1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tài liệu Kế hoạch đào tạo ngành Lịch sử doc

187 446 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kế hoạch đào tạo ngành Lịch sử
Tác giả Hoàng Anh Khiêm
Trường học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại Sách trợ giúp giảng viên CĐSP
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 187
Dung lượng 4,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN MỞ ĐẦU MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC HIỆN ĐẠI ² “Hãy dạy làm sao để học sinh cảm thấy những điều được học như một phần thưởng quý giá chứ không như một nhiệm vụ n

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

DỰ ÁN ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN THCS - LOAN No1718-VIE

(SF) ]

HOÀNG ANH KHIÊM

THỰC HIỆN KẾ HOẠCH ĐÀO TẠO

NGÀNH HỌC LỊCH SỬ

NH XUT BẢN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

HÀ NỘI 2007

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG

VỀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC HIỆN ĐẠI

²

“Hãy dạy làm sao để học sinh cảm thấy những điều được học như

một phần thưởng quý giá chứ không như một nhiệm vụ ngán ngẩm”

Albert Einstein

Đổi mới căn bản các hoạt động giáo dục hiện nay là một yêu cầu cấp

thiết trong xu thế hội nhập, phát triển Sự đổi mới toàn diện về nội dung

chương trình, đội ngũ giảng dạy, phương pháp, kỹ thuật và phương thức tư

duy của người học là một cuộc cách mạng của ngành giáo dục nhằm đáp ứng

những đòi hỏi của đất nước trong bối cảnh mới của thời đại Đó là một thời

đại với sự thay đổi lớn lao về tri thức về hình thức và nội dung, về ý nghĩa tri

thức, về trách nhiệm của tri thức và về những đặc điểm của con người có

giáo dục

“Dạy học lấy học sinh làm trung tâm” vẫn luôn là trọng tâm của sự đổi

mới phương pháp dạy học hiện đại1 Ở nước ta từ thập niên 60 của thế kỷ

XX đã thực hiện nguyên lý “học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao

động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội” theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Thực chất, quan điểm “Dạy học lấy học sinh làm trung tâm” cũng đã được

xác định từ các thập niên 70, 80, 90 và đến năm 2000 đã chính thức trở

thành chủ trương của nhà nước (NQ40/2000/QH10) Đó là quan điểm “thày

chủ đạo, trò chủ động” hay “dạy học phát huy tính tích cực của học sinh”

Vấn đề là bằng cách nào gắn được những lý luận hết sức đúng đắn đó vào

thực trạng nền giáo dục hiện nay ở tất cả các bậc học

Ngay từ những thập niên 70, 80 của thế kỷ trước, các nhà nghiên cứu

giáo dục đã nêu ra những vấn đề bất cập về vị trí, vai trò của khoa học xã

hội trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo: từ sau ngày miền Nam hoàn toàn giải

phóng cho đến nay, đa số học sinh, sinh viên thích các ngành khoa học kĩ

thuật, khoa học tự nhiên hơn khoa học xã hội Chỉ có một số ngành của khoa

học xã hội liên quan đến kinh tế, đối ngoại như thương nghiệp, kinh tế kế

hoạch, quan hệ quốc tế, ngoại giao… được sinh viên quan tâm Còn các

ngành như kinh tế chính trị học, chủ nghĩa xã hội khoa học, triết học thì chưa

thu hút được học sinh, sinh viên vì chưa thực sự đổi mới chương trình và đội

ngũ giảng dạy các ngành khoa học xã hội còn khá bảo thủ, ảnh hưởng của

1 Quan điểm dạy học tích cực này đã được đề ra từ thế kỷ XVIII với tư tưởng của J.J.Rousseau (trào lưu

“Triết học Anh sáng”) ở châu Au và ảnh hưởng sâu rộng đến các nhà khoa học thế kỷ XIX

