1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Xu hướng chủ đạo của hệ thống tài chính toàn cầu và giải pháp chiến lược đối với Việt Nam

18 48 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 560,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết tập trung thảo luận về những xu hướng chủ đạo đó, cũng như nhận diện những cơ hội, thách thức đối với hệ thống tài chính toàn cầu và Việt Nam; từ đó kiến nghị một số giải pháp chiến lược nhằm giúp Việt Nam tận dụng được cơ hội, vượt qua thách thức, tăng khả năng chống chịu với các cú sốc và phát triển bền vững. Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA

ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

Cấn Văn Lực & các cộng sự*

Tóm tắt

Kinh tế và thị trường tài chính toàn cầu đã trải qua “cú sốc bất lợi nhất trong vòng một thế kỷ” do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, song cũng đang chuyển mình mạnh mẽ trong kỷ nguyên số Theo đó, hệ thống tài chính toàn cầu giai đoạn 2021-2025 đang chứng kiến nhiều xu hướng chủ đạo, đặt ra nhiều cơ hội đan xen không ít nguy cơ, thách thức do những biến động phức tạp và khó lường của dịch Covid-19, sự vận động không ngừng của thị trường và sự xuất hiện của những yếu tố mới Cùng với những thành công trong kiểm soát dịch bệnh và phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội từ đầu năm 2020 đến nay, hệ thống tài chính Việt Nam đã đạt được những thành quả đáng ghi nhận, góp phần huy động, phân bổ và cung ứng nguồn tài lực cho nền kinh tế Bài viết sẽ tập trung thảo luận về những xu hướng chủ đạo đó, cũng như nhận diện những cơ hội, thách thức đối với hệ thống tài chính toàn cầu và Việt Nam; từ đó kiến nghị một số giải pháp chiến lược nhằm giúp Việt Nam tận dụng được cơ hội, vượt qua thách thức, tăng khả năng chống chịu với các cú sốc và phát triển bền vững

Từ khóa: Xu hướng tài chính toàn cầu, tài chính số, tài chính xanh, trung tâm tài chính

quốc tế, tài chính Việt Nam

1 *Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV

Trang 2

1 Xu hướng chủ đạo của hệ thống tài chính toàn cầu giai đoạn 2021-2030

Dưới tác động của chuyển đổi số, xúc tác của dịch bệnh và quá trình hội nhập quốc tế cùng

sự thay đổi của xu hướng tiêu dùng dịch vụ tài chính theo hướng “xanh” hơn, có thể quan

sát thấy 6 xu hướng chủ đạo của hệ thống tài chính toàn cầu trong giai đoạn tới (1) Xu hướng thứ nhất: chuyển đổi số mạnh mẽ

Sự phát triển của CMCN 4.0 cùng với xu hướng chuyển đổi số đã và đang thay đổi mọi mặt hoạt động của lĩnh vực dịch vụ tài chính Các nền tảng công nghệ hiện đại, đột phá như điện toán đám mây (Cloud Computing), dữ liệu lớn (Big Data), trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence - AI), chuỗi khối (Blockchain), Internet vạn vật (IoT), tự động hóa quy trình bằng robot (Robotic Process Automation - RPA) ngày càng được ứng dụng rộng rãi, góp phần đa dạng hóa các hoạt động và kênh phân phối, hiện đại hóa sản phẩm, dịch vụ tài chính; gia tăng am hiểu nhu cầu, hành vi khách hàng; tăng năng suất, chất lượng hoạt động của hệ thống tài chính Cùng với đó, các ứng dụng sinh trắc học, công nghệ thực tế - ảo góp phần nâng cao hiệu quả xác thực, tương tác khách hàng Các mô hình và phương thức kinh doanh mới (ví điện tử, cho vay ngang hàng, huy động vốn cộng đồng, tiền kỹ thuật số…) đang phát triển nhanh, tạo nên sự cạnh tranh và thách thức với

mô hình, hệ thống tài chính truyền thống Sự phát triển của công nghệ cũng là nền tảng

tạo nên sự phát triển mạnh của các “Trung tâm công nghệ tài chính” (Fintech centers)

trên toàn cầu, trong đó có các trung tâm tài chính hàng đầu khu vực Châu Á như Singapore, Hongkong, Dubai… đang rất chú trọng phát triển thị trường fintech này Thay

đổi về môi trường như dịch bệnh có xúc tác mạnh mẽ tiến trình chuyển đổi số, gồm cả

dịch vụ tài chính (Bảng 1)

