1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khảo sát bước đầu về đặc điểm lâm sàng - giải phẫu bệnh và sinh học phân tử của bệnh nhân carcinôm tuyến tiết nhầy đại trực tràng giai đoạn II tại khoa Nội 4 - Bệnh viện Ung Bướu

6 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 371,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Carcinôm tuyến tiết nhầy là một trong những phân nhóm của ung thư đại trực tràng. Nghiên cứu này nhằm mục đích phân tích đặc điểm lâm sàng giải phẫu bệnh học, sinh học phân tử carcinôm tuyến tiết nhầy giai đoạn II.

Trang 1

KHẢO SÁT BƯỚC ĐẦU VỀ ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG - GIẢI PHẪU BỆNH VÀ SINH HỌC PHÂN TỬ CỦA BỆNH NHÂN CARCINÔM TUYẾN TIẾT NHẦY ĐẠI TRỰC TRÀNG GIAI ĐOẠN II TẠI KHOA

NỘI 4 -BỆNH VIỆN UNG BƯỚU TP HỒ CHÍ MINH

TRẦN NGUYÊN HÀ1, PHAN THỊ HỒNG ĐỨC2, NGUYỄN THỊ KHÔI HẰNG3,

LÊ THỊ HỒNG VÂN4, NGUYỄN HOÀNG QUÝ5

Địa chỉ liên hệ: Nguyễn Hoàng Quý

Email: nguyenhoangquy2009@gmail.com Ngày nhận bài: 12/10/2020 Ngày phản biện: 03/11/2020

Ngày chấp nhận đăng: 05/11/2020

1 BSCKII Trưởng Khoa Nội tuyến vú, tiêu hóa, gan, niệu - Bệnh viện Ung Bướu TP HCM

2 TS.BS Phó Trưởng Khoa Nội tuyến vú, tiêu hóa, gan, niệu - Bệnh viện Ung Bướu TP HCM

Phó Trưởng Bộ môn Ung Bướu Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch

3 BSCKII Khoa Nội tuyến vú, tiêu hóa, gan, niệu - Bệnh viện Ung Bướu TP HCM

4 ThS BS Khoa Nội tuyến vú, tiêu hóa, gan, niệu - Bệnh viện Ung Bướu TP HCM

5 TS.BS Khoa Nội tuyến vú, tiêu hóa, gan, niệu - Bệnh viện Ung Bướu TP HCM

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ung thư đại trực tràng xếp hàng thứ ba về tỉ lệ

mắc và xếp hàng thứ tư trong các nhóm bệnh lý ung

thư liên quan đến tử vong trên thế giới Carcinôm đại

tràng bao nhiều các nhóm mô học khác nhau bao

gồm carcinôm tuyến tiết nhầy, tế bào nhẫn và

carcinôm tuyến là một trong những phân nhóm giải

phẫu bệnh trong ung thư đại trực tràng chiếm

khoảng 10%(1) Nhóm mô học này bao gồm các tế

bào tân sinh ác tính tiết một lượng lớn chất nhầy và chiếm hơn 50% thể tích của khối bướu Tiên lượng của carcinôm tuyến tiết nhầy đại trực tràng còn nhiều tranh cãi giữa các tác giả Một số nghiên cứu cho thấy tiên lượng xấu(2), một số tác giả khác cho thấy không có sự khác biệt giữa nhóm tiết nhầy và các nhóm còn lại(3)

Vai trò sinh ung của carcinôm tiết nhầy chưa được biết rõ ràng Tuy nhiên, có một số đề nghị về đặc điểm sinh bệnh trong nhóm tiết nhầy bao gồm

TÓM TẮT

Mục tiêu: Carcinôm tuyến tiết nhầy là một trong những phân nhóm của ung thư đại trực tràng

Nghiên cứu này nhằm mục đích phân tích đặc điểm lâm sàng giải phẫu bệnh học, sinh học phân tử carcinôm tuyến tiết nhầy giai đoạn II

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 314 bệnh nhân carcinôm tuyến đại trực tràng giai đoạn II

đã phẫu thuật nhập viện tại Khoa Nội 4 trong khoảng thời gian từ tháng 9 năm 2015 đến tháng 10 năm