Trang 3

một giai đoạn dài của thời kỳ bao cấp, duy ý chí Chúng ta muốn hình thành nhân cách xã hội chủ nghĩa nhưng uy tín của khoa học lý luận đang giảm sút, thiếu bổ sung, còn nặng tính hàn lâm, giáo điều và minh họa Thậm chí, theo một số nhà nghiên cứu thì thực trạng khoa học xã hội hiện nay đã là một vấn đề trầm trọng Trong xu thế hội nhập quốc tế, xã hội đòi hỏi bức xúc về cải cách chính trị, cải cách hành chính nhưng trong các hệ thống trường học lại ngán ngại môn học chính trị, và khoa học xã hội nói chung Khoa học lịch sử và văn học cũng nằm trong bối cảnh chung đó Trong thực

tế hiện nay, vị trí bộ môn lịch sử ở bậc học phổ thông, chế độ tuyển sinh và chính sách ngành nghề đối với các ngành khoa học xã hội cũng tác động không nhỏ đến việc xác định mục đích, động cơ học tập và chất lượng đào tạo của đa số học sinh, sinh viên…

Dư luận, báo chí một vài năm gần đây cũng đã có những diễn đàn bày tỏ

sự quan ngại về chất lượng dạy và học lịch sử nhất là về lịch sử dân tộc của học sinh, sinh viên ở tất cả các bậc học Thế hệ trẻ ngày nay tự khẳng định mình bằng tri thức thời đại và nền văn hoá dân tộc, song còn nhiều hạn chế

về phương pháp tư duy trừu tượng mang tính sáng tạo, khám phá Sinh viên cần biến những tri thức hàn lâm sách vở, kiến thức thời đại thành vốn tri thức của riêng mình mà không phải chỉ là sự sao chép, thừa hưởng Hiểu sâu, biết rộng những kiến thức lịch sử và kỹ năng vận dụng vào thực tiễn phải là nhu cầu tự thân của tuổi trẻ trong hành trang vào đời Nhà trường, các thày cô giáo cần phải khắc phục những nhược điểm của phương pháp dạy học truyền thống để rèn luyện cho học sinh phương pháp tư duy độc lập, năng lực trí tuệ và sự say mê sáng tạo Những trở lực lớn trong phạm vi rộng hiện nay về môi trường làm việc tập thể đó là tính hợp tác, kỹ năng làm việc theo nhóm và ý thức tự giác - một ý thức mới trong hội nhập và phát triển Những giá trị ảo, bệnh thành tích, sự níu kéo lẫn nhau, chủ nghĩa bình quân… trong công tác quản lý, trong dạy và học hiện nay đang là một trở lực vô hình và rất nguy hiểm Một “sức ì” khá phổ biến trong các trường đại học, cao đẳng hiện nay là sinh viên rất ngại phát biểu (hoặc không muốn là người phát biểu đầu tiên) trong các vấn đề xêmina (seminar) Giảng viên cũng cần có biện pháp tình thế hoặc xem lại cách nêu vấn đề của mình đã phù hợp, lôi cuốn, hấp dẫn sinh viên chưa Đội ngũ giảng viên lịch sử cũng cần phải biết vượt qua sự bảo thủ của chính mình và những hạn chế của phương pháp dạy học truyền thống Xã hội văn minh ngày nay chính là xã hội của những con người tự giác – theo nghĩa rộng, do những con người tự giác tạo ra

Đối với các trường đại học, cao đẳng bản chất hoạt động dạy và học là hoạt động nhận thức đặc biệt mang tính chất nghiên cứu của sinh viên dưới

sự hướng dẫn của giảng viên Sinh viên phải là chủ thể của hoạt động nhận

Trang 4

thức – huy động ở mức cao nhất tiềm năng, vốn sống để chiếm lĩnh tri thức,

kỹ năng Trong quá trình đó, sinh viên không chỉ tái tạo lại tri thức mà còn tìm kiếm tri thức mới Với những hoạt động dạy – học tương tác và hệ thống các phương pháp tích cực, sinh viên sẽ được học và tìm kiếm tri thức, kỹ năng trong điều kiện sư phạm