Bảng 1: Ứng dụng công nghệ mới trong lĩnh vực tài chính toàn cầu

Nguồn: OECD và quan sát của tác giả

thanh toán

Dịch vụ tư vấn & đại lý

Đầu tư &

tự doanh

Cho vay

và tài trợ

Bảo hiểm

Chứng khoán

Tác nghiệp

Giao dịch

An ninh mạng

Điện toán đám mây

Trí tuệ nhân tạo

Công nghệ sinh học

Công nghệ tăng cường/Thực tế ảo

Trang 3

HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA

ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

Trên góc độ quản lý - giám sát; phương thức quản lý “truyền thống” đơn thuần sẽ dần

được thay thế bởi các phương thức quản lý “hiện đại và đa dạng” phù hợp với “nền kinh

tế số và hệ thống tài chính số” Thực tế, các ngân hàng trung ương (NHTW) trên thế giới đang nỗ lực tìm kiếm phương thức quản lý phù hợp với những bước phát triển mới của công nghệ và sự đa dạng của các các loại hình, chủ thể tài chính, đặc biệt là Fintech và các công ty công nghệ tham gia lĩnh vực tài chính/thanh toán (Bigtech) Ngân hàng Thanh toán quốc tế (Bank for International Settlements - BIS) và một số NHTW đã thống nhất

thành lập “Trung tâm đổi mới ứng phó các xu hướng công nghệ”, dự kiến sẽ đặt trụ sở

tại Basel (Thụy Sỹ), Hồng Kông và Singapore, nhằm ứng phó kịp thời với các xu hướng công nghệ mới, tăng cường sự ổn định của hệ thống tài chính toàn cầu Như vậy, xu

hướng công nghệ quản lý, tiết chế (Regtech) đang hình thành

Chuyển đổi số cũng đang diễn ra mạnh mẽ trong lĩnh vực bảo hiểm (Insurtech), kinh doanh bất động sản (Proptech), giáo dục - đào tạo nói chung (Edutech) và giáo dục tài chính (Finedu) nói riêng Xu hướng này mang lại không ít cơ hội (giảm chi phí, tăng trải

nghiệm khách hàng, đa dạng hóa SP-DV, thị trường, tăng năng suất lao động, tăng chất

lượng và tốc độ dịch vụ…), nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức (an ninh mạng, an toàn

thông tin - dữ liệu, bảo mật riêng tư, tội phạm tài chính như rửa tiền, tài trợ khủng bố, đánh bạc, giao dịch xuyên biên giới tăng, đầu tư CNTT, xây dựng nhân sự số, thay đổi văn hóa kinh doanh, tiêu dùng…)

Cùng với đó, Deloitte (2020) dự báo 8 xu hướng sẽ xuất hiện trong lĩnh vực cung cấp

dịch vụ tài chính đến năm 2025; đó là: (i) hình thành nhà máy tài chính (do giao dịch

được tự động hóa), (ii) vai trò của tài chính thay đổi (SP-DV, tổ chức – nhân sự, văn hóa kinh doanh, quy trình thay đổi…), (iii) chu kỳ tài chính nhanh và phức tạp hơn (do giao dịch diễn ra nhanh, tự động, trực tuyến…), (iv) Hình thức tự phục vụ (self-service) trở nên phổ biến; (v) Mô hình hoạt động thay đổi, (vi) Kế hoạch hóa nguồn lực DN bị thay đổi; (vii) vai trò của dữ liệu thông minh tăng, và (viii) Phương thức và nơi làm việc thay đổi

(2) Xu hướng thứ hai: phát triển tiền kỹ thuật số

Tiền kỹ thuật số (KTS) do NHTW phát hành (CBDC), được hiểu là tiền KTS chính

thống, có vai trò như tiền truyền thống, nhưng ở dạng số, được phát hành và quản lý bởi

NHTW CBDC đang trong quá trình phát triển và triển khai thử nghiệm Đầu tháng 1/2020, BIS đã công bố kết quả khảo sát năm 2019 với 66 NHTW (21 NHTW ở các nước phát triển và 45 NHTW từ các nước mới nổi, chiếm 75% dân số thế giới và 90% GDP toàn cầu) cho thấy 70% cho biết không có ý định phát hành CBDC trong tương lai gần

và 30% trả lời rằng đã tích cực chủ động chuẩn bị kế hoạch phát hành; trong đó 10% đang phát triển các dự án thí điểm Theo đó, BIS ước tính khoảng 20% dân số thế giới có thể tiếp cận CBDC trong vòng 3 năm tới

