1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ứng dụng quy trình bảo vệ mắt cho người bệnh gây mê toàn diện tại Bệnh viện Ung Bướu

7 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 233,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Biến chứng về mắt trong gây mê toàn diện tuy ít phổ biến nhưng khi xảy ra sẽ gây khó chịu, đau đớn và mất thị lực cho người bệnh. Từ đầu tháng 4/2020, Khoa Gây mê hồi sức - Bệnh viện Ung Bướu triển khai phổ biến “Quy trình bảo vệ mắt cho người bệnh gây mê toàn diện” vừa được ban hành tại khoa đến các điều dưỡng gây mê hồi sức. Bài viết trình bày đánh giá nhận thức, thực hành và sự hài lòng của điều dưỡng gây mê hồi sức sau can thiệp chương trình hướng dẫn quy trình.

Trang 1

ỨNG DỤNG QUY TRÌNH BẢO VỆ MẮT CHO NGƯỜI BỆNH GÂY

MÊ TOÀN DIỆN TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU

NGUYỄN ĐỊNH PHONG2, TRẦN NGỌC MỸ2, NGUYỄN VĂN CHINH1

Địa chỉ liên hệ: Nguyễn Minh Anh Thư

Email: namthu.ch18@ump.edu.vn Ngày nhận bài: 08/10/2020 Ngày phản biện: 03/11/2020

Ngày chấp nhận đăng: 05/11/2020

1 Đại học Y Dược TP.HCM

2 BSCKII Trưởng Khoa Nội huyết học, hạch - Bệnh viện Ung Bướu TP HCM

ĐẶT VẤN ĐỀ

Biến chứng về mắt liên quan đến gây mê xếp

thứ 11 trong các biến chứng gây mê (0,09 - 0,5%)(3),

(4), (5), (7) Tổn thương, chấn thương mắt trong gây mê

toàn diện tuy ít phổ biến nhưng khi xảy ra sẽ gây khó

chịu, đau đớn và mất thị lực cho người bệnh Trầy

xước giác mạc là chấn thương phổ biến nhất với tỷ

lệ mắc 44% ở người bệnh gây mê toàn diện bị tổn

thương mắt do không được ảo vệ(3), (4), (6), (8), (10)

Nguyên nhân là do có khoảng 60% người bệnh gây

mê toàn diện không nhắm mắt hoàn toàn(11)

Tuy nhiên, biến chứng về mắt trong gây mê

phẫu thuật là vấn đề có thể phòng ngừa Theo

nghiên cứu của George và cộng sự (2017), tỷ lệ trợt

biểu mô giác mạc là 10% thì 90% xảy ra ở nhóm

bệnh nhân không được bảo vệ mắt trong gây mê

toàn diện, 6,6% ở nhóm được dán mắt và 3,3% ở

nhóm được tra mỡ mắt(3) Vì tỷ lệ tổn thương giác mạc ở nhóm không được bảo vệ lớn hơn nhóm được bảo vệ, nghiên cứu đã kết luận bảo vệ mắt phải được thực hiện trong tất cả trường hợp gây mê toàn diện

Mặt khác, phẫu thuật tạo hình đã từng bước được áp dụng thành công tại Bệnh viện Ung bướu như cắt rộng ung thư tạo hình bằng vạt lân cận, vi phẫu bằng vạt từ xa để điều trị ung thư vùng mặt, mũi và môi Trong khi đó, tỷ lệ tổn thương mắt ở những người bệnh phẫu thuật vùng đầu - cổ cao gấp4,4 lần so với những người có phẫu thuật vùng khác (6), (12) Điều dưỡng Gây mê hồi sức tại khoa đã

và đang thực hành bảo vệ mắt cho người bệnh gây

mê toàn diện nhưng không phải ai cũng có nhận thức và thực hành giống nhau Tại Việt Nam nói chung, chúng ta vẫn chưa rõ tỷ lệ điều dưỡng gây

TÓM TẮT

Mở đầu: Biến chứng về mắt trong gây mê toàn diện tuy ít phổ biến nhưng khi xảy ra sẽ gây khó chịu,

