Bài viết trình bày đánh giá chất lượng cuộc sống và tình trạng đau khớp trên bệnh nhân ung thư vú điều trị aromatase inhibitor tại Trung tâm Ung Bướu Thái Nguyên. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả tiến hành trên 109 người bệnh ung thư vú điều trị aromatase inhibitor tại Trung tâm Ung Bướu Thái Nguyên từ 1/2018 đến 6/2020.
Trang 1ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ
VÚ ĐIỀU TRỊ BẰNG THUỐC ỨC CHẾ AROMATASE INHIBITOR TẠI
TRUNG TÂM UNG BƯỚU THÁI NGUYÊN
NGUYỄN ĐỨC THÀNH1, TRẦN BẢO NGỌC2, NGUYỄN TRẦN VƯƠNG3, NGUYỄN PHƯƠNG MINH4, DƯƠNG HỒNG THÁI5
Địa chỉ liên hệ: Nguyễn Đức Thành
Email: thanhnguyenduc.ubtn@gmail.com Ngày nhận bài: 05/10/2020 Ngày phản biện: 03/11/2020
Ngày chấp nhận đăng: 05/11/2020
1 ThS ĐD TTĐT&CĐT-Bệnh viện Đa khoa Trung Ương Thái Nguyên
2 PGS.TS BS Phó Giám đốc Trung tâm Ung bướu-Trưởng Bộ môn Ung thư ĐHYDTN
3 ThS BS Trung tâm Ung bướu Thái Nguyên
4 ThS.ĐD Giảng viên trường Cao Đẳng Y Tế Thái Nguyên
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư vú là bệnh ung thư có tỷ lệ mắc và tỷ lệ
tử vong hàng đầu ở nữ giới Theo GLOBOCAN
2012, tại Việt Nam, tỷ lệ mắc ung thư vú đứng thứ
nhất và đứng thứ ba nguyên nhân gây tử vong ở nữ
giới sau ung thư gan và ung thư phổi[3] Cùng với
tiến bộ của khoa học kĩ thuật và tiến bộ y khoa ung
thư vú có thể điều trị khỏi và kéo dài thời gian sống
cũng như chất lượng cuộc sống của người bệnh nếu
phát hiện sớm, điều trị đúng phác đồ và người bệnh
tuân thủ điều trị
Bệnh nhân ung thư vú điều trị hocmone với
thuốc kháng Aromatase thế hệ ba aromatase
inhibitor (AI) nhằm giảm tiến trình bệnh bằng cách giảm mức độ hocmone estrogen Các thuốc kháng Aromatase thế hệ ba (AI) được kê dùng một cách phổ biến như là một biện pháp điều trị bổ trợ cho các bệnh nhân ung thư vú mãn kinh có thụ thể nội tiết dương tính đã làm tăng thời gian sống không bệnh (DFS) so với điều trị tiêu chuẩn bằng Tamoxifen[1] Thời gian khuyến cáo điều trị nội tiết bổ trợ là 5 năm tuy nhiên một số bệnh nhân vẫn được hưởng lợi từ việc kéo dài điều trị Hướng dẫn của Hiệp hội ung thư lâm sàng Hoa Kỳ (ASCO) khuyến cáo AI có thể điều trị chính, nối tiếp (sau 2 - 3 năm điều trị Tamoxifen) hoặc kéo dài (sau 5 năm điều trị Tamoxifen)[1] Đo lường chất lượng cuộc sống bệnh
TÓM TẮT
Mục tiêu: Đánh giá chất lượng cuộc sống và tình trạng đau khớp trên bệnh nhân ung thư vú điều trị
aromatase inhibitor tại Trung tâm Ung Bướu Thái Nguyên
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả tiến hành trên 109 người bệnh ung thư
vú điều trị aromatase inhibitor tại Trung tâm Ung Bướu Thái Nguyên từ 1/2018 đến 6/2020
Kết quả: Tuổi trung bình của bệnh nhân là (61,5 ± 7,1); BMI = 25,3 ± 5,3 Độ tuổi từ 55-65 là 51 bệnh
nhân (46,7)% Số năm mãn kinh nhỏ hơn 5 năm Đa số bệnh nhân ở giai đoạn II của bệnh 71 (65,13) Điểm số chất lượng cuộc sống bệnh nhân ung thư vú sử dụng AI thấp ở tháng đầu tiên sau điều trị sau đó
ổn định và tăng dần sau 3,6,9 và 12 tháng sau điều trị
Kết luận: Chất lượng cuộc sống là ảnh hưởng rất sớm trong liệu trình điều trị bệnh nhân ung thư vú