Trang 4

Xét trên góc độ toàn cầu, quá trình phát hành đồng CBDC có sự khác biệt lớn giữa

nhóm nước phát triển và nhóm nước mới nổi và có thể chia thành 3 nhóm: (i) Nhóm tiên phong (gồm Trung Quốc, Thụy Điển, Uruguay, Barbados, Bahamas…); (ii) Nhóm ủng

hộ tích cực và đang nghiên cứu phát hành (như Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ, Thụy Sỹ, Pháp, Arab

Xê út và Các tiểu vương quốc Ả rập, Campuchia, Ecuador, Đông Caribê, Canada, Thái Lan, Singapore…); và (iii) Nhóm thận trọng xem xét bởi lo ngại những tác động tiêu cực, rủi ro do CBDC mang lại đối với sự ổn định tài chính, cấu trúc ngân hàng, sự gia nhập của các tổ chức phi ngân hàng trong hệ thống tài chính và truyền tải chính sách tiền tệ gồm có Mỹ, Đức, Anh, Nga…

Như vậy, việc phát triển CBDC là xu thế, chắc chắn sẽ xảy ra và đang ngày càng được nhiều quốc gia quan tâm thực hiện Tuy nhiên, cũng còn những hạn chế nhất định về mặt công nghệ, pháp lý… để chính thức vận hành tại mỗi quốc gia cũng như xuyên biên giới

Ngoài ra, tiền KTS không chính thống do một nhóm người phát hành cũng đang

phát triển nhanh Tính đến hết ngày 15/4/2021, trên thế giới ghi nhận sự xuất hiện của

4.684 loại tiền KTS khác nhau với tổng giá trị vốn hóa gần 2.200 tỷ USD; trong đó, giá

trị vốn hóa của 10 đồng tiền KTS phổ biến nhất đạt gần 1.930 tỷ USD (chiếm gần 90% toàn thị trường) và riêng Bitcoin chiếm đến 55% tổng giá trị vốn hóa toàn thị trường Trong bối cảnh bất định, tiền KTS nói chung và Bitcoin nói riêng đang chứng kiến biến động giá lớn nhất trong lịch sử Với đồng Bitcoin, từ thời điểm hình thành vào năm

2009 đến nay, đã có 3 đợt biến động giá mạnh vào năm 2013, 2017 và mạnh nhất là từ đầu năm 2020 đến nay Giá Bitcoin đã tăng đến 170% trong năm 2020 dù bị giảm tới 2/3 giá trị vào tháng 3/2020 do ảnh hưởng của sự bùng phát dịch Covid-19 Trong gần 3,5 tháng đầu năm 2021, giá Bitcoin tăng thêm 37% Đầu năm 2021, Ngân hàng JPMorgan

dự báo đồng Bitcoin có thể đạt mức giá "lý thuyết" trong dài hạn 146.000USD, khi nó bắt đầu cạnh tranh với vàng; còn theo chuyên gia phân tích của Citibank, giá Bitcoin có thể lên đến 318.000USD vào cuối năm 2021 (tương tự sự gia tăng của giá vàng trong thập niên 1970) Ở mức thận trọng hơn, các chuyên gia (của Công ty Quản lý tài sản số - Morgan Creek và Quỹ SkyBridge Capital của Mỹ) cùng dự báo giá Bitcoin có thể đạt 100.000USD cuối năm 2021

Rõ ràng sức hút của đầu cơ tiền KTS (như Bitcoin) là lớn, nhưng cũng nhiều rủi ro (như rủi ro chưa được công nhận chính thống, rủi ro pháp lý, rủi ro kỹ thuật và mất tiền, rủi ro phục vụ các hoạt động phi pháp Điều này đòi hỏi mỗi quốc gia cần có cách tiếp cận phù hợp và hợp tác quốc tế trong công nhận (nếu có), quản lý, giám sát các loại tiền KTS này

