Bài viết nêu lên đặc điểm của trung tâm tài chính với vai trò nền tảng cũng đóng góp rất nhiều vào sự phát triển chung của hệ thống tài chính của một quốc gia, từ đó đóng góp một phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế nói chung. Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 11
Lê Thị Hồng Minh* Huỳnh Thị Cẩm Hà * Lương Thị Thảo * Hoàng Thị Phương Anh*
Tóm tắt
Hệ thống tài chính đóng một vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế của mỗi quốc gia,
có nhiệm vụ kết nối giữa những người có vốn nhàn rỗi với các nhà đầu tư, những người cần sử dụng vốn Khi nhu cầu lưu chuyển vốn vượt ra ngoài biên giới quốc gia, thì việc thành lập các trung tâm tài chính (TTTC) để thu hút thêm các khách hàng và tổ chức quốc tế không chỉ là xu thế tất yếu của kinh tế hiện đại mà còn là biểu hiện của một quốc gia năng động, phát triển và hội nhập Thành công trong việc xây dựng TTTC của Singapore và Thượng Hải là minh chứng điển hình để Việt Nam định hình chiến lược thành lập các TTTC trong tương lai Để thực hiện được điều đó, Việt Nam cần tăng cường nguồn nhân lực chất lượng cao, cải thiện cơ sở hạ tầng, thể chế, luật pháp, văn hóa
Từ khóa: Trung tâm tài chính, bài học kinh nghiệm, Singapore, Thượng Hải
1 Giới thiệu
Trong chiến lược phát triển kinh tế của các quốc gia thì việc hình thành TTTC quốc tế không chỉ là xu hướng cần thiết mà còn là biểu hiện của một quốc gia năng động, phát triển và hội nhập; góp phần nâng tầm quốc gia lên một vị thế mới trong bản đồ phát triển của thế giới Một TTTC phát triển sẽ mang lại nhiều thuận lợi đối với nền kinh tế của quốc gia và được biểu hiện qua nhiều khía cạnh TTTC tạo ra nguồn thu nhập cho dân
cư, tạo cơ hội việc làm trực tiếp cho nguồn nhân lực chất lượng cao trong ngành tài chính, cũng như các ngành có liên quan như luật, công nghệ thông tin, kế toán, kiểm toán, tư
*Trường Đại học Kinh tế TP HCM| Email liên hệ: anhtcdn@ @ueh.edu.vn
14
Trang 2vấn, nhân sự, và các ngành dịch vụ khác mà các công ty tài chính sử dụng Ngành tài chính cũng là một trong những ngành công nghiệp kỹ thuật cao, mang lại rất nhiều giá trị gia tăng và hỗ trợ rất nhiều cho sự phát triển của các doanh nghiệp TTTC với vai trò nền tảng cũng đóng góp rất nhiều vào sự phát triển chung của hệ thống tài chính của một quốc gia, từ đó đóng góp một phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế nói chung
2 Tổng quan về trung tâm tài chính
TTTC được xem là một thành phố hay một khu vực với lĩnh vực tài chính phát triển ở mức độ cao Điều này thể hiện ở việc tập trung nhiều ngân hàng, các tổ chức tài chính lớn mạnh, cơ sở hạ tầng phát triển và các yếu tố khác phục vụ cho các giao dịch tài chính diễn ra thuận lợi, nhanh chóng TTTC có các cấp độ phát triển khác nhau cũng như các đặc điểm nhận diện riêng
2.1 Các cấp độ trung tâm tài chính
Dựa trên cách phân loại của tổ chức quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) thì TTTC có 3 cấp độ, đó là:
▪ TTTC quốc tế (IFC– International Financial Centre), như Thành phố New York, London, Tokyo
▪ TTTC khu vực (RFC–Regional Financial Centre), như Frankfurt, Chicago, Sydney
▪ TTTC nước ngoài (OCF - Offsore Financial Centre), như Quần đảo Cayman, Dublin, Hong Kong và Singapore