đau đớn và mất thị lực cho người bệnh Từ đầu tháng 4/2020, Khoa Gây mê hồi sức - Bệnh viện Ung Bướu triển khai phổ biến “Quy trình bảo vệ mắt cho người bệnh gây mê toàn diện” vừa được ban hành tại khoa đến các điều dưỡng gây mê hồi sức

Mục tiêu: Đánh giá nhận thức, thực hành và sự hài lòng của điều dưỡng gây mê hồi sức sau can

thiệp chương trình hướng dẫn quy trình

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện trên toàn bộ 30 điều dưỡng gây mê hồi sức

của khoa Số liệu được thu thập dựa trên bộ câu hỏi tự điền và bảng kiểm thực hành

Kết quả: Sau chương trình hướng dẫn điểm trung bình nhận thức và thực hành đều tăng (p<0,001)

(nhận thức: 33,7 ± 3,22 so với 29,87 ± 2,87; thực hành: 5,3 ± 1,15 so với 1,9 ± 1,45) Sự hài lòng của điều dưỡng gây mê hồi sức về chương trình hướng dẫn cũng đạt từ 2,7 ± 0,45 đến 3 trên thang Likert 3 điểm ở các nội dung Kết luận: Chương trình hướng dẫn quy trình bảo vệ mắt cho người bệnh gây mê toàn diện

đã cho thấy có hiệu quả đối với điều dưỡng gây mê hồi sức tại Bệnh viện Ung Bướu

Từ khóa: Điều dưỡng gây mê hồi sức, quy trình bảo vệ mắt, nhận thức, thực hành, hướng dẫn

Trang 2

mê hồi sức quan tâm đến việc bảo vệ mắt cho người

bệnh gây mê toàn diện là bao nhiêu bởi chưa có

nghiên cứu đánh giá nhận thức và thực hành của

điều dưỡng gây mê hồi sức trong vấn đề này

Từ đầu tháng 4/2020, Khoa Gây mê hồi sức -

Bệnh viện Ung Bướu triển khai phổ biến “Quy trình

bảo vệ mắt cho người bệnh gây mê toàn diện” vừa

được ban hành tại khoa đến các điều dưỡng gây mê

hồi sức Vì vậy, trong thời gian này, chúng tôi quyết

định thực hiện nghiên cứu “Ứng dụng quy trình bảo

vệ mắt cho người bệnh gây mê toàn diện tại bệnh

viện Ung Bướu” với mục tiêu đánh giá nhận thức,

thực hành và sự hài lòng của điều dưỡng gây mê

hồi sức sau can thiệp chương trình hướng dẫn quy

trình của khoa

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng

Tất cả 30 Điều dưỡng Gây mê hồi sức

(ĐDGMHS) đang làm việc tại Khoa Gây mê hồi sức -

Bệnh viện Ung Bướu đồng thuận tham gia

Phương pháp nghiên cứu

Với thiết kế nghiên cứu là bán thực nghiệm

(một nhóm - tiền kiểm - hậu kiểm), nghiên cứu được

thực hiện từ tháng 02/2020 đến tháng 6/2020 qua 3

giai đoạn: giai đoạn 1 khảo sát trước hướng dẫn,

giai đoạn 2 can thiệp hướng dẫn, giai đoạn 3 đánh

giá lại sau 3 tuần hướng dẫn Số liệu được thu thập

bằng bộ câu hỏi tự điền và bảng kiểm thực hành

Bộ câu hỏi nhận thức gồm có 8 câu hỏi, trong

đó có 4 câu hỏi ý kiến của ĐD GMHS về mức độ

quan trọng của việc bảo vệ mắt, mức độ ưu tiên

thực hành, mức độ sẵn lòng thực hành và mức độ

ảnh hưởng của hướng dẫn bảo vệ mắt, được đánh

giá theo thang điểm Likert 5 mức độ từ “Rất thấp”

đến “Rất cao”; 4 câu hỏi còn lại để ĐD GMHS tự

đánh giá thói quen thực hành với 5 mức độ từ

“Không bao giờ” đến “Luôn luôn”

Bảng kiểm thực hành gồm 6 nội dung với mỗi nội dung được 1 điểm = “Có”, tức là làm đạt yêu cầu, 0 điểm = “Không” khi làm thiếu, chưa đạt yêu cầu hoặc không làm