Bệnh nhân ung thư vú điều trị AI có sự thay đổi chất lượng cuộc sống mà sự thay đổi này là do ảnh hưởng của các triệu chứng đơn mà chủ yếu là triệu chứng đau và trải nghiệm đau của bệnh nhân Các bác sĩ và các Điều dưỡng nên chú ý triệu chứng đau của bệnh nhân khi sử dụng AI và sớm theo dõi và quản lí các triệu chứng này
Từ khóa: Ung thư vú, Chất lượng cuộc sống, AI
Trang 2nhân ung thư vú trọng tâm là đánh giá quá trình điều
trị lâm sàng và theo dõi chất lượng cuộc sống của
bệnh nhân ung thư vú thay đổi qua từng giai đoạn
của bệnh từ khi mới chẩn đoán, trong quá trình điều
trị và kết thúc quá trình điều trị, điều trị ngoại trú theo
hẹn… Theo thời gian nó ảnh hưởng bởi các triệu
chứng của bệnh đồng thời cũng bị ảnh hưởng bởi
các phương pháp điều trị như hóa trị, xạ trị và phẫu
thuật[3,4] Tuy nhiên, một số ít nghiên cứu đánh giá
tác động của AI vào chất lượng cuộc sống khi điều
trị Các nghiên cứu hiện tại chủ yếu đưa ra những
tuyến bố y khoa về mặt dịch tễ học nhưng lại thiếu đi
cái nhìn lâm sàng từ góc độ người bệnh chẳng hạn
như nguyên nhân dẫn đến việc từ bỏ sớm AI Trong
nhiều nghiên cứu được công bố gần đây, tỷ lệ
ngừng điều trị sớm AI từ 13 - 35%[2,3] Mặc dù việc
ngừng điều trị AI sớm là phổ biến và chúng ta đều
biết tác hại của nó tuy nhiên những yếu tố nguy cơ
của việc ngừng AI sớm lại ít được thấu hiểu Bởi vậy
mà mặc dù đem lại lợi ích sống còn tuy nhiên nhiều
phụ nữ không tuân thủ điều trị thuốc ở các mức độ
khác nhau[1,2] Đau xương khớp cũng được báo cáo
ở một vài bệnh nhân ung thư vú, thêm vào đó một
vài nghiên cứu đã tìm ra rằng hạn chế vận động,
trầm cảm và mệt mỏi cung xuất hiện trên những
bệnh nhân ung thư vú còn sống trong những năm
đầu điều trị bệnh Đau là triệu chứng đơn thường
gặp trên bệnh nhân ung thư Theo một số nghiên
cứu đã thống kê 50% bệnh nhân phát triển đau sau
khi điều trị AI lần đầu tiên[10,11,12,13] Thực tế một
nghiên cứu thực hiện trong tổng số 135 phụ nữ mắc
ung thư vú thì 77 bệnh nhân (57%) báo cáo rằng trải
nghiệm đau như đau khớp 48 (36%), đau lan rộng
30 (22%), đau thần kinh 12 (9%), đau cơ 48 (36%),
cường độ đau bắt đầu từ trung bình, kéo dài ba tới
sáu tháng sau điều trị và kết quả là 12 bệnh nhân từ
bỏ liệu trình điều trị Thêm vào đó, thực tế cho thấy
việc không tuân thủ điều trị AI làm tăng tử vong ở
các bệnh nhân ung thư vú AI có liên quan tới viêm
khớp và đau khớp đã được xác định là tác dụng phụ
nổi bật ở gần nửa số phụ nữ điều trị bằng AI[4] Điều
dưỡng khi chăm sóc bệnh nhân ung thư vú điều trị
AI cần đánh giá và quản lí tình trạng đau trên bệnh
nhân để kịp thời báo cáo bác sĩ tình trạng của bệnh
nhân cung cấp thêm cơ hội can thiệp sớm nhằm
giảm bớt triệu chứng đau và cải thiện việc tuân thủ
điều trị cũng như từ bỏ điều trị[5] Việc xác định
những bệnh nhân có nguy cơ cao từ bỏ AI có thể
cung cấp thêm cơ hội can thiệp sớm nhằm giảm bớt
triệu chứng đau và giúp nâng cao chất lượng cuộc
sống bệnh nhân
Đánh đặc điểm của bệnh nhân ung thư vú năm