Đổi mới phương pháp dạy học lịch sử theo hướng tích cực (active method) ở các trường Cao đẳng sư phạm, Đại học sư phạm là sự vận dụng, tích hợp các lý thuyết dạy học hiện đại với hệ thống các phương pháp tích cực và có sự trợ giúp của công nghệ mới Muốn vậy, cần đổi mới nhận thức

về 4 nhiệm vụ dạy học của hệ đào tạo sư phạm hiện nay đối với ngành học lịch sử: dạy tri thức khoa học lịch sử, dạy kỹ năng dạy học bộ môn lịch sử; dạy phương pháp lưu trữ, xử lý thông tin, sử dụng thông tin và phương pháp nghiên cứu khoa học lịch sử…; hình thành thái độ, thế giới quan khoa học, đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên Các nhiệm vụ dạy học này phụ thuộc vào sự đổi mới, hoàn thiện 4 yếu tố trong cấu trúc hoạt động dạy - học tương tác: chương trình, giáo trình; giảng viên; phương tiện, thiết bị dạy học hiện đại và sinh viên Trong đó, giảng viên, sinh viên là hai yếu tố chính (hai yếu

tố động) các yếu tố khác chỉ trở nên có ý nghĩa khi đặt trong tác động tương

hỗ của hai yếu tố này vì nó định hướng cho những tác động của giảng viên

và những đáp ứng của sinh viên trong suốt quá trình học tập

Tuy còn nhiều vấn đề bất cập, song điều kiện quyết định và quan trọng hàng đầu trong công cuộc đổi mới hiện nay vẫn là sự tự hoàn thiện đổi mới của giảng viên Giảng viên phải được hoàn thiện chu đáo để thích ứng với những thay đổi chức năng, với những nhiệm vụ đa dạng phức tạp của hướng dạy học theo phương pháp tích cực và có tâm huyết với công cuộc đổi mới giáo dụ Giảng viên phải thực sự có tri thức khoa học sâu rộng về chuyên môn, có trình độ nghiệp vụ tiên tiến để có được sự ứng xử tinh tế trong mọi tình huống.Ngoài sứ mệnh của khoa học xã hội là ngành khoa học dẫn đường, khoa học lịch sử nói riêng còn có ý nghĩa to lớn trong giáo dục truyền thống và những giá trị nhân văn cao quý.Chính tri thức khoa học sâu rộng của giảng viên sẽ quyết định phương pháp khoa học trong giảng dạy, truyền thụ tri thức Trong thời đại bùng nổ thông tin và cách mạng khoa học – công nghệ, giảng viên cũng cần phải có khả năng nhất định về ngoại ngữ, tin học để khai thác, cập nhật thông tin khoa học và các nguồn tư liệu phong phú trên mạng internet, làm chủ được các phương tiện công nghệ thông tin, thiết bị hiện đại, vận dụng sáng tạo trong giảng dạy

Mục tiêu chính của kế hoạch đào tạo ở cao đẳng, đại học ngành sư phạm không phải là thông tin lại toàn bộ tri thức lịch sử nói chung mà là truyền thụ các vấn đề, chuyên đề lịch sử mang tính khoa học của chương trình đồng tâm Đó là các vấn đề về phương pháp luận sử học, những quy luật phát triển

Trang 5

của lịch sử xã hội, phương pháp tư duy và những kỹ năng nghề nghiệp cần thiết… Chính vì vậy, trong quá trình giảng dạy chương trình, giáo trình lịch

sử cần phải được tinh giản vững chắc, phải chủ động, dày công thiết kế các kịch bản dạy học, tạo điều kiện cho thày, trò tổ chức những hoạt động học tập tích cực mà không cắt xén chương trình, dạy dồn, dạy ép hoặc thường xuyên bị “cháy giáo án” Nhóm phương pháp thuyết giảng và lượng tri thức khoa học của giáo trình, sách giáo khoa là mặt mạnh của khoa học xã hội song cần giảm bớt những thông tin áp đặt buộc sinh viên phải thừa nhận và ghi nhớ máy móc Với cách dạy theo vấn đề, trong một ý nghĩa nhất định, giáo trình sẽ chỉ còn chức năng lưu trữ hệ thống các dữ liệu tra cứu Giảng viên nên tăng cường các bài tập nhận thức về phương pháp luận sử học, giảm bớt những câu hỏi tái hiện lịch sử, tăng cường các câu hỏi phát triển thông minh, giảm bớt những kết luận áp đặt và tăng cường phương pháp gợi

mở để sinh viên tự nghiên cứu phát triển bài học

Trong thực tế không có hai cách lựa chọn phương pháp dạy học giống nhau và cũng không có hai phong cách giảng dạy giống nhau Ngành tâm lý học sư phạm có rất nhiều lý thuyết học tập khác nhau như “thuyết hành vi”,