Các IFC và nhiều RFC là các TTTC có đầy đủ dịch vụ với quyền tiếp cận trực tiếp các nguồn vốn lớn từ các ngân hàng, các công ty bảo hiểm, các quỹ đầu tư và các thị trường chứng khoán niêm yết Trong khi đó, các OFC và một số RFC có xu hướng chuyên
về các dịch vụ dựa trên thuế hoặc quản lý tài sản và ngân hàng tư nhân cho các khách hàng quốc tế IMF lưu ý về sự chồng chéo giữa RFC và OFC (ví dụ Hong Kong và Singapore là OFC và RFC) Kể từ năm 2010, nhiều nghiên cứu xem các TTTC nước ngoài (OFCs) như là thiên đường về thuế (tax heavens)
Ở cách tiếp cận chi tiết hơn, có thể phân loại TTTC ở 5 cấp độ (hay được gọi là 5 mô hình TTTC), đó là: TTTC quốc gia, TTTC khu vực, TTTC nước ngoài (ví dụ như Dubai), TTTC quốc tế (Hong Kong, Singapore, Tokyo, Seoul), TTTC toàn cầu (London, New York) TTTC quốc gia: gắn liền với một quốc gia cụ thể (Robert, 1994) các TTTC quốc gia
là những thành phố có đủ các điều kiện để đáp ứng nhu cầu dịch vụ tài chính của một quốc gia, là nơi tập trung của các ngân hàng, tổ chức tài chính và các giao dịch tài chính của quốc gia đó Hệ thống ngân hàng chủ yếu phục vụ cho nhu cầu thương mại nội địa
Hạ tầng thị trường như hệ thống thanh toán, hệ thống quản lý thông tin khá đơn giản và
Trang 3chủ yếu được phát triển trong nước, có thể có giới hạn đối với những hoạt động xuyên biên giới Tại Việt Nam, Hà Nội và TPHCM cũng có thể được coi là 2 TTTC quốc gia TTTC khu vực (RFC): Ở cấp độ này, các TTTC tiếp tục phát triển các dịch vụ và hạ tầng
để thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư nước ngoài Số lượng các nhà đầu tư nước ngoài tin tưởng và đầu tư vào thị trường ngày càng nhiều Tính thanh khoản của thị trường được nâng cao do số lượng nhà đầu tư lớn, các thành viên của thị trường bắt đầu trở nên chuyên nghiệp
ở mức độ khu vực và quốc tế Một mạng lưới khách hàng, nhà cung cấp và đối tác để hỗ trợ cho các hoạt động tài chính cũng dần được hình thành (Nguyễn Thế Phong, 2014) Hay nói một cách khác, TTTC khu vực là nơi có sự tập trung cao của các tổ chức tài chính và thị trường vốn cho phép các giao dịch tài chính trong khu vực diễn ra hiệu quả
TTTC nước ngoài (OFC): hay còn gọi là TTTC mở cửa với nước ngoài: Tại cấp độ này, một TTTC cạnh tranh với các trung tâm khác để thu hút đầu tư nước ngoài Chính phủ có xu hướng áp dụng những chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài và đảm bảo
sự công bằng của các tổ chức tài chính nước ngoài khi đầu tư tại nước sở tại TTTC nói chung bắt đầu phát triển để đáp ứng nhu cầu và kỳ vọng của các nhà đầu tư, tổ chức tài chính nước ngoài cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho dòng vốn đầu tư xuyên biên giới chảy vào Có thể thấy rõ ràng rằng hiện nay Việt Nam đang ở giai đoạn phát triển này TTTC quốc tế (IFC): một TTTC quốc tế cũng được xác định qua 3 đặc điểm cơ bản là: (1) là nơi tập trung của các ngân hàng, tổ chức tài chính lớn; (2) có trình độ phát triển cao trong khu vực tài chính, là nơi diễn ra nhiều các dịch vụ tài chính cấp cao (như hoạt động ngân hàng đầu tư, tài chính doanh nghiệp hay giao dịch chứng khoán), khối lượng giao dịch lớn và chuyên biệt hóa một cách rõ rệt và (3) sự phát triển của khu vực dịch vụ hỗ trợ TTTC toàn cầu (GFC – Global Financial Centre): là cấp độ cao nhất của các TTTC TTTC toàn cầu là các thành phố có đủ năng lực đóng vai trò là trung gian kết nối giữa các tổ chức tài chính và các khách hàng trên phạm vi toàn cầu Các TTTC toàn cầu thường
