1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Mối tương quan giữa bộc lộ ER, PR, HER 2-NEU và nồng độ ca 15.3 và các yếu tố khác ở bệnh nhân ung thư vú hóa trị bổ trợ

5 49 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 10,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày xác định sự biểu lộ và mối liên quan giữa các dấu ấn sinh học (thụ thể nội tiết, HER2) và sự thay đổi nồng độ CA 15.3 với các yếu tố tiên lượng kinh điển ở bệnh nhân ung thư vú được hóa trị bổ trợ.

Trang 1

TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM 253

MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA BỘC LỘ ER, PR, HER 2-NEU

VÀ NỒNG ĐỘ CA 15.3 VÀ CÁC YẾU TỐ KHÁC Ở BỆNH NHÂN

UNG THƯ VÚ HÓA TRỊ BỔ TRỢ

ĐỖ ĐỨC HUY HOÀNG1, TRẦN BẢO NGỌC2, NGÔ THỊ TÍNH1

TÓM TẮT

Mục tiêu: Xác định sự biểu lộ và mối liên quan giữa các dấu ấn sinh học (thụ thể nội tiết, HER2) và sự thay

đổi nồng độ CA 15.3 với các yếu tố tiên lượng kinh điển ở bệnh nhân ung thư vú được hóa trị bổ trợ

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang 48 trường hợp ung thư vú được hóa trị bổ trợ

tại Trung tâm Ung Bướu Thái Nguyên từ tháng 01 đến tháng 6 năm 2017 Nhuộm ER, PR và HER2 và đo nồng

độ CA 15.3 huyết thanh theo quy chuẩn

Kết quả: Tuổi trung bình 50,1 Có mối liên quan giữa kích thước u nguyên phát và di căn hạch vùng

41,7% ER, PR cùng dương tính; 8,4% bộ ba âm tính; 45,8% Her2 dương Kết quả nghiên cứu cho thấy: Nồng

độ CA 15.3 không thay đổi có ý nghĩa trước/sau hóa trị bổ trợ Các yếu tố tương quan có ý nghĩa với ER là nhóm giai đoạn T sớm, độ mô học, CA 15.3 trước điều trị Với PR không có yếu tố liên quan nào Với Her 2 có nhóm giai đoạn T sớm có tương quan Với nồng độ CA 15.3 có một số yếu tố tương quan: độ mô học, ER, nhóm tuổi và nhóm giai đoạn T

Kết luận: Sự biểu lộ ER, Her2 và sự tăng nồng độ CA 15.3 huyết thanh của bệnh nhân ung thư vú được

hóa trị bổ trợ tương quan có ý nghĩa với các yếu tố tiên lượng truyền thống (kích thước u, độ mô học và tình trạng di căn hạch)

Từ khóa: ER, PR, HER2, CA 15.3, ung thư vú, hóa trị bổ trợ

ABSTRACT

The correlation between expresion er, pr, her 2-neu and serum ca 15.3 levels to other factors in breast

cancer patients treated adjuvant chemotherapy Objective: To determine the expression and correlation between hormone receptor, HER2, and changes of

CA 15.3 levels with classic predictors in breast cancer patients treated with adjuvant chemotherapy

Patients and methods: A cross-sectional description on 48 breast cancer patients treated adjuvant

chemotherapy at Thai Nguyen Oncology Center from January to June 2017 ER, PR and HER2 were stained and serum levels of CA 15.3 were measured in accordance with standards

Results: Mean age is 50.1 There is a relationship between primary tumor size and regional lymph nodal

metastasis There were 41.7% patients with ER and PR positive, 8.4% patients with triple negative and 45.8% patients with HER2 positive The results showed that CA 15.3 levels did not change significantly before/after complementary chemotherapy Signs of significant correlation with ER are T early stages, histological grading, N0, CA 15.3 before treatment With PR, none factor was correlated With Her 2, group of early stages T was correlated With serum CA 15.3 levels, there are some correlation factors: histological grading, ER, age group and T stage

1Trung tâm Ung Bướu Thái Nguyên

2 Trường Đại học Y Dược - Đại học Thái Nguyên

Trang 2

Conclusions: The expression of ER, Her 2 and elevated serum levels of CA15.3 in breast carcinoma

significantly correlated with traditional prognostic factors (tumor size, histological grading and lymph node status)

Keywords: ER, PR, HER2, CA 15.3, breast cancer , adjuvant chemotherapy.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ung thư vú (UTV) là bệnh ung thư hay gặp nhất

