Phân tích sự thay đổi của số bệnh nhân mới ung thư (UT) đại - trực tràng tuổi trẻ theo số liệu từ Ghi nhận ung thư quần thể TPHCM từ năm 2003 đến 2016. Đối tượng và phương pháp: Số liệu từ Ghi nhận ung thư quần thể TPHCM từ năm 2003 đến 2016 (với 10.710 bệnh nhân UT đại - trực tràng mới, trong đó có 6.771 UT đại tràng và 3.939 UT trực tràng) được sử dụng. Tỉ suất thay đổi hàng năm của các bệnh nhân UT đại - trực tràng tuổi trẻ (
Trang 1175
CÓ XU HƯỚNG TĂNG UNG THƯ ĐẠI - TRỰC TRÀNG
Ở NGƯỜI TRẺ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH?
PHẠM HÙNG CƯỜNG1, PHẠM XUÂN DŨNG2, BÙI ĐỨC TÙNG3
Địa chỉ liên hệ: Phạm Hùng Cường
Email: phcuongvn@yahoo.com Ngày nhận bài Ngày phản biện : 01/10/2020 : 03/11/2020
Ngày chấp nhận đăng : 05/11/2020
1 PGS.TS.BSCKII Phó Trưởng Bộ môn Ung thư - ĐHYD TP HCM,
Trưởng Khoa Ngoại ngực, bụng - Bệnh viện Ung Bướu TP HCM
2 TS.BSCKII Giám đốc Bệnh viện Ung Bướu TP HCM
3 ThS.BSCKII Phó Trưởng Phòng Chỉ đạo tuyến - Bệnh viện Ung Bướu TP HCM
ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo Globocan năm 2018, ung thư (UT) đại -
trực tràng là UT thường gặp hàng thứ năm tại Việt
Nam với 14.733 ca mới[7] Theo kết quả ghi nhận UT
quần thể tại TP HCM năm 2016, UT đại - trực tràng
là UT thường gặp đứng hàng thứ ba ở nam và thứ
tư ở nữ với xuất độ chuẩn theo tuổi lần lượt là 26,4
và 14,7/100.000 dân[17]
UT đại - trực tràng là bệnh của người già vì có
hơn 90% ca khi chẩn đoán đã ở tuổi 50 hoặc hơn[15]
Tuy nhiên số bệnh nhân trẻ đang ngày một tăng lên,
đặc biệt ở châu Âu và Bắc Mỹ[1,2,10,19] Các bệnh
nhân UT đại - trực tràng trẻ thường có loại mô học
ác tính hơn và thường được chẩn đoán ở giai đoạn
muộn hơn[4,8,9,12,15] Vài tác giả cũng mô tả nhóm
bệnh nhân trẻ có tiên lượng kém hơn[5]
Trong một nghiên cứu thực hiện năm 2019[16], chúng tôi không thấy có sự gia tăng tỉ lệ bệnh nhân
UT đại - trực tràng trẻ (< 50 tuổi) so với các thời điểm 20 năm trước tại bệnh viện Ung Bướu TPHCM Tuy nhiên, để trả lời câu hỏi tỉ lệ bệnh nhân UT đại - trực tràng trẻ tại Việt Nam có gia tăng hay không, cần phải phân tích các số liệu của Ghi nhận UT quần thể chứ không thể dựa vào số liệu bệnh viện như trong nghiên cứu vừa nêu
Cho đến nay, vẫn chưa có nghiên cứu dựa trên
số liệu Ghi nhận UT quần thể về tỉ lệ bệnh nhân UT đại - trực tràng trẻ ở Việt Nam Do vậy, chúng tôi
thực hiện nghiên cứu này nhằm mục tiêu: Phân tích
sự thay đổi của số bệnh nhân mới UT đại - trực tràng tuổi trẻ theo số liệu Ghi nhận UT quần thể TPHCM
từ năm 2003 đến 2016
TÓM TẮT
Mục đích: Phân tích sự thay đổi của số bệnh nhân mới ung thư (UT) đại - trực tràng tuổi trẻ theo số