“thuyết nhận thức”, “thuyết kiến tạo”, “thuyết tự lập”… Mỗi lý thuyết đều

có những ưu điểm và giới hạn riêng Các nhà khoa học ngày nay không tìm kiếm một lý thuyết tổng quát toàn năng mà xu hướng chung là chỉ xây dựng những mô hình riêng lẻ cho từng chuyên ngành từng chuyên đề khoa học

Đó là việc vận dụng kết hợp một cách thích hợp các lý thuyết học tập khác nhau với sự trợ giúp của công nghệ mới nhằm đáp ứng những yêu cầu của

cơ chế học tập Chính vì vậy, những phương pháp, giải pháp nêu ra trong các phân môn, học phần lịch sử trong tài liệu này chỉ mang tính minh họa, gợi ý

để cùng tìm ra các hình thức dạy học tốt nhất, hiệu quả nhất

Phương pháp dạy học đối với khoa học lịch sử ở bậc cao đẳng, đại học

thích hợp nhất là dạy học theo vấn đề lịch sử và theo các chuyên đề khoa

học Điều kiện tiên quyết là xác định được những vấn đề trọng tâm, bao trùm

hết được các mục tiêu đào tạo về nội dung, kỹ năng… trong từng phân môn,

học phần và từ đó lập ra kế hoạch thực hiện Hệ thống các phương pháp hiện

đại sẽ là sự kết hợp linh hoạt giữa các phương pháp nêu vấn đề, phương

pháp diễn giảng, phương pháp xêmina, phương pháp điều phối, phương pháp dự án (project method hoặc project based learning)… và sẽ đặc biệt có hiệu quả khi kết hợp với các phương tiện dạy học hiện đại Các phương pháp này có khả năng vận dụng và tích hợp nhiều lý thuyết học tập khác nhau Yếu tố tích cực là cách dạy học giải quyết vấn đề, dạy học định hướng hành động, dạy học khám phá và làm việc theo nhóm (thuyết nhận thức) Giảng viên giữ vai trò “người điều phối“ (một ứng dụng lý thuyết kiến tạo)

tổ chức sự tương tác giữa sinh viên và đối tượng học tập, giúp sinh viên xây

Trang 6

dựng thông tin mới vào cấu trúc tư duy đã được sinh viên tự điều chỉnh Sinh viên học không chỉ là khám phá mà còn là sự giải thích, cấu trúc mới tri thức2 (thuyết tự lập) Các phương pháp nhỏ như “tia chớp”, “philip xyz”,

“công não”, “bể cá”… là những giải pháp tình huống để thay đổi động hình

và kích thích tư duy người học nhằm tập trung sự chú ý vào nội dung chính Các thể loại phương pháp này tuỳ thuộc vào sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo của giảng viên và sẽ có hiệu quả cao trong việc phát huy trí lực sinh viên

Cơ sở lựa chọn phương pháp dạy học trên phải căn cứ vào bản chất công việc hoặc tài liệu sẽ học, bản chất mục tiêu học tập cần đạt đến, khả năng, năng lực của sinh viên và khả năng, kiến thức của giảng viên cùng các nguồn lực sẵn có (thời gian, nguồn tư liệu, thiết bị, phương tiện multimedia

có thể sử dụng để phát huy hiệu quả nhất…)

Khi lựa chọn phương pháp cần kết hợp sử dụng nhiều phương pháp khác nhau sao cho sinh viên được tham gia nhiều nhất trong các hoạt động nhận thức Sinh viên phải được tự học ít nhất 30% học phần hoặc các môn học (giảng viên cần hướng dẫn chu đáo phương pháp tự học, sinh viên nắm được nhiệm vụ và cách học, giảng viên cũng cần có các biện pháp để kiểm tra chất lượng nội dung tự học một các thiết thực…); sắp xếp sao cho trong một bài giảng lịch sử thời lượng giảng viên diễn giảng là ít nhất Với hệ thống các phương pháp dạy học hiện đại giảng viên cần thử nghiệm nhiều kĩ thuật khác nhau