Trang 5

HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA

ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

(3) Xu hướng thứ ba: thay đổi chính sách tiền tệ và tài khóa

Đại dịch Covid-19 bùng phát đã khiến kinh tế thế giới lâm vào cuộc khủng hoảng kép về

y tế và kinh tế Trong năm 2020, bên cạnh nỗ lực ngăn chặn dịch bệnh, Chính phủ và NHTW các nước đã đưa ra nhiều chính sách, gói hỗ trợ chưa có tiền lệ để hỗ trợ người

dân, doanh nghiệp và khôi phục nền kinh tế Theo đó, chính sách tiền tệ - tín dụng chủ

yếu gồm 6 giải pháp chính: (i) giảm lãi suất điều hành và giữ lãi suất thấp; (ii) hạ tỷ lệ

dự trữ bắt buộc, hỗ trợ thanh khoản thị trường; (iii) cho các NHTM vay tái cấp vốn để có thể cho doanh nghiệp vay với lãi suất ưu đãi hơn; (iv) cho phép giãn, hoãn nợ, giữ nguyên nhóm nợ; (v) tăng cường các biện ổn định tỷ giá và thanh khoản của hệ thống tài chính;

và (vi) tiếp tục các gói nới lỏng định lượng (QE) nhằm mua tài sản xấu hoặc trái phiếu dài hạn do các tổ chức tài chính phát hành Chính sách tiền tệ tại mỗi quốc gia được nới lỏng ở mức độ khác nhau, tùy thuộc vào thể chế và mức độ thiệt hại do dịch gây ra Tuy nhiên, dư địa của chính sách tiền tệ dần bị thu hẹp vì lãi suất đã ở mức rất thấp và thường chỉ mang tính thời điểm, khẩn cấp; do đó, các nước tập trung nhiều hơn vào chính sách

tài khóa Chính sách tài khóa chủ yếu gồm 6 giải pháp chính: (i) đầu tư nghiên cứu,

sản xuất vaccine và thiết bị y tế; (ii) trợ cấp người lao động phải tạm nghỉ việc hoặc thất nghiệp; (iii) chia tiền mặt cho người dân thu nhập trung bình và thấp; (iv) cho vay lãi suất thấp hoặc bảo lãnh tín dụng đối với DNNVV và DN kiệt quệ tài chính, khó khăn thanh khoản; (v) giãn, hoãn, giảm thuế thu nhập DN và thuế thu nhập cá nhân; (vi) kích cầu tiêu dùng, du lịch và hỗ trợ xuất khẩu thông qua phiếu mua hàng, giảm giá du lịch và tăng cường bảo hiểm xuất khẩu Các gói hỗ trợ tài khóa có quy mô khác nhau, tùy thuộc vào thể chế, khả năng ngân sách và mức độ thiệt hại do dịch gây ra

Theo thống kê của IMF (tháng 1/2021), tính đến hết năm 2020, thế giới đã cam kết

chi khoảng 14.360 tỷ USD, tương đương 13,5% GDP năm 2020, trong đó khoảng 8.322

tỷ USD (7,4% GDP, chiếm 59,3% tổng các gói hỗ trợ) là các biện pháp tài khóa, còn lại 6.041 tỷ USD (6,1% GDP, chiếm 40,7%) là các biện pháp tiền tệ (không kể các gói QE)

Riêng Mỹ đã có 3 gói hỗ trợ với tổng giá trị khoảng 5.400 tỷ USD, tương đương 25,5%

GDP năm 2020

Bảng 2: Quy mô các gói hỗ trợ của các nước năm 2020

Nhóm nước

Nguồn: IMF (tháng 1/2021); Viện ĐT & NC BIDV tổng hợp

Trang 6

Tuy nhiên, hiện nay chưa có số liệu chính thức đánh giá về kết quả giải ngân cũng như hiệu quả của các chính sách này trên phạm vi toàn cầu Các gói hỗ trợ khổng lồ (cao hơn 3-4 lần các gói kích thích giai đoạn 2008-2009) cùng với lãi suất giảm về mức thấp

đã khiến “tiền rẻ” chảy mạnh vào các kênh đầu tư như chứng khoán, vàng, tiền kỹ thuật

số, bất động sản… Kể từ đầu năm 2020 đến hết quý 1/2021, chỉ số Dow Jones (Mỹ) đã tăng gần 17%, chỉ số MSCI châu Á tăng 22%, giá bất động sản tăng bình quân trên 40 thị trường khoảng 8% (theo GlobalPropertyGuide) trong bối cảnh các nền kinh tế vẫn bị tác động nặng nề bởi dịch bệnh đã làm gia tăng nguy cơ về rủi ro bong bóng tài sản toàn cầu Với tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp, khả năng phục hồi kinh tế có nhiều tiến triển nhưng còn mong manh; đa số quốc gia dự định tiếp tục chính sách tiền tệ và tài khóa nới lỏng (ít nhất đến giữa hoặc cuối năm 2022 như Fed là một thí dụ)