Bộ câu hỏi sự hài lòng gồm 17 nội dung được đánh giá theo thang điểm Likert 3 mức độ từ “Không đồng ý” đến “Đồng ý”

Xử lý số liệu: bằng phần mềm Epidata 3.1 và Stata 13.0

Đạo đức nghiên cứu: Nghiên cứu này đã được thông qua Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh học của Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh số 494/ĐHYD-HĐĐĐ và Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh học của bệnh viện Ung Bướu số 34/BVUB-HĐĐĐ

KẾT QUẢ Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

Tổng số có 30 ĐDGMHS tham gia trước và sau chương trình hướng dẫn quy trình Tỷ lệ ĐDGMHS dưới 30 tuổi chiếm đa số (56,7%) Tỷ lệ ĐDGMHS giới tính nam:nữ là 1:2,75 ĐDGMHS trình độ đại học chiếm 2/3, còn lại là trung học; kinh nghiệm làm việc dưới 5 năm chiếm phần lớn 43%, từ 5 đến 10 năm chiếm 23%, trên 20 năm chiếm 23%, còn lại là

10 đến 20 năm

Nhận thức của ĐDGMHS trước và sau chương trình hướng dẫn quy trình

Trung bình tổng điểm nhận thức sau hướng dẫn

là 33,7 ± 3,22, tăng so với trước hướng dẫn là 29,87

± 2,87 (p<0,001) Số liệu cụ thể được trình bày ở Bảng 1

Bảng 1 So sánh nhận thức của ĐDGMHS trước và sau hướng dẫn

(TB ± ĐLC)

Sau hướng dẫn (TB ± ĐLC) p value

a

1 Mức độ quan trọng của chăm sóc, bảo vệ mắt (5đ) 4,1 ± 0,61 4,4 ± 0,50 0,041*

2 Mức độ ưu tiên thực hành (5đ) 3,87 ± 0,57 4,3 ± 0,60 0,006*

3 Mức độ sẵn lòng thực hành (5đ) 4,23 ± 0,5 4,36 ± 0,49 0,303

4 Mức độ ảnh hưởng của hướng dẫn chăm sóc, bảo vệ mắt (5đ) 3,8 ± 0,41 4,4 ± 0,56 <0,001*

5 Thói quen đánh giá mắt bệnh nhân (5đ) 3,87 ± 0,94 4,4 ± 0,77 0,019*

6 Thói quen lau mắt bệnh nhân bằng nước muối (5đ) 2,23 ± 0,94 3,57 ± 0,86 <0,001*

7 Thói quen dùng thuốc nhỏ mắt/ mỡ tra mắt cho bệnh nhân (5đ) 3,17 ± 0,59 3,8 ± 0,81 0,001*

8 Thói quen dán mắt cho bệnh nhân (5đ) 4,43 ± 0,63 4,63 ± 0,49 0,174

Trang 3

a - Kiểm định t bắt cặp

*Có ý nghĩa thống kê

Điểm trung bình nhận thức của ĐDGMHS 3 tuần sau hướng dẫn tăng ở tất cả các nội dung, trong đó sự thay đổi ở 6/8 nội dung có ý nghĩa thống kê (p <0,05) Tuy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, điểm trung bình thói quen dán mắt cho người bệnh trước và sau hướng dẫn luôn cao nhất, lần lượt là 4,43 ± 0,63 và 4,63 ± 0,49

Thực hành của ĐDGMHS trước và sau chương trình hướng dẫn quy trình

Kết quả nghiên cứu cho thấy trung bình tổng điểm thực hành của ĐDGMHS sau hướng dẫn là 5,3 ± 1,15 cao hơn so với trước hướng dẫn là 1,9 ± 1,45 Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p <0,001) Trong đó, tỷ lệ thực hành ở 5/6 nội dung có sự thay đổi có ý nghĩa thống kê (p <0,05) Số liệu được trình bày ở Bảng 2 và Bảng 3

Bảng 2 Tỷ lệ thực hành của ĐDGMHS trước và sau hướng dẫn

Nội dung

Trước hướng dẫn Sau hướng dẫn

p value

Có (n) Không (n) Có (n) Không (n)