Phương pháp dạy học theo vấn đề, theo từng chuyên đề giúp sinh viên ghi nhớ sự kiện, nhân vật, địa danh con số, ngày tháng (sẽ là rất nhiều)… một cách khoa học, logic và vận dụng đúng vị trí, vai trò của chúng trong từng nội dung, từng vấn đề Sinh viên không chỉ thuộc sự kiện, hiện tượng lịch sử mà còn hiểu sâu sắc quy luật phát triển mang tính toàn cục của các vấn đề, các giai đoạn lịch sử Trong quá trình truyền thụ sinh động các nội dung khoa học, giảng viên phải định hướng được sự phát triển của sinh viên theo mục tiêu giáo dục Đồng thời cũng phải đảm bảo được sự tự do của sinh viên trong các hoạt động nhận thức Các phương pháp giảng dạy theo vấn

đề, chuyên đề trong các phần phương pháp đào tạo cho một số học phần cụ

thể trong sách này cũng được biên soạn theo hướng mở để giảng viên có thể sáng tạo lựa chọn các phương pháp nhỏ giải quyết vấn đề lịch sử một cách tốt nhất, phù hợp nhất và hiệu quả nhất tuỳ theo từng điều kiện hoàn cảnh, đối tượng sinh viên

2 Việc dạy học nhằm phát triển tư duy, giải quyết vấn đề Dạy học khám phá đòi hỏi nhiều thời gian, đòi hỏi cao

ở sự chuẩn bị cũng như năng lực của giảng viên Cấu trúc quá trình tư duy không quan sát trực tiếp được nên chỉ mang tính giả thuyết

Trang 7

Theo nguyên lý: thày say mê khoa học, trò tiếp nhận tri thức một cách hứng thú, thông minh, sáng tạo, chủ động thì phương pháp tích cực mới xảy

ra Một giờ học thành công là giờ học duy trì được sự hào hứng trong suốt quá trình dạy và học Muốn vậy, trong mọi hoàn cảnh phải tạo được môi trường tương tác (thuyết kiến tạo) giữa giảng viên và sinh viên, giữa khối lượng tri thức và phương tiện, thiết bị có thể có được Ngay từ đầu giảng viên phải khơi dậy được sự hứng thú, ham muốn hiểu biết ở sinh viên về các vấn đề lịch sử, nội dung khoa học vừa được đặt ra Giảng viên nêu rõ cái đích học tập cần phải đạt được để sinh viên nhìn thấy ý nghĩa của việc học, cách thức và điều kiện cần sử dụng và những giai đoạn học phải trải qua Các bước lên lớp (không nhất thiết phải theo 5 bước một cách máy móc) giảng viên tiến hành bài giảng theo logic của trình tự phương pháp nêu vấn

đề, sử dụng các kỹ thuật minh hoạ, mô phỏng, hệ thống hoá, khắc sâu những vấn đề quan trọng, kết luận, chuyển tiếp… Trong suốt giờ học, giảng viên buộc sinh viên tham gia bài học bằng hệ thống câu hỏi, tham gia thảo luận hoặc thuyết trình trên bảng… Giảng viên phải duy trì được kết cấu bài giảng, tốt nhất là tóm tắt được nội dung bài giảng trên bảng, nếu có điều kiện trên màn hình với các kỹ thuật máy chiếu overhaed hoặc slideshow project Cuối cùng giảng viên phải gây được niềm tin vững chắc vào tri thức khoa học, thông thái, nhiệt tình đối với sinh viên trong suốt bài giảng Giảng viên thể hiện những ý định này ở trong kế hoạch dạy học bộ môn và kế hoạch bài học Điều kiện tiên quyết là giảng viên phải chuẩn bị tốt về kiến thức, tài liệu, các kênh tư liệu, thiết bị cần thiết và phù hợp Sau mỗi tiết học cần nắm được những thông tin phản hồi từ lớp học về chất lượng tri thức và kỹ năng của sinh viên Cuối cùng điều không thể thiếu là sự tự tin của giảng viên và phải hết sức nhiệt tình với phương pháp của mình

3- Chịu trách nhiệm đến cùng việc học 4- Tự kiểm tra, đánh giá, tự điều chỉnh

Trang 8

Phương tiện dạy học hiện đại (multimedia) không phải là giải pháp toàn năng và cũng không phải là phương pháp dạy học hiện đại, nhưng hành động

sử dụng những phương tiện dạy học này lại là hành động phương pháp

Ung dụng multimedia trong các hoạt động dạy học đang là xu hướng mới tích cực trong việc phát huy trí lực học sinh, sinh viên Đó là một hệ thống

kỹ thuật dùng để trình diễn các dữ liệu và thông tin, sử dụng đồng thời các hình thức chữ viết, âm thanh, hình ảnh, động hình, film, vidéo clip, các hiệu ứng… qua hệ thống computer, trong đó tạo khả năng tương tác giữa người

sử dụng và hệ thống Từ đó khả năng tương tác giữa hoạt động dạy và hoạt động học có hiệu quả cao3

Học tập với đa phương tiện theo nghĩa rộng cũng là sự sử dụng kết hợp

những phương tiện truyền thống như giáo trình, sách giáo khoa, phấn trắng bảng đen (có thể thay bảng mica để tiện trình chiếu), máy chiếu bản phim trong (overhaed), máy chiếu vật thể, phim và các phương tiện nghe - nhìn khác

Trước mắt, sử dụng multimedia trong giảng dạy đã khắc phục được tình trạng dạy “chay” phổ biến, phụ thuộc hoàn toàn vào “chữ viết” và phương pháp “thuyết giảng” truyền thống hiện nay Phương tiện hiện đại cho phép thể hiện linh hoạt những kênh thông tin khoa học phong phú như phim khoa học, ảnh tư liệu, bản đồ, video clip minh họa, mô phỏng thực tế, những hiệu ứng động… khiến bài giảng rất hấp dẫn, sinh động và đã được học sinh, sinh viên tiếp nhận hào hứng Một lợi ích đáng kể nữa đó là tiết kiệm được thời gian giảng viên phải trình bày bảng, kẻ vẽ, treo bản đồ, mô phỏng, miêu tả…

và thời gian cho các hoạt động tương tác có được nhiều hơn Tuy nhiên, giảng viên phải đầu tư nhiều công sức, thời gian thiết kế các slide show trình diễn Thông thường, nếu thiếu kinh nghiệm thì cũng khó tránh được tình trạng lạm dụng kỹ thuật, các hiệu ứng âm thanh, hình ảnh, font chữ, màu nền thiếu hài hoà, chưa đảm bảo tính sư phạm, kết cấu hệ thống bài giảng tản mạn hoặc thiếu thẩm mỹ nghệ thuật…

Phòng Bộ môn là một giải pháp bước đầu hết sức quan trọng trong việc ứng dụng multimedia Các khoa, các tổ bộ môn cần được lãnh đạo nhà trường đầu tư thỏa đáng về phòng ốc, thiết bị nghe, nhìn hiện đại Tối thiểu cũng phải có một máy tính nối mạng, máy chiếu (projecter), amply, loa, màn hình… Phòng Bộ môn sẽ là nơi lưu trữ, xử lý thông tin khoa học và thuyết trình, hội thảo các vấn đề khoa học Trong tương lai cần số hoá chương

3 Ở các nước tiên tiến, văn hoá nghe nhìn cũng cạnh tranh với văn hoá đọc Nền công nghiệp xuất bản sách giáo khoa cũng kìm hãm sự phát triển của giáo dục điện tử Theo kinh nghiệm Mỹ, giải pháp hợp lý và hiệu quả nhất

là kết hợp phương pháp tryền thống với hiện đại Hiện thực ảo trong giáo dục cho phép gia tăng tới 20% năng lực trí tuệ của học sinh Tuy vậy, nhân tố quan trọng nhất vẫn là thày giáo – yếu tố không máy móc nào có thể thay thế được

Trang 9

trình, giáo trình, đồng bộ cơ sở dữ liệu khoa học, đồng bộ các phương tiện thiết bị, tiến tới dạy học sử dụng mạng điện tử e-Learning với các hình thức dạy học kết hợp sử dụng mạng thông tin điện tử (mạng nội bộ hoặc internet),

sử dụng đa phương tiện để trình bày các thông tin khoa học và tổ chức các hoạt động dạy - học tương tác Ở các nước có nền giáo dục tiên tiến, mạng thông tin điện tử với giáo trình điện tử các chương trình dạy học, thư viện điện tử… đã được xây dựng như một cổng hành chính quốc gia (gateway) cho phép hoạt động dạy và học áp dụng mọi thời gian (anytime), cho mọi người (anybody), khắp nơi (anywhere) một cách thuận tiện