liệu từ Ghi nhận ung thư quần thể TPHCM từ năm 2003 đến 2016
Đối tượng và phương pháp: Số liệu từ Ghi nhận ung thư quần thể TPHCM từ năm 2003 đến 2016
(với 10.710 bệnh nhân UT đại - trực tràng mới, trong đó có 6.771 UT đại tràng và 3.939 UT trực tràng) được sử dụng Tỉ suất thay đổi hàng năm của các bệnh nhân UT đại - trực tràng tuổi trẻ (<50 tuổi) được tính để xem xét xu hướng tăng giảm của UT đại - trực tràng ở người trẻ
Kết quả:
- Tỉ lệ bệnh nhân UT đại tràng và trực tràng trẻ (< 50 tuổi) lần lượt là 22,1% (KTC 95%: 21,1 - 23,1%)
và 20,6% (KTC 95%: 19,3 - 21,8%)
- Số các bệnh nhân mới UT đại - trực tràng tại TPHCM không có xu hướng tăng ở các nhóm tuổi trẻ
Kết luận: Chưa ghi nhận xu hướng tăng UT đại - trực tràng ở người trẻ tại TP HCM
Tuy nhiên, tỉ lệ bệnh nhân UT đại - trực tràng trẻ tại TPHCM hiện ở mức cao, nên cần cảnh giác khả năng bị UT đại - trực tràng khi có các triệu chứng nghi ngờ ở người trẻ <50 tuổi
Trang 2ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Số liệu từ Ghi nhận UT quần thể TPHCM các
năm 2003 - 2016 (gồm 10.710 bệnh nhân, trong đó
có 6.771 UT đại tràng và 3.939 UT trực tràng) được
sử dụng
Phương pháp nghiên cứu
Các biến số chính
- Tuổi trẻ được xác định khi các bệnh nhân có
tuổi < 50
- Tỉ suất thay đổi hàng năm (annual percent
change: APC) được tính theo công thức:
1 1
100
n n n
n
I I APC
I
với: APCn là tỉ suất thay đổi trong năm
In làsố bệnh nhân mới trong năm
In-1 là số bệnh nhân mới trong năm trước
APC được trình bày bằng tỉ lệ % và có thể có
giá trị dương hoặc âm
- Xu hướng tăng giảm của UT đại - trực tràng
được xem xét dựa trên sự biến thiên của APC liên
tục trong khoảng thời gian 2003 - 2016 Đường hồi
quy sự biến thiên của APC được tính và minh hoạ
trên biểu đồ phân tán Đường hồi quy hướng lên rõ
rệt cho thấy xu hướng tăng của APC theo thời gian,
và ngược lại
+ Nhập và xử lý số liệu bằng phần mềm
Excel và Minitab 16
+ Giá trị p < 0,05 được chọn là có ý nghĩa
thống kê, với độ tin cậy 95%
Mối tương quan giữa hai biến số định tính được
kiểm định bằng phép kiểm Chi bình phương (2)
KẾT QUẢ
Theo Ghi nhận UT quần thể TPHCM các năm
2003 - 2016, có 10.710 bệnh nhân UT đại - trực
tràng mới, trong đó có 6.771 UT đại tràng và 3.939
UT trực tràng
Số bệnh nhân mới UT đại - trực tràng được
trình bày trong Biểu đồ 1
Biểu đồ 1 Số bệnh nhân mới UT đại - trực tràng
các năm 2003 - 2016
Phân bố tuổi của các bệnh nhân được trình bày trong Bảng 1 Các bệnh nhân UT đại tràng và trực tràng trẻ (< 50 tuổi) có tỉ lệ lần lượt là 22,1% (KTC 95%: 21,1 - 23,1%) và 20,6% (KTC 95%: 19,3 - 21,8%)
tuổi Tổng
< 30 tuổi < 40 tuổi < 50 tuổi Đại