(4) Xu hướng thứ tư: Tái cấu trúc, lành mạnh hóa và chuẩn hóa theo thông lệ

“Tái cấu trúc” là cụm từ được nhắc đến nhiều nhất trong những kế hoạch khôi phục nền kinh tế và thị trường tài chính toàn cầu trong và sau dịch Covid-19 Các chiến lược tái cơ cấu tập trung vào cắt giảm nhân sự, chi phí vận hành; sáp nhập các bộ phận, điều chuyển các vị trí nhân sự; cơ cấu lại mạng lưới hoạt động (kể cả việc giảm chi nhánh vật lý); đầu

tư mạnh vào công nghệ số; hợp tác, mua lại một số sản phẩm, dịch vụ của Fintech, hợp tác với Bigtech tạo lập hệ sinh thái… Hoạt động M&A trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng đã tăng mạnh từ nửa cuối năm 2020 và dự báo tiếp tục sôi động về số thương vụ và giá trị trong giai đoạn 2021-2022 Tiếp nối các thương vụ sáp nhập ngân hàng huyền thoại của thế giới trong giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009, thị trường có thể

sẽ chứng kiến các thương vụ M&A lớn trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng như: UBS và Credit Suisse (Thụy Sỹ); Caixa Bank và Bankia (Tây Ban Nha); Citic Sercurities và CSC Financial (Trung Quốc), làn sóng M&A của các tổ chức tài chính Nhật Bản tại khu vực Đông Nam Á1… Với thị trường vốn, tái cấu trúc, hiện đại hóa hoạt động là yêu cầu quan

trọng nhằm khắc phục các sự cố rủi ro kỹ thuật (nghẽn lệnh, tạm ngừng giao dịch, đóng cửa…) trên toàn cầu khi nhiều thị trường chứng khoán (TTCK) xác lập mốc lịch sử

Cơ quan quản lý, giám sát tài chính ở nhiều quốc gia yêu cầu các định chế tài chính (ĐCTC) tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp song đa số không hạ chuẩn tín dụng, kiểm soát rủi ro, tăng bộ đệm an toàn vốn, áp dụng nhiều hơn các chuẩn mực quản lý rủi ro theo Basel III (nhất là quản lý rủi ro thanh khoản, rủi ro đòn bẩy tài chính và kinh doanh phái sinh….)

1 Chiến lược M&A của Nhật Bản được hỗ trợ bởi nguồn tiền dồi dào tích lũy trong 20 năm (lên tới hơn 2.345 tỷ USD, tồn tại ở hình thức tiền gửi ngân hàng với lãi suất 0%), Việt Nam thuộc danh sách Top 5 điểm đến M&A của Nhật Bản (năm 2020)

Trang 7

HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA

ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

(5) Xu hướng thứ năm: phát triển tài chính xanh, ngân hàng xanh

Trước những tác động nặng nề của dịch bệnh, ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu, nhận thức và hành vi của nhân loại toàn cầu (đặc biệt thế hệ Y, Z) ngày càng chuyển biến mạnh mẽ theo hướng gắn với bảo vệ sức khỏe, môi trường, tiết kiệm và dự phòng, xu hướng ưu tiên phát triển kinh tế xanh, năng lượng sạch2 Theo Refinitiv, xu hướng tìm kiếm về tam giác phát triển bền vững (ESG-môi trường, xã hội và quản trị) qua Google giai đoạn 2017-2020 đã tăng gấp 10 lần giai đoạn 2011-2015, cho thấy mức độ quan tâm ngày càng lớn đến xanh hóa nền kinh tế và thị trưởng tài chính ESG cũng là một trong các tiêu chí bổ sung của các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế như Moody’s và Fitch Chiến lược “xanh hóa” tài chính sẽ bao trùm toàn bộ các bộ phận cấu thành của hệ thống tài chính: trung gian tài chính xanh, thị trường tài chính xanh (bao gồm thị trường carbon, thị trường trái phiếu và cổ phiếu xanh, và chỉ số chứng khoán xanh), công cụ huy động vốn xanh và đầu tư xanh Xu hướng đầu tư bền vững (qua các quỹ ESG) đang trở thành

xu hướng chủ đạo trên toàn cầu (bên cạnh các tiêu chí truyền thống như tăng trưởng lợi nhuận, năng lực tài chính) Theo JPMorgan, tổng tài sản có cách tiếp cận đầu tư bền vững trên toàn cầu ước đạt 45.000 tỷ USD, gấp 45 lần tổng tài sản của các quỹ ESG Theo Morningstar, tổng vốn đầu tư của các quỹ ESG đạt 350 tỷ USD năm 2020, gấp 2 lần năm