Cùng với công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá, ngành giáo dục-đào tạo một số tỉnh đã định hướng sẽ đưa CNTT vào ứng dụng rộng rãi trong mọi hoạt động dạy, học và quản lý của ngành trong giai đoạn 2006-2010 Xây dựng mô hình trường điện tử ở các cấp học, ngành học Các trường đều

đã có website riêng Mạng e-Learning và Internet ADSL sẽ kết nối, phủ kín tại các cơ sở ngành giáo dục-đào tạo Trước hết, các cơ sở của ngành cần hoàn thiện hạ tầng cơ sở đảm bảo tiêu chuẩn quốc tế, sử dụng được công nghệ cao và thông dụng nhất Tất cả các phòng học đều được trang bị hệ thống máy tính và màn hình (tốt nhất là bảng điện tử và màn hình plasma monitor từ 42” trở lên), trang bị hệ thống các phương tiện multimedia nghe, nhìn, nghe - nhìn với hệ thống máy chiếu Projecter, Projection monitor, laptop, hệ thống truy cập internet không dây, hệ thống thẻ từ (ID card), hệ thống camera quan sát phục vụ quản lý và giảng dạy… Chương trình, nội dung giảng dạy sẽ được số hoá trên mạng e-Learning, mạng nội bộ, cải tiến phương pháp, hình thức trên nền công nghệ thông tin và truyền thông; thay đổi phương thức học tập của học sinh, sinh viên như học trên mạng, học với thư viện điện tư

Hiện nay ở một số tỉnh như Đà Nẵng, tp Hồ Chí Minh, Bà Rịa-Vũng Tàu, Đồng Nai… một số trường (kể cả ngoài công lập), đã chứng tỏ năng lực hội nhập trong lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông đã đầu tư hàng trăm máy tính nối mạng với mạng cục bộ hỗn hợp tốc độ 1 Gbps và 100 Mbps đường truyền ADSL Có trường đã thiết lập webserver riêng với dịch vụ DNS động qua băng thông ADSL và các mailserver sử dụng phần mềm Kerio của Mozilla… Tất cả các tác nghiệp quản lý, giảng dạy đã được thực thi với những cơ sở dữ liệu chính xác

Phương pháp dự án (project method & project-based learning) là một phương pháp mới Thực chất dạy học theo dự án đã được áp dụng trong các hình thức hướng dẫn sinh viên làm tiểu luận hoặc khoá luận, luận án tốt nghiệp từ trước đến nay Vấn đề mới ở đây là có thể vận dụng phương pháp dạy học theo dự án trong mọi học phần, mọi phân môn của chương trình đào tạo

Trang 10

Dạy học theo dự án là một hình thức dạy học hiện đại Đây là một phương pháp vận dụng thuyết tự lập và là cách sinh viên tự học tốt nhất Dự

án là một nhiệm vụ học tập phức hợp nhằm giải quyết một nội dung, một vấn đề quan trọng hay một giai đoạn lịch sử Với sự hướng dẫn của giảng viên, sinh viên sẽ tự lực gắn lý luận với thực tiễn, kết hợp lý thuyết với thực hành, tự lực lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá kết quả công việc Hình thức chủ yếu là làm việc theo nhóm, kết quả dự án sẽ là những sản phẩm hành động (có thể là một đề tài, một chương trình lịch sử được số hoá hay là những sơ đồ, biểu đồ, sa bàn lịch sử… ) có thể giới thiệu, trình diễn được

Về phương pháp kiểm tra, đánh giá:

Thông thường, các hình thức thi, kiểm tra, đánh giá như hiện nay sẽ quyết định cách học, cách dạy theo kiểu truyền thụ một chiều Để đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá cần tiến hành từng bước theo cách dạy tích cực Hiện tại vẫn phải duy trì các hình thức bài kiem tra như: kiểm tra viết gồm bài tự luận, bài tập nhận thức, kiểm tra vấn đáp và gần đây, thêm hình thức thi trắc nghiệm khách quan…

Dù áp dụng hình thức kiểm tra, đánh giá nào khi ra đề cũng phải chú ý đề

ra các mục đích, yêu cầu cụ thể như:

- Kiểm tra cả quá trình và kết quả học tập các học phần lịch sử

- Kiểm tra nhằm phát hiện lỗi để sửa chữa hơn là để xếp loại sinh viên

- Kiểm tra sự giải thích và ứng dụng khái niệm khoa học, kiến thức lịch

sử hơn là nhớ lại khái niệm, sự kiện lịch sử

- Kiểm tra và đánh giá để mở ra một qui trình dạy học mới chứ không chỉ kết thúc một qui trình dạy học đã thực hiện và cũng là một hình thức tự học của sinh viên

- Hướng đến tự kiểm tra và tự đánh giá của sinh viên

Ngân hàng đề thi : Các khoa hoặc phòng Đào tạo nên xây dựng nhiều bộ

đề thi cho các môn học hoặc học phần Khi thi học kỳ, Phòng Đào tạo sẽ chọn các bộ đề ngẫu nhiên để đảm bảo tính khách quan trong đánh giá kết quả giảng dạy, học tập

Đề thi tự luận nên thêm nhiều dạng “đề mở”, sinh viên được sử dụng tài liệu, giáo trình làm bài nhưng với những yêu cầu cao về mục tiêu đào tạo, phù hợp về định lượng, định tính kiến thức, thời lượng làm bài Đặc biệt là đánh giá được khả năng sáng tạo trong diễn đạt, trình bày và nhất là khả năng khái quát tổng hợp theo từng vấn đề, từng chuyên đề lịch sử Sinh viên không chỉ nắm được những nội dung đơn lẻ của sự kiện, khái niệm mà nắm được toàn cục của các vấn đề lịch sử Biểu điểm chấm nên cấu trúc theo mặt bằng chung về chất lượng học tập và có những yêu cầu cao về nội dung phân loại

Ví dụ về một dạng “đề mở” (thời gian 90’):

Trang 11

“Đảng ta ra đời là sự kết hợp giữa ba yếu tố: chủ nghĩa Mác-Lênin, phong trào yêu nước và phong trào công nhân Việt Nam

Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc là hiện thân của sự kết hợp đó và là người thực hiện sự kết hợp đó trong thực tiễn cách mạng Việt Nam.”

Bằng những sự kiện lịch sử từ 1911 đến 1930 anh (hay chị) hãy chứng minh nhận định trên

Kiểm tra bằng phương pháp “trắc nghiệm khách quan”:

- Trắc nghiệm là một dạng trong nhiều dạng đặc biệt của đánh giá Một bài trắc nghiệm thường bao gồm tập hợp các câu hỏi được đặt ra cho tất cả các học sinh làm trong một khoảng thời gian cố định với một số điều kiện tương đối nào đó

- Câu hỏi trắc nghiệm khách quan có yêu cầu rất cao đối với việc xây dựng 1 bộ đề với các thể loại đơn tuyến, song tuyến và đa tuyến Câu hỏi phải đầu tư nhiều thời gian và công sức nhưng cần tránh các câu quá đơn giản hoặc quá dài, phức tạp Tránh các câu phát biểu có hai ý tưởng, trừ phi

đo lường khả năng sinh viên nhận ra mối quan hệ nhân quả của sự vật, hiện tượng

- Số lượng, độ khó của các câu hỏi và thời gian làm bài tuỳ thuộc vào yêu cầu kiểm tra đánh giá của từng học phần Kiểu nhận dạng câu thể hiện ý kiến đúng nên dựa vào một cơ sở suy luận kiến thức thật chính xác nhưng không mang tính đánh đố hoặc chỉ kiểm tra sự ghi nhớ máy móc Trong phần đáp án a, b, c, d, e… nên có khoảng 3 - 4 đáp án gần đúng, không nên

có đáp án sinh viên dễ dàng loại trừ

- Hình thức thi trắc nghiệm khách quan chỉ nên vận dụng thử nghiệm khoảng 30% trong toàn bộ chương trình các học phần các phân môn Cần hạn chế những câu hỏi chỉ kiểm tra được việc ghi nhớ con số, sự kiện hoặc những kiến thức từ chương, sách vở mà chủ yếu là kiểm tra được khả năng phân tích, suy luận, vận dụng kiến thức lịch sử vào