tràng (2,3%) 155 (9,1%) 608 (22,1%) 1.498 5.273 6.771
Trực tràng (2,1%) 84 (8%) 315 (20,6%) 812 3.127 3.939
Biểu đồ 2 Xu hướng thay đổi của các bệnh nhân
UT đại - trực tràng trẻ giai đoạn 2003 - 2016
Tỉ suất thay đổi hàng năm (APC) và xu hướng tăng giảm của UT đại - trực tràng trẻ dựa trên sự biến thiên của APC liên tục trong khoảng thời gian 2003-2016 được trình bày trong Bảng 2 và Biểu đồ
2
Trang 3177
Trong giai đoạn 2003 - 2016, số các bệnh nhân
mới UT đại tràng và trực tràng tại TPHCM không có
xu hướng tăng ở các nhóm tuổi trẻ Xu hướng này
biểu hiện qua các đường hồi quy của Biểu đồ 2
không hướng lên rõ rệt
Bảng 2 Tỉ suất thay đổi hàng năm (APC) của
UT đại - trực tràng trẻ giai đoạn 2003 - 2016
< 30 tuổi < 40 tuổi < 50 tuổi
Đại tràng
2005 8 -20% 26 -13,3% 61 -18,7%
2009 16 77,8% 48 26,3% 131 32,3%
2010 14 -12,5% 43 -10,4% 98 -25,2%
2011 13 -7,1% 38 -11,6% 121 23,5%
2012 18 38,5% 47 23,7% 122 0,8%
2013 11 -38,9% 58 23,4% 132 8,2%
2014 14 27,3% 64 10,3% 146 10,6%
Trực tràng
2004 10 400% 17 -10,5% 39 -4,9%
2010 6 -33,3% 23 -14,8% 58 -15,9%
2016 4 -33,3% 27 -25% 77 -12,5%
BÀN LUẬN Xác định bệnh nhân UT đại - trực tràng “trẻ”
Khoảng tuổi để xác định nhóm bệnh nhân UT đại - trực tràng trẻ thay đổi tùy theo các tác giả Khoảng tuổi này, theo các nghiên cứu so sánh
về dịch tể học và lâm sàng, có thể là < 40 tuổi[5,8,12],
< 45 tuổi[14], hoặc < 50 tuổi[3,16] Theo Kyaw[11], vì hơn 90% bệnh nhân UT đại - trực tràng thường gặp ở tuổi ≥ 50, do vậy nhóm bệnh nhân được xác định là trẻ nên là < 50 tuổi Quan điểm này cũng được ủng hộ bởi nhiều nghiên cứu UT dựa trên quần thể[1,2,10,19]
Trong nghiên cứu này, chúng tôi cũng dùng khoảng tuổi < 50 để xác định là nhóm bệnh nhân UT đại - trực tràng tuổi trẻ
Tỉ lệ bệnh nhân UT đại - trực tràng trẻ
Theo tổng quan của Ahnen[1], hơn 1/10 bệnh nhân UT đại - trực tràng có tuổi trẻ < 50 (11% UT đại tràng và 18% UT trực tràng)
Theo Feletto[6], từ năm 1982 đến 2014 tại Úc, các bệnh nhân UT đại tràng và trực tràng trẻ <50 có
tỉ lệ lần lượt là 7% và 9%
Trong nghiên cứu này, tỉ lệ bệnh nhân UT đại tràng và trực tràng trẻ (< 50 tuổi) có tỉ lệ lần lượt là 22,1% (KTC 95%: 21,1 - 23,1%) và 20,6% (KTC 95%: 19,3 - 21,8%) Các tỉ lệ này đều cao hơn hẳn các nghiên cứu trên (p < 0,001)
Năm 2010 tại Hoa Kỳ, tỉ lệ bệnh nhân UT đại tràng và trực tràng < 50 tuổi chiếm 4,8% và 9,5%
Dự kiến đến năm 2030 các tỉ lệ trên sẽ là 10% và 22%[14]
Tỉ lệ bệnh nhân UT đại tràng trẻ trong nghiên cứu này thậm chí còn cao hơn cả tỉ lệ bệnh nhân
UT đại tràng trẻ tại Hoa Kỳ dự kiến vào năm 2030 (p < 0,001)
Sự gia tăng của các bệnh nhân UT đại - trực tràng tuổi trẻ ?