2019, giá trị tài sản của các quỹ ESG đạt ngưỡng kỷ lục hơn 1.000 tỷ USD vào 30/06/2020 nhờ tập trung vào các lĩnh vực “kinh tế xanh” như: năng lượng tái tạo, dịch vụ môi trường, nước, bất động sản xanh, giao thông xanh; thực phẩm, ứng phó với biến đổi khí hậu, năng lượng hiệu quả; khoảng 60% quỹ ESG mang lại lợi nhuận cao hơn so với các quỹ đầu tư thông thường

Bảng 2: Quy mô tài sản và dòng tiền của các quỹ ESG toàn cầu

Nguồn: Morning star (tháng 6/2020)

2 Theo Báo cáo “Việt Nam thế hệ kế tiếp” do Hội đồng Anh phát hành vào tháng 8/2020, thế hệ kế tiếp lựa chọn

3 ưu tiên hàng đầu là: an toàn thực phẩm, tiếp cận nguồn nước sạch, và tiếp cận đào tạo cấp độ cao hơn.

Trang 8

(6) Xu hướng thứ sáu: hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng

Cùng với sự phát triển của các Hiệp định thương mại tự do (FTAs) thế hệ mới và các trung tâm Fintech, cơ hội hợp tác, phát triển thương mại và đầu tư quốc tế, tài chính quốc

tế ngày càng rộng mở, đặc biệt với các nền kinh tế đang phát triển năng động Trên góc

độ quản lý, sự hợp tác trong quản lý, chia sẻ dữ liệu, thông tin giữa các NHTW, các cơ quan quản lý tiền tệ quốc tế sẽ góp phần đổi mới nguyên tắc và phương thức quản lý theo hướng tập trung quản lý quá trình cung ứng dịch vụ tài chính, không chú trọng vào tổ chức hay công nghệ; chuyển từ quản lý dựa trên nguyên tắc chung sang quản lý dựa trên

cơ sở đánh giá rủi ro (risk-based) theo thông lệ quốc tế Đồng thời, hội nhập quốc tế sẽ góp phần tăng cường bảo mật thông tin và an ninh mạng, bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư và đảm bảo ổn định hệ thống tài chính Theo đó, các quy định về thanh tra, giám sát, xử phạt

vi phạm hành chính; phòng chống tội phạm công nghệ cao cần thường trực hơn, có sự hợp tác trên phạm vi khu vực và quốc tế và với quy mô, phạm vi rộng lớn hơn để thích

ứng với sự phát triển nhanh, liên tục, đa chiều, xuyên biên giới của công nghệ tài chính,

tiền KTS3 cũng như sự tinh vi, phức tạp của tội phạm công nghệ cao và tội phạm tài chính

2 Rủi ro, thách thức hệ thống tài chính toàn cầu

Xu hướng phát triển tài chính toàn cầu và kỳ vọng phục hồi, tăng trưởng của nền kinh tế

và doanh nghiệp là nền tảng tạo nên sự khởi sắc của thị trường tài chính toàn cầu năm 2020-2021 và trung hạn Tuy nhiên, hệ thống tài chính toàn cầu đã, đang và sẽ chịu tác động không nhỏ bởi diễn biến phức tạp khó lường của dịch Covid-19, vấn đề sản xuất và phân phối vaccine chưa đồng đều; sự phục hồi chưa bền vững của nền kinh tế và nguy cơ

rủi ro nội tại của TTTC Theo đó, có thể quan sát thấy 4 rủi ro, thách thức chính đối

với hệ thống tài chính toàn cầu trong thời gian tới

Một là, nguy cơ bất ổn tài chính toàn cầu đang hiện hữu: mặc dù nguy cơ bong

bóng tài chính, bong bóng chứng khoán toàn cầu khó xảy ra, song không thể loại trừ nguy

cơ sụt giảm, đảo chiều mạnh trước khi thực sự hồi phục bền vững Thực tế, các dấu hiệu

rủi ro chính đối với hệ thống tài chính toàn cầu mặc dù đã được nhận diện và cảnh báo

song vẫn luôn tiềm ẩn nguy cơ gia tăng, bùng phát thậm chí kéo dài 2-3 năm tới (giai đoạn 2021-2023, đáng lo ngại là dạng nguy cơ “Tê giác xám”)4

3 Theo BCG Digital Ventures và IOSCO 2017, có hơn 10.000 công ty Fintech trên toàn cầu, hoạt động ở nhiều lĩnh vực khác nhau

4 Báo cáo “Rủi ro bất ổn tài chính toàn cầu và Việt Nam – Nhận diện và giải pháp” – Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV, tháng 10/2020, trong đó, tê giác xám là thuật ngữ miêu tả rủi ro mà nền kinh tế một quốc gia đã nhận thấy song thường bị lơ là.

