1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHÂN TÍCH VẤN ĐỀ GIỚI TRONG THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM HIỆN NAY

24 129 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 200,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TIỂU LUẬN ĐƯA RA MỘT SỐ CƠ SỎ LÝ LUẬN ,MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ GIỚI VÀ THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ GIỚI TRONG THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ ĐƯA RA MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 2.1 Thực trạng2.1.1 Thế giớiTheo số liệu thống kê của ILO, vẫn tồn tại sự bất bình đẳng dai dẳng giữa phụ nữ và nam giới trong việc tiếp cận thị trường lao động, tình trạng thất nghiệp và điều kiện làm việc.Nữ giới vẫn ít cơ hội tiếp cận thị trường lao động hơn nam giớiTheo Báo cáo Triển vọng việc làm và xã hội thế giới – Xu hướng cho phụ nữ vừa được Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) công bố cho thấy, mặc dù đã đạt được những tiến bộ đáng kể trong 20 năm qua, nhưng số liệu từ ILO vẫn cho thấy tồn tại sự bất bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới trong việc tiếp cận thị trường lao động, tình trạng thất nghiệp và điều kiện làm việc.

Trang 1

HỌC VIỆN PHỤ NỮ VIỆT NAM

KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH

TIỂU LUẬN

Đề tài :

PHÂN TÍCH VẤN ĐỀ GIỚI TRONG THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG

VIỆT NAM HIỆN NAY

Họ và tên: Chu Ngọc Thái

Mã sinh viên: 1753410399

Lớp: K5-QTKDA

Môn: Kinh tế học về giới

Giáo viên:

Trang 2

Hà Nội , 2019

Trang 3

Phần 1: Lời mở đầu

Trang 4

1 Lý do chọn đề tài

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói : “Mọi công dân đều bình đẳng trước phápluật Đàn bà có quyền bình đẳng với đàn ông về các mặt chính trị, kinh tế, vănhóa xã hội và gia đình” Vấn đề giới là vấn đề rất quan trọng được cả xã hộiquan tâm Vấn đề giải phóng phụ nữ là vấn đề quan trọng nhất trong các vấn đềđấu tranh của phụ nữ thì vấn đề lao động được coi là nội dung quan trọng nhất,cốt lõi nhất của vấn đề này Trong lĩnh vực lao động thì vấn đề bất bình đẳnggiới ngày càng có ý nghĩa sâu sắc và phức tạp Nó đặt ra các vấn đề để các cơquan, tổ chức, cá nhân phải giải quyết Lao động có ý nghĩa rất quan trọng trongđời sống của con người Nghiên cứu vấn đề giới trong lĩnh vực lao động là mộtviệc làm cần thiết trong xã hội hiện nay, nhằm tìm hiểu thực trạng và một sốkiến nghị đối với giải quyết ván đề giới trong thị trường lao động.Với tư cách làmột bộ phận của xã hội vấn đề lao động không thể không nói tới vấn đề giới.Chính vì những lí do cấp thiết trên tôi chọn nghiên cứu đề tài : “Phân tích vấn

đề giới trong thị trường lao động ở Việt Nam hiện nay”

2 Mục đích nguyên cứu

Nhằm tìm hiểu thực trạng vấn đề giới trong thị trường lao động và đưa ra một

số kiến nghị giải quyết

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu:

- Nghiên cứu vấn đề giới trong thị trường lao động Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu:

- Không gian: Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích

- Phương pháp quy nạp

- Phương pháp tổng hợp số liệu

- Phương pháp so sánh theo thời gian

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu

- Phương pháp quan sát

5 Tóm tắt đề tài

Chương 1: Cơ sở lý luận

Chương 2: Thực trạng vấn đề giới trong thị trường lao động Việt Nam hiện nayChương 3: Một số kiến nghị

Kết luận

Trang 5

Phần 2: Nội dungCHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm giới

Trang 6

Giới (Gender) là một trong những khái niệm then chốt của Xã hội học vềgiới Để tránh sự nhầm lẫn thường xảy ra trong việc hiểu và sử dụng thuật ngữ

"Giới" và "Giới tính", người ta đem so sánh ý nghĩa của hai khái niệm này.Diana Kendall, Jane Lothian Murray và Rick Linden cho rằng: "Giới tính đềcập đến sự khác biệt về kết cấu sinh học giữa giống đực và giống cái" Kháiniệm giới hoàn toàn khác với khái niệm giới tính Có thể hiểu: "Giới đề cập đến

sự khác nhau về cấu trúc xã hội và văn hóa giữa giống đực và giống cái tìmthấy trong ý nghĩa, niềm tin và sự kết nối thực tiễn với đàn ông và đàn bà" Theo hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, có thể hiểu:

Giới là phạm trù chỉ quan niệm, vai trò và mối quan hệ xã hội giữa nam giới vàphụ nữ Xã hội tạo ra và gán cho trẻ em gái và trẻ em trai, cho phụ nữ và namgiới các đặc điểm giới khác nhau Bởi vậy, các đặc điểm giới rất đa dạng và cóthể thay đổi được

Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội.