Theo Ahnen[1], tại Hoa Kỳ, từ năm 2000 đến
2009 xuất độ ca UT đại - trực tràng mới ở nhóm người trẻ < 50 tăng liên tục, đối nghịch với xu hướng giảm liên tục ở nhóm người ≥ 50 tuổi
Theo Vuik[19], tại Âu châu, xuất độ ca UT đại - trực tràng mới tăng 7,9% mỗi năm ở nhóm tuổi
20-29 trong khoảng thời gian 2004 - 2016 Tỉ lệ tăng ở nhóm tuổi 30 - 39 là 4,9% và ở nhóm tuổi 40 - 49 là 1,6%
Theo Feletto[6], khảo sát hơn 375.000 ca UT đại
- trực tràng tại Úc từ năm 1982 đến 2014, các bệnh
Trang 4nhân UT đại tràng trẻ (< 50 tuổi) tăng mỗi năm 1,7 -
9,3% từ giữa những năm 2000, trong khi các bệnh
nhân UT trực tràng trẻ tăng mỗi năm 0,9 - 7,1% ngay
từ đầu những năm 1990
Theo Lui[13], khảo sát 1.922.167 ca UT đại - trực
tràng từ năm 1988 đến 2007, các bệnh nhân UT đại
tràng trẻ (< 50 tuổi) tăng mỗi năm 1,1% ở Úc; 1,13%
ở Thượng Hải; 1,82% ở Hong Kong; 1,98% ở Hoa
Kỳ; 2,6% ở Canada; 2,63% ở Nhật; 3,33% ở Anh và
9,2% ở Brazil
Tuy nhiên, theo Kyaw[11], các số liệu tại Hong
Kong không ghi nhận gia tăng tỉ lệ UT đại - trực
tràng tuổi trẻ trong khoảng thời gian 1983 - 2006,
tương tự với số liệu của Hàn Quốc 1999 - 2009
Trong nghiên cứu này, trong giai đoạn 2003 -
2016, số các bệnh nhân mới UT đại - trực tràng tại
TPHCM không có xu hướng tăng ở các nhóm tuổi
trẻ Kết quả này không khác với đa số các nước trên
thế giới
Nguyên nhân của các UT đại - trực tràng tuổi trẻ
Khoảng 30% bệnh nhân UT đại - trực tràng trẻ
có các đột biến gen gây ra các hội chứng di truyền,
20% có người thân trong gia đình bị UT đại - trực
tràng; 50% còn lại không có yếu tố di truyền rõ
ràng[14]
Các hội chứng di truyền có liên quan đến UT
đại - trực tràng, theo thứ tự thường gặp, bao gồm:
- Hội chứng UT đại - trực tràng di truyền
không phải đa pôlyp, hay còn gọi là hội chứng
Lynch 70% các bệnh nhân có hội chứng này này sẽ
bị UT đại - trực tràng và 40% số này sẽ bị UT đại -
trực tràng trước 40 tuổi
- UT đại - trực tràng có thể xuất hiện sớm ở
các bệnh nhân có các hội chứng đa pôlyp dạng
bướu tuyến: đa pôlyp dạng bướu tuyến gia đình
(FAP), đa pôlyp liên quan đến đọc - sửa enzim
polymerase (PPAP), đa pôlyp liên quan đến gen
MutYH (MAP), đa pôlyp liên quan đến gen NATH1
(NAP)
+ FAP là hội chứng di truyền có liên quan đến
UT đại - trực tràng thường gặp thứ hai sau hội
chứng Lynch, 100% bệnh nhân sẽ bị UT đại - trực
tràng, với trung vị tuổi bị UT đại - trực tràng là 39
tuổi
+ PPAP thường có <100 pôlyp và phần lớn bị
UT đại - trực tràng trước 40 tuổi
+ MAP và NAP thường có 10 - 50 pôlyp ở tuổi
40 Các bệnh nhân MAP có nguy cơ bị UT đại - trực
tràng cao hơn bình thường 28 lần[3,14,18]
Các bệnh nhân UT đại - trực tràng không có các hội chứng di truyền, nhưng có người trong gia đình cũng bị UT đại - trực tràng, nếu được làm các xét nghiệm gen có thể có 60% bị đột biến gen BRCA2 Nhóm bệnh nhân này đáp ứng tốt với các phác đồ hóa chất có platinum hoặc thuốc ức chế PARP khi đã có di căn xa[14]
Các nguyên nhân không di truyền của UT đại - trực tràng có thể do các yếu tố ẩm thực và tình trạng béo phì[9] Việc tăng sử dụng các phẩm màu và các chất bảo quản trong các thức ăn chế biến sẵn có thể làm thay đổi hệ vi khuẩn đường ruột và gián tiếp làm biến đổi các tế bào ở niêm mạc đại - trực tràng Lạm dụng các chất kháng sinh trong nông nghiệp và y khoa cũng có thể là nguyên nhân làm thay đổi hệ vi khuẩn đường ruột[12]
Phát hiện sớm UT đại - trực tràng tuổi trẻ?