Trang 9

HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA

ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

Ba dấu hiệu rủi ro bất ổn chính về khía cạnh nợ nần bao gồm: Thứ nhất, “Bom

nợ” vẫn là nguy cơ lớn nhất, cả nợ chính phủ và nợ doanh nghiệp Mặc dù áp lực nợ công

và thâm hụt tài khóa không lớn như năm 2020 song vẫn còn ở mức cao, đặc biệt tại các

nước phát triển khiến gánh nặng nợ toàn cầu tiếp tục tăng lên tới 365-370%GDP năm

2021; tỷ lệ vỡ nợ trái phiếu doanh nghiệp Trung Quốc dự báo sẽ tăng 10-30% giai đoạn 2021-2022 Dòng vốn đầu tư gián tiếp (FII) dù đã ổn định hơn từ cuối năm 2020 song vẫn có nguy cơ sụt giảm trong giai đoạn 2021-2022 Theo dự báo IMF (tháng 4/2021), nếu tiến trình cung ứng vaccine xấu hơn so với kịch bản cơ sở, dòng vốn FII sẽ giảm khoảng 25% so với năm 2020 (ở mức -110 tỷ USD toàn cầu và mức sụt giảm lớn hơn là

ở các quốc gia thu nhập thấp, thâm hụt vãng lai lớn, nợ công cao, tình trạng dịch bệnh diễn biến phức tạp song việc phân phối vaccine chậm như Trung Đông và Bắc Phi, châu

Âu và Trung Á) Với “bom nợ” này, khi lãi suất tăng lên, thanh khoản thị trường giảm, trách nhiệm trả nợ tăng theo, sẽ là gánh nặng và rủi ro tài chính khó lường, nhất là các

Hình 1: Khu vực chính phủ, hộ gia đình, bảo hiểm và quản lý tài sản rủi ro tăng nhẹ

Nguồn: IMF, Viện Đào tạo và nghiên cứu (tháng 4/2021)

0.0 20.0 40.0 60.0 80.0 100.0

Khu vực chính phủ

KV DN/ phi tài chính

KV Hộ gia đình

Ngân hàng Bảo hiểm

Quản lý tài sản

Tổ chức tài chính phi NH

Oct 2020 April.2021 Khủng hoảng tài chính 2008-2009

Bảng 4: Mức độ rủi ro tài chính toàn cầu theo khu vực, quốc gia

(so sánh tại thời điểm tháng 10/2020 và tháng 4/2021)

Nguồn: IMF - GFSR (tháng 4/2021), Viện ĐT & NC BIDV thể hiện

Rủi ro cao

Cấp độ 5:

Rủi ro trung bình

Cấp độ 4:

Rủi ro trung bình

Cấp độ 2:

Rủi ro thấp

Cấp độ 1: Rủi ro rất thấp

Nhóm các nước phát triển

Hoa Kỳ

Châu Âu

Các nước phát triển khác

Nhóm các nước mới nổi

Trung Quốc

Các nước mới nổi khác

ngân hàng Khu vực chính phủ KV DN/phi tài chính

Vulnerabilities remain elevated across the large firms of the nonbank financial sector and amid rising debt levels in the sovereign sector, while improved liquidity conditions in the corporate sector have tempered near-term risks for large firms.

1 Proportion of Systemically Important Economies with Elevated Vulnerabilities, by Sector (Percent of countries with high and medium-high vulnerabilities, by GDP or assets; numbers of countries, in parentheses)