1 Chuẩn bị dụng cụ: tăm bông/ bông ướt thấm nước muối, bông

khô, thuốc mỡ tra mắt Tetracycline 1%, băng keo dán mắt 3 27 30 0 <0,001*

2 Dùng tăm bông/ bông ướt thấm nước muối (vắt kiệt) lau dọc hai

bờ mi từ góc ngoài vào góc trong sau đó lau sạch vùng da mi

3 Dùng ngón tay trỏ kéo nhẹ mi dưới của người bệnh xuống 7 23 25 5 <0,001*

4 Tra thuốc mỡ mắt theo y lệnh (Tetracycline 1%) vào cùng đồ

dưới của mắt mà không để đầu lọ thuốc chạm vào mắt người

bệnh Lưu ý không tra trực tiếp lên giác mạc 17 13 27 3 0,004*

5 Dùng bông khô lau sạch xung quanh mắt cho người bệnh 3 27 23 7 <0,001*

6 Dùng băng keo dán hai mắt bệnh nhân từ mi trên xuống mi dưới

Chắc chắn rằng hai mắt bệnh nhân đã nhắm hoàn toàn 25 5 30 0 0,052**

*Giá trị p của Chi 2 , có ý nghĩa thống kê

**Giá trị p của Fisher 2 đuôi

Bảng 3 Điểm trung bình thực hành của ĐDGMHS trước và sau hướng dẫn

Tổng điểm thực hành (6đ) 1,9 ± 1,45 5,3 ± 1,15 <0,001*

a-Kiểm định t bắt cặp

*Có ý nghĩa thống kê

Tỷ lệ thực hành nội dung thứ 6 tuy không có sự thay đổi có ý nghĩa thống kê nhưng luôn cao nhất trước hướng dẫn là 83,33% (25/30) và sau hướng dẫn là 100%

Sự hài lòng của ĐDGMHS về chương trình hướng dẫn quy trình

Bảng 4 Sự hài lòng của ĐDGMHS về chương trình hướng dẫn

2 Cần có quy trình trong vấn đề này 2,93 ± 0,25 0 6,67 93,33

3 Tổng quan tài liệu thích hợp và đầy đủ (không có

bằng chứng quan trọng nào bỏ lỡ cũng không bao

gồm bất kỳ điều gì không nên có) trong hướng dẫn 2,83 ± 0,37 0 16,67 83,33

Trang 4

này

5 Các khuyến cáo trong hướng dẫn rõ ràng 2,97 ± 0,18 0 3,33 96,67

6 Tôi đồng ý với các khuyến cáo trong hướng dẫn 3 0 0 100

7 Các khuyến cáo trong hướng dẫn phù hợp với

8 Quy trình trong hướng dẫn có thể linh động khi áp

dụng trong vài trường hợp (cấp cứu, vị trí mổ gần

9 Khi áp dụng, quy trình mang lại lợi ích cho người

10 Áp dụng quy trình trong hướng dẫn không làm ảnh

hưởng cách tổ chức khoa phòng của tôi 2,97 ± 0,18 0 3,33 96,67

11 Áp dụng quy trình trong hướng dẫn không khó về

mặt kỹ thuật (khó thực hiện, tốn thời gian…) 2,9 ± 0,4 3,33 3,33 93,33

12 Chi phí thực hiện theo quy trình trong hướng dẫn

13 Hầu hết đồng nghiệp của tôi đồng ý và hỗ trợ thực

14 Quy trình mang lại kết quả tốt hơn cho bệnh nhân

(không hoặc ít nghe báo cáo hơn về trường hợp tổn

thương mắt sau phẫu thuật tại khoa) 2,93 ± 0,25 0 6,67 93,33

15 Quy trình mang lại cách sử dụng vật tư y tế (bông,

16 Quy trình nên được áp dụng rộng rãi 2,97 ± 0,18 0 3,33 96,67

17 Tôi cảm thấy tự tin và thoải mái khi chăm sóc người

bệnh của tôi theo quy trình 2,97 ± 0,18 0 3,33 96,67

Số liệu trình bày ở Bảng 4 cho thấy các nội dung thứ 1, 4, 6, 7 có tỷ lệ ĐDGMHS đồng ý cao nhất (100%) Điểm trung bình các nội dung đều từ 2,7 ± 0,47 đến 3