Các bệnh nhân UT đại - trực tràng trẻ thường được chẩn đoán ở giai đoạn muộn (giai đoạn III hoặc IV), có thể vì:
- Bướu thường có loại mô học ác tính như: carcinôm tuyến chế tiết nhày, carcinôm tuyến tế bào nhẫn, carcinôm tuyến kém biệt hóa
- Bệnh nhân và ngay cả bác sĩ chỉ nghĩ đến chẩn đoán UT đại - trực tràng sau một thời gian chẩn đoán và điều trị như viêm nhiễm đường ruột
Do vậy, cần cảnh giác khả năng bị UT đại - trực tràng khi bệnh nhân có các triệu chứng nghi ngờ, ngay cả khi ở người trẻ < 50 tuổi[1]
Người thân trong gia đình của các bệnh nhân
UT đại - trực tràng cần phải được tư vấn xét nghiệm gen xem có bị các hội chứng di truyền có liên quan đến UT đại - trực tràng không Đây là các đối tượng thuộc nhóm nguy cơ cao bị UT đại - trực tràng, cần phải bắt đầu tầm soát UT đại - trực tràng ở tuổi trẻ hơn thông thường
Từ năm 2018, Hướng dẫn tầm soát UT đại - trực tràng của Hội Ung thư Hoa Kỳ (ACS) đã hạ tuổi bắt đầu nên tầm soát xuống còn 45 tuổi (thay vì là
50 tuổi), để có thể tầm soát phát hiện sớm UT đại - trực tràng ở người trẻ[19]
KẾT LUẬN
Chưa ghi nhận xu hướng tăng UT đại - trực tràng ở người trẻ tại TP HCM
Tuy nhiên, tỉ lệ bệnh nhân UT đại - trực tràng trẻ tại TPHCM hiện ở mức cao, nên cần cảnh giác khả năng bị UT đại - trực tràng khi có các triệu chứng nghi ngờ ở người trẻ < 50 tuổi
Trang 5179
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Ahnen D.J et al (2014) “The increasing
incidence of young-onset colorectal cancer: A
call to action” Mayo Clinic Proceedings, 89(2):
216 - 224
2 Araghi M et al (2019) “Changes in
colorectal cancer incidence in seven
high-income countries: a population-based study”
Lancet Gastroenterol Hepatol, 4(7): 511 - 518
3 Ballester V et al (2016) “Clinical and molecular
features of young-onset colorectal cancer”
World J Gastroenterol, 22(5): 1736 - 1744
4 Benmoussa A et al (2013) “Colorectal cancer:
Comparison of clinicopathologic features
between Moroccans patients less than 50 years
old and older” Patho Biologie, 61(3): 117 - 119
5 Domergue J et al (1988) “Colorectal carcinoma
in patients younger than 40 years of age:
Montpellier Cancer Institute experience with 78
patients” Cancer, 61: 835 - 840
6 Feletto E et al (2019) “Trends in Colon and
Rectal Cancer Incidence in Australia from 1982
to 2014: Analysis of Data on Over 375,000
Cases” Cancer Epidemiol Biomarkers Prev,
28(1): 83 - 90
(https://gco.iarc.fr/today/data/factsheets/populati
ons/704-viet-nam-fact-sheets.pdf)
8 Gonzalez Jauregui-Diaz F et al (2015)
“Clinicopathological difference in colorectal
cancer in patients under and over forty years”
Rev Med Hosp Gen Mex, 78(4): 151 - 154
9 Hubbard J.M., Grothey A (2013) “Adolescent
and Young Adult Colorectal Cancer” JNCCN,
11: 1219 - 1225
10 Kasi P.M., Shahjehan F., Cochuyt J.J., Li Z et al
(2018) “Rising proportion of young individuals of