2 Financial Vulnerabilities by Sector and Region

Figure 1.1.1 Global Financial Vulnerabilities

Sources: Banco de Mexico; Bank for International Settlements; Bank of Japan; Bloomberg Finance L.P.; China Insurance Regulatory Commission; European Central Bank; Haver Analytics; IMF, Financial Soundness Indicators database; Reserve Bank of India; S&P Global Market Intelligence; S&P Leveraged Commentary and Data; Securities and Exchange Commission of Brazil; Securities and Exchange Board of India; WIND Information Co.; and IMF staff calculations Note: Panel 1 is based on 29 jurisdictions with systemically important financial sectors Vulnerabilities are by GDP for sovereigns, households, and nonfinancial firms; and by assets for banks, asset managers, other financial institutions, and insurers “Global financial crisis” reflects the maximum vulnerability value during 2007–08 In panel 2, dark red shading indicates a value in the top 20 percent of pooled samples (advanced and emerging market economies pooled separately) for each sector during 2000–20 (or the longest sample available) Dark green shading indicates values in the bottom 20 percent In panels 1 and 2, for households, the debt service ratio for emerging market economies is based on all private nonfinancial firms and households In panel 2, a change in data sources for India and a related reorganization of the data for India led—due the relative ranking used in the methodology—to some changes in the values for other emerging markets compared to the values reported in the October 2020 GFSR “Other advanced” economies are Australia, Canada, Denmark, Hong Kong Special Administrative Region, Japan, Korea, Norway, Singapore, Sweden, Switzerland, and the United Kingdom “Other emerging” market economies are Brazil, India, M exico, Poland, Russia, and Turkey.

Banks (14)

Sovereigns (13)

Households (16)

Nonfinancial firms (20)

Insurers (12)

Asset managers (8)

Apr 2021 GFSR Global financial crisis

80%

100%

60%

40%

20%

More vulnerable

Other financial institutions (16)

Oct

2020 Apr 2020Oct Apr 2020Oct Apr 2020Oct Apr Oct 2020 Apr Oct 2020 Apr Oct 2020 Apr

Advanced Economies

United States Euro area Other advanced

Emerging Market Economies

China Other emerging

Other Financial Institutions Asset Managers Sovereigns Nonfinancial

Firms Households Banks Insurers Worst Best

Trang 10

nước đang phát triển và mới nổi, vốn dĩ dễ bị tổn thương và khả năng tiếp cận vaccine khó khăn hơn

Thứ hai, thị trường chứng khoán (TTCK) và thị trường bất động sản (BĐS) vẫn tiềm

ẩn nguy cơ sụt giảm do sự phục hồi chưa bền vững của nền kinh tế thực5 Thứ ba, nguy

cơ và những thách thức mới với hệ thống ngân hàng toàn cầu vẫn tiềm ẩn dù khả năng chống chịu rủi ro của hệ thống ngân hàng ngày càng tốt hơn (rủi ro nợ xấu, ngân hàng ngầm - shadow banking ngày càng lớn và tinh vi, sự phát triển của các giao dịch xuyên biên giới, an ninh mạng và tội phạm tài chính…)

Hai là, nguy cơ “phục hồi chưa chắc chắn và không đồng đều” của nền kinh tế

toàn cầu khiến rủi ro tài chính gia tăng

Cuộc khủng hoảng kinh tế và y tế do ảnh hưởng của dịch Covid-19 đã khiến tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2020 đã sụt giảm -3,3% so với năm 2019 - mức thấp nhất kể

từ năm 1930; đà phục hồi dự báo ở mức tăng trưởng 6% năm 2021 và 4,4% năm 2022 (IMF, tháng 4/2021) Quá trình phục hồi kinh tế phụ thuộc rất chặt chẽ vào việc phát triển, cung cấp, phân phối và tiêm chủng vaccine trên phạm vi toàn cầu Theo dự báo của

CitiResearch (tháng 2/2021), vaccine sẽ giúp GDP toàn cầu tăng trưởng thêm 4,1 điểm

% giai đoạn 2021-2022 thông qua việc nâng cao sức khỏe cộng đồng, kiểm soát dịch

bệnh, thúc đẩy nhu cầu đầu tư, thương mại, tiêu dùng Tuy nhiên, việc phân phối vaccine đang đối diện với nhiều khó khăn, đáng lo ngại nhất là “tình trạng bất bình đẳng, không đồng đều, yếu tố tâm lý”6 Đây sẽ là yếu tố tiêu cực khiến đà phục hồi kinh tế bị chậm

5 https://cafef.vn/chuyen-gia-giai-ma-da-tang-nhanh-cua-thi-truong-chung-khoan-va-nhung-khuyen-nghi-20210121084125015.chn

6“Tiến trình cung ứng Vaccine Covid-19 và vai trò của nó trong phục hồi kinh tế” TS Cấn Văn Lực và

nhóm tác giả Viện ĐT&NC BIDV, tháng 3/2021.

Hình 2: Nợ công/GDP của một số khu vực, quốc gia giai đoạn 2019-2021f

Nguồn: World Bank, IMF (tháng 4/2021), Viện ĐT & NC BIDV thể hiện

0 50 100 150 200 250 300

2019 2020 2021

Ngày đăng: 31/07/2021, 10:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm