực đầu

cơ bất động sản hoặc đầu tư cổ phiếu để tránh sự lệch lạc của dòng tiền đầu tư, gây ra tình trạng bong bóng tài sản hoàn toàn không có lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội Các ngân hàng có thể hạ thấp chỉ tiêu lợi nhuận, chia sẻ với doanh nghiệp sản xuất và

hộ gia đình bằng các gói vay trung hạn, lãi suất hấp dẫn, ổn định để giúp các doanh nghiệp

và hộ gia đình ổn định sản xuất Một khi các doanh nghiệp sản xuất ổn định, người lao động có việc làm thì đó sẽ là mảnh đất màu mỡ để các ngân hàng khai thác tìm kiếm lợi nhuận trong tương lai

Thống kê số liệu từ 27 ngân hàng đã công bố báo cáo tài chính Quý IV-2020 cho thấy, tổng lợi nhuận trước thuế các ngân hàng trong năm 2020 đạt 150.154 tỷ đồng, tăng 13,7%

so với năm trước.(2 )

Một nghịch lý là trong năm 2020 tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp và nhiều ngành nghề vô cùng khó khăn nhưng ngân hàng là một trong những ngành hiếm hoi có lợi nhuận cao vượt bậc so năm 2019 Lợi nhuận của ngân hàng đến từ nhiều nguồn, nhưng chắc chắn lợi nhuận từ tín dụng vẫn là một trong những trụ cột của ngành này

3.3 Thúc đẩy nền kinh tế số, văn hóa kỹ thuật số, gia tăng năng suất lao động

Thúc đẩy các doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước chuyển đổi số Đại dịch

Covid-19 là một tác nhân tự nhiên thôi thúc quá trình chuyển đổi số thực chất và đi vào chiều sâu Chính phủ có thể hỗ trợ tín dụng hoặc tăng chi tiêu công trong vấn đề hỗ trợ chuyển đổi số Đầu tư vào thời điểm hôm nay có thể giúp tăng tốc nền kinh tế trong tương lai, tiết kiệm chi phí hoạt động, nâng cao hiệu quả

Ngoài các giải pháp công nghệ giúp các doanh nghiệp gia tăng năng lực số cũng cần xây dựng văn hóa tổ chức kỹ thuật số Nghiên cứu của Martínez-Caro và cộng sự (2020) cho thấy phát triển văn hóa tổ chức kỹ thuật số tạo điều kiện thuận lợi cho cả quá trình số hóa doanh nghiệp và tạo ra giá trị từ các công cụ kỹ thuật số, với mục tiêu cuối cùng là cải thiện hiệu quả hoạt động của tổ chức Nghiên cứu liên quan đến 93 trung tâm sản xuất của một công ty đa quốc gia có mặt tại hơn 10 quốc gia cho thấy số hóa hoạt động kinh doanh có thể thúc đẩy sự phát triển của các hoạt đbộng tạo ra giá trị, nhưng các công ty

(2) https://vietnambiz.vn/top-10-ngan-hang-co-loi-nhuan-cao-nhat-nam-2020-2021020111403624.htm

Ngày đăng: 31/07/2021, 10:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w