Bài viết trình bày về công tác phục hồi đất ngập nước trong bối cảnh hiện nay cần phải xem xét trên nhiều khía cạnh quan trọng, trong đó cần chú trọng đến các lựa trong bảo tồn, phản ứng của từng loại đất ngập nước đối với biến đổi khí hậu để thiết kế phù hợp cho các kế hoạch phục hồi và quản lí các vùng đất ngập nước đặc thù. Mời các bạn cùng tham khảo.
Trang 1PHỤC HỒI VÀ QUẢN LÍ CÁC HỆ SINH THÁI ĐẤT NGẬP NƯỚC ĐỂ THÍCH
ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Đặng Thị Như Ý
Khoa Môi trường, Đại học Khoa học Huế
TÓM TẮT
Các vùng đất ngập nước tự nhiên đã minh chứng được vai trò của mình trong việc giảm thiểu tác động của các sự kiện thời tiết cực đoan cũng như hấp thụ và lưu trữ đáng
kể lượng CO 2 trong khí quyển Ngoài ra, các hệ sinh thái đất ngập nước khỏe mạnh còn góp phần cũng cố kinh tế xã hội, sinh kế và an ninh lượng thực thông qua các dịch vụ mà chúng cung cấp Do đó, phục hồi các vùng đất ngập nước sẽ tạo ra khả năng phục hồi sinh thái xã hội và làm giảm nhẹ tính dễ tổn thương do biến đổi khí hậu Hơn nữa, giảm nhẹ tác động của biến đổi khí hậu dựa vào tự nhiên sẽ đóng góp cho việc tăng cường tính Thích ứng dựa vào hệ sinh thái Vì vậy, bảo tồn và phục hồi các vùng đất ngập nước sẽ đem lại lợi ích trong việc giảm nhẹ biến đổi khí hậu và các chiến lược thích ứng Tuy nhiên, công tác phục hồi đất ngập nước trong bối cảnh hiện nay cần phải xem xét trên nhiều khía cạnh quan trọng, trong đó cần chú trọng đến các lựa trong bảo tồn, phản ứng của từng loại đất ngập nước đối với biến đổi khí hậu để thiết kế phù hợp cho các kế hoạch phục hồi và quản lí các vùng ĐNN đặc thù
1 Mở đầu
Biến đổi khí hậu toàn cầu được công nhận như một mối đe dọa lớn đối với sự sống sót của các loài và sức khỏe của các hệ thống tự nhiên Biến đổi khí hậu sẽ khiến cho các
nổ lực bảo tồn và quản lí đất ngập nước trở nên phức tạp hơn Các hệ thống đất ngập nước dễ bị tổn thương với những thay đổi về chất lượng và số lượng nước cấp và biến đổi khí hậu sẽ tác động lên các vùng đất ngập nước thông qua những thay đổi của chế độ thủy văn Vì vậy, phục hồi và quản lí thành công lâu dài các hệ sinh thái này sẽ xoay quanh các vấn đề liên quan đến ứng phó với biến đổi khí hậu
Các vùng đất ngập nước bao gồm rừng ngập mặn, thảm cỏ biển, cửa sông, đầm phá nước lợ và nước ngọt, các bãi triều, đầm lầy Đây là những khu vực thiên nhiên chứa đựng nhiều giá trị nhưng rất khó để tái tạo vì vậy điều quan trọng là phải bảo tồn và phục hồi chúng Vùng ĐNN là một trong những loại môi trường có hiệu quả cao nhất trên thế giới và thực hiện một loạt các chức năng sinh thái và thủy văn có ích cho nhân loại, cung cấp nước và năng suất sơ cấp mà vô số loài động thực vật khác phụ thuộc vào
đó để tồn tại, là cái nôi của đa dạng sinh học và là ngôi nhà của nhiều loài kinh tế quan trọng như cá và giáp xác Ngoài ra, còn hỗ trợ sinh kế và bảo đảm an ninh lương thực cho các cộng đồng ven biển cũng như cung cấp các dịch vụ hệ sinh thái quan trọng khác ĐNN ven biển được xem như như một bộ đệm tự nhiên có khả năng chống lại các sự kiện thời tiết khắc nghiệt, bão, xói mòn và hạn chế xâm nhập mặn Do đó, phục hồi và duy trì các vùng đất ngập nước ven biển và các hệ sinh thái biển sẽ đem lại hàng loạt các lợi ích, bao gồm bảo vệ đường bờ, đảm bảo chu trình dinh dưỡng, duy trì chất lượng nước, kiểm soát lũ lụt, cung cấp nơi cư ngụ cho các loài chim, động vật hoang dã khác và đem lại nguồn thu từ thủy sản cũng như cung cấp thêm cơ hội để phát triển du lịch Phục hồi các
hệ sinh thái ngập nước sẽ đem lại lợi ích kép: giảm thiểu những tổn thất lâu dài và khôi phục lại bể dự trữ carbon để giảm nhẹ biến đổi khí hậu (BĐKH)
Trang 22 Vai trò của đất ngập nước trong giảm thiểu khí nhà kính và thích ứng với BĐKH
Đất ngập nước (ĐNN) và các hệ sinh thái biển giữ vai trò tích trữ một lượng lớn carbon Chỉ chiếm 2% diện tích mặt đáy biển nhưng thực vật ngập nước chuyển đổi khoảng 50% lượng carbon từ đại dương vào trầm tích Lượng carbon này vẫn có thể được lưu trữ trong trầm tích hàng ngàn năm [Bảng 1] Mất ĐNN ven biển và các hệ sinh thái biển như đầm lầy mặn, rừng ngập mặn và thảm cỏ biển dẫn đến giảm hấp thụ carbon và giảm khả năng ngăn chặn phát thải trực tiếp một lượng lớn khí CO2 vào khí quyển
Bảng 1 Tóm tắt tiềm năng làm giảm khí nhà kính của đất ngập nước ven biển [1]
chìm
đổi Rừng ở vùng cửa
sông
Vùng ĐNN còn có vai trò hấp thụ chất ô nhiễm như kim loại nặng, chất dinh dưỡng, chất
lơ lững và tác nhân gây bệnh, từ đó giúp duy trì chất lượng nước và ngăn chặn hiện tượng phú dững và sự mở rộng của các vùng đất chết Sự đa dạng về sinh cảnh của chúng còn đem lại tính đa dạng sinh học và năng suất sinh học cao cho vùng bởi chúng là vườn ươm, bãi đẻ và là nơi nuôi dưỡng cũng như nơi trú ẩn của nhiều loài thủy sản có tính thương mại cao Ngoài ra, các hệ sinh thái khỏe mạnh ven biển và hệ sinh thái biển cũng góp phần cố kinh tế xã hội, sinh kế và an ninh lượng thực thông qua các dịch vụ mà chúng cung cấp [bảng 2]
Bảng 2 Dịch vụ của các hệ sinh thái đất ngập nước [1]
Bốn loại dịch vụ của các hệ sinh thái ngập nước
Điều tiết khí hậu; Bảo
vệ bờ biển do thiên tai;
Điều tiết xói lỡ đất và
bờ biển; Ổn định đất;
Duy trì chất lượng
nước
Sinh kế và thủy sản tự nhiên;
Nuôi trồng thủy sản; Dược phẩm; Vật liệu xây dựng; Củi;
Đồ trang trí
Du lịch; Giải trí;
Tâm linh; Thẩm
mĩ
Chu trình dinh dưỡng; Sinh cảnh; Đa dạng sinh học
3 Một số lựa chọn cho thích ứng thông qua việc duy trì/ phục hồi ĐNN
Các chương trình bảo vệ vùng ĐNN trong bối cảnh phát triển kinh tế xã hội, ô nhiễm môi trường hay thay đổi sinh cảnh cùng với sự trầm trọng thêm bởi mực nước biển dâng cần được xem xét trong các chính sách hoặc quy định về sử dụng đất để ngăn chặn việc chuyển đổi ĐNN Những vấn đề cần xem xét trong tổ chức và quản lí để phát triển các chiến lược thích ứng để bảo vệ vùng ĐNN trong bối cảnh BĐKH nên bao gồm: thực
Trang 3thi quy hoạch đất đai và nước dựa trên nhu cầu vùng; hạn chế khai thác cát, đánh bắt thủy sản, chặt phá rừng ngập mặn và các hoạt động khác trong vùng ĐNN đã được bảo vệ; tăng cường hiệu quả quản lí, phát triển các kế hoạch phục hồi các sinh cảnh của ĐNN sau thiên tai; xác định các vấn đề cần quan tâm đối với ĐNN ở các khu vực đô thị hóa cao để tìm giải pháp bảo vệ chức năng của ĐNN trong điều kiện phát triển nhanh về kinh tế xã hội
Bảng 3 Một số lựa chọn cho thích ứng thông qua việc duy trì/phục hồi các vùng ĐNN
[3]
1 Cho phép ĐNN ven biển mở rộng về phía nội địa
Giải quyết căng
thẳng khí hậu
Nước biển dâng
Giải quyết mục
tiêu quản lí Bảo vệ sinh cảnh cho các loài dễ bị tổn thương; bảo vệ đất ven biển
sinh thái nội địa
triển ĐNN
2 Thúc đẩy bồi tụ ở vùng ĐNN
Giải quyết căng
thẳng khí hậu
Nước biển dâng
Giải quyết mục
tiêu quản lí Duy trì sự vận chuyển trầm tích
đất ven biển
3 Kết hợp bảo vệ ĐNN vào các kế hoạch về cơ sở hạ tầng (giao thông vận tải, hệ
thống thoát nước)
Giải quyết căng
Giải quyết mục
tiêu quản lí
Duy trì chất lượng nước; bảo tồn sinh cảnh cho các loài dễ bị tổn thương
4 Bảo tồn và phục hồi cấu trúc và đa dạng sinh học của thực vật ở đầm ngập triều, thảm cỏ biển và rừng ngập mặn
Giải quyết căng
thẳng khí hậu Thay đổi nhiệt độ của nước; thay đổi lượng mưa
Giải quyết mục
tiêu quản lí
Duy trì chất lượng nước; duy trì đường bờ; quản lí các loài sinh vật ngoại lai
Trang 4Lợi ích Thảm thực vật chống xói mòn, bảo vệ đất liền và bờ biển do
thủy triều, cường độ bão và sóng lớn, thanh lọc chất ô nhiễm
và hấp thụ CO2 khí quyển
5 Xác định và bảo vệ những khu vực quan trọng về mặt sinh thái như nơi ươm nuôi, bãi đẻ, khu vực có độ đa dạng sinh học cao
Giải quyết căng
thẳng khí hậu Thời điểm chuyển mùa; nhiệt độ nước và không khí tăng
Giải quyết mục
tiêu quản lí
Quản lí các loài sinh vật ngoại lai; Bảo vệ môi trường sống cho những loài dễ bị tổn thương
sinh học và các dịch vụ hệ sinh thái
địa phương và trung ương
Một trong những trở ngại cho việc bảo vệ ĐNN là các vấn đề liên quan đến việc
ưu tiên cho xây dựng các công trình thích ứng “cứng” để ổn định đường bờ Chẳn hạn, đê biển làm cản trở sự thích ứng và mở rộng của ĐNN về phía đất liền, do vậy cần cân nhắc
và lập kế hoạch thiết kế chi tiết cho việc xây dựng các công trình bảo vệ đường bờ trong khu vực có ĐNN Nếu bảo tồn ĐNN với nước biển dâng trong tương lai không được tính đến thì các công trình thích ứng “cứng” ven biển sẽ góp phần làm mất ĐNN hoặc chuyển đổi nghiêm trọng các chức năng của chúng Tuy nhiên, có một số cách để khắc phục những trở ngại này Cụ thể là khi thực hiện các chương trình bảo tồn và phục hồi ĐNN, cần minh bạch quá trình ra quyết định, tạo cơ hội tham vấn và đàm phán với các bên liên quan trong vùng cảnh quan Hơn nữa, cần phát triển các phương pháp tiếp cận cộng đồng
để bảo vệ và phục hồi các vùng ĐNN dựa trên kiến thức và tập quán địa phương cùng với
sự ưu đãi, hỗ trợ cho phát triển sinh kế bền vững
4 Đáp ứng của ĐNN đối với BĐKH và ý nghĩa đối với công tác phục hồi
BĐKH sẽ tác động đến các sinh cảnh ĐNN với mức độ và quy mô khác nhau nên tầm quan trọng của việc xác định các biện pháp phục hồi và quản lí đặc thù được đặc ra đối với từng loại sinh cảnh
- Đồng bằng ngập lũ: Đây là loại hình hệ sinh thái có độ đa dạng sinh học rất cao nhưng cũng dễ bị đe dọa do sự phát triển của đê điều, thay đổi chế độ thủy văn Sự suy thoái của loại hình ĐNN này sẽ dẫn đến suy giảm nhanh chóng đa dạng sinh học nước ngọt mà nguyên nhân chính là do có sự thay đổi về môi trường sống, kiểm soát dòng chảy và lũ lụt, các loài ngoại lai và ô nhiễm môi trường Trong tương lai không xa, những vùng ngập lũ bị đe dọa nhiều nhất có thể thấy ở Trung Quốc, Đông Nam Á, Châu Phi và Bắc Mĩ Do đó, nhu cầu bảo vệ các vùng này được đặt ra như một chiến lược toàn cầu để bắt đầu phục hồi lại các động lực thủy văn, vận chuyển trầm tích và các thảm thực vật để khôi phục tính toàn vẹn sinh thái Nếu không sẽ phải đối mặt với sự tuyệt chủng của sinh vật thủy sinh và suy kiệt các dịch vụ hệ sinh thái trong vài thập kỉ tới
- Rừng ngập mặn: BĐKH sẽ làm thay đổi đáng kể nhiều hệ sinh thái ven biển và vùng ĐNN trên thế giới Trong lịch sử, rừng ngập mặn đã có thể đáp ứng với những thay đổi tương đối nhỏ của mực nước biển (8-9mm/năm trong vùng biển Caribê) trong khi
Trang 5những thay đổi lớn hơn của mực nước biển đã dẫn đến sự suy thoái của các hệ sinh thái rừng ngập mặn Trong tương lai, sẽ có sự thay đổi trong thành phần loài và cấu trúc quần
xã do có những biến đổi về sinh lý do nước biển dâng và hàm lượng CO2 trong khí quyển tăng cao Về ngắn hạn, việc bảo vệ và phục hồi sinh cảnh rừng ngập mặn là quan trọng để giảm nhẹ một số tác động của BĐKH như làm suy giảm cường độ của lũ lụt, lốc xoáy
Về lâu dài, cần thành lập các vùng rừng ngập mặn mới nơi không có sự xung đột với quá trình phát triển của con người để thay thế rừng bị ngập do nước biển dâng hoặc chết Nếu điều này không được thực hiện, trong tương lai nhiều khu vực rộng lớn của rừng ngập mặn sẽ biến mất và sẽ mất đi nguồn cung cấp carbon cho hệ sinh thái biển nhiệt đới
- Thảm cỏ biển: tính bền vững của các thảm cỏ biển ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới phụ thuộc và khả năng của chúng trong việc thích ứng với những thay đổi về độ mặn
do thay đổi chế độ thủy văn ở thượng nguồn cũng như sự gia tăng nhiệt độ Các loài nhiệt đới thường thường bị giới hạn sinh lí về độ mặn và nhiệt độ do đó những thay đổi về nhiệt độ và độ mặn trong tương lai và sự suy giảm nguồn nước ngọt sẽ gây ra những hậu quả xấu đối với các thảm cỏ biển đặc biệt là ở các cửa sông có sự lưu thông kém và bốc hơi nước nhanh Mặt khác, lượng mưa cao hơn có thể làm tăng lượng nước ngọt đổ ra và làm giảm độ mặn gây suy giảm độ phủ của cỏ biển Phục hồi thảm cỏ biển đã được tiến hành ở nhiều quy mô khác nhau trong hơn 30 năm qua với sự thành công khá khiêm tốn
do sự suy giảm chất lượng môi trường đã làm giảm khả năng phục hồi của chúng
- Đầm lầy mặn: BĐKH có thể tác động đến đầm lầy mặn theo nhiều cách bao gồm nước biển dâng, đặc biệt các đê biển ngăn cản sự di chuyển của thực vật vào nội địa Tuy nhiên, bằng chứng từ phía đông nam nước Anh đã chỉ ra rằng mực nước biển tăng không dẫn tới việc mất các khu vực đầm lầy vì chúng có thể mở rộng hoặc thay đổi độ dài và được bổ sung trầm tích McKee và cộng sự (2004) đã nhận định việc gia tăng nhiệt độ và giảm lượng mưa liên quan với biến đổi khí hậu có thể ảnh hưởng đáng kể đến các đầm lầy ngập triều
5 Kết luận
Không thể phủ nhận rằng trên quy mô toàn cầu đang có nhu cầu rất lớn cho việc đảo ngược các căng thẳng nghiêm trọng do con người tạo ra cho hệ sinh thái kể cả phát triển không bền vững Do đó, thực hiện các chương trình phục hồi ĐNN và thực hiện quản lí hệ sinh thái bền vững để giảm khí thải CO2 và đảo ngược hay thay đổi xu hướng khí hậu hiện tại Chúng ta cần phải hiểu được bản chất của những biến đổi khí hậu và sinh thái cho từng khu vực để thiết kế các kế hoạch phục hồi và quản lí ĐNN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Kevin L Erwin, 2009, Wetlands and global climate change: the role of wetland restoration in a changing world, Wetlands Ecol Manage (2009) 17:71–84
1 Stephen Crooks, Dorothée Herr, Jerker Tamelander, Dan Laffoley & Justin Vandever,
2011, Mitigating climate change through restoration and management of coastal wetlands and near-shore marine ecosystems: challenges and opportunities, the World
Bank, 69p
2 USAID, 2009 Adapting to coastal climate change-A guidebook for development planners, USA, 148p
3 U.S Environmental Protection Agency, 2009, Synthesis of adaptation options for coastal areas, USA, 32p