đầu tiên sử dụng AI và đánh giá đau và kiểu đau khi
điều trị bằng AI
Đánh giá chất lượng cuộc sống bệnh nhân ung thư vú điều trị với AI
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu gồm 109 bệnh nhân ung thư vú đã mãn kinh có thụ thể nội tiết dương tính được điều trị bổ trợ bằng AI từ 2018 đến 2020
Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân
Mất kinh từ 12 tháng trở lên, có chẩn đoán mô bệnh học rõ ràng, giai đoạn bệnh từ I đến III, được điều trị bằng AI thế hệ 3 (Anastrozole, Letrozole hoặc Exemestane), đồng ý tham gia nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ
Không thỏa mãn các tiêu chuẩn lựa chọn, đau
do bất cứ nguyên nhân khác không liên quan đến sử dụng AI
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian
Từ 01/2018 đến 6 /2020
Địa điểm
Trung Tâm Ung Bướu BVTW Thái Nguyên
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả hồi cứu
Cỡ mẫu
Mẫu thuận tiện
Phương pháp thu thập số liệu
Thu thập theo mẫu phiếu điều tra, và bộ câu hỏi xây dựng sẵn
Bộ câu hỏi nhân khẩu học bao gồm: Tuổi, BMI, tình trạng kinh nguyệt, giai đoạn ung thư vú, tiền sử hóa trị, xạ trị và phẫu thuật
Bộ câu hỏi đau và mệt mỏi đánh giá bằng thang điểm VAS (0 - 10 điểm) với 0 là “không đau”, 10 “đau nhất”, chúng ta đánh giá đau trên bệnh nhân ung thư
vú khi điểm số bệnh nhân ít nhất là 3 Multidimensional fatigue inventory (MFI-20) bao gồm
20 câu hỏi tự đánh giá đo lường mệt mỏi
Bộ câu hỏi Hospital Anxity and Depression scale (HADS) gồm 7 câu hỏi hỏi về trạng thái trầm cảm và sợ hãi
Nguyên nhân mãn kinh: Tự nhiên và không tự nhiên, bệnh kèm theo: Không, một hoặc từ hai bệnh trở lên Giai đoạn bệnh: I, II, và III, Hóa trị: Hóa trị có Taxan, hóa trị không Taxan, không hóa trị Số năm
Trang 3điều trị AI Được điều trị Tamoxifen trước đó.Loại AI:
Anastrozole, Letrozole, Exemestan
Các tiêu chuẩn chỉ số áp dụng trong nghiên cứu
Mãn kinh: Không hành kinh từ 12 tháng trở lên
Giai đoạn bệnh: Từ I đến IV theo phân loại của
NCCN Mức độ đau theo thang điểm từ 0 (không
đau) đến 10 (đau không thể tưởng tượng được)
Chúng tôi chia điểm đau của bệnh nhân thành hai
nhóm từ 0 đến 3 và từ 4 đến 10 là mức độ đau làm
ảnh hưởng đến các chức năng hàng ngày
Đau khớp do AI: Thỏa mãn tất cả các tiêu
chuẩn chính và ít nhất 3 tiêu chuẩn phụ
Tiêu chuẩn chính đau khớp do AI:
+ Đang dùng AI
+ Đau khớp xuất hiện hoặc nặng hơn từ khi
dùng AI
+ Đau khớp giảm hoặc hết trong vòng 2 tuần
sau khi ngừng AI
+ Đau khớp trở lại khi tiếp tục dùng AI Tiêu
chuẩn phụ: Đau khớp đối xứng, đau tại khớp bàn
hoặc và cổ Tay, hội chứng ống cổ Tay, giảm sức
cầm nắm, cứng khớp buổi sáng, các triệu chứng khó
chịu ở khớp giảm khi vận động hoặc tập luyện
Xử lí số liệu
Nghiên cứu các số liệu, dữ liệu có trong từng
hồ sơ, lập các mối liên quan thành các bảng biểu
theo mục tiêu đề tài Hỏi bệnh nhân về chất lượng
cuộc sống, đau, triệu chứng đơn theo bộ câu hỏi xây
dựng sẵn
Số liệu được xử lý bằng phần mềm tin học
SPSS 16.0
Phân tích kết quả theo phương pháp thống kê y
học
Đạo đức trong nghiên cứu
Người bệnh được thông báo về nghiên cứu và
hoàn toàn tự nguyện khi tham gia
Người tham gia có tự do chấm dứt nghiên cứu
nếu thấy không tiếp tục được
Nghiên cứu viên phải chấm dứt nghiên cứu nếu
thấy có khả năng làm tổn hại đến người tham gia
Đề tài nghiên cứu được thông qua hội đồng Y
đức bệnh viện Trung ương Thái Nguyên
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Bảng 1 Đặc điểm bệnh nhân
Tuổi trung bình: 61,5 ± 7,1
BMI = 25,3 ± 5,3
Số năm mãn kinh
Bệnh kèm theo
Giai đoạn bệnh
Hóa trị
Nhận xét: Tuổi trung bình quần thể nghiên cứu
là (61,5 ± 7,1) BMI = 25,3 ± 5,3, độ tuổi 55 - 65 là 51 (46,7%) Đa số bệnh nhân có hai bệnh kèm theo 59 (54,1%) Giai đoạn II 71 (65,13%)
Bảng 2 Đặc điểm đau liên quan đến sử dụng thuốc
AIs
Mức độ đau khớp nhất theo thông tin của bệnh nhân
Đau liên quan đến AI
Điều trị tamoxifen trước đó
Số năm điều trị AI
Trang 41 - 3 năm 36 33,02
Loại AI
Nhận xét:
Có gần một nửa số bệnh nhân (70BN chiếm 64,2%) thông báo có đau liên quan đến AI ở mức điểm 0 - 3 điểm Trong số đó có 39 bệnh nhân (35,8%) bệnh nhân có mức độ đau từ 4 - 10
Phần lớn bệnh nhân được điều trị bằng Anastrozole: 75BN (chiếm 68,8%)
Bảng 3 Chất lượng cuộc sống bệnh nhân điều trị với AI (Aromatase inhibitors)
Mong đợi trong tương lai 55,30 ± 31,1
Khó cử động khớp vai 24,02 ± 24,7
Mệt mỏi giảm hoạt động 10,3 ± 3,8 Mệt mỏi không muốn làm việc 8,6 ± 3,9 Nhận xét: Điểm trung bình chất lượng cuộc sống của nhóm nghiên cứu cao nhất là lo lắng thẩm mỹ (66,6
± 33,0), tác dụng không mong muốn là lo lắng rụng tóc (57,3 ± 42,1) Khi hỏi câu hỏi về mệt mỏi (MFI20) điểm
số mệt mỏi về thể chất (11,0 ± 4,1), mệt mỏi về tâm thần (8,7 ± 3,8), mệt mỏi giảm hoạt động (10,3 ± 3,8), mệt mỏi không muốn làm việc (8,6 ± 3,9)
Bảng 4 Điểm trung bình chất lượng cuộc sống bệnh nhân ung thư vú điều trị AI sử dụng (EORTC QLQ-BR23)
Chức năng tình dục 28,5 ± 14,7 30,0 ± 22,6 31,5 ± 20,7 37,4 ± 18,5 40,0 ± 20,5 Mong đợi trong tương lai 65,5 ± 15,6 70,3 ± 18,5 73,4 ± 21,5 75,6 ± 20,5 78,3 ± 20,7 Nhận xét: Nhìn vào bảng 4 và biểu đồ ta nhận thấy chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư vú điều trị AI thấp ở tháng đầu tiên sau điều trị sau đó tăng dần và giữ ổn định sau 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng và 12 tháng điều trị về tất cả các mặt (lo lắng thẩm mỹ, chức năng tình dục, mong đợi tương lai) sử dụng bộ công cụ EORTC 23
Trang 50 20 40 60 80 100
Sau 1 tháng Sau 3 tháng Sau 6 tháng Sau 9 tháng Sau 12 tháng
Lo lắng thẩm mỹ Chức năng tình dục Mong đợi tương lai
Biểu đồ 4: CLCS Bệnh nhân điều trị AI theo thời gian Bảng 5 Điểm trung bình triệu chứng đơn bệnh nhân ung thư vú điều trị AI (Aromatase inhibitors)
0 10 20 30 40 50 60 70
Bắt đầu SD Sau 3 tháng Sau 6 tháng Sau 9 tháng Sau 12 tháng Triệu chứng về vú Khó cử động khớp vai Sợ rụng tóc
Biểu đồ 5 Điểm trung bình triệu chứng đơn bệnh nhân ung thư vú điều trị AI
Nhận xét: Nhìn vào bảng 5 và biểu đồ 5 ta nhận thấy điểm số các triệu chứng đơn ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống bệnh nhân ung thư vú tăng khi bắt đầu sử dụng AI tăng sau đó điếm số triệu chứng đơn giảm sau 3 tháng sử dụng Triệu chứng về vú giảm 4,7 điểm, lo sợ rụng tóc giảm 15,2 điểm tuy nhiên khó cử động khớp vai tăng 6,4 điểm Nhìn chung điểm số các triệu chứng cao từ khi bắt đầu điều trị và giảm và giữ ổn định sau 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng đến 12 tháng sau điều trị
BÀN LUẬN
Đặc điểm của bệnh nhân ung thư vú điều trị
bằng AI
Tuổi trung bình trong nghiên cứu của chúng tôi
là 61,5 ± 7,1, trong đó chủ yếu gặp độ tuổi từ 55 tuổi trở lên 51 bệnh nhân (46,7%) Theo tác giả N.Lynn Henry và cộng sự tuổi trung bình là 59, tuổi hay gặp
là dưới 55 tuổi[7], nghiên cứu của James N Ingle tuổi
Trang 6trung bình là 64[8] Như vậy tuổi trung bình trong
nghiên cứu của chúng tôi là tương tự so với hai
nghiên cứu trên Phần lớn bệnh nhân trong nghiên
cứu của chúng tôi có mắc một bệnh lý kèm theo (tiểu
đường, bệnh lý về tim mạch, bệnh lý tuyến giáp,
viêm khớp v.v ) 92 BN (84,4%) Theo nghiên cứu
của tác giả N.Lynn Henry và cộng sự thì tỷ lệ mắc
bệnh kèm theo là 78,0%[9] Tỷ lệ mắc bệnh kèm theo
trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn so với
nghiên cứu của tác giả N.Lynn Henry Như vậy có
thể thấy là đa phần bệnh nhân ung thư vú điều trị AI
có mắc bệnh nội khoa kèm theo, việc theo dõi điều
trị cần kết hợp với theo dõi và điều trị các bệnh nội
kèm theo đó Trong nghiên cứu của chúng tôi phần
lớn bệnh nhân mắc bệnh ở giai đoạn II của bệnh
71BN (65,13%)
Đặc điểm đau liên quan với kết thúc điều trị AI sớm
Trong nghiên cứu này chúng tôi thấy Có gần
một nửa số bệnh nhân (70BN chiếm 64,2%) thông
báo có đau liên quan đến AI ở mức điểm 0 - 3 điểm
Trong số đó có 39 bệnh nhân (35,8%) bệnh nhân có
mức độ đau từ 4 - 10 Mặc dù các Điều dưỡng khi
chăm sóc bệnh nhân thường ghi nhận đau khớp do
AI là một dấu hiệu đau quan trọng ảnh hưởng đến
chất lượng cuộc sống bệnh nhân tuy nhiên chúng tôi
chưa thấy có một biện pháp đánh giá định lượng cụ
thể nào được sử dụng
Chúng tôi hi vọng trong tương lai điều dưỡng sẽ
có đánh giá chi tiết đặc điểm đau, mức độ đau,
cường độ đau và vị trí đau trong bảng chăm sóc
toàn diện chi tiết để có thể kịp thời thông báo các
bác sĩ điều trị cũng như phối hợp cùng các bác sĩ
trong điều trị cũng như chăm sóc bệnh nhân qua đó
nâng cao chất lượng cuộc sống bệnh nhân ung thư
vú điều trị AI
Chất lượng cuộc sống bệnh nhân điều trị với AI
(Aromatase inhibitors) năm đầu tiên
Điểm trung bình chất lượng cuộc sống của
nhóm nghiên cứu cao nhất là lo lắng thẩm mỹ
(66,6 ± 33,0), tác dụng không mong muốn là lo lắng
rụng tóc (57,3 ± 42,1) Khi hỏi câu hỏi về mệt mỏi
(MFI20) điểm số mệt mỏi về thể chất (11,0 ± 4,1),
mệt mỏi về tâm thần (8,7 ± 3,8), mệt mỏi giảm hoạt
động (10,3 ± 3,8), mệt mỏi không muốn làm việc
(8,6 ± 3,9)
Điểm trung bình chất lượng cuộc sống bệnh
nhân ung thư vú điều trị AI theo thời gian
Nghiên cứu này tìm ra rằng chất lượng cuộc
sống của bệnh nhân ung thư vú điều trị AI tăng dần
sau 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng và 12 tháng điều trị về
tất cả các mặt của chất lượng cuộc sống sử dụng bộ
công cụ EORTC 23 Điều này khá phù hợp với
nghiên cứu của Kules za-Bronczyk B Nghiên cứu kết luận rằng điểm số các triệu chứng đơn là giảm theo thời gian dẫn tới tăng chất lượng cuộc sống của người bệnh tuy nhiên sự giữ nguyên điểm số chất lượng cuộc sống qua thời gian có thể là của sự kết hợp giảm triệu chứng khi bệnh nhân được phẫu thuật tuy nhiên gia tăng các triệu chứng đau hoặc không thoải mái khi vẫn sử dụng AI
Điểm trung bình triệu chứng đơn bệnh nhân ung thư vú điều trị AI điểm số các triệu chứng đơn ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống bệnh nhân ung thư vú có sự giảm từ khi bắt đầu sử dụng AI tới
3 tháng sau khi sử dụng: Triệu chứng về vú giảm 4,7 điểm, lo sợ rụng tóc giảm 15,2 điểm tuy nhiên khó
cử động khớp vai tăng 6,4 điểm Nhìn chung điểm
số các triệu chứng giảm từ khi bắt đầu điều trị và giảm và giữ ổn định sau 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng đến 12 tháng sau điều trị
KẾT LUẬN
Chất lượng cuộc sống là ảnh hưởng rất sớm trong liệu trình điều trị bệnh nhân ung thư vú Điểm trung bình chất lượng cuộc sống và các triệu chứng đơn là liên quan với lịch sử của hóa trị và liệu trình điều trị taxane
Tuổi trung bình trong nghiên cứu của chúng tôi
là 61,5 ± 7,1, trong đó chủ yếu gặp độ tuổi từ 55 tuổi trở lên 51 bệnh nhân (46,7%)
Trong nghiên cứu này chúng tôi thấy Có gần một nửa số bệnh nhân (70BN chiếm 64,2%) thông báo có đau liên quan đến AI ở mức điểm 0 - 3 điểm Trong số đó có 39 bệnh nhân (35,8%) bệnh nhân có mức độ đau từ 4 - 10
Điểm số các triệu chứng đơn ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống bệnh nhân ung thư vú tăng khi bắt đầu sử dụng AI tăng sau đó điếm số triệu chứng đơn giảm sau 3 tháng sử dụng
Điều dưỡng nên quan tâm chăm sóc, theo dõi các triệu chứng đơn và chất lượng cuộc sống của nhóm bệnh nhân này sớm nhất có thể
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Shi L., S.H., Zhu H et al (2013), Coombes RC, Hall E, Gibson LJ, Paridaens R, Jassem J, Delozier T, Jones SE, and B.G Alvarez I, Ortmann O, A randomized trial of exemestane after two to three years of tamoxifen therapy in postmenopausal women with primary breast cancer NEJM, 2004 350: p 1092
2 Partridge AH, L.A., Mayer E, Taylor BS, Winer E, Asnis-Alibozek A, Adherence to initial adjuvant anastrozole therapy among women with
Trang 7early-stage breast cancer J Clin Oncol, 2008 26(2):
p 562
3 Dent SF, G.R., Kissner M, Pritchard KI,
Aromatase inhibitor therapy: toxicities and
management strategies in the treatment of
postmenopausal women with hormone-sensitive
early breast cancer Breast Cancer Res Treat,
2011 126(2): p 310
4 Crew KD, G.H., Capodice J, Raptis G, Brafman
L, Fuentes D, Sierra A, and H DL, Prevalence of
joint symptoms in postmenopausal women
taking aromatase inhibitors for early-stage breast
cancer J Clin Oncol, 2007 25(2): p 3883
5 Henry NL, A.F., Desta Z, Li L, Nguyen AT,
Lemler S, Hayden J, Tarpinian and Y.E K,
