1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Tác động của biến đổi khí hậu đến môi trường tự nhiên kinh tế xã hội ở huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế

8 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 259,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày về những tác động của biến đổi khí hậu đến các yếu tố liên quan môi trường tự nhiên, kinh tế và xã hội ở huyện Phú Vang như: hệ sinh thái và môi trường, hoạt động kinh tế, đời sống dân cư,... Mời các bạn cùng tham khảo.

Trang 1

TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở HUYỆN PHÖ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Lê Thị Nguyện10

Đại học Khoa học Huế

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Biến đổi khí hậu (BĐKH) đang ngày càng trở thành một trong những vấn đề thách thức lớn nhất của nhân loại ở thế kỉ XXI và dưới tác động của BĐKH toàn cầu, Việt Nam cũng đã có những sự biến đổi rõ rệt về các yếu tố khí hậu

Trong khoảng 50 năm qua, nhiệt độ không khí trên lãnh thổ Việt Nam đã tăng khoảng 0,70C, mực nước biển dâng lên khoảng 20cm [1] Hiện tượng Elnino và Lanina ngày càng tác động mạnh mẽ đến Việt Nam và đã gây ra nhiều thiệt hại nặng nề Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới, Việt Nam nói chung và dải ven biển miền Trung Việt Nam nói riêng là một trong khu vực sẽ bị tác động nghiêm trọng nhất của BĐKH và đây chính là nguyên nhân sẽ gây khó khăn rất nhiều cho công tác xóa đói giảm nghèo, cũng như việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỉ và sự phát triển bền vững của đất nước [1]

Phú Vang là một huyện thuộc vùng đầm phá, nằm ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế Phú Vang có một hệ thống thủy văn khá phức tạp, bao gồm cả dòng chảy sông, biển và

hệ đầm phá Tam Giang - Cầu hai Điều kiện tự nhiên này đã tạo cho Huyện một tiềm năng rất lớn về khai thác và nuôi trồng thủy sản Tuy nhiên, cũng chính vị trí địa lý này

đã khiến Huyện thường xuyên phải gánh chịu những thiệt hại lớn do các yếu tố thời tiết cực đoan gây ra Người dân ở đây lại chủ yếu sống dựa vào hoạt động nông nghiệp – thủy sản, nhưng thu nhập thấp, bấp bênh, trình độ dân trí không cao, sức khỏe thì luôn bị

đe dọa , vì thế Phú Vang được xem là một trong những huyện của tỉnh Thừa Thiên Huế phải gánh chịu những tác động nặng nề nhất bởi sự BĐKH chung của toàn cầu

2 NỘI DUNG

2.1 Biểu hiện của BĐKH ở lãnh thổ nghiên cứu

Phú Vang có vị trí gần kề trung tâm thành phố Huế, vì thế không có trạm quan trắc Khí tượng – Thủy văn nào được bố trí tại Phú Vang Do đó, trên cơ sở phân tích nguồn số liệu quan trắc của một số trạm Khí tượng – Thủy văn ở Thừa Thiên Huế, sự biểu hiện về BĐKH ở huyện Phú Vang cũng nằm trong phạm vi biểu hiện BĐKH của Tỉnh và những biểu hiện đó được thể hiện qua các yếu tố sau:

2.1.1 Nhiệt độ không khí

Nhiệt độ không khí trung bình năm (TN) từ 1940 đến nay hầu như không tăng, nhưng nhiệt độ các tháng mùa hè có xu hướng tăng rõ rệt với tốc độ tăng 0,10C/ thập kỉ Nhiệt độ trung bình mùa đông có xu hướng tăng, giảm rõ rệt và các mùa đông rét đậm xuất hiện nhiều hơn trong 30 năm qua với các kỉ lục nhiệt độ tối thấp tuyệt đối thấp hơn

so với 30 năm qua

10

Trưởng Bộ môn Địa lý Tài nguyên – Môi trường, Khoa Địa lý – Địa chất, Đại học Khoa học, Đại học Huế

Trang 2

Bảng 1 Sự biến đổi của nhiệt độ qua các thập kỉ ở trạm Huế Đơn vị: 0C

1931 – 1940 25,1 19,8 29,0 8,8 (1933) 39,9 (1936)

1941 – 1950 25,3 20,8 29,3 11,8 (1949) 39,3 (1949)

1951 – 1960 25,2 20,1 29,2 11,1 (1953) 40,0 (1952)

1961 – 1970 25,3 19,9 29,2 11,4 (1964) 40,0 (1969)

1971 – 1980 25,1 20,1 29,3 10,7 (1976) 39,2 (1977)

1981 – 1990 25,1 19,8 29,4 10,7 (1986) 41,3 (1983)

1991 – 2000 25,1 20,2 29,5 9,5 (1999) 39,5 (1998)

Nguồn [Trung tâm KT-TVTTH]

Ghi chú: TN: Nhiệt độ trung bình năm, TI: nhiệtđộ trung bình tháng I, TVII: Nhiệt

độ trung bình tháng VII, Tn: Nhiệt độ tối thấp tuyệt đối, TX: nhiệt độ tối cao tuyệt đối

2.1.2 Mưa, lũ

Trong gần một trăm năm qua, lượng mưa trung bình năm có sự biến động mạnh Lượng mưa tăng trong các tháng IX, X, XI và lượng mưa ngày lớn nhất có xu hướng tăng

rõ, lượng mưa trong các tháng mùa khô giảm dần trong ba thập kỉ gần đây (Bảng 2) Do lượng mưa tăng dần và đặc biệt lượng mưa ngày lớn nhất cũng tăng nên đã gây ra những trận lũ rất lớn, như trận lũ năm 1959, 1983, đặc biệt lượng mưa ngày 02/ 11/ 1999 là 978mm và lượng mưa tháng 11/ 1999 là 2452mm, đã gây ra trận lũ lịch sử trong 100 năm qua

Bảng 2 Sự biến động của lượng mưa qua các thập kỉ ở trạm Huế

Đơn vị: mm

Thời kì RN Rtmax Rnmax

1911 – 1920 2817 1568 (11/ 1917) 283 (13/ 10/ 1916)

1921 – 1930 3008 1241 (11/ 1930) 360 (13/ 11/ 1930)

1931 – 1940 2631 1166 (10/ 1932) 433 (25/ 11/ 1939)

1941 – 1950 3230 1547 (10/ 1949) 440 (23/ 10/ 1949)

1951 – 1960 2751 1078 (10/ 1960) 277 (27/ 11/ 1960

1961 – 1970 2824 1792 (10/ 1969) 550 (05/ 11/ 1969)

1971 – 1980 2666 1564 (10/ 1983) 470 (23/ 10/ 1973)

1981 – 1990 2575 1572 (10/ 1983) 582 (10/ 10/ 1981)

1991 – 2000 3093 2452 (11/ 1999) 978 (02/ 11/ 1999)

2001 - 2010 3327,7 1544 (10/ 2007) - Nguồn [Trung tâm KT-TVTTH]

Trang 3

RN: Lượng mưa trung bình năm, Rtmax: Lượng mưa tháng lớn nhất, Rnmax: Lượng mưa ngày lớn nhất

2.1.3 Bão và âp thấp nhiệt đới (ATNĐ)

Số cơn bão và áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng trực tiếp đến Thừa Thiên Huế tăng mạnh trong thập kỉ 70, 80 và có xu hướng giảm trong thập kỉ 90 nhưng cường độ bão lại mạnh hơn

Theo số liệu theo dõi bão từ 1952 đến 2005 (54 năm) đã có 32 cơn bão và ATNĐ ảnh hưởng đến Thừa Thiên Huế, trong đó có 5 cơn bão mạnh và rất mạnh chiếm tỷ lệ 9,4%, gồm có bão ngày 30/X/1952 vào Huế sức gió cấp 12 (122km/giờ), bão BABS ngày 16/IX/1962: cấp 12(118km/giờ), bão TILDA ngày 22/IX cấp 13 (137km/giờ), bão PATSY ngày 15/X/1973 cấp 11 (104km/giờ) và bão CECIL ngày 16/X/1985 cấp 11 (104km/giờ)

Mùa bão ở Thừa Thiên Huế bắt đầu từ tháng V và kết thúc vào tháng XI mỗi năm, trong đó tháng IX chiếm tần suất cao nhất với 31%, sau đó đến tháng X chiếm 19%, còn lại các tháng khác chiếm từ 9,4 đến 12,5% Trung bình hàng năm có 0,6 cơn bão ảnh hưởng trực tiếp đến Thừa Thiên Huế, năm nhiều bão nhất là 3 cơn( 1971), năm ít bão nhất không có cơn nào Tần suất không có bão chiếm trên 50% [6]

Tốc độ gió bão trung bình ở Thừa Thiên Huế là 76 km/giờ tương đương với cấp 9, mạnh nhất có thể lên tới cấp 13 (137km/gi) Theo tính toán thì cứ 10 năm sẽ xuất hiện bão cấp 10 và 20 năm thì mới có bão cấp 12 Từ năm 1991 đến nay chưa có bão mạnh đổ

bộ vào Thừa Thiên Huế điều này khác với tình hình chung của cả nước

Bên cạnh tác hại do gió mạnh gây ra, bão và ATNĐ còn gây ra lũ lụt do mưa lớn Bão kết hợp lũ là hình thế thời tiết rất nguy hiểm gây nhiều thiệt hại như cơn bão năm

1985

Đường đi của các cơn bão ảnh hưởng đến TTH từ năm 1954-2005

Trang 4

2.2 Dự báo BĐKH và những thiên tai ở lãnh thổ nghiên cứu

Đối với tình hình nước biển dâng thì theo báo cáo lần thứ tư của IPCC, ước tính mực nước biển dâng khoảng 26 – 59cm vào năm 2100 Tuy nhiên tính toán của IPCC về nước biển dâng vẫn còn thấp so với số liệu thực đo tại các trạm và ảnh chụp từ vệ tinh Một số nghiên cứu gần đây cho rằng mực nước biển toàn cầu có thể tăng 50 – 140cm vào năm 2100 Các kịch bản nước biển dâng cho Việt Nam được tính toán theo kịch bản phát thải thấp nhất (B1), kịch bản phát thải trung bình (B2) và kịch bản phát thải cao nhất (A1) Theo kịch bản này cho thấy vào giữa thế kỉ XXI mực nước biển có thể dâng thêm

28 – 33cm và đến cuối thế kỉ XXI, mực nước biển có thể dâng thêm từ 65 – 100cm so với thời kì 1980 – 1999 [1]

- Đối với tỉnh Thừa Thiên Huế

Với kịch bản phát thải trung bình thì đến cuối thế kỉ XXI nhiệt độ trung bình năm

ở Thừa Thiên Huế có thể tăng 2,5 – 2,60C, nhưng sẽ tăng đáng kể trong các tháng I và II,

dự đoán từ 2,6 – 2,70C, các tháng VI và VII sẽ tăng từ 2,4 – 2,50C

Lượng mưa trung bình năm có thể tăng 3,16% vào năm 2050, tăng 7,74% vào năm

2100 Lượng mưa tháng VII – VIII có thể giảm 7% vào năm 2050 và giảm 14% vào năm

2100 Ngược lại lượng mưa mùa mưa (IX – XI) tăng 8% vào năm 2050 và tăng 15% vào năm 2100

Với kịch bản phát thải cao, nhiệt độ trung bình năm có thể tăng 3,90C và trong các tháng III, IV, V có thể tăng 4,70C Năm 2050 lượng mưa trung bình năm có thể tăng lên 5,1%, lượng mưa tháng IX – XI sẽ tăng 12,3% Vào cuối thế kỉ XXI, lượng mưa trung bình năm có thể tăng đến 11% và trong tháng IX - XI tăng đến 24,7%, nhưng trong tháng III – V có thể giảm 23,4%

- Đối với huyện Phú Vang

Hiện tượng nước biển dâng sẽ tràn qua các cửa biển vào trong phá Tam Giang – Cầu Hai và sẽ tiến sâu vào lục địa Phú Vang là huyện chiếm diện tích phá lớn nhất, vì thế khi mực nước biển dâng 1m thì toàn bộ khu vực đầm phá thuộc Huyện sẽ trở thành bể nước mặn, nghĩa là mức độ nhiễm mặn ở Huyện sẽ nặng nề hơn các nơi khác (theo tính toán khoảng 8.532ha)

Phần lớn lãnh thổ Phú Vang nằm trong tiểu vùng khí hậu 1a, với đặc điểm có số tháng thiếu ẩm nhiều nhất Tỉnh là 6 tháng, tổng lượng mưa năm và tổng lượng mưa từ tháng I – VIII thấp nhất Tỉnh, chịu ảnh hưởng gay gắt của gió Tây Nam khô nóng Chính

vì thế Phú Vang được xem là một trong hai huyện có mức độ hạn hán cao nhất Tỉnh Với những kịch bản BĐKH ở Thừa Thiên Huế, lượng mưa mùa khô (tháng III – V) có thể giảm 7% vào năm 2050 và trên 14% vào năm 2100, làm cho mức độ hạn hán ở Huyện sẽ càng nghiêm trọng hơn

Trong những thập kỉ gần đây, tần suất các cơn bão đổ bộ vào Thừa Thiên Huế có

xu hướng tăng lên Trong đó huyện Phú Vang từ năm 1951 đến năm 2000 trung bình mỗi năm có khoảng 0,89 cơn bão so với trước năm 1950 là 0,87 cơn/ năm

Hệ thống sông Hương có diện tích lưu vực sông lớn nhất Tỉnh, trong đó hơn 80% diện tích đồi núi, độ cao lưu vực trung bình là 330m, độ dốc trung bình là 28,5% Thừa Thiên Huế là một trong những vùng có lượng mưa lớn nhất Việt Nam, với lượng mưa trung bình năm của khu vực ven biển thuộc lưu vực sông Hương khoảng 2.500mm, vùng

Trang 5

đầu nguồn khoảng 3.500mm Bên cạnh đó do địa hình của lưu vực sông thay đổi đột ngột, từ vùng núi cao ở thượng nguồn đổ xuống đồng bằng và ra hệ thống đầm phá, gần như không có vùng chuyển tiếp nên mùa mưa có tốc độ dòng chảy càng lớn, gây lũ và ngập lụt trên diện rộng Huyện Phú Vang gần như nằm trong lưu vực sông Hương, lại có diện tích đầm phá lớn và có cửa biển Thuận An nên hằng năm chịu thiệt hại nhiều hơn các khu vực khác trong Tỉnh do từ lũ lụt gây ra Với kịch bản BĐKH, lượng mưa tăng 15% từ tháng IX – XI vào cuối thế kỉ XXI sẽ gây ra cường độ lũ trên sông Hương ngày càng mạnh hơn và thiệt hại ngày càng nặng nề hơn cho khu vực huyện Phú Vang

2.3 Những tác động của BĐKH đến các yếu tố liên quan môi trường tự nhiên, kinh

tế và xã hội ở huyện Phú Vang

2.3.1 Tác động đến hệ sinh thái và môi trường

Hệ sinh thái chủ đạo ở huyện Phú Vang là hệ sinh thái đầm phá và hệ sinh thái ven biển, bao gồm các thảm thực vật tự nhiên, rừng ngập mặn, động - thực vật thủy sinh nước ngọt, nước lợ BĐKH đang đe dọa đến sự tồn tại và phát triển của các hệ sinh thái này

- Với kịch bản BĐKH khi nước biển dâng, hiện tượng nước mặn sẽ xâm nhập sâu vào đất liền, sẽ phá hủy các trảng cây bụi, trảng cỏ thứ sinh ven biển Đồng thời khi nhiệt

độ tăng cao, mức độ hạn hán, lũ lụt càng nặng nề hơn, làm cho độ mặn trong nước lên xuống đột ngột ảnh hưởng đến sự tồn tại của các loài động thực vật thủy sinh và một số loài không chịu được sự thay đổi của các yếu tố sinh thái có thể bị tiêu diệt Hiện tượng nhiệt độ tăng cao cùng với ô nhiễm môi trường nước ngày càng gia tăng sẽ làm suy giảm

số lượng các loài sinh vật nước lợ, đe dọa đến mật độ đa dạng sinh học của khu hệ đầm phá này [3,4,5]

- Theo thống kê [5], năm 2009 Phú Vang có khoảng 500ha rừng, chủ yếu là phi lao và keo lá tràm, tập trung ở các xã ven biển Dải rừng này có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ bờ và chắn gío Diện tích rừng ngập mặn của Huyện cũng rất ít, chỉ còn lại một số mảng ven đầm phá và khu vực nghỉ mát gần cầu Thuận An Nếu nước biển dâng

và nước mặn xâm nhập sâu thì nguy cơ rừng ngập mặn này sẽ bị thu hẹp dần, thậm chí bị phá hủy hoàn toàn Bờ biển thuộc huyện Phú Vang đã bị xâm thực mạnh mẽ, nhất là ở xã Phú Diên, Vinh Xuân, Vinh An bãi biển bị thu hẹp dần, nước biển đang tiến vào phá hủy dần dải rừng ngập mặn ven biển Ngoài ra do hoạt động khai thác cát trên biển đã làm cho bãi biển càng dễ bị xói lở hơn

- BĐKH cũng đã góp phần (gián tiếp) gia tăng mức độ ô nhiễm môi trường nước, suy thoái môi trường đất Cụ thể tại huyện Phú Vang với hoạt động nuôi trồng thủy sản ở thị trấn Thuận An, xã Phú An, Phú Mỹ, Phú Xuân như nuôi tôm chắn sáo, nò sáo với mật độ dày đặc do đặc điểm thủy văn ở đây tương đối khép kín, trao đổi dòng chảy yếu, chủ yếu là ở trạng thái tù đọng Vì thế khi nhiệt độ tăng cao, hạn hán kéo dài thì lưu lượng dòng chảy ở trong đầm, sông càng giảm mạnh, nồng độ chất hữu cơ sẽ tăng lên, hiện tượng phú dưỡng quá mức sẽ xảy ra càng nghiêm trọng hơn Đối với môi trường đất,

từ việc làm giảm sản lượng lúa, dịch bệnh xuất hiện nhiều hơn nên nông dân phải tăng cường sử dụng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật, điều này đã làm cho môi trường đất bị ô nhiếm Ngoài ra, hiện tượng hạn hán và ngập lụt kéo dài cũng đã làm gia tăng mức độ suy thoái môi trường đất Khi bị hạn hán, độ ẩm trong đất giảm mạnh, các keo Fe

và keo Al bị mất nước tạo thành các oxit có liên kết vững chắc, nguy cơ hình thành các khối đá ong, điều này sẽ ảnh hưởng đến canh tác Còn khi lượng mưa tăng, sẽ gây ngập úng trong thời gian dài và sẽ làm biến đổi tính chất đất Đồng thời, do ven vùng đầm phá

Trang 6

thường được che phủ bởi các trảng cỏ có bộ rễ yếu nên khi lượng mưa tăng, kéo dài, lũ lụt xảy ra thì lớp đất ở khu vực này rất dễ bị xói lở, sạt lở

2.3.2 Tác động của BĐKH đến hoạt động kinh tế

a Đối với ngành nông nghiệp – thủy sản: Đây là ngành sản xuất chính của

huyện Phú Vang, chiếm gần 45% GDP của Huyện và thu hút gần 89% lao động Tuy nhiên đây cũng là ngành chịu tác động trực tiếp rất lớn của BĐKH [3,4,5]

- Hoạt động khai thác thủy sản tập trung ở các xã Phú Thuận, Thuận An, Phú Hải, Phú Diên, Vinh Thanh, Vinh An Khai thác thủy sản của Huyện chủ yếu là khai thác trực tiếp trên biển chiếm 96% sản lượng đánh bắt, còn khai thác trên sông, vùng đầm phá chỉ chiếm 4% [5] Tuy nhiên phương tiện khai thác còn lạc hậu, các trang thiết bị liên lạc của các thuyền còn thô sơ, nên mỗi khi có bão xuất hiện, huyện Phú Vang là một trong những huyện bị thiệt hại lớn nhất của tỉnh Thừa Thiên Huế Từ năm 1951 đến nay, tần suất các cơn bão đổ bộ vào Thừa Thiên Huế ngày càng tăng, trong đó huyện Phú Vang là một trong những huyện bị tổn thất rất nặng nề về người và tài sản, nhất là đối với những gia đình sống ven vùng đầm phá và có thuyền khai thác thủy sản trên biển

- Hoạt động nuôi trồng thủy sản của Huyện chủ yếu là nuôi trong môi trường nước

lợ, chiếm 91% diện tích nuôi thủy sản, nghĩa là nuôi trồng thủy sản nước ngọt chỉ chiếm 9% và hiện đang thu hẹp dần diện tích do mức độ xâm nhập mặn ngày càng tăng bởi nước biển dâng và nhiệt độ tăng cao Trong 20 năm gần đây, từ 1991 – 2009, do thiên tai

và dịch bệnh liên tục xảy ra, các đợt hạn hán nghiêm trọng năm 1991, 1994, 1997 làm nguồn nước bị nhiễm mặn nên tôm chết hàng loạt Bình thường nước ở vùng đầm phá thuộc Huyện thường bị nhiễm mặn vào tháng V – VII, nhưng những năm gần đây tình trạng này xảy ra ngày càng sớm, như năm 2009, 2010 mới tháng III mà nguồn nước đã bị nhiễm mặn nặng khiến cho tôm sú chết sạch Đặc biệt với trận lũ lịch sử năm 1999, 90%

hộ nuôi trồng thủy sản đã bị thiệt hại nặng nề Cơn bão năm 2006 đã cuốn trôi 82 lồng cá, 24,1 tấn tôm, 216,6 tấn cá và 691 vạn con cá giống Trận bão 2009 đã cuốn trôi 43 lồng

bè cá, 17,2 tấn tôm, 204,9 tấn cá và 631,8 vạn con cá giống Ngoài ra dịch bệnh từ năm

2002 – 2005 đã làm cho các hộ nuôi tồng thủy sản điêu đứng, nhiều gia đình mất trắng,

nợ nần chồng chất đến nổi không thể mua con giống để nuôi trở lại, nghĩa là tình trạng tái nghèo lại xuất hiện với họ [3,4,5]

- Hoạt động nông nghiệp ở huyện Phú Vang chủ yếu trồng lúa, hoa màu, cây công nghiệp ngắn ngày và tập trung ở các xã phía Bắc và phía Tây của Huyện Vì thế nếu mực nước biển dâng thêm 1m thì diện tích đất nông nghiệp sẽ không bị ảnh hưởng nhiều nhưng do tình trạng nước biển dâng và nhiệt độ tăng cao làm cho đất canh tác và nguồn nước tưới bị nhiễm mặn, vì thế sẽ ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng thu hoạch Theo

dự báo đến năm 2050 nhiệt độ không khí trung bình năm ở Thừa Thiên Huế tăng 1,40C, lượng mưa từ tháng III – V sẽ giảm xuống 5 – 8%, kết hợp với nước biển dâng làm cho mức độ nhiễm mặn sẽ trầm trọng hơn, biên độ mặn trên 4%0 và ăn sâu từ 30 – 40km Diện tích đất nhiễm mặn sẽ lớn hơn rất nhiều so với 300ha đất đang bị nhiễm mặn như hiện nay Ngoài ra lượng mưa trung bình năm tăng khoảng 3,16%, lượng mưa từ tháng

IX – XI tăng 8% sẽ làm gia tăng cường độ lũ tiểu mãn, lũ chính vụ và cùng với bão hoạt động sẽ cuốn trôi gia súc, gia cầm và phá hủy mùa màng [3,4,5]

Bão thường kèm theo mưa lớn, gây lũ lụt trong vùng đã cuốn trôi gia súc, gia cầm Trận bão năm 2006 hoạt động nông nghiệp ở huyện Phú Vang đã bị thiệt nặng nề, cụ thể

có 143 con gia súc và 21.046 con gia cầm chết, làm mất 9ha sắn, 28ha khoai, 903 tấn

Trang 7

nấm rơm, 61,45ha hoa màu, 800 cây ăn quả bị đổ, ngập 263ha lúa nước và mất 101 tấn hạt giống [4]

BĐKH khiến cho dịch bệnh xuất hiện nhiều và dễ lây lan, ảnh hưởng đến khả năng thâm canh, tăng chi phí sản xuất Từ năm 2007 đến nay dịch bệnh trên gia súc, gia cầm đã xảy ra liên tục như dịch lở mồm, long móng, dịch heo tai xanh, cúm gia cầm đã gây thiệt hại lớn cho hoạt động chăn nuôi của Huyện Bệnh rầy nâu, cuốn lá, đạo ôn trong những năm qua bùng phát mạnh ở cả hai vụ đã ảnh hưởng đến năng suất cây lúa rất nhiều BĐKH còn liên quan đến hiện tượng rét kéo dài, đầu năm 2008 trận rét kéo dài 38 ngày đã làm hơn 2.300ha lúa và 200ha mạ bị chết [5]

b Đối với hoạt động dịch vụ du lịch: Đối với hoạt động này BĐKH tác động ở cả hai mặt, nghĩa là vừa có lợi, vừa gây hại Nhiệt độ tăng cao là cơ hội khiến cho lượng du khách đến các bãi tắm ở biển Thuận An tăng lên Nhưng ngược lại, mực nước biển dâng lại làm cho mặt bằng bãi biển bị thu hẹp, thậm chí có nhiễu bãi tắm bị “xóa sổ” nếu mực nước biển dâng cao theo kịch bản A1, B1 Ngoài ra nước biển dâng còn gây xói lở bờ biển, phá hủy mảng rừng ngập mặn, làm mất cảnh quan bãi biển, giảm độ hấp dẫn đối với

du khách

2.3.3 Tác động của BĐKH đến đời sống dân cư

- Rõ ràng BĐKH đã tác động tiêu cực đến hoạt động nông nghiệp – thủy sản, là nghề chính của phần lớn cư dân trong Huyện Thiên tai xảy ra liên tiếp, ngày càng dữ dội

đã khiến nhiều hộ gia đình không thoát được đói nghèo, nợ nần chồng chất Cơn lốc ngày 25/ 09/ 1997 với sức gió cấp 10 tràn qua huyện Phú Vang đã phá hủy nhà cửa, cây cối, mùa màng làm thiệt hại hơn 8 tỷ đồng Trận lũ năm 1999 đã cuốn trôi 64 căn hộ ở làng Hòa Duân thuộc vùng cồn cát đầm phá, khiến trên 100 người bị chết và mất tích [3]

- BĐKH cùng với tình trạng khan hiếm nước ngọt do hạn hán kéo dài đã ảnh hưởng rất lớn đến đời sống sinh hoạt và hoạt động sản xuất Ngược lại mùa mưa lũ đã gây ngập lụt kéo dài, cùng với nhiệt độ tăng đã dẫn tới nguy cơ bùng phát dịch bệnh cho người cũng như gia súc, gia cầm

- Cơ sở hạ tầng của Huyện hiện nay vẫn còn thấp kém Diện tích đê sông, đê biển rất ít, giao thông đường bộ liên thôn, liên xã chủ yếu là đường đất và đường cấp phối, đường nhựa chiếm khoảng 4,8% nhưng chất lượng kém nên rất dễ bị hư hỏng khi xảy ra

lũ lụt Do lượng mưa ngày càng tăng, kết hợp với hoạt động của bão càng làm trầm trọng thêm tình trạng ngập lụt trong mùa mưa, càng gây xói lỡ, sạt lỡ đê bao, phá hỏng cơ sở hạ tầng ven biển, như cảng Thuận An, bến cá, bến thuyền Ngoài ra do hệ thống kênh mương chưa được nâng cấp nên đã gây khó khăn cho việc cung cấp và tiêu thoát nước, điều này đã làm ảnh hưởng đến sinh hoạt và hoạt động kinh tế của cư dân trong Huyện rất rõ

- Khi mực nước biển dâng, đối tượng bị tác động mạnh nhất ở huyện Phú Vang là cộng đồng dân cư thủy diện trên đầm phá Mặc dù các hộ dân thủy diện đã được đưa lên

bờ để định cư, được vay vốn để nuôi tôm sú, nhưng kết quả đều bị thất thu do các yếu tố tác động như trên đã phân tích, vì thế họ phải quây trở lại với sông nuớc, tìm cách đánh bắt thủy sản để kiếm kế sinh nhai, con cái lại không được học hành, cuộc sống của họ trở nên bấp bênh Ngoài ra sức khỏe của cư dân thủy diện luôn bị đe dọa bởi nguồn nước sinh hoạt của họ không đảm bảo chất lượng do chủ yếu lấy từ vùng đầm phá, trình độ dân

Trang 8

trí lại rất thấp vì thế tỉ lệ mắc các bệnh liên quan đến đường tiêu hóa chiếm tỉ lệ cao nhất Tỉnh

3 KẾT LUẬN

Phú Vang là một huyện đầm phá, có một hệ thống thủy văn rất phức tạp, kết hợp

cả dòng chảy sông, biển và hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai Điều kiện tự nhiên này đã tạo cho Huyện một tiềm năng rất lớn về khai thác và nuôi trồng thủy sản Tuy nhiên, cũng chính vị trí địa lý này đã khiến cho huyện Phú Vang được xem là một trong những huyện của tỉnh Thừa Thiên Huế sẽ bị tác động nặng nề nhất bởi sự BĐKH chung của toàn cầu

Nhằm giảm thiểu sự thiệt hại và nâng cao khả năng thích ứng trước sự BĐKH, huyện Phú Vang cần sớm xây dựng và phát triển các mô hình quản lý thiên tai dựa vào cộng đồng, nâng cao năng lực quản lý thiên tai cho cán bộ địa phương, kiên cố hóa cơ sở

hạ tầng, xây dựng hệ thống cảnh báo thiên tai, nâng cấp công trình thủy lợi nhằm đảm bảo vấn đề cấp, thoát nước kịp thời, tiến hành quy hoạch lại các vùng nuôi trồng thủy sản

ở các xã Phú An, Phú Mỹ, Thuận An là những nơi trực tiếp chịu thiệt hại nặng nề bởi hiện tượng nhiệt độ không khí tăng và nước biển dâng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008), Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu

[2] Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009), Kịch bản BĐKH và nước biển dâng cho Việt Nam [3] Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Phú Vang (1999), Báo cáo tổng hợp tình hình thiệt hại về nông, ngư nghiệp do trận lũ năm 1999

[4] Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Phú Vang (2006), Báo cáo tổng hợp tình hình thiệt hại về nông, ngư nghiệp do bão năm 2006

[5] Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Phú Vang (2009), Báo cáo tổng hợp tình hình thiệt hại về nông, ngư nghiệp do bão năm 2009

[6] Nguyễn Việt, Thiên tai ở Thừa Thiên Huế và các biện pháp phòng tránh, Tham luận Hội thảo khoa học về Giải pháp phòng chống thiên tai ở Thành phố Huế năm 2012

Ngày đăng: 30/07/2021, 09:05

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w