Bài viết tổng kết và đúc rút các tri thức bản địa và các mô hình thích ứng với biến đổi khí hậu ở cấp cộng đồng đã được triển khai thực hiện thành công trên địa bàn nghiên cứu đến độc giả và những người quan tâm, nhằm tuyên truyền và phổ biến thông tin tới các cộng đồng là một việc làm cần thiết. Mời các bạn cùng tham khảo.
Trang 1TRI THỨC BẢN ĐỊA VÀ CÁC MÔ HÌNH CỘNG ĐỒNG THÍCH ỨNG VỚI BIẾN
ĐỔI KHÍ HẬU Ở CÁC TỈNH BÌNH – TRỊ - THIÊN
ThS Hoàng Ngọc Tường Vân, ThS Nguyễn Đình Huy
Viện Tài nguyên và Môi trường- Đại học Huế
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Biến đổi khí hậu (BĐKH) là một vấn đề đang được toàn nhân loại quan tâm BĐKH đã và đang tác động trực tiếp tới đời sống, kinh tế - xã hội và môi trường toàn cầu Việt Nam là một trong những quốc gia bị ảnh hưởng nghiêm trọng do BĐKH, thể hiện rõ nhất ở sự gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan và thiên tai, cả về số lượng lẫn cường độ Trong đó, khu vực duyên hải miền Trung là một trong những khu vực chịu nhiều ảnh hưởng của BĐKH, đặc biệt là ba tỉnh Quảng Bình – Quảng Trị - Thừa Thiên Huế Theo thống kê, các thiệt hại do BĐKH ở các tỉnh thành này là rất lớn, không những thiệt hại về sản xuất, kinh doanh, nhà cửa, con người mà còn ảnh hưởng lớn đến môi trường và gây thiếu nước cho quá trình sản xuất và sinh hoạt của con người Tuy nhiên, những thiệt hại này sẽ vô cùng lớn nếu như những người dân không thực hiện kịp thời những biện pháp thích ứng và áp dụng các kinh nghiệm bản địa trong việc dự đoán được khả năng xảy ra của các hiện tượng thời tiết cực đoan Do đó, việc tổng kết và đúc rút các tri thức bản địa và các mô hình thích ứng với BĐKH ở cấp cộng đồng đã được triển khai thực hiện thành công trên địa bàn nghiên cứu đến độc giả và những người quan tâm, nhằm tuyên truyền và phổ biến thông tin tới các cộng đồng là một việc làm cần thiết Từ
đó sẽ giúp cho các cộng đồng địa phương giảm thiểu các tác động của BĐKH và đảm bảo cuộc sống cũng như sản xuất trong bối cảnh BĐKH
2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp thu thập, thống kê, tổng hợp tài liệu: Đây là phương pháp khá
phổ biến và mang lại hiệu quả cao trong quá trình nghiên cứu Trong nghiên cứu này, thông qua việc tiếp xúc, làm việc với các cơ quan địa phương để thu thập các tài liệu, số liệu liên quan đến khu vực triển khai dự án Tất cả các số liệu, tài liệu sau khi thu thập được thống kê và tổng hợp để đưa ra bức tranh tổng quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội cũng như những tác động của BĐKH lên khu vực
- Phương pháp điều tra khảo sát thực địa: Quá trình nghiên cứu sẽ được tổ chức
thành nhiều đợt nghiên cứu, khảo sát tổng hợp tại địa bàn nghiên cứu Các đợt khảo sát được tiến hành theo các lộ trình vạch sẵn qua các dạng, kiểu địa hình và các khu vực sản xuất đặc trưng cho từng địa bàn nghiên cứu Tập trung khảo sát tại những khu vực có những mô hình đặc trưng Các kết quả nghiên cứu, khảo sát thực tế đó sẽ giúp làm rõ hơn
về các đặc điểm điều kiện tự nhiên, hiện trạng phát triển kinh tế-xã hội và các vấn đề môi trường, các mô hình sinh kế của vùng nghiên cứu theo cách tiếp cận từ dưới lên Đây là
cơ sở quan trọng để triển khai các hoạt động nghiên cứu, đảm bảo được tính logic về khoa học và áp dụng được ngay trong điều kiện thực tiễn của địa phương
- Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA): PRA được
phát triển từ RRA PRA là quá trình liên tục, là phương pháp khuyến khích, lôi cuốn người dân nông thôn cùng tham gia chia sẻ, thảo luận và phân tích kiến thức của họ về đời sống và điều kiện thực tế của họ để lập kế hoạch hành động và thực hiện
Trang 2PRA là một cách làm việc mới, không những được dùng trong quá trình thu thập, xử
lý thông tin, mà được thực hiện xuyên suốt chương trình nghiên cứu Thông qua PRA, mỗi thành viên trong cộng đồng nhận thấy tiếng nói của chính mình được lắng nghe, được ghi nhận để cùng thúc đẩy sự đóng góp chung Điều quan trọng trong PRA là thu hút những người nghèo, người bị thiệt thòi ít được học hành trong cộng đồng tham gia vào việc lập kế hoạch, thực hiện, giám sát và đánh giá-tạo ra sự công bằng, dân chủ trong việc tham gia lấy quyết định và phát triển cộng đồng
Nghiên cứu này đã sử dụng phương pháp PRA như là một công cụ chính để tiến hành làm việc với chính quyền và người dân địa phương nhằm tìm hiểu, phân tích, đánh giá tình hình kinh tế-xã hội, những tác động của BĐKH
- Phương pháp phân tích chuỗi: Cách tiếp cận cơ bản nhất trong xây dựng mô
hình sinh kế thích ứng với BĐKH, thiên tai bão lũ ở khu vực nghiên cứu là phân tích chuỗi tác động theo nguyên lý nguyên nhân-hệ quả: BĐKH Thiên tai bão lũ Tổn thất người và của cải, tổn thương môi trường Biện pháp chống chịu, thích ứng
Mô hình sinh kế quy mô hộ gia đình và quy mô cộng đồng Phương pháp phân tích chuỗi được thể hiện ở dạng sơ đồ sau:
Hình 1 Sơ đồ phương pháp phân tích chuỗi
3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Tổng quan về tình hình BĐKH ở khu vực nghiên cứu
Các biểu hiện của biến đổi khí hậu ở khu vực nghiên cứu thể hiện như sau:
Nhiệt độ trung bình, tính biến động và dị thường của thời tiết có xu hướng tăng, ;
Các loại hình thiên tai và các biểu hiện cực đoan (lũ lụt, hạn hán, nắng nóng, giá rét, ) xảy ra với tần suất cao, cường độ bất thường;
Tổng lượng mưa năm có xu hướng giảm nhẹ, bên cạnh việc 80-93% tổng lượng mưa năm tập trung vào mùa mưa, tình trạng mưa với cường độ lớn tập trung trong thời gian ngắn trong những năm gần đây ngày càng nhiều, gây nên tình trạng lũ lụt nghiêm trọng;
Biến đổi khí hậu ở các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế có ảnh hưởng lớn đến cuộc sống và sinh kế của các cộng đồng dân cư nghèo, nhất là các địa phương ven biển, ven đầm phá và/hoặc ven sông
Bão
Lũ, lụt
Các dạng tài nguyên Các th/phần môi trường Các hoạt động kinh tê Các hợp phần xã hội Sức khỏe cộng đồng
Các dạng tài nguyên
Cá nhân và hộ gia đình Cộng đồng làng xã Chính quyền địa phương
Hỗ trợ từ bên ngoài Nuôi trồng thủy sản
Nhà ở
Canh tác nông nghiệp
Hệ thống tự nhiên - kinh tế xã hội - môi trường
Thiên tai Các đối tượng bị tác động Khả năng chống chịu,
thích ứng
Các mô hình sinh kế
Nước biển dâng
Vệ sinh môi trường
Bão
Lũ, lụt
Các dạng tài nguyên Các th/phần môi trường Các hoạt động kinh tê Các hợp phần xã hội Sức khỏe cộng đồng
Các dạng tài nguyên
Cá nhân và hộ gia đình Cộng đồng làng xã Chính quyền địa phương
Hỗ trợ từ bên ngoài Nuôi trồng thủy sản
Nhà ở
Canh tác nông nghiệp
Hệ thống tự nhiên - kinh tế xã hội - môi trường
Thiên tai Các đối tượng bị tác động Khả năng chống chịu,
thích ứng
Các mô hình sinh kế
Nước biển dâng
Vệ sinh môi trường
Trang 3Bảng 1 Một số biểu hiện chính của BĐKH ở ba tỉnh Bình – Trị - Thiên
Sự thay đổi nhiệt độ trên địa
bàn tỉnh Quảng Bình giai
đoạn 1961-2009 được thể
hiện trên cả 3 giá trị: nhiệt độ
trung bình, nhiệt độ thấp nhất
và nhiệt độ cao nhất
Tổng lượng mưa năm có xu
hướng giảm nhẹ
Những năm gần đây, hiện
tượng lũ lụt xảy ra nhiều hơn
với cường độ, quy mô lớn
Ngoài ra, bão gia tăng về số
lượng và cường độ, khốc liệt
hơn và khó lường hơn
Tình hình hạn hán trên địa
bàn tỉnh liên tục gay gắt và
kéo dài trong mùa khô Số
tháng hạn trung bình nhiều
năm của tỉnh Quảng Bình
giai đoạn 1965-2010 là 3-4
tháng (mức cao nhất của khu
vực Bắc Trung Bộ)
Trong 36 năm (1975-2010), nhiệt độ tối cao trung bình năm tăng khoảng 0,10
C cho mỗi thập kỷ và nhiệt độ tối thấp trung bình năm tăng khoảng 0,2 đến 0,30C cho mỗi thập kỷ
Trong 36 năm qua, lượng mưa mùa ít mưa hầu như không thay đổi nhiều, chỉ giảm khoảng 0,02% cho mỗi thập kỷ, ngược lại, lượng mưa mùa mưa có xu thế tăng, với mức tăng khoảng 3,4%
cho mỗi thập kỷ và lượng mưa năm tăng khoảng 0,6%
cho mỗi thập kỷ
Bão và lụt cũng xảy ra với tần suất và cường độ lớn hơn, tính bất thường cũng ngày càng gia tăng
Hạn hán cũng xảy ra ngày càng nhiều và bất thường hơn
Nhiệt độ không khí trung bình tại Huế từ gần 100 năm đến nay có xu hướng giảm một ít, mỗi thập kỷ giảm khoảng 0,1oC, ngược lại với
xu thế chung của cả nước
Số liệu thống kê cũng cho thấy lượng mưa tháng lớn nhất và lượng mưa ngày lớn nhất có
xu thế tăng rõ rệt trong những thập kỷ gần đây Tổng lượng mưa hàng năm có xu thế tăng
và tăng mạnh
Trước đây, bão lụt thường xảy ra vào các tháng IX-XI Hiện nay, lũ lụt xảy ra sớm hơn vào tháng VIII và kết thúc muộn hơn vào tháng XII Lũ diễn ra với cường suất ngày càng cao, đỉnh lũ cao hơn, dòng chảy mạnh hơn
Trong những thập kỷ 70 và
80 của thế kỷ XX số cơn bão tăng mạnh nhưng trong thập
kỷ 90 thì có xu thế giảm
3.2 Tổng kết tri thức bản địa trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu
Tri thức bản địa có thể được định nghĩa tóm tắt là hệ thống kiến thức của các cộng đồng bản địa hoặc tại một khu vực của một vùng nào đó Nó tồn tại và phát triển trong những hoàn cảnh nhất định với sự đóng góp của mọi thành viên trong cộng đồng Với cách hiểu này, khái niệm tri thức bản địa bao hàm rất nhiều lĩnh vực liên quan đến đời sống sinh hoạt và hoạt động sản xuất của cộng đồng Chằng hạn, tri thức bản địa của các cộng đồng dân cư về các hiện tượng khí hậu là đặc biệt phong phú Các kiến thức này thường liên quan đến việc dự đoán các hiện tượng thiên tai như bão, lụt thông qua khả năng quan sát các biểu hiện đặc biệt của trời, mây, dòng nước, hoạt động của các loài vật Khi được hỏi về kinh nghiệm cá nhân để nhận biết trước dấu hiệu xảy ra các hiện tượng thời tiết cực đoan như bão lụt hay không, thì có đến 90% người được hỏi trả lời là
“có”
Một số “tri thức bản địa” được ứng dụng để dự báo các hiện tượng thời tiết cực đoan được đúc kết từ các cộng đồng người dân địa phương ở khu vực nghiên cứu:
Trang 4Các hiện tượng/sự vật Điều dự báo
Khi các con ốc xoắn (ở các khe) chụm
lại với nhau thành từng đám
Lũ lụt lớn sẽ xảy ra
Tháng 7 ngó (nhìn) ra, tháng 3 ngó
(nhìn) vào
Lũ lụt sẽ xảy ra
Cây bông lan (dại) nở hoa màu trắng 1 tuần sau sẽ có mưa lụt
Đàn kiến đen cẳng cao tha trứng màu
trắng đi từng đàn lên chỗ cao
Sắp có lụt lớn xảy ra
Cây măng tre mọc chen vào các cây tre
khác giữa bụi tre hoặc mọc giữa bụi tre
Sẽ có bão lớn
Nhìn về phía biển thấy đàn cò trắng
bay thành từng đàn vào đất liền
1-2 ngày nữa sẽ có bão đổ bộ vào
Cá đồng cằn (lết) đi nơi khác Lũ lụt sẽ xảy ra
Tổ kiến thấp thì bão, tổ kiến cao thì lụt Sẽ có bão hay lụt
Én bay cao mưa rào vẫn tạnh, én bay
thấp nước ngập bờ ao
Lũ lụt sẽ xảy ra
Ngoài khơi Hải Âu bay vào Sẽ có bão
3.3 Mô hình cộng đồng thích ứng với BĐKH
3.3.1 Mô hình trồng rau vườn treo
Mô hình trồng rau trên giàn thích ứng với BĐKH do Viện Tài nguyên, Môi trường
và Công nghệ sinh học – Đại học Huế nay là Viện Tài nguyên và Môi trường triển khai tại cộng đồng dân cư của hai xã Hương Phong (huyện Hương Trà) và Quảng Thành (huyện Quảng Điền) vào thời gian từ tháng VIII đến tháng XII (giai đoạn thường xảy ra
lũ, lụt ở Thừa Thiên Huế) nhằm chống ngập ở mức ngập lụt xảy ra hàng năm; chủ động
về ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm đất và không khí trong giàn Ngoài ra mô hình còn có tác dụng hạn chế sâu bệnh nên việc canh tác không còn phụ thuộc nhiều vào các yếu tố khách quan như thời tiết khí hậu và chất lượng rau được nâng lên, mất ít thời gian chăm sóc, giàn rau được sử dụng quanh năm kể cả vào mùa ít mưa Với mức ngập lụt trung bình hàng năm tại địa phương thì không gây ảnh hưởng gì đến giàn rau, vẫn có thể canh tác bình thường với chất lượng rau khá tốt và cho thu nhập cao hơn gấp 3 – 4 lần so với những vụ khác trong năm (vụ không ngập) do tại thời điểm đó, rau khan hiếm nên giá tăng cao
Trang 5Ngoài ra, phía dưới giàn có thể tận dụng để chăn nuôi, trồng trọt các loại cây ưa bóng, chịu bóng Ví dụ điển hình là rào lưới thả gà, trồng rau diếp cá, mồng tơi
Qua triển khai mô hình, hiệu quả về mặt kinh tế được tính toán dựa trên tổng thu và tổng chi, đồng thời cũng tính toán khấu hao giá trị đầu tư của giàn theo thời gian sử dụng Kết quả tính toán cho thấy lợi nhuận thu được từ mô hình này từ 516.000 đồng đến 1.532.000 đồng/vụ
Như vậy, đây là mô hình có ý nghĩa lớn về mặt xã hội, thứ nhất, nó mang lại sự hiểu biết nhất định cho cộng đồng về BĐKH; thứ hai, hướng dẫn cách sống chung (thích ứng) với BĐKH (ngoài làm giàn trồng rau chống ngập thì có thể tạo ra nhiều thứ
khác trong sinh hoạt và sản xuất để thích ứng BĐKH)
Hình 3 Mô hình “vườn treo” được triển khai thực hiện tại địa bàn nghiên cứu
Hình 2 Cấu trúc mô hình giàn treo
- Ưu điểm của mô hình:
Giàn có tác dụng chống úng ngập, mái che để tránh gió và mưa
Cây trồng không có hiện tượng bị chết cây con hoặc thối gốc
Người trồng rau có thể kiểm soát được độ tơi xốp và độ phù của đất
Chế độ chăm sóc tốt hơn vì các điều kiện ngoại cảnh có thể được khống chế
Trang 63.3.2 Mô hình trồng rau trong nhà lưới theo hướng an toàn, trái vụ và thích ứng với BĐKH ở tỉnh Quảng Trị
Ba xã Triệu Giang, Triệu Vân (Triệu Phong) và xã Hải Quế (Hải Lăng), là nơi có truyền thống sản xuất rau của tỉnh Quảng Trị, nhưng không có điều kiện bảo vệ cây rau khỏi ảnh hưởng bất lợi của điều kiện ngoại cảnh nắng nóng, rét đậm, mưa lớn, sương giá,
Do vậy, mô hình trồng rau trong nhà lưới – một giải pháp nhằm phát triển rau an toàn, trái
vụ cho các hộ gia đình Kết quả triển khai mô hình này cho thấy, trong 5 tháng mùa khô của vụ Hè – Thu, ở Triệu Giang khi có nhiệt độ cao, nắng nóng nhưng nếu có nhà lưới che chắn, chọn loại rau thích hợp vẫn thu hiệu quả kinh tế cao Lãi ròng thu được đối với các loại rau từ 452.000 đồng đến 1.685.000 đồng trong 5 tháng, trong đó rau mầm cho hiệu quả kinh tế cao nhất (1.685.000 đồng/40 m2) Tổng lãi ròng thu được sau 5 tháng trồng rau trên diện tích 200 m2 là hơn 4,7 triệu/hộ, sau khi trừ chi phí làm nhà lưới, các hộ còn lãi từ 1,8 –
2 triệu đồng
Như vậy, mô hình trồng rau trong nhà lưới cho thấy ngoài việc tăng thu nhập còn góp phần tạo công ăn việc làm cho người lao động ở địa phương, tận dụng lao động nông nhàn, tạo ra tập quán sản xuất rau an toàn cung cấp rau quanh năm cho thị trường, chống thiếu rau trong mùa khô khắc nghiệt Đồng thời tận dụng không gian và thời gian trong sản xuất thâm canh cây trồng của địa phương, thực hiện luân canh cây trồng hợp lý theo hướng thích ứng với biển đổi khí hậu Ngoài ra mô hình này còn có hiệu quả giảm thiểu sâu bệnh hại, không phun thuốc bảo vệ thực vật, vừa tiết kiệm được chi phí đầu vào, chống ô nhiễm môi trường sinh thái đất và nước Sản phẩm rau an toàn góp phần bảo vệ sức khỏe cho người tiêu dùng và cộng đồng, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại
Nhà lưới có nhiều ưu điểm là giảm bớt cường độ ánh sáng mạnh (làm cháy lá, cây sinh trưởng còi cọc), hạn chế tác hại của mưa (mưa lớn làm dập nát lá rau, văng đất lên lá, ) bảo vệ cây rau, giảm bớt tốc độ gió, hạn chế lây lan sâu bệnh Tuy nhiên nhược điểm lớn nhất của mô hình này là đầu tư vốn ban đầu cao, hạn chế về quy mô sản xuất, phải thường xuyên sửa chữa, đặc biệt khu vực miền Trung thường xuyên gió bão gây đổ ngã
3.3.3 Mô hình nuôi trồng thủy sản thích ứng với BĐKH ở vùng ven phá Tam Giang
Dựa trên cơ sở nuôi trồng thủy sản là ngành có truyền thống lâu đời của người dân vùng ven phá Tam Giang nói chung và khu vực thôn Quán Hòa nói riêng Tuy nhiên, trong những năm gần đây do ảnh hưởng của dịch bệnh, thiếu vốn và đặc biệt do ảnh hưởng của BĐKH đã gây không ít khó khăn cho cộng đồng người dân nơi đây Mô hình nuôi xen cá kình-tôm sú và mô hình nuôi xen tôm sú-cá dìa-cua thích ứng với BĐKH được Viện Tài nguyên, Môi trường và Công nghệ sinh học-Đại học Huế triển khai xây dựng cho cộng đồng người dân ở thôn Quán Hòa, xã Quảng Thành, huyện Quảng Điền và thôn Vân Quật Đông, xã Hương Phong, huyện Hương Trà
Trang 7Nội dung thí điểm mô hình này được triển khai bằng sự phối hợp, thảo luận giữa chính quyền địa phương, cộng đồng dân cư cùng nhóm chuyên gia tư vấn Mục tiêu của
mô hình thí điểm nhằm thử nghiệm các loại mô hình nuôi trồng thuỷ sản vùng ven phá Tam Giang theo hướng quảng canh cải tiến, chủ yếu tập trung vào mô hình nuôi xen cá kình – tôm sú; cá dìa – tôm sú – cua Đồng thời hướng đến việc tiếp tục hoàn thiện quy trình kỹ thuật nuôi xen nhiều đối tượng trong một mô hình đảm bảo tính bền vững và thích ứng với BĐKH
Kết quả mang lại từ mô hình cho thấy, mô hình nuôi xen tôm sú - cá kình trên địa bàn
xã Quảng Thành cho hiệu quả tương đối tốt, lãi từ 13-15 triệu đồng Đối với các mô hình nuôi xen tôm sú - cá dìa - cua trên địa bàn xã Hương Phong cho hiệu quả khá tốt, lãi trên
20 triệu đồng Cá dìa ở đây phát triển tốt, điều kiện môi trường nước khá phù hợp
Hình 4 Vị trí xây dựng mô hình thí điểm tại xã Hương Phong và Quảng Thành
3.3.4 Mô hình chăn nuôi lợn thích ứng với tác động của BĐKH ở vùng lụt tỉnh Quảng Trị
Nhằm giúp cho bà con nông dân nâng cao hiệu quả kinh tế từ chăn nuôi lợn, đặc biệt có thể chăn nuôi lợn trong mùa mưa lũ, dự án “Nâng cao năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH) cho cộng đồng dân cư tỉnh Quảng Trị” đã hỗ trợ người dân “Xây dựng mô hình chăn nuôi lợn thích ứng với tác động của BĐKH ở vùng lụt của tỉnh Quảng Trị ” Mô hình đã triển khai thử nghiệm trên hai xã Triệu Giang, huyện Triệu Phong và Hải Quế, huyện Hải Lăng
Chăn nuôi lợn là một trong những hoạt động sinh kế mang lại nguồn thu nhập chính trong sản xuất chăn nuôi của người nông dân xã Triệu Giang và Hải Quế của tỉnh Quảng Trị Dự án hỗ trợ cho 05 hộ của 02 xã thực hiện mô hình này
Trang 8Biện pháp kỹ thuật chính được áp dụng trong mô hình chăn nuôi lợn thích ứng với biến đổi khí hậu là: Cải tạo chuồng trại để thích ứng với BĐKH, đặc biệt là xây dựng mô hình chuồng sàn để có thể chăn nuôi lợn trong mùa lũ lụt
Hình 5 Chuồng lợn chống lụt (mặt trước) Hình 6 Chuồng lợn chống lụt (mặt sau)
Chuồng trại được thiết kế đảm bảo 02 yêu cầu vừa tránh được lũ lụt, giúp người dân có thể chăn nuôi được bình thường trong mùa lụt và có khả năng chống nắng nóng, nhiệt độ cao vào mùa hè, đảm bảo cho chuồng trại luôn thoáng mát Chuồng trại được xây dựng cuối hướng gió so với nhà ở, ít người qua lại, cao ráo, ít khi bị ngập lụt, thông thoáng Để đảm bảo yêu cầu tránh lụt, ngoài việc chọn vị trí cao ráo, nền chuồng được đắp cao hơn so với mặt đất trên 1m Đối với những vùng lũ lụt lớn, chuồng được làm thêm một ô sàn bằng gỗ để tránh lụt lớn cao 0,8m so với nền chuồng
Ô sàn chuồng tránh lụt được thiết kế phía trong của chuồng với diện tích 2,2m x1m Với diện tích này, có thể giúp hộ gia đình nuôi được 6 – 7 con lợn với trọng lượng
30 – 40 kg, 3 – 4 con trọng lượng từ 50 – 70 kg trong mùa lụt Khi chuồng trại bị ngập lụt, lợn được đưa lên sàn tránh lụt bằng một tấm đà (cầu thang) được thiết kế khi lắp thì bám chắc vào thành sàn, với độ dốc thoải đảm bảo cho lợn đi lên ô sàn dễ dàng Để tập thói quen cho lợn lên sàn tránh lụt, khi nước lụt vào chuồng, hộ chăn nuôi chỉ việc rải thức ăn dọc theo cầu thang, lợn sẽ men theo thức ăn ở cầu thang để vừa ăn vừa đi lên sàn
Và khi chuồng dưới bị ngập thì lợn có thể tự chủ động đi lên sàn tránh lụt một cách dễ dàng Với đặc điểm lũ lụt của Miền Trung nói chung và vùng Quảng Trị nói riêng, nước lụt ngập thường chỉ kéo dài từ 3 – 5 ngày
Tuy nhiên mô hình chăn nuôi lợn thích ứng với biến đổi của khí hậu cần chi phí khá lớn cho việc hoàn thiện chuồng trại theo đúng yêu cầu thiết kế Do đó, các hộ nghèo thường gặp khó khăn khi áp dụng hình thức này do chi phí để xây dựng chuồng trại ban đầu thường lớn, có thể lên đến 7 triệu đồng/chuồng nuôi được 4 – 6 con lợn thịt Do vậy
để có thể nhân rộng hình thức thích ứng này cần có sự hỗ trợ về mặt tài chính, đặc biệt cho những hộ nghèo không có khả năng đầu tư
3.3.5 Mô hình nhà sinh hoạt cộng đồng thích ứng với bão, lũ lụt
Mô hình này được triển khai xây dựng ở thôn Kim Đôi, xã Quảng Thành huyện Quảng Điền Theo thiết kế thì tầng trệt của nhà sẽ dùng các vật liệu địa phương để bao bọc xung quanh và tận dụng để lưu trữ các thiết bị nhà nông, ngư nghiệp trong mùa khô Nhà sinh hoạt cộng đồng này có ý nghĩa rất lớn đối với cư dân nghèo thấp trũng ở xã Quảng Thành Ngôi nhà vừa là nơi trú ẩn an toàn vừa là nhà văn hóa đa năng, phục vụ cho các hoạt động giao lưu văn hóa-văn nghệ, sinh hoạt cộng đồng và tổ chức các sự kiện Nhà được đặt trên hệ cột bê tông cốt thép kích thước 200 x 200mm, chiều cao cột
Trang 9gạch tuy nen 6 lỗ, xây và tô trát vữa ximăng mác 75 Mái nhà sử dụng tôn sóng vuông, xà
gồ thép sơn chống rỉ có gia cố giằng chống bão Chiều cao tầng trệt: 1,7-1,8 m và chiều cao tầng 2 của công trình: 2m
Hình 7 Mô hình nhà sàn cải tiến
4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Quá trình nghiên cứu, tổng kết tri thức bản địa và các mô hình thích ứng với BĐKH của cộng đồng người dân ở địa bàn 3 tỉnh Bình - Trị - Thiên có thể rút ra một số kết luận và kiến nghị sau đây:
- Tri thức bản địa của người dân ở đây rất phong phú và đa dạng trong việc đưa ra các dự đoán và cách thức phòng tránh một số loại hình thiên tai thường xuyên xảy ra và
có tác động lớn đến đời sống và sản xuất trên địa bàn nghiên cứu như bão, lũ, lụt, hạn hán bằng các quan sát sự vật và hiện tượng tự nhiên xung quanh
- Từ kinh nghiệm và tri thức bản địa đúc rút được, người dân ở địa bàn nghiên cứu cùng với chính quyền địa phương và các tổ chức nghiên cứu cùng nhau xây dựng thành công một số mô hình phòng tránh thiên tai và thích ứng với BĐKH ở mỗi địa phương
như: Mô hình trồng rau vườn treo, Mô hình nuôi trồng thủy sản, Mô hình nhà sinh hoạt
cộng đồng thích ứng với BĐKH ở tỉnh Thừa Thiên Huế; Mô hình trồng rau trong nhà lưới theo hướng an toàn, trái vụ, Mô hình chăn nuôi lợn phòng tránh được thiên tai ở tỉnh
Quảng Trị
- Công tác nghiên cứu, tổng kết tri thức bản địa và xây dựng các mô hình thích ứng với BĐKH của cộng đồng người dân cần được tiến hành nhân rộng ở các tỉnh thành khác trong cả nước nhằm giúp giảm thiểu các tác động của thiên tai và đảm bảo cuộc sống cũng như sản xuất trong bối cảnh BĐKH
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Đề tài cấp tỉnh “Xây dựng mô hình thí điểm giúp nông dân thích ứng với biến đổi khí hậu
(lũ lụt) tại tỉnh Thừa Thiên Huế”, Mã số: TTH.2011 - KX.12
Trang 102 Ngô Văn Chung (2011) Hiệu quả từ một mô hình chăn nuôi lợn thích ứng với BĐKH tại
Quảng Trị : http://www.crdhue.com.vn/modules.php?name=News&file=article&sid=292
3 Lê Thị Khánh và nnk (2011) Hiệu quả mô hình trồng rau trong nhà lưới theo hướng an
toàn, trái vụ và thích ứng với BĐKH ở tỉnh Quảng Trị - Hội thảo Biến đổi khí hậu: Tác
động, Thích ứng và Chính sách trong nông nghiệp- Sở NN và PTNT Quảng Trị
4 Lê Văn Thăng (Chủ biên), Đặng Trung Thuận, Nguyễn Đình Huy, Nguyễn Huy Anh,
Hoàng Ngọc Tường Vân và Hồ Ngọc Anh Tuấn (2011) ”Mô hình thích ứng với BĐKH cấp cộng đồng tại vùng trũng thấp ở tỉnh Thừa Thiên Huế” NXB Nông nghiệp, Hà Nội
5 Đặng Trung Thuận và nnk (2010) Đánh giá khả năng thích ứng và nghiên cứu, đề xuất
mô hình phát triển sinh kế thích ứng với BĐKH cho 2 xã Quảng Thành và Hương Phong
Chuyên đề của Dự án FLC 09-04
6 UBND tỉnh Quảng Bình (2011) Xây dựng kế hoạch hành động ứng phó BĐKH tỉnh Quảng Bình đến năm 2020
7 UBND tỉnh Quảng Trị (2011) Kịch bản BĐKH tỉnh Quảng Trị