Flockhart DA, Predictors of aromatase inhibitor
discontinuation as a result of treatment-emergent
symptoms in earlystage Kulesza-Bronczyk B,
Dobrzycka B, Piekut K, Terlikowski R,
Mackowiak-Matejczyk B, Wojno A, et al Quality
of life during the first year after breast cancer
resection Prog Health Sci 2014; 4: 124 - 129
6 Sestak I, Cuzick J, Sapunar F, Eastell R, Forbes
JF, Bianco AR, et al Risk factors for joint symptoms in patients enrolled in the ATAC trial:
a retrospective, exploratory analysis Lancet Oncol 2008; 9: 866 - 72
7 Crew K, Greenlee H, Capodice J, Raptis G, Brafman L, Fuentes D, et al Prevalence of joint symptoms in postmenopausal women taking aromatase inhibitors for early-stage breast cancer J Clin Oncol 2007; 25: 3877 - 83
8 Fallowfield LJ, Bliss JM, Porter LS, Price MH, Snowdon CF, Jones SE, et al Quality of life in the intergroup exemestane study: a randomized trial of exemestane versus continued tamoxifen after 2-3 years of tamoxifen in postmenopausal women with primary breast cancer, J Clin Oncol 2006; 24: 910 - 917
9 Yang E, Kim B, Shin H Use of the international classification of functioning, disability and health
as a functional assessment tool for breast cancer survivors J Breast
Trang 8ABTRACTS
Quality of life and impact of pain in women treated with aromatase inhibitors for breast cancer Objective: This descriptive and cross-sectional study quality of life breast cancer treated with aromatase
inhibitors for breast cancer Dertermine relationship between pains in women treated AI and refuse intervention with aromatase inhibitors In adition, find out quality of life breast cancer patient undergoing AI therapy, and dertermine symptoms distress was effected to Quality of life this population
Method: We collected 109 patients who treated with aromatase inhibitors They were interviewed directly
through questionnaires on quality of life of EORTC QLQ R-23
Results: The results showed that the mean age at this study was 61,5 ± 7,1 years, BMI = 25,3 ± 5,3 Most
of population was 55-65 years old, it were estimated 46,7% Percentage of patient almost stage II 71 (65,13%) The quality of life of breast cancer patient undergoing AI therapy was low level first time undergoing AIs therapy but It was higher during time
Conclusion: Women treated with aromatase inhibitors display changes in quality of life and the degree of
change in quality of life depends mostly on the types of pain experienced Oncologists and patients should be aware of painful adverse effects of AI and encouraged to provied or receive earlier and more appropriate management of thesse effects The mean age at this study was 61,5 ± 7,1 years, BMI = 25,3 ± 5,3, Most of population was 55-65 years old, it were estimated 46,7% Percentage of patient almost stage II 71 (65,13%) The quality of life of breast cancer patients undergoing AI therapy was low level first time but It was higher level during 3,6,12 month, respectedly
Keywords: Breast cancer, Quality of life, arthralgia, pain, aromatase inhibitors