BÀN LUẬN

Với số lượng ca phẫu thuật chương trình trung

bình 50 ca mỗi ngày, Khoa Gây mê hồi sức - Bệnh

viện Ung Bướu đã xây dựng nhiều quy trình để đảm

bảo chất lượng phục vụ người bệnh, trong đó có quy

trình bảo vệ mắt cho người bệnh gây mê toàn diện

Trước đây, ĐDGMHS của khoa đã có áp dụng việc

chăm sóc, bảo vệ mắt người bệnh theo ý kiến chủ

quan của mỗi người mà không theo một quy trình

chung Sau 3 tuần can thiệp chương trình hướng

dẫn quy trình tại khoa, chúng tôi đã tìm thấy một số

hiệu quả

Nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt giữa trung

bình tổng điểm nhận thức của ĐDGMHS trước

hướng dẫn là 29,87 ± 2,87 và sau hướng dẫn là

33,7 ± 3,22 Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê

(p<0,001) Kết quả này tương đồng với nghiên cứu

của Cho và cộng sự (2017), với điểm trung bình

nhận thức tăng 0,41 (p<0,001)(1)

Về từng nội dung, nhận thức mức độ quan trọng của việc chăm sóc, bảo vệ mắt cho người bệnh gây mê toàn diện ở ĐDGMHS sau hướng dẫn

có sự thay đổi có ý nghĩa thống kê (p <0,05) Điều này cho thấy tỷ lệ tổn thương mắt mà chương trình hướng dẫn đưa ra dựa trên những tài liệu khoa học cao hơn họ nghĩ, đã tác động đến nhận thức của họ (6), (7), (8), (10), (11), (12) Nhận thức mức độ ưu tiên bảo vệ mắt cũng có sự thay đổi có ý nghĩa thống kê (p <0,05) Trước hướng dẫn, ĐDGMHS của khoa cho biết họ chỉ tập trung hoàn thành những quy định, quy trình đã ban hành, trong đó chưa có quy trình về bảo vệ mắt cho người bệnh gây mê toàn diện Thêm vào đó, họ cho rằng bảo vệ mắt không phải là “vấn

đề sống còn”; quan điểm này cũng được thể hiện ở đối tượng nghiên cứu của Fashafsheh và cộng sự (2013)(2) Vì vậy, sau hướng dẫn, quy trình được ban hành, ĐDGMHS đã thay đổi nhận thức về mức độ

ưu tiên của bảo vệ mắt cho người bệnh Mặt khác,

sự thay đổi nhận thức mức độ sẵn lòng thực hành sau hướng dẫn so với trước hướng dẫn không có ý nghĩa thống kê (p >0,05) Điều này giải thích được vì