1.1.2 Định kiến giới

Định kiến giới là suy nghĩ của mọi người về những gì mà phụ nữ và nam giới

có khả năng làm và loại công việc mà họ có thể làm và nên làm; là tập hợp cácđặc điểm mà một nhóm người, một cộng đồng cụ thể nào đó gán cho là thuộctính của nam giới hay nữ giới

 Định kiến giới là nhận thức, thái độ và đánh giá thiên lệch, tiêu cực vềđặc điểm, vị trí, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ

1.1.3 Vai trò giới

Vai trò giới là tập hợp các hành vi ứng xử mà xã hội mong đợi ở nam và nữ liênquan đến những đặc điểm giới tính và năng lực mà xã hội coi là thuộc về namgiới hoặc thuộc về phụ nữ (trẻ em trai hoặc trẻ em gái) trong một xã hội hoặcmột nền văn hoá cụ thể nào đó

1.1.4 Phân công lao động theo giới

Theo các nhà lý thuyết giới, PCLĐTG hay hành động giới "là những chức năng

xã hội, những khả năng và những cách thức của hành động thích hợp để cácthành viên của một xã hội căn cứ vào khi họ là một phụ nữ hoặc là một namgiới"

1.1.5 Bình đẳng giới

Theo quy định tại khoản 3 Điều Luật bình đẳng giới, “Bình đẳng giới là việcnam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy

Trang 7

năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởngnhư nhau về thành quả của sự phát triển đó”

1.2 Thị trường lao động:

1.2.1 Khái niệm thị trường lao động

Hiện nay đang tồn tại nhiều định nghĩa về thị trường lao động từ các nguồn tài liệu khác nhau:

- Theo Adam Smith, thị trường lao động là không gian trao đổi dịch vụ lao động(hàng hóa sức lao động) giữa một bên là người mua sức lao động (chủ sử dụng laođộng) và người bán sức lao động (người lao động)

- Theo Từ điển Kinh tế học Pengiun, thị trường lao động là thị trường trong đó tiềncông, tiền lương và các điều kiện lao động được xác định trong bối cảnh quan hệcủa cung lao động và cầu lao động

- Theo Từ điển kinh tế MIT, thị trường lao động là nơi cung và cầu lao động tácđộng qua lại với nhau

- Theo Tìm hiểu một số khái niệm trong văn kiện Đại hội IX của Đảng, thị trườnglao động là: "Thị trường mua bán các dịch vụ của người lao động, về thực chất làmua bán sức lao động, trong một phạm vi nhất định Ở nước ta, hàng hóa sức laođộng được sử dụng trong các doanh nghiệp tư bản tư nhân, các doanh nghiệp tưbản nhà nước, các doanh nghiệp tiểu chủ, và trong các hộ gia đình neo đơn thuêmướn, người làm dịch vụ trong nhà Trong các trường hợp đó có người đi thuê, cóngười làm thuê, có giá cả sức lao động dưới hình thức tiền lương, tiền công"

- Mặc dù có nhiều điểm khác biệt, nhưng các định nghĩa hiện có về thị trường laođộng đều thống nhất với nhau về các nội dung cơ bản của thị trường lao động Cóthể tóm lược các nội dung này thành một định nghĩa tương đối hoàn chỉnh về thịtrường lao động như sau:

Thị trường lao động là nơi thực hiện các quan hệ xã hội giữa người bán sức lao động (người lao động làm thuê) và người mua sức lao động (người

sử dụng sức lao động), thông qua các hình thức thỏa thuận về giá cả (tiền công, tiền lương) và các điều kiện làm việc khác, trên cơ sở một hợp đồng lao động bằng văn bản, bằng miệng, hoặc thông qua các dạng hợp đồng hay thỏa thuận khác.