có uy tín rất lớn trên thị trường tài chính thế giới, tập trung những tổ chức tài chính lớn nhất và một hệ thống tài chính phát triển ở cấp độ cao nhất Các hoạt động kinh doanh tài chính ở đây có thể diễn ra nhanh chóng, hiệu quả và an toàn ở mức tối đa
2.2 Đặc điểm nhận diện trung tâm tài chính
▪ Là nơi tập trung số lượng lớn các định chế tài chính, có các định chế tài chính phát triển mạnh về vốn và có uy tín cao trên thị trường
Các TTTC được đặt tại các khu vực nơi các công ty có cơ hội tiếp cận nguồn vốn lớn hoặc nhận tài trợ từ các ngân hàng, công ty bảo hiểm và các định chế tài chính khác Điều này cho thấy TTTC là nơi tập trung các tổ chức tài chính như ngân hàng thương mại,
Trang 4ngân hàng đầu tư, sở giao dịch chứng khoán và các tổ chức tư vấn đầu tư Đây có thể là những doanh nghiệp có lợi nhuận rất cao và như vậy thành phố được chọn là TTTC có thể tăng nhiều ngân sách từ thuế khi các công ty đó đặt trụ sở chính trong TTTC Tại các TTTC, có rất nhiều công ty dịch vụ tài chính cung cấp dịch vụ liên quan đến sáp nhập và mua lại, IPO và giao dịch Kể từ tháng 3/2021, Chỉ số TTTC Toàn cầu (GFCI) đã nêu tên New York là TTTC hàng đầu thế giới, sau đó là London và Thượng Hải
Bên cạnh đó, các TTTC đều xuất phát điểm là TTTC quốc gia trước khi tiến dần lên các cấp độ cao hơn là TTTC khu vực, TTTC toàn cầu Các TTTC ở các cấp về bản chất
là giống nhau, điểm khác nhau cơ bản là ở quy mô và mức độ lan tỏa cũng như danh tiếng của các TTTC ở cấp cao là vượt trội hơn so với các TTTC ở cấp thấp hơn
▪ Là nơi tập trung các chuyên gia nhân sự tài chính giỏi, có trình độ chuyên môn cao để phát triển được những kỹ năng nghiệp vụ
Với một hệ thống tài chính giàu kinh nghiệm và hiệu quả sẽ luôn đi kèm với đội ngũ nhân sự chuyên nghiệp, trình độ chuyên sâu và chất lượng cao trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, công nghệ luôn có sẵn, do vậy các TTTC là nơi có nguồn nhân lực tài chính tốt nhất cũng như là nơi thu hút được các tài năng trên khắp thế giới tập trung về Việc dễ dàng tiếp cận, giảm chi phí tuyển dụng cũng như chi phí đào tạo của đội ngũ nhân viên chất lượng cao sẽ tạo ra những lợi thế cạnh tranh không nhỏ cho các công ty trong TTTC Điều này đồng nghĩa với việc tạo điều kiện thuận lợi mức độ mở cửa lao động nước ngoài
▪ Là nơi có các thị trường tài chính chính thức như thị trường tiền tệ ngân hàng, thị trường chứng khoán bao gồm thị trường cổ phiếu và thị trường trái phiếu, thị trường bảo hiểm, thị trường phái sinh
Bảng 1 10 thị trường chứng khoán trên thế giới có giá trị vốn hóa lớn nhất
3 Shanghai Stock Exchange 3.9 4.5 4.1 5.1 3.9 5.1 7.0
4 Japan Exchange Group 4.4 4.9 5.1 6.2 5.3 6.2 6.7
5 Hong Kong Exchanges and Clearing 3.2 3.2 3.2 4.4 3.8 4.9 6.1
7 Shenzhen Stock Exchange 2.1 3.6 3.2 3.6 2.4 3.4 5.2
10 National Stock Exchange of India 1.5 1.5 1.5 2.4 2.1 2.2 2.6
Nguồn: Worldbank