Trang 5

từ trước hướng dẫn, ĐDGMHS cho biết họ sẵn lòng

bảo vệ mắt cho người bệnh khi có đủ thời gian và

dụng cụ, và quy trình ban hành của khoa đảm bảo

được những điều ấy Nhận thức của ĐDGMHS về

mức độ ảnh hưởng của chương trình hướng dẫn

chăm sóc, bảo vệ mắt đối với việc phòng ngừa tổn

thương mắt trong gây mê toàn diện cũng có sự thay

đổi sau can thiệp; sự thay đổi này có ý nghĩa thống

kê (p <0,001) chứng tỏ chương trình hướng dẫn

trong nghiên cứu đã có ảnh hưởng nhiều đến nhận

thức của họ Về thói quen đánh giá mắt và thói quen

lau mắt người bệnh bằng nước muối, điểm trung

bình nhận thức của ĐDGMHS cũng tăng có ý nghĩa

thống kê (p <0,05) Do trước khi có quy trình, vấn đề

vệ sinh mắt trước khi tra - nhỏ thuốc mắt và trước

khi dán mắt ít khi được đề cập nên có những

ĐDGMHS không bao giờ thực hiện Sau khi được

hướng dẫn, họ nhận thức được lau mắt người bệnh

bằng nước muối là một bước trong quy trình tra -

nhỏ mắt của Bộ Y Tế, và là một phần trong hướng

dẫn sử dụng của Tegaderm - băng keo dán mắt

đang được sử dụng thường quy ở khoa, nên thói

quen này tăng lên Thói quen dùng thuốc nhỏ mắt/

mỡ tra mắt cho người bệnh gây mê toàn diện trước

và sau hướng dẫn quy trình cũng có sự thay đổi có ý

nghĩa thống kê (p <0,05) Điểm trung bình nhận thức

của ĐDGMHS về thói quen dán mắt cho bệnh nhân

sau can thiệp chương trình hướng dẫn là

4,63 ± 0,49 trong khi trước hướng dẫn là

4,43 ± 0,63, nhưng sự thay đổi này không có ý nghĩa

thống kê (p>0,05) Điều này có thể được giải thích là

do ĐDGMHS của khoa đã có thói quen dán mắt cho

người bệnh từ trước hướng dẫn, điểm trung bình

nhận thức của nội dung này vốn đã cao nhất trong

các nội dung Sau hướng dẫn, họ tiếp tục duy trì thói

quen này

Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy có sự khác

biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,005) ở các nội dung

thực hành từ 1 đến 5 của ĐDGMHS trước và sau

can thiệp chương trình hướng dẫn quy trình bảo vệ

mắt cho người bệnh gây mê toàn diện Trong khi đó,

sự thay đổi ở nội dung thứ 6, dán mắt người bệnh,

trước và sau can thiệp hướng dẫn không có ý nghĩa

thống kê (p >0,05) Điều này tương tự với điểm trung

bình nhận thức về thói quen dán mắt cho người

bệnh Sau cùng, trung bình tổng điểm thực hành của

ĐDGMHS sau hướng dẫn là 5,3 ± 1,15 cao hơn so

với trước hướng dẫn là 1,9 ± 1,45 Sự khác biệt này

có ý nghĩa thống kê (p <0,001) Kết quả này tương

đồng với nghiên cứu của Fashafsheh và cộng sự

(2013), với trung bình tổng điểm thực hành tăng 1,04

(p <0,001), và Cho và cộng sự (2017), với trung bình

tổng điểm thực hành tăng 0,53 (p <0,001)(1), (2)

Ngoài ra, nghiên cứu còn cho thấy 100% người

hướng dẫn được trình bày dễ hiểu; tất cả cũng đều đồng ý với các khuyến cáo trong hướng dẫn và cho rằng các khuyến cáo này phù hợp với người bệnh gây mê toàn diện 96,67% cho rằng “áp dụng quy trình trong hướng dẫn không làm ảnh hưởng cách tổ chức khoa phòng của tôi” Điều này cho thấy quy trình vừa ban hành phù hợp với cách tổ chức hiện tại của khoa Hai nội dung “quy trình nên được áp dụng rộng rãi”, “tôi cảm thấy tự tin và thoải mái khi chăm sóc người bệnh của tôi theo quy trình” trong nghiên cứu của chúng tôi cũng có tỷ lệ đồng ý là 96,67%, cao hơn trong nghiên cứu của Swanke (2017), chỉ có 73,33% và 66,67%(9) Kết quả cho thấy điểm trung bình hài lòng dao động từ 2,7 ± 0,47 đến 3 trên thang Likert 3 điểm Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Cho và cộng sự (2017), có điểm trung bình hài lòng là 4,09 ± 0,57 dựa trên thang Likert 5 điểm(1)

KẾT LUẬN

Sau chương trình hướng dẫn quy trình bảo vệ mắt cho người bệnh gây mê toàn diện, điểm trung bình nhận thức và thực hành của ĐDGMHS tại Bệnh viện Ung Bướu đều tăng (nhận thức: 33,7 ± 3,22 so với 29,87 ± 2,87; thực hành: 5,3 ± 1,15 so với 1,9 ± 1,45) Sự hài lòng của ĐDGMHS về chương trình hướng dẫn cũng đạt từ 2,7 ± 0,45 đến 3 trên thang Likert 3 điểm ở các nội dung