2020 Tình trạng lâm sàng, giải phẫu bệnh học và sinh học phân tử được khảo sát ở 38 bệnh nhân carcinôm tuyến tiết nhầy đại trực tràng

Kết quả: Trong 314 trường hợp carcinôm đại trực tràng giai đoạn II, tỉ lệ carcinôm tuyến tiết nhầy đại

trực tràng chiếm 12,1% (38/314) Trong 38 bệnh nhân carcinôm tuyến tiết nhầy, tỉ lệ nam/nữ là 1/1,7 Carcinôm tuyến tiết nhầy đại tràng và trực tràng lần lượt là 81,2% và 18.8% Giai đoạn IIB (T4aN0M0) chiếm 71% Độ mô học biệt hóa kém (Grad 3) chiếm ưu thế 65,8% Phân nhóm sinh học phân tử MSI và MSS lần lượt là 31,5% và 68,5% Trong đó nhóm carcinôm tuyến tiết nhầy trực tràng có tỉ lệ 100% là MSS

Kết luận: Khảo sát bước đầu về đặc điểm lâm sàng, giải phẫu bệnh và sinh học phân tử cho thấy

carcinôm tuyến đại tràng có mối tương quan với những yếu tố nguy cơ cao bao gồm giai đoạn bệnh IIB,

độ biệt hóa kém và chiếm tỉ lê cao ở nhóm MSS

Trang 2

sự tăng biểu hiện của gen MUC2 và MUC5AC

Nhóm tiết nhầy thường có khuynh hướng biểu hiện

tình trạng khiếm khuyết MSI hơn là nhóm carcinôm

tuyến không tiết nhầy Thêm vào đó, nhóm tiết nhầy

cho thấy có sự gia tăng tần suất của CpG island

methylator phenotype-high (CIMP-H) Trên lâm

sàng, nhóm tiết nhầy cho thấy có mối tương quan

với giai đoạn bệnh tiến xa và sống còn thấp hơn Ở

giai đoạn sớm, tỉ lệ xâm lấn mạch máu thấp hơn

trong nhóm tiết nhầy Tuy nhiên, nhóm tuyến tiết

nhầy tương quan với độ biệt hóa độ biệt hóa kém,

và tăng nguy cơ tái phát tại chỗ (4)

Nghiên cứu của chúng tôi tiến hành trên 38

bệnh nhân carcinôm tuyến tiết nhầy giai đoạn II và

so sánh mối tương quan giữa lâm sàng và tình trạng

xâm lấn bướu T3, T4a, T4b, đồng thời so sánh mối

tương quan với các phân nhóm sinh học MSI và

MSS trong carcinôm tuyến tiết nhầy đại trực tràng

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu mô tả cắt ngang 314 bệnh nhân

được chẩn đoán carcinôm tuyến đại tràng giai đoạn

đã phẫu thuật nhập khoa nội 4 trong khoảng thời gian 9/2019 - 10/2020 Tất cả các bệnh nhân lớn hơn 18 tuổi được chẩn đoán giải phẫu bệnh học học sau mổ là carcinôm tuyến đại tràng và được thực hiện hóa mô miễn dịch khảo sát tình trạng MMR trong ung thư đại trực tràng bao gồm bộ hóa mô miễn dịch gồm 4 protein MLH1, MSH2, MSH6, PMH2 Nghiên cứu được thu thập và phân tích thống kê số liệu bằng phần mềm Excel phiên bản

2016, kiểm nghiệm T-test và chi bình phương được

sử dụng Giá trị p có ý nghĩa khi nhỏ hơn 0.05

KẾT QUẢ

Tỉ lệ carcinôm tuyến tiết nhầy

Trong 314 bệnh nhân carcinôm tuyến đại tràng giai đoạn II được chẩn đoán sau mổ nhập khoa nội

4, có 38/317 bệnh nhân carcinôm tuyến đại tràng tiết nhầy chiếm tỉ lệ 12,1% Carcinôm tuyến tiết nhầy đại tràng và trực tràng lần lượt là 81,2% và 18.8%