Trang 5Các thị trường tài chính tại các TTTC đều có quy mô lớn và chi phối thị trường toàn cầu, chẳng hạn như quy mô vốn hóa của các sàn giao dịch chứng khoán lớn nhất thế giới đều đặt tại các TTTC của thế giới (như New York, Thượng Hải, Tokyo…)
▪ Là nơi có các điều kiện vị trí địa lý thuận lợi, mức độ phát triển về kinh tế, hạ tầng
kỹ thuật, công nghệ hơn hẳn so với các khu vực khác
Có thể dễ dàng nhận ra rằng các TTTC đã tồn tại trong suốt lịch sử từ những trung tâm cổ đại, gần như huyền thoại như Babylon, Samarkand, Constantinople, Marrakech hay Timbuktu cho đến London, New York, Paris, Tokyo hay Thượng Hải Các TTTC trước hết thường xuất phát từ các thành phố là các trung tâm công nghiệp và thương mại Tất cả các TTTC lớn trên thế giới đã từng có giai đoạn là trung tâm thương mại và công nghiệp, như New York (Mỹ), Amsterdam (Hà Lan), Hong Kong, Singapore, London (Anh), Paris (Pháp) Tuy nhiên, không phải thành phố công nghiệp và thương mại nào cũng có thể trở thành TTTC Điều này cho thấy có rất nhiều thành phố đã từng là trung tâm công nghiệp và thương mại lại không thể phát triển thành một TTTC, mặc dù sở hữu các điều kiện tự nhiên về cảng biển, vị trí địa lý
Là một TTTC cũng có nghĩa là có một địa điểm thuận tiện để tổ chức các cuộc họp
và hội nghị kinh doanh, từ đó thúc đẩy ngành du lịch và các khoản thu thuế liên quan Điều này dẫn đến giá thuê mặt bằng, bất động sản tại các TTTC có mức giá trung bình tăng cao so với các nơi khác, do tại vị trí các TTTC: nhu cầu về nhà ở, mặt bằng để sử dụng ngày càng tăng cao và vượt xa nguồn cung ứng Bởi vì các TTTC có các doanh nghiệp thu hút nhiều lao động, nhiều doanh nghiệp khác mọc lên để phục vụ cho tất cả các cá nhân trong khu vực, tạo nên một thành phố hoặc khu vực sầm uất Các lĩnh vực kinh doanh khác có thể bao gồm từ nhà hàng đến phòng tập thể dục, cửa hàng bách hóa đến các trung tâm giải trí khác nhau Cơ sở hạ tầng giao thông, thông tin và tài chính hiện đại, các kết nối hệ thống tài chính ngân hàng, cơ sở hạ tầng tài chính được thiết lập theo tiêu chuẩn khu vực và quốc tế
Ngoài ra, theo nghiên cứu của Dufey và Giddy (1978) thì việc nhận diện một TTTC được thông qua 4 đặc điểm quan trọng đó là: là nơi ổn định về kinh tế và chính trị; là nơi
có hệ thống tài chính giàu kinh nghiệm và hiệu quả; hệ thống thông tin liên lạc tốt và đầy
đủ các dịch vụ hỗ trợ; và có một môi trường pháp lý thuận lợi cho lĩnh vực tài chính Với
vị trí được chọn TTTC phải ổn định về kinh tế và chính trị bởi vì việc kinh doanh dịch vụ tài chính cũng như bất kỳ một ngành kinh doanh nào khác, phụ thuộc rất nhiều vào môi trường kinh doanh nói chung của một quốc gia như mức độ tăng trưởng kinh tế, chính sách kinh tế của chính phủ, thuế suất, mức độ thuận lợi cũng như chi phí kinh doanh Các
tổ chức tài chính khi di chuyển vào các TTTC thường là những tổ chức quốc tế lớn, tính linh hoạt cao, nên họ sẽ chọn những TTTC nào đáp ứng được nhu cầu Bên cạnh đó, hệ
Trang 6thống chính trị ổn định của quốc gia có TTTC được các nhà đầu tư cũng như các tổ chức tài chính đánh giá cao
2.3 Xếp hạng các TTTC trên toàn cầu
Để xếp hạng các TTTC trên toàn cầu, có 2 chỉ số cơ bản được chọn làm căn cứ để xếp hạng
các TTTC của thế giới, đó là chỉ số TTTC toàn cầu (GFCI - Global Financial Centres