Chương trình hướng dẫn quy trình bảo vệ mắt cho người bệnh gây mê toàn diện dành cho ĐDGMHS đã đạt được một số hiệu quả trong việc nâng cao nhận thức và thực hành cho ĐDGMHS Cần xây dựng quy trình bảo vệ mắt cho người bệnh gây mê toàn diện ở các bệnh viện cũng như đưa vấn

đề này vào chương trình giảng dạy ĐDGMHS ở các

cơ sở giáo dục Bên cạnh đó, cần thực hiện các nghiên cứu tiếp theo sau chương trình hướng dẫn quy trình bảo vệ mắt cho người bệnh gây mê toàn diện, đồng thời đánh giá sự hài lòng của người bệnh sau khi ĐDGMHS áp dụng quy trình

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Cho O H., Yoo Y S., Yun S H., et al (2017): Development and validation of an eye care educational programme for intensive care unit nurses J Clin Nurs, 26 (13 - 14): 2073 - 2082

2 Fashafsheh I H D., Morsy W M., Ismaeel M S.,

et al (2013): Impact of A designed Eye Care Protocol on Nurses Knowledge, Practices and on Eye Health Status of Unconscious Mechanically Ventilated Patients at North Palestine Hospitals

3 George T A., Abraham B., George N (2017): The need for eye protection during general anaesthesia and the efficacy of various eye

Trang 6

protection methods International Journal of

Research in Medical Sciences, 5 (4):

1224 - 1229

4 Grixti A., Sadri M., Watts M T (2013): Corneal

protection during general anesthesia for

nonocular surgery Ocul Surf, 11 (2): 109 - 118

5 Moos D D., Lind D M (2006): Detection and

treatment of perioperative corneal abrasions J

Perianesth Nurs, 21 (5): 332 - 338

6 Roth S., Thisted R A., Erickson J P., et al

(1996): Eye injuries after nonocular surgery, A

study of 60,965 anesthetics from 1988 to 1992

Anesthesiology, 85 (5): 1020 - 1027

7 Shkurupii D A., Harkavenko M О., Kholod D A

(2018): Ophthalmological complications of

general anesthesia Ukrainian Medical

Stomatological Academy, Poltava, Ukraine, 26

(1) : 66 - 71

8 Smita P (2013): Perioperative eye protection

under general anesthesia Journal of

anaesthesiology, clinical pharmacology, 29 (1) : 138-139

9 Swanke C L (2017): Preventing Corneal Abrasion During General Anesthesia for Non-Ocular Surgery

10 Wan T., Wang Y., Jin X M (2014): Corneal injury and its protection using hydro-gel patch during general anesthesia Int J Ophthalmol, 7 (6) : 964 - 967

11 White L (2017): Risks associated with your anaesthetic, Section 5: Damage to the eye during general anaesthesia Royal College of Anaesthetists

12 Yu H D., Chou A H., Yang M W., et al (2010):

An analysis of perioperative eye injuries after nonocular surgery Acta Anaesthesiol Taiwan,

48 (3) : 122-129

Trang 7

ABSTRACT

Application of protocol for eye protection during general anesthesia at oncology hospital

Background: Ophthalmic complications in general anesthesia are quite uncommon, but when they occur,

there may be discomfort, pain and visual loss Since the beginning of April 2020, Department of Anesthesiology – Oncology Hospital has popularized the "Protocol for eye protection during general anesthesia", which has just been issued, to the nurse anesthetists

Objective: To assess the nurse anesthetists’ awareness, practice and satisfaction after the training

program of the protocol

Methods: The study was conducted with all of 30 nurse anesthetists in the department Data were

collected based on a self-administered questionnaire and a practice checklist

Results: After the training program, the mean scores of awareness and practice increased (p<0.001) The

mean awareness scores before and after training were 29.87 ± 2.87 and 33.7 ± 3.22 while the corresponding mean practice scores were 1.9 ± 1.45 and 5.3 ± 1.15 The mean satisfaction scores of the nurse anesthetists

on the training program were between 2.7 ± 0.45 and 3 on the 3-point Likert scale Conclusion: The training

program of protocol for eye protection during general anesthesia has been shown to be effective for the nurse anesthetists at Oncology Hospital

Key words: Nurse anesthetists, protocol for eye protection, awareness, practice, training

Ngày đăng: 30/07/2021, 09:46

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w