1.2.2 Các yếu tố cấu thành thị trường lao động

Thị trường sức lao động được cấu thành bởi ba yếu tố là: cung, cầu và giá cảsức lao động Thị trường lao động có thể hoạt động có hiệu quả chỉ khi cácquyền tự do mua, bán sức lao động được đảm bảo bằng luật pháp và bằng hệ

Trang 8

thống các chính sách liên quan đến quyền, quyền lợi và nghĩa vụ của các bêntham gia thị trường.

1.3 Quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam và Chủ Tịch Hồ Chí Minh về bình đẳng giới

Trước hết quan điểm bình đẳng nam nữ của Đảng và Hồ Chủ Tịch xuất phát từcách nhìn nhận, đánh giá đúng đắn về vai trò và những đóng góp của phụ nữ vànam giới đối với thực tiễn xã hội

Hồ Chủ Tịch là hiện thân của tư tưởng bình đẳng giới "Người hiểu rõ những giátrị chân chính của người phụ nữ Việt Nam, vai trò, sự đóng góp to lớn của họ đốivới xã hội, đối với gia đình

Trong công cuộc kiến thiết và xây dựng đất nước, "phụ nữ ta tham gia ngày càngđông và càng đắc lực trong các ngành kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội"

Ở nước ta, sự bất bình đẳng nam nữ đã tồn tại lâu đời trong lịch sử và xuất phát từnhiều lý do khác nhau Đây chính là cơ sở để Đảng và Hồ Chủ Tịch chủ trươngvận động phụ nữ tham gia lao động sản xuất và "giải phóng phụ nữ ra khỏi bếpnúc"

Nghị quyết của Đảng cũng chỉ rõ: "Phải đào tạo cán bộ phụ nữ lớp trên chú ý đờisống cán bộ nữ, giúp cho Đoàn phụ nữ Việt Nam phát triển" Đồng thời phải quantâm đến sức khỏe của phụ nữ, "chú ý đến việc sử dụng sức lao động nữ một cáchhợp lý"

Nhiều Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng về vấn đề phụ nữ, công tác cán bộ nữ đã rađời tạo điều kiện cho phụ nữ vươn lên như: Nghị quyết Hội nghị Trung Ươngtháng 8/1946, tháng 1/1949 về việc thành lập ban phụ vận, nâng đỡ cán bộ nữ.Trong Chỉ thị về công tác cán bộ nữ (153/NQ-TW, ngày 10/1/1967) có ghi rõ:

" Việc đào tạo bồi dưỡng cán bộ nữ là vấn đề có tính chất quốc sách mà mọi cấp

bộ Đảng phải đặc biệt quan tâm" Bên cạnh đó, Đảng ta còn có các Chỉ thị về côngtác cán bộ nữ như: Chỉ thị 44/CT -TW ngày 7/6/1984 về việc nâng cao tỷ lệ phụ

nữ tham gia công tác lãnh đạo, quản lý, v.v Không những thế, muốn thực hiệnbình đẳng nam -nữ cần đấu tranh triệt để với tư tưởng "trọng nam, khinh nữ", thiếutôn trọng phụ nữ trong một bộ phận cán bộ và quần chúng nhân dân

Vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Marx về bình đẳng giới, Đảng và Nhà nước tacho rằng cần đảm bảo cho quyền bình đẳng nam nữ bằng hệ thống hiến pháp vàpháp luật Điều đó đã được khẳng định rõ trong bản Hiến pháp 1946, Hiến pháp1992 Trong Luật hôn nhân và gia đình có ghi rõ: "Bình đẳng về nghĩa vụ và

Trang 9

quyền giữa vợ và chồng Vợ chồng bình đẳng với nhau; có nghĩa vụ và quyềnngang nhau về mọi mặt trong gia đình"

Trong bộ Luật lao động của nước ta cũng khẳng định rõ: "Nhà nước đảm bảoquyền làm việc của phụ nữ bình đẳng về mọi mặt với nam giới" Trong Chiến lượcquốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ (2005 đến 2010) đã xác định mục tiêu tổng quátlà: "Nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần của phụ nữ Tạo mọi điềukiện để thực hiện có hiệu quả các quyền cơ bản và phát huy vai trò của phụ nữtrong mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội" Mục tiêu cụthể là "phấn đấu đạt tỷ lệ nữ tham gia Hội đồng nhân dân cấp huyện nhiệm kỳ

2004 -2009 là 23%, cấp xã, phường là là 18%"

Muốn thực hiện bình đẳng nam -nữ theo quan điểm của Đảng và Hồ Chủ Tịch, bảnthân người phụ nữ cũng là nhân tố tham gia tích cực bằng sự nổ lực vươn lên,vượt qua mọi khó khăn trở ngại như "bỡ ngỡ, lúng túng, tự ty, thiếu tin tưởng vàokhả năng của mình gia đình, con cái" để tham gia tích cực vào hoạt động xã hội.Đồng thời phụ nữ phải nâng cao năng lực của bản thân "cần phải cố gắng học tập.Học văn hoá, học chính trị, học nghề nghiệp"

Hồ Chủ Tịch nhắc nhở "Hiện nay trong các ngành, số phụ nữ tham gia còn ít Đảng

và chính phủ rất hoan nghênh, sẵn sang cân nhắc và giao cho phụ nữ những chứctrách quan trọng Muốn vậy bản thân phụ nữ phải: gắng học tập chính trị, học tậpvăn hoá kỹ thuật" Đây cũng là định hướng cơ bản để phụ nữ vươn lên ngang bằngvới nam giới trong sự nghiệp công nghiệp hoá-hiện đại hoá Những quan điểmđúng đắn và nhạy cảm giới của Hồ Chủ Tịch và của Đảng ta trong những thập kỷqua đã mở đường cho phụ nữ và nam giới vươn lên trong sản xuất, trong công việcgia đình và công việc xã hội, đặc biệt là phụ nữ Họ đã có những đóng góp tích cựccho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Trang 10

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ GIỚI TRONG THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 2.1 Thực trạng

2.1.1 Thế giới

Theo số liệu thống kê của ILO, vẫn tồn tại sự bất bình đẳng dai dẳng giữa phụ nữ vànam giới trong việc tiếp cận thị trường lao động, tình trạng thất nghiệp và điều kiệnlàm việc

Nữ giới vẫn ít cơ hội tiếp cận thị trường lao động hơn nam giới

Theo Báo cáo Triển vọng việc làm và xã hội thế giới – Xu hướng cho phụ nữ vừa được

Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) công bố cho thấy, mặc dù đã đạt được những tiến bộđáng kể trong 20 năm qua, nhưng số liệu từ ILO vẫn cho thấy tồn tại sự bất bình đẳnggiữa phụ nữ và nam giới trong việc tiếp cận thị trường lao động, tình trạng thất nghiệp

và điều kiện làm việc

Cũng theo báo cáo này, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của phụ nữ trên toàn cầuhiện ở mức 48,5%, thấp hơn 26,5 điểm phần trăm so với nam giới Thêm vào đó, tỷ lệthất nghiệp toàn cầu của phụ nữ là 6%, cao hơn tỷ lệ này của nam giới khoảng 0,8điểm phần trăm Kết quả trên tương đương với chỉ có 6 lao động nữ trên 10 lao độngnam có việc làm

Báo cáo này cũng cho thấy phụ nữ phải đối mặt với những khoảng cách đáng kể vềchất lượng việc làm Khả năng phụ nữ làm lao động gia đình vẫn cao gấp đôi so vớinam giới Điều này có nghĩa là họ tham gia công việc kinh doanh gia đình theo địnhhướng thị trường nhưng thường đối diện với những điều kiện làm việc dễ bị tổnthương, không có hợp đồng bằng văn bản, thiếu sự tôn trọng pháp luật lao động vàkhông có các thỏa ước lao động tập thể

Trang 11

Trong lĩnh vực kinh doanh, số lượng nam giới làm việc ở vị trí người sử dụng lao độngcao gấp bốn lần phụ nữ năm 2018 trên toàn cầu Những khoảng cách giới như vậycũng được phản ánh ở các vị trí quản lý, theo đó phụ nữ tiếp tục đối mặt với những ràocản của thị trường lao động khi tiếp cận các vị trí quản lý

Trong khi ở các nước đang phát triển, tỷ lệ phụ nữ tham gia làm công việc gia đình đãgiảm trong thập kỷ qua, tỷ lệ này vẫn duy trì ở mức cao ở các nước đang phát triển, ởmức 42% trong tổng số việc làm của phụ nữ năm 2018, so với mức 20% trong tổng sốviệc làm của nam giới và không có dấu hiệu cải thiện cho đến năm 2020

Bà Deborah Greenfield, Phó Tổng giám đốc ILO phụ trách chính sách cho biết: “Triểnvọng về việc làm của phụ nữ còn rất lâu mới có thể bình đẳng so với nam giới dù cho

đã đạt được nhiều tiến bộ và có nhiều cam kết cải thiện hơn nữa tình trạng này”