Index của Anh) và chỉ số IFCDI (International Financial Centres Development Index- của
Mỹ và Trung Quốc) Trong đó, GFCI xuất hiện trước IFCDI và đã là thước đo năng lực
cạnh tranh của các thủ đô tài chính thế giới từ năm 2007 GFCI được tính toán dựa trên đánh giá của 29,000 TTTC lớn trên toàn cầu cùng với 100 chỉ số từ các tổ chức uy tín như Ngân hàng Thế Giới World Bank, OECD, Cơ quan Tình báo Kinh tế EIU Báo cáo xếp hạng của GFCI được Z/Yen Group (hãng nghiên cứu và tư vấn về tài chính của Anh) nghiên cứu và công bố vào 2 lần mỗi năm, thực hiện vào tháng 9 và tháng 3 hàng năm
Bảng 2 Bảng xếp hạng 10 TTTC toàn cầu, tháng 3/2021
10 GFC hàng đầu thế giới 10 GFC hàng đầu khu vực hâu
Á Thái Bình Dương
10 GFC hàng đầu trong lĩnh vực
FinTech
Nguồn: Z/Yen, March 2021
Trong các trung tâm tài chính hàng đầu ở châu Á thì Hong Kong là nơi đặt trụ sở nhiều cơ quan truyền thông quốc tế, nhờ chính sách cởi mở với doanh nghiệp nước ngoài
và quan hệ mật thiết với Trung Quốc đại lục Tuy nhiên, sau khi Trung Quốc thông qua luật an ninh quốc gia áp dụng với Hong Kong vào tháng 7/2020, tình trạng bất ổn chính trị tại Hong Kong gia tăng khiến nhiều doanh nghiệp có xu hướng chuyển khỏi thành phố này Trên thực tế, giá thuê văn phòng tại các quận chính ở Hong Kong đang biến động Nếu quan hệ Mỹ-Trung không có dấu hiệu cải thiện, Hong Kong có thể mất đi vị thế tài chính khu vực, và dòng vốn đầu tư và nhân sự có thể tháo chạy khỏi thị trường này Một
số thành phố châu Á đang nỗ lực thu hút vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp rời khỏi Hong Kong Singapore hưởng lợi nhiều nhất nhờ các điều kiện ngôn ngữ, thời tiết và môi trường tương tự Hong Kong Trung Quốc cũng có kế hoạch riêng, tích cực quảng bá thành
Trang 7phố Thượng Hải và Thâm Quyến thông qua nới lỏng các quy định nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp nước ngoài hoạt động tại thị trường này
Việc Singapore và Thượng Hài nhận được sự quan tâm rất lớn của các công ty đa quốc gia cho thấy sự thành công trong việc duy trì vị thế TTTC của hai khu vực này Lịch
sử phát triển cũng như các trụ cột trong sự thành công của TTTC Singapore và Thượng Hải sẽ là những bài học kinh nghiệm quý giá cho các các gia trong khu vực châu Á trong chiến lược xây dựng TTTC quốc gia vươn mình trở thành TTTC khu vực và quốc tế
3 Kinh nghiệm xây dựng trung tâm tài chính Singapore
Trong 55 năm kể từ khi giành được độc lập năm 1965, Singapore đã khẳng định mình là một trong những TTTC hàng đầu toàn cầu Singapore được xếp hạng 2 trong chỉ số Thành
phố Cơ hội (City of Opportunity index) của PriceWaterHouseCooper và hạng 2 về xếp
hạng Trung tâm quản trị tài sản toàn cầu (Global Wealth Management Centre Ranking) của Deloitte Những nhân tố chính đóng góp cho sự thành công của Singapore bao hàm
cả yếu tố lịch sử và các phát kiến chính sách
3.1 Lịch sử phát triển
Việc Singapore trở thành một TTTC có thể được bắt nguồn từ nguồn gốc thuộc địa của quốc gia này, khi Stamford Raffles lần đầu tiên thành lập một chi nhánh giao dịch của Công ty Đông Ấn thuộc Anh trên đảo vào năm 1819 Singapore sau đó trở thành thuộc địa của Anh vào năm 1826 Với vị trí địa lý chiến lược, Singapore nhanh chóng trở thành một trung tâm trung chuyển thương mại lớn dưới thời Đế quốc Anh, cũng như là một căn