Giới tính và độ tuổi

Tỉ lệ nam/nữ là 1/1,7 với độ tuổi trung bình mắc bệnh là 54,3 tuổi

Trang 3

Giai đoạn bệnh

Giai đoạn IIA, IIB và IIC lần lượt là 26,3%, 71% và 2.7%

Trang 4

Độ mô học

Độ mô học biệt hóa kém (Grad 3) chiếm ưu thế 65,8%

Biểu hiện MMR

Khiếm khuyết MMR (MSI) được tìm thấy ở 12/38 (31,5%) bệnh nhân Carcinôm tuyến tiết nhầy cho thấy

có tần suất MSI nhiều hơn so với carcinôm tuyến khác của đại tràng Trong nhóm bệnh nhân này, có 6/12 bệnh nhân MLH1/PMS2 âm tính, 4/12 bệnh nhân MSH2/MSH6 âm tính và 2 bệnh nhân có PMS2 âm tính Có 100% carcinôm tuyến tiết nhầy trực tràng tràng có biểu hiện MSS

Trang 5

phù hợp với tuổi mắc bệnh của ung thư đại trực

tràng trên thế giới, cũng như ở Việt Nam Trong

nghiên cứu này, chúng tôi tập trung vào phân tích

những đặc điểm lâm sàng, giải phẫu bệnh của ung

thư đại trực tràng tuyến tiết nhầy giai đoạn II Nhóm

bệnh nhân giai đoạn IIB tương ứng với tình trạng

T4a xâm lấn đến thanh mạc chiếm ưu thế là 71%

Độ mô học biệt hóa kém cũng chiếm tỉ lệ cao lên đến

65,8% Điều này cho thấy tình trạng xâm lấn bướu

khi được chẩn đoán và grad mô học thấp trong

carcinôm tuyến tiết nhầy chiếm ưu thế, dự đoán tiên

lượng xấu so với các dạng carcinôm tuyến khác

trong ung thư đại trực tràng Khảo sát tình trạng biểu

hiệu MMR trong carcinôm tuyến tiết nhầy cho thấy

tình trạng MSI chiếm ưu thế hơn so với carcinôm

tuyến khác trong đại trực tràng, tỉ lệ này trong nghiên

cứu của chúng tôi lên đến 31% Điều này phù hợp

với các nghiên cứu của các tác giả khác cho thấy

tình trạng khiếm khuyết MMR và tăng nguy cơ đột

biến trên nhóm này(6) Điều này ủng hộ cho việc

carcinôm tuyến tiết nhầy có tiên lượng xấu hơn các

nhóm khác Nhiều tác giả cho rằng, carcinôm tuyến

tiết nhầy có thể được xem như là yếu tố nguy cơ cao

của ung thư đại trực tràng giai đoạn II bên cạnh các

yếu tố nguy cơ cao khác đã biết như tình trạng tắc

ruột, thủng bướu lúc mổ, bướu T4, grad 3 và không

khảo sát đủ hạch cũng như tình trang xâm lấn mạch

máu và thần kinh Trong những năm gần đây, việc

điều trị toàn thân hỗ trợ ung thư đại trực tràng giai

đoạn II dựa trên phân nhóm sinh học đã được cân

nhắc kỹ càng Nhóm carcinôm tuyến tiết nhầy có mối

tương quan với grad 3 và T4 nên đã được đề nghị

như là yếu tố nguy cơ cao trong ung thư đại trực

tràng giai đoạn sớm(7) Tuy nhiên cho đến ngày nay,

carcinôm tuyến tiết nhầy chưa được đưa vào tiêu

chuẩn trong lựa chọn điều trị toàn thân hỗ trợ trong

ung thư đại trực tràng giai đoạn II Các nghiên cứu

về sống còn không bệnh tiến triển 5 năm của nhóm

carcinôm tuyến tiết nhầy là 75% so với các nhóm

carcinôm tuyến khác là 83,3%, cho thấy tiên lượng

xấu của carcinôm tuyến tiết nhầy.Hơn nữa, tình

trạng đột biến BRAF thương xuất hiện ở bệnh nhân

ung thư đại tràng tuyến tiết nhầy và tương quan với

tình trang xâm lấn của khối bướu, đồng thời mất

biểu hiện của p53 được cho là giữ vai trò chính, làm

ảnh hưởng đến mất điều hòa chu kỳ tế bào thúc đẩy

quá trình di căn(2) So với carcinôm tuyến không tiết

nhầy đại tràng, carcinôm tuyến tiết nhầy có mối

tương quan xấu với tiên lượng bệnh Vai trò sinh