rectal and colon cancer” Clin Colorectal Cancer, 18(1): e87 - 95
11 Kyaw M., Sung J.J.Y (2016) “Young-onset colorectal cancer in Asia-Pacific region” Med J Aust, 205(10):450 - 451
12 Li M et al (2011) “Do Young Patients with Colorectal Cancer Have a Poorer Prognosis than Old Patients?” J Surg Res, 167(2): 231 - 236
13 Lui R.N et al (2019) “Global Increasing of Young-Onset Colorectal Cancer Across 5 Continents: A Joinpoint Regression Analysis of 1,922,167 Cases” Cancer Epidemiol Biomarkers Prev, 28(8): 1275 - 1282
14 Mauri G., Sartore-Bianchi A et al (2019) “Early-onset colorectal cancer in young individuals” Mol Oncol, 13: 109 - 131
15 Pestana J.S.G., Martins S.F.F (2016)
“Colorectal cancer: comparative analysis of clinical and pathological characteristics in patients aged above and below 45 years of age and impact on prognosis” J Coloproctol (Rio J), 36(4): 196 - 202
16 Phạm Hùng Cường và cs (2019) "Ung thư đại - trực tràng ở người trẻ" Tạp chí Ung thư học Việt Nam; số 5, tr.259 - 264
17 Phạm Xuân Dũng, Đặng Huy Quốc Thịnh, Bùi Đức Tùng, Quách Thanh Khánh và cs (2019)
"Kết quả ghi nhận ung thư quần thể thành phố
Hồ Chí Minh 2016" Tạp chí Ung thư học Việt Nam; số 5, tr.23 - 29
18 Stigliano V et al (2014) “Early-onset colorectal cancer: A sporadic or inherited disease ?” World
J Gastroenterol, 20(35): 12420 - 12430
19 Vuik F.E.R., Nieuwenburg S.A.V., Bardou M et
al (2019) “Increasing incidence of colorectal cancer in young adults in Europe over the last 25 years” Gut, 0:1 - 7
Trang 6SUMMARY
Is there an increase in the incidence of colorectal cancer in young adults
in HOCHIMINH CITY, VIET NAM?
Purpose: To analyse changes in the incidence of colorectal cancer in young adults based on data of the
population-based cancer registration in HCMC, Vietnam from 2003 through 2016
Materials and Methods: Data of 10,710 incident cases (6,771 colon and 3,939 rectal) from HCMC Cancer
Registry were used Annual percent changes (APC) by age group was quantified and colorectal incidence trends in young adults in Hochiminh city from 2003 through 2016 were assessed
Results:
22.1% of colon cancer patients was less than 50 years old (95% CI: 21.1 - 23.1%) The proportion of the young rectal cancer patients was 20.6% (95% CI: 19.3 - 21.8%)
There was not an increasing trend in the incidence of colorectal cancer in young adults in Hochiminh city
Conclusion: Increasing colorectal cancer incidence trends among younger adults in Hochiminh city,
Vietnam were not recognized yet However, proportion of young colorectal cancer patients there was high Therefore, it must consider colorectal cancer as a real possibility in individuals who present with any suspicious symptoms, even in adults less than 50-year-old
Keywords: Colorectal cancer, young adults, annual percent changes