ở phụ nữ và là nguyên nhân gây tử vong thứ hai sau

ung thư phổi trong các bệnh ung thư trên toàn thế

giới Theo GLOBOCAN năm 2012, trên thế giới có

1.677.000 trường hợp ung thư vú mắc mới (chiếm

25% trong các bệnh ung thư ở nữ) và 522.000

trường hợp tử vong Tại Việt Nam, theo nghiên cứu

gánh nặng ung thư đến năm 2020 của Bùi Diệu cho

thấy ung thư vú là bệnh có tỷ lệ mắc cao nhất trong

các ung thư ở nữ giới Tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi

năm 2010 ước tính là 28,1/100.000 phụ nữ Tỷ lệ

mắc ung thư vú có xu hướng gia tăng trong những

năm gần đây, song những tiến bộ không ngừng

trong chẩn đoán và điều trị đã giúp ngày càng cải

thiện thời gian sống của bệnh nhân ung thư vú

Vấn đề tiên lượng và điều trị ung thư vú phụ

thuộc vào kích thước, sự xâm lấn của u, hạch vùng

và di căn cũng như sự bộc lộ của các chất chỉ điểm

sinh học Trong các chất chỉ điểm sinh học của ung

thư vú, ER (estrogen receptor), PR (progesterone

receptor), Her2-neu (human epidermal growth factor

receptor 2) được sử dụng phổ biến nhất để tiên

lượng, dự đoán tái phát bệnh và là cơ sở để đưa ra

liệu trình bổ trợ sau khi điều trị tại chỗ, cùng với

nồng độ CA 15.3 (Cancer antigen 15.3) có giá trị

theo dõi trong và sau quá trình điều trị bệnh

Tại Thái Nguyên, chưa có nghiên cứu tìm hiểu

giá trị, ý nghĩa của các chất chỉ điểm với các yếu tố

tiên lượng kinh điển, do đó chúng tôi thực hiện đề tài

nghiên cứu này với các mục tiêu sau:

1 Xác định tình trạng bộc lộ ER, PR, Her2-neu

và nồng độ CA15.3 ở các bệnh nhân ung thư vú

được hóa trị bổ trợ tại TTUB Thái Nguyên năm 2017

2 Khảo sát mối tương quan giữa các yếu tố tiên

lượng kinh điển với các chỉ số trên trong nhóm bệnh

nhân nghiên cứu.

ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang

Cỡ mẫu nghiên cứu

Toàn bộ các bệnh nhân ung thư vú được hóa trị

bổ trợ tại Trung tâm Ung Bướu Thái Nguyên từ

tháng 01/2017 đến tháng 6/2017, thỏa mãn các tiêu chuẩn thu nhận và tiêu chuẩn loại trừ

Cách chọn mẫu

Chọn mẫu thuận tiện, thời gian trên chúng tôi chọn được 48 bệnh nhân

Tiê u chuẩn chọn mẫu

- BN đã được chẩn đoán ung thư biểu mô tuyến

vú và đã được phẫu thuật triệt căn

- Có chỉ định hóa trị bổ trợ

- Hồ sơ lưu trữ đầy đủ, không bỏ dở điều trị

Tiêu chuẩn loại trừ

- Loại trừ các trường hợp mắc hai ung thư

- Tiền sử đã điều trị bệnh ung thư

Cách thu thập số liệu

Hình th ức thu thập số liệu

Thu thập số liệu qua mẫu bệnh án nghiên cứu soạn sẵn

Các chỉ tiêu nghiên cứu

- Một số đặc điểm nhân khẩu học: nhóm tuổi, nghề nghiệp, tiền sử sản khoa…

- Chẩn đoán TNM và giai đoạn sau phẫu thuật (pTNM): kích thước u nguyên phát, di căn hạch, phân loại mô bệnh học, độ mô học…

- Kết quả xét nghiệm ER, PR, Her2/neu tại Khoa Giải phẫu bệnh

- Định lượng nồng độ CA15.3 và các xét nghiệm máu qua mỗi chu kỳ hóa trị liệu

Xử lý số liệu

Bằng phần mềm SPSS 20.0 Phân tích mối tương quan giữa các yếu tố tiên lượng kinh điển (tuổi, kích thước u, di căn hạch, giai đoạn bệnh…) với sự bộc lộ ER, PR, Her2/neu và CA15.3 bằng phân tích tương quan Pearson (r), từ đó rút ra các yếu tố có ý nghĩa

Đạo đức nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện sau khi được phê duyệt của Hội đồng Y đức Bệnh viện Trung Ương Thái Nguyên

Trang 3

TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM 255

Bệnh nhân hoàn toàn tự nguyện, số liệu đảm

bảo bí mật và được quyền rút khỏi nghiên cứu bất

cứ lúc nào

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

Tương tự các nghiên cứu đã công bố trước

đây, tuổi mắc UTV thường ngoài 40 tuổi, nghiên cứu

này cho biết 66,7% BN trên 40 tuổi, với tuổi trung

bình 50,1 (khoảng 28-72) Do lựa chọn BN UTV

được phẫu thuật, sau đó hóa trị bổ trợ cho nên

nhóm tuổi mắc bệnh không hoàn toàn phản ánh

đúng sơ với thực tế mắc bệnh Nghề nghiệp trong

nghiên cứu này không thấy có nhiều sự khác biệt

(mặc dù làm ruộng chiếm chủ yếu) Tuy nhiên có 9

BN (18,8%) độc thân, một yếu tố khá liên quan với tỷ

lệ mắc UTV cần được quan tâm (Bảng 1)

Bảng 1 Một số đặc điểm bệnh nhân

Tuổi trung bình (khoảng 28-72) 50,1 ± 13,2

Nghề nghiệp

Cán bộ nhà

Hôn nhân

Sống cùng

Sống cùng

Tất cả 48 BN đều được phẫu tích bệnh phẩm

để xét nghiệm mô bệnh học sau mổ Tại Bảng 2 cho

thấy có mối liên quan ý nghĩa về tỷ lệ thuận kích

thước u nguyên phát so với tình trạng di căn hạch

vùng Vì các BN được phẫu thuật nên chủ yếu là các

giai đoạn bệnh còn mổ được, nên giai đoạn T, N

sớm chiếm tỷ lệ lớn, tương tự nghiên cứu của Đ.C

Thuận (2011)[1] Chúng tôi nhận thấy hầu hết các

trường hợp UTV được điều trị tại Thái Nguyên trong

nghiên cứu này đều phát hiện khi kích thước u

không lớn và giai đoạn hạch (sau phẫu thuật) sớm,

đây có thể là dấu hiệu tốt cho khẳng định công tác

truyền thông trong việc phát hiện sớm bệnh của

người dân

Bảng 2 Đặc điểm bệnh sau phẫu thuật

Kích thước u

nguyên phát

Hạch vùng

Tổng số

T1 (số lượng/tỷ lệ %) 10 (90,9) 1 (9,1) 11 T2 (số lượng/tỷ lệ %) 21 (61,8) 13 (38,2) 34

Bảng 3 cho thấy tỷ lệ dương tính ER và PR khá cao (phù hợp với tuổi trung bình trong nghiên cứu), 41,7% ER và PR cùng dương tính, 45,8% Her2 dương, tuy nhiên chúng tôi cũng thấy 8,3% có bộ ba

âm tính (một dấu hiệu tiên lượng điều trị xấu) Tỷ lệ bộc lộ dấu ấn miễn dịch này tương tự công bố của Effi (2016)[3] Tiếc rằng số lượng BN không nhiều, thông tin mãn kinh không đầy đủ nên chúng tôi không phân tích sâu hơn được

Bảng 3 Kết quả xét nghiệm thụ thể ER, PR

và bộc lộ Her2/neu

ER (+)

PR (+)

ER (+)

PR (+)

ER (+)

PR (-)

ER (-)

PR (+)

ER (-)

PR (-)

Her

2 (+)

Tam

âm

Số

Tỷ lệ 77,1 56,3 41,7 35,4 14,6 8,3 45,8 8,3 Nồng độ CA 15.3 huyết thanh được coi là yếu

tố tiên lượng tốt trong điều trị UTV qua một số công

bố gần đây, đặc biệt khi kết hợp với bộc lộ các dâu

ấn miễn dịch, như của Di Gioia (2015)[2], hay của Fejzic (2015)[4], thậm chí Konan (2015) còn cho biết nồng độ CA 15.3 tăng còn có ý nghĩa phát hiện sớm tái phát và/hoặc di căn trong UTV[5] Trong nghiên cứu này, do thời điểm so sánh trước/sau khá gần nhau nên sự khác biệt về nồng độ CA 15.3 không có

sự khác biệt có ý nghĩa (Bảng 4)

Bảng 4 Nồng độ CA 15.3 trong quá trình điều trị

Nồng độ CA 15.3 trước/sau điều trị

CA 15.3 sau điều trị

Tổng

số Bình

CA 15.3 trước điều trị

Bình thường 31 (86,1) 5 (13,9) 36

Bảng 5 được chúng tôi phân tích mối tương quan Pearson trong SPSS 20.0 giữa bộc lộ dấu ấn miễn dịch (ER, PR, Her2) và nồng độ CA 15.3 với một số yếu tố tiên lượng đã được công nhận qua y văn (tình trạng hôn nhân, tình trạng hạch vùng, độ

mô học của bệnh, u nguyên phát và nhóm tuổi) Kết quả cho thấy với ER, một số yếu tố có mối tương