học của carcinôm tuyến tiết nhầy đại tràng được xem là yếu tố tiên lượng độc lập song song với các yếu tố tiên lượng khác(1)

Tuy nhiên, nghiên cứu này có nhựng hạn chế nhất định Đầu tiên là số liệu đơn trung tâm, số lượng bệnh nhân trong nghiên cứu này ít và không

có nhóm so sánh Các nghiên cứu trong thời gian kế tiếp sẽ giúp làm rõ về đặc điểm giải phẫu bệnh ít gặp này của ung thư đại tràng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Catalano V, Loupakis F, Graziano F, Bisonni R, Torresi U, Vincenzi B, et al Prognosis of mucinous histology for patients with radically resected stage II and III colon cancer Ann Oncol 2012 Jan 1; 23(1):135 - 41

2 Xu X, Kong Z, Yi K, Wang B, Lei Q, Wang Y Colonic mucinous adenocarcinoma causing intussusception and distant metastasis: A case report Medicine (Baltimore) 2019 May; 98(21): e15740

3 Hu X, Li Y-Q, Li Q-G, Ma Y-L, Peng J-J, Cai S Mucinous Adenocarcinomas Histotype Can Also

be a High-Risk Factor for Stage II Colorectal Cancer Patients Cell Physiol Biochem 2018; 47(2): 630 - 40

4 4 Luo C, Cen S, Ding G, Wu W Mucinous colorectal adenocarcinoma: clinical pathology and treatment options Cancer Commun 2019; 39(1):13

5 ESMO Mucinous Colorectal Cancer [Internet] [cited 2020 Nov 4] Available from: https://www.esmo.org/oncology-news/Mucinous-Colorectal-Cancer

6 Reynolds IS, O’Connell E, Fichtner M, McNamara DA, Kay EW, Prehn JHM, et al Mucinous adenocarcinoma of the colon and rectum: A genomic analysis J Surg Oncol 2019 Dec; 120(8):1427 - 35

Hsu Y-L, Lin C-C, Jiang J-K, Lin H-H, Lan Y-T, Wang H-S, et al Clinicopathological and molecular differences in colorectal cancer according to location: Int J Biol Markers [Internet] 2019 Mar 10

Trang 6

ABSTRACT

Preliminary evaluation on clinical, anapathological and molecular biology characteristics of stage II

mucinous colorectal adenocarcinoma patients at department of medical oncology

4 – HCM Oncology Hospital Overview: Mucinous adenocarcinoma is one of the subtypes of colorectal cancer This study aims to

evaluate on clinical, ana-pathological and molecular biology characteristics of stage II mucinous adenocarcinoma colorectal cancer patients

Materials and methods: Between September 2019 and October 2020, a total of 314 consecutive patients

stage II without LN metastasis undergone radical surgery for primary colorectal cancer and admitted in department of medical oncology 4 Clinical, anapathological, and survival data were analyzed in 38 cases

Results: The rate of colorectal mucinous adenocarcinoma stage II accounted for about 12.1% (38/314) In

38 patients with mucinous adenocarcinoma colorectal cancer, the ratio of male/female is 1/1.7 Stage IIB (T4aN0M0) accounts for 71% Poorly differentiated carcinoma (Grad 3) dominated 65.8% The molecular biological group MSI and MSS are 31.5% and 68.5%, respectively In which, the mucinous rectal adenocarcinoma group is 100% MSS

Conclusion: Preliminary evaluation on clinical features, pathology, and molecular biology showed that

mucinous colorectal adenocarcinoma correlates with high-risk factors for stage IIB, poor differentiation

Ngày đăng: 30/07/2021, 09:47

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w