cứ hải quân của Anh Sự xuất hiện sớm này của hoạt động thương mại và vận chuyển là rất quan trọng đối với sự hình thành của lĩnh vực dịch vụ tài chính ở Singapore Trong nhiều trường hợp trên khắp thế giới, sự xuất hiện của các luồng giao thương thương mại lớn sẽ phát triển dịch vụ tài chính liên quan đến hoạt động thương mại và vận chuyển, chẳng hạn như trao đổi tiền tệ, bảo hiểm vận tải và tài trợ hàng hải và các dịch vụ tài chính liên quan khác Với vị trí gần các kho hàng dọc sông Singapore, các ngân hàng và các định chế tài chính dễ dàng tiếp cận với khách hàng của họ - các công ty vận chuyển
và chủ kho hàng - những người có nhu cầu về dịch vụ tài chính và bảo hiểm
Tuy nhiên, chỉ khi giành được độc lập, Singapore mới phát triển thành một TTTC toàn cầu với việc chính phủ thực hiện các chính sách tích cực hướng tới thành lập ngành dịch vụ tài chính ở Singapore Albert Winsemius là người đầu tiên gợi ý rằng múi giờ chiến lược của Singapore có thể cho phép kết nối khoảng trống trong giờ giao dịch của thị trường tài chính toàn cầu Điều này dẫn đến việc thành lập Thị trường đô la Châu Á (Asian Dollar Market - ADM) vào năm 1968, nhằm mục đích tạo cầu nối giữa thời điểm
Trang 8đóng cửa của thị trường Mỹ với thời điểm mở cửa thị trường châu Âu vào ngày giao dịch tiếp theo ADM đặt nền tảng cho sự phát triển của hệ thống tài chính ngân hàng ở Singapore, với Đơn vị tiền tệ Châu Á (ACU) được thành lập cùng với ADM cho phép tham gia của các ngân hàng và tổ chức tài chính nước ngoài trong lĩnh vực dịch vụ tài chính của Singapore Như vậy, chính phủ Singapore ngay từ đầu đã coi ngành dịch vụ tài chính không chỉ đơn giản là một phương tiện để hỗ trợ sự phát triển của các ngành công nghiệp hiện có khác, mà còn chú trọng thúc đẩy sự tăng trưởng của riêng ngành này Việc xem ngành dịch vụ tài chính là một động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bắt nguồn
từ từ việc Singapore tuân thủ cách tiếp cận “nhà nước phát triển” để phát triển kinh tế, theo
đó nhà nước có xu hướng xác định các lĩnh vực chính có thể đóng góp vào tăng trưởng kinh
tế và ban hành các chính sách phù hợp để phát triển các ngành này Dựa vào quan điểm trên
và kết hợp với nhu cầu kinh tế của một quốc gia mới độc lập, Singapore đã bắt tay vào phát triển ngành dịch vụ tài chính để tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Cách tiếp cận này
đã thúc đẩy sự phát triển của Singapore trở thành một TTTC toàn cầu Ở giai đoạn phát triển của Singapore, sự can thiệp của nhà nước là rất quan trọng cho nỗ lực hình thành nền tảng thị trường tài chính, chẳng hạn như việc thành lập ADM
3.1.1 Sự phát triển về mặt thể chế
Khi ngành dịch vụ tài chính của Singapore ngày càng phát triển phức tạp và quốc tế hóa với cả sự gia tăng của các tổ chức tài chính trong nước lẫn sự gia nhập của các tổ chức tài chính nước ngoài, ngày càng có nhu cầu về một cách tiếp cận hợp nhất hơn để quản
lý và điều chỉnh các định chế này Do vậy, Đạo luật Cơ quan Quản lý Tiền tệ Singapore
đã được ban hành vào năm 1971, cho phép thành lập Cơ quan tiền tệ Singapore
(Monetary Authority of Singapore - MAS), đóng vai trò kép của ngân hàng trung ương
và cơ quan quản lý tài chính
Sở giao dịch chứng khoán Singapore (SES) sau đó được thành lập vào năm 1973, cho phép các công ty huy động vốn thông qua thị trường vốn cổ phần SES là sau đó hợp nhất với Sở giao dịch tiền tệ quốc tế Singapore để hình thành Sở giao dịch Singapore (SGX), đáp ứng với chiều sâu tài chính và sự đa dạng ngày càng tăng của thị trường vốn Singapore Sở giao dịch tiền tệ quốc tế Singapore (SIMEX) được thành lập vào năm 1983,
và sàn SESDAQ ra đời năm 1987 cho phép niêm yết các công ty có quy mô nhỏ
Việc hình thành các tổ chức quản lý như MAS và SGX là một quyết định mang tính thể chế để đáp ứng tốc độ phát triển nhanh chóng của lĩnh vực dịch vụ tài chính ở Singapore trong giai đoạn này Khi nhu cầu các tổ chức tài chính về quy mô giao dịch ngày càng tăng và phức tạp hơn đã dẫn đến sự ra đời của các nền tảng giao dịch như SGX,
Trang 9SIMEX, hoặc SASDAQ, điều này cũng cho thấy các cơ quan quản lý đã đảm bảo một nền tảng thị trường và hệ thống phù hợp với sự tăng trưởng của khu vực tài chính Trong khi MAS đóng vai trò quản lý thị trường tài chính thì SGX cũng giữ vai trò quản lý đặc biệt, cụ thể là quản lý các thành viên và đảm bảo rằng các giao dịch được thực hiện là hợp pháp Các tổ chức khác cũng có vai trò quản lý bao gồm Hội đồng quản
trị Quỹ dự phòng trung ương (Central Provident Fund - CPF), cơ quan quản lý khoản
tái đầu tư nguồn ngân quỹ được nắm giữ trong hệ thống quỹ hưu trí bắt buộc của
Singapore, và Cơ quan quản lý kế toán và doanh nghiệp (Accounting and Corporate
Regulatory Authority - ACRA), giữ vai trò quản lý các tổ chức kinh doanh, kế toán và
các nhà cung cấp dịch vụ doanh nghiệp ở Singapore
3.1.2 Quốc tế hóa, đa dạng hóa và hợp nhất
Ngành dịch vụ tài chính của Singapore trải qua tiến trình quốc tế hóa và đa dạng hóa trong những năm 1980 và 1990 Điều này bắt đầu thực hiện sau cuộc suy thoái kinh tế
1984-1985, với việc vào năm 1985, Ủy ban Đánh giá Kinh tế (Economic Review
Committee - ERC) xác định 7 lĩnh vực tăng trưởng của ngành tài chính Singapore, trong
đó có quản lý rủi ro, quản lý quỹ, thị trường vốn, thị trường chứng khoán chưa niêm yết, hợp đồng tương lai hàng hóa và tài chính, thị trường tài trợ cho hoạt động thương mại và tái bảo hiểm của nước thứ ba
Tuy nhiên, việc xác định các khu vực tăng trưởng mới này không chỉ nhằm phục hồi sau suy thoái mà còn là một phần trong nỗ lực của chính phủ Singapore nhằm thiết lập các khu vực tăng trưởng mới trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng tăng từ các TTTC khác, vốn đang nhanh chóng tự do hóa và bãi bỏ quy định thị trường của họ Trong những năm
1980, ngành quản lý tài sản của Singapore phát triển nổi bật nhất Được sự hỗ trợ của của chính phủ cũng như tận dụng lợi thế về sự mở rộng nhanh chóng trong quy mô và sự đa dạng hóa của thị trường tài chính Singapore, ngành công nghiệp quản lý tài sản đã trở thành một lĩnh vực tăng trưởng quan trọng của của quốc gia này
Ngoài quốc tế hóa và đa dạng hóa, ngành dịch vụ tài chính của Singapore cũng đã trải qua một giai đoạn hợp nhất, đặc biệt là giữa các các ngân hàng quốc doanh trong nước Khi
tự do hóa thị trường tài chính làm tăng sự tham gia bởi các ngân hàng và tổ chức tài chính nước ngoài trên thị trường tài chính của mình, các nhà hoạch định chính sách của Singapore nhận thấy nhu cầu ngày càng tăng trong việc mở rộng quy mô và năng lực của các ngân hàng địa phương để đảm bảo khả năng cạnh tranh toàn cầu Dưới sự cố vấn của MSA, các ngân hàng địa phương nhỏ hơn đã được sáp nhập, điển hình là việc tiếp quản Post Office Savings Bank (POSB) của Ngân hàng Phát triển Singapore (DBS) và sự hợp nhất của Overseas Union Bank vào United Overseas Bank Limited (UOB)
Trang 10Quá trình hợp nhất này không chỉ giới hạn ở các ngân hàng hoặc khu vực tư nhân Trên quan điểm về một khu vực tài chính ngày càng đa dạng và tích hợp, MAS đã tìm cách củng cố chính sách của mình bằng cách nhấn mạnh hai quyết sach chính của mình là cải cách quy định và thúc đẩy phát triển lĩnh vực tài chính Điều này dẫn đến đến việc tái cơ cấu tổ chức đáng kể vào năm 1997, và hình thành Ban Xúc tiến Khu vực Tài chính, nơi tập trung vào việc thúc đẩy các hoạt động tài chính và phát triển Singapore thành một TTTC quốc tế hàng đầu
3.2 Các lĩnh vực chính
Một số lĩnh vực hoặc thị trường tài chính có vị thế đặc biệt quan trọng đối với sự thành công của Singapore Những lĩnh vực này đại diện cho thế mạnh của Singapore với tư cách một TTTC toàn cầu, cũng như thu hút các nhà đầu tư và tổ chức tài chính nước ngoài
3.2.1 Ngân hàng và Tài chính
Singapore có vai trò quan trọng trong khu vực và toàn cầu như một trung tâm ngân hàng lớn Theo MAS, các ngân hàng ở Singapore nắm giữ tổng tài sản hơn 2 nghìn tỷ đô la Mỹ tính đến năm 2019 Số ngân hàng thương mại là 155, trong đó 5 ngân hàng trong nước
và 150 ngân hàng nước ngoài, trong số này có 97 là ngân hàng bán buôn Đặc biệt, 3 ngân hàng địa phương lớn nhất của Singapore là DBS, UOB và OCBC đã được xếp hạng trong nhóm các thương hiệu ngân hàng mạnh nhất và có giá trị nhất thế giới
Hơn nữa, lĩnh vực ngân hàng của Singapore còn có khả năng tạo ra hiệu ứng lan tỏa kinh tế Khu vực ngân hàng hỗ trợ các hoạt động thương mại, tài chính doanh nghiệp và xây dựng cơ sở hạ tầng Do đó khu vực ngân hàng của Singapore đóng một vai trò quan trọng, không chỉ đơn giản là một lĩnh vực tăng trưởng mà còn tạo điều kiện cho các hoạt động kinh tế và tài chính khác nữa Tuy nhiên, lĩnh vực ngân hàng của Singapore cũng phải đối mặt với những thách thức về quy định, đặc biệt là về các hoạt động rửa tiền và thao túng lãi suất
3.2.2 Quản lý tài sản (Assets Under Management - AUM)
Quản lý tài sản đã được xác định là một lĩnh vực tăng trưởng quan trọng trong những năm
1980, Singapore kể từ đó vươn lên trở thành một trung tâm quản lý tài sản hàng đầu Châu
Á Theo Khảo sát Quản lý Tài sản năm của MAS, trong năm 2019, tài sản đặt dưới sự quản lý của các tổ chức ở Singapore lên tới 3,97 nghìn tỷ đô la Singapore, tăng trưởng 16% so với năm trước Tài sản này được quản lý bởi 895 nhà quản lý quỹ đã đăng ký và được cấp phép Quan trọng hơn, Singapore đã nhanh chóng vươn lên trở thành một trung tâm quản lý tài sản hàng đầu trong khu vực và toàn cầu, đóng một vai trò trung gian quan trọng cho các luồng vốn đầu tư tư nhân toàn cầu 76% AUM của Singapore có nguồn gốc