Trang 4

quan là nồng độ CA 15.3 trước điều trị, độ mô học

và giai đoạn T Với PR tại nghiên cứu này chưa phát

hiện được mối tương quan nào Với bộc lộ Her2 chỉ

có duy nhất kích thước u nguyên phát có mối tương

quan Tuy nhiên khi phân tích theo nồng độ CA 15.3

trước điều trị, chúng tôi thấy có nhiều các yếu tố

tương quan hơn, đó là ER, độ mô học, nhóm tuổi và

kích thước u nguyên phát Các yếu tố khác rải rác có

mối tương quan (kết quả cụ thể tại Bảng 5)

Qua tham khảo chúng tôi nhận thấy vai trò tiên

lượng, theo dõi kết quả điều trị UTV của các dấu ấn

miễn dịch và bộc lộ Her2 được nhiều tác giả trong và ngoài nước tiến hành nghiên cứu và công nhận Ngoài ra, một số tác giả còn kết hợp các yếu tố này với một số nhân tố khác trong theo dõi bệnh Như tác giả Yamashita (2016) sử dụng ER, PR kết hợp với Ki67 để tiên đoán tái phát UTV ở cả phụ nữ mãn kinh và chưa mãn kinh[7], hay tác giả Wang (2014) qua nghiên cứu kết luận CA15-3, CA125, CEA và TSGF (yếu tố tăng trưởng đặc hiệu của khối u ác tính) trong núm vú có thể dùng làm chất sinh học mới trong chẩn đoán và tiên lượng bệnh UTV[6]

Bảng 5 Tương quan giữa ER, PR, Her2, CA 15.3 trước điều trị với một số yếu tố

ER

PR

*

CA 15.3 trước ĐT r -,487

Hôn nhân

*

Nhóm tuổi Pearson ,245 -,089 -,059 -,306

Nhóm T

** Correlation is significant at the 0.01 level (2-tailed)

* Correlation is significant at the 0.05 level (2-tailed)

Có lẽ do cỡ mẫu không đủ lớn, thời gian nghiên cứu không đủ dài, các biến só nghiên cứu chưa thật đầy

đủ, tuy nhiên với kết quả thu nhận được chúng tôi vẫn thấy có ý nghĩa nhất định trong điều trị, tiên lượng ung thư vú nói chung

KẾT LUẬN

Tuổi trung bình 50,1 Có mối liên quan giữa

kích thước u nguyên phát và di căn hạch vùng

41,7% ER, PR cùng dương tính; 8,4% bộ ba âm

tính; 45,8% Her2 dương Nồng độ CA 15.3 không

thay đổi có ý nghĩa trước/sau hóa trị bổ trợ

Các yếu tố tương quan có ý nghĩa với ER là

nhóm giai đoạn T sớm, độ mô học, CA 15.3 trước

điều trị Với PR không có yếu tố liên quan nào Với

Her 2 có nhóm giai đoạn T sớm có tương quan Với nồng độ CA 15.3 có một số yếu tố tương quan: độ

mô học, ER, nhóm tuổi và nhóm giai đoạn T

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Đặng Công Thuận, Nguyễn Phúc Duy Quang (2011), "Nghiên cứu sự bộc lộ ER, PR, HER2 và

nồng độ CA 15.3 trong ung thư biểu mô tuyến vú xâm nhập", Tạp chí Y học TP Hồ Chí Minh, 15 (Phụ bản số 2), tr 107-113

Trang 5

TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM 257

2 Di Gioia D, Dresse M, Mayr D, et al (2015),

"Serum HER2 in combination with CA 15-3 as a

parameter for prognosis in patients with early

breast cancer", Clin Chim Acta, 440, pp 16-22

3 Effi AB, Aman NA, Koui BS, et al (2016),

"Breast Cancer Molecular Subtypes Defined by

ER/PR and HER2 Status: Association with

Clinicopathologic Parameters in Ivorian

Patients", Asian Pac J Cancer Prev, 17 (4), pp

1973-8

4 Fejzic H, Mujagic S, Azabagic S, et al (2015),

"Tumor marker CA 15-3 in breast cancer

patients", Acta Med Acad, 44 (1), pp 39-46

5 Konan S, Goussot V, Desmoulins I, et al (2015),

"Clinical value of CA 15-3 for early detection of relapse in locally advanced breast cancer", Bull Cancer, 102 (10), pp 834-44

6 Wang G, Qin Y, Zhang J, et al (2014), "Nipple discharge of CA15-3, CA125, CEA and TSGF as

a new biomarker panel for breast cancer", Int J Mol Sci, 15 (6), pp 9546-9565

7 Yamashita H, Ogiya A, Shien T, et al (2016),

"Clinicopathological factors predicting early and late distant recurrence in estrogen receptor-positive, HER2-negative breast cancer", Breast Cancer, 23 (6), pp 830-843

Ngày đăng: 30/07/2021, 09:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w