“Bất bình đẳng cũng thể hiện ở khía cạnh về tiền lương hay các hình thức phân biệtkhác Do đó, chúng ta cần phải hành động nhiều hơn nữa bằng việc đưa ra các chínhsách hướng tới phụ nữ có cân nhắc đến việc họ phải gánh vác trong gia đình và tráchnhiệm chăm sóc”, bà Greenfield cho biết thêm

Tuy nhiên, sự chênh lệch trong tỷ lệ thất nghiệp giữa phụ nữ và nam giới ở các nướcphát triển tương đối nhỏ, thậm chí, tỷ lệ thất nghiệp của phụ nữ ở Đông Âu và Bắc Mỹthậm chí còn thấp hơn so với nam giới

Ngược lại, ở các quốc gia như Ả-rập và Bắc Phi, tỷ lệ thất nghiệp của phụ nữ vẫn caogấp đôi nam giới do những định kiến xã hội tiếp tục cản trở phụ nữ tham gia vàonhững công việc được trả lương

Phụ nữ làm nhiều việc phi chính thức

Báo cáo này cũng cho thấy, phụ nữ làm lao động gia đình vẫn cao gấp đôi so với namgiới Điều này có nghĩa là họ tham gia công với những điều kiện làm việc dễ bị tổnthương, không có hợp đồng bằng văn bản, thiếu sự tôn trọng pháp luật lao động vàkhông có các thỏa ước lao động tập thể

Tỷ lệ này vẫn duy trì ở mức cao ở các nước đang phát triển, ở mức 42% trong tổng sốviệc làm của phụ nữ hiện tại Báo cáo này cũng dự đoán, tỷ lệ này không có dấu hiệucải thiện đến năm 2021 Do đó, phụ nữ vẫn chiếm phần đông trong việc làm phi chínhthức ở các nước đang phát triển

Trang 12

Những phát hiện này cũng cảnh báo về khoảng cách giới đáng kể về tiền lương và ansinh xã hội.

Hiện, số lượng nam giới làm việc ở vị trí người sử dụng lao động cao gấp 4 lần phụ nữtrên toàn cầu

“Những thách thức và trở ngại đối với phụ nữ sẽ làm giảm khả năng xã hội các nướcxây dựng lộ trình tăng trưởng kinh tế cùng với phát triển xã hội Do đó, xóa bỏ khoảngcách giới trong thế giới việc làm cần được ưu tiên hàng đầu nếu chúng ta muốn đạtđược bình đẳng giới và trao quyền cho tất cả phụ nữ và trẻ em gái vào năm 2030”, ôngDamian Grimshaw, Vụ trưởng Vụ nghiên cứu của ILO nhấn mạnh

2.1.2 Việt nam

Mặc dù, sự phân biệt giới trêng thị trường lao động Việt Nam không rõ rệt như ở cáckhu vực khác và ở cấp khu vực Tuy nhiên, vẫn tồn tại khoảng cách trong cả vấn đềtiếp cận thị trường lao động và chất lượng việc làm

Bất bình đẳng giới trong thị trường lao động

Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ nữ tham gia hoạt động kinh tế ở mức cao(83% so với nam giới 85%) Phụ nữ đóng vai trò ngày càng quan trọng trong toàn bộnền kinh tế quốc dân; tham gia ngày càng nhiều hơn trong khu vực phi nông nghiệp,đặc biệt là các ngành và lĩnh vực kinh tế có yêu cầu kỹ thuật, công nghệ cao

Theo Điều tra lao động - việc làm 2007 của Tổng cục thống kê, tỷ lệ lao động nữ đãchiếm 46% trong số người làm công ăn lương từ các lĩnh vực sản xuất – kinh doanh;

số chủ cơ sở sản xuất – kinh doanh là nữ chiếm 41,12%; tỷ lệ lao động nữ làm kinh tế

hộ gia đình chiếm 49,42% Mặc dù các số liệu thống kê cũng chỉ ra có một tỷ lệ lớnlao động nữ còn làm các công việc giản đơn (53,64%), nhưng tỷ lệ phụ nữ đang thamgia vào các lĩnh vực vốn được coi là “truyền thống” (công việc kỹ thuật, quản lý) củanam giới cũng đang dần tăng lên

Tỷ lệ lao động nữ từ 15 tuổi trở lên làm công việc khai khoáng chỉ chiếm 31,1%, trongkhi đó nam giới chiếm 68,9%; tham gia hoạt động khoa học và công nghệ thì nữ chiếm34% và nam chiếm 66%; quản lý nhà nước về an ninh, quốc phòng, bảo đảm xã hội thì

nữ chiếm 24,7% và nam chiếm 75%

Ngày đăng: 29/07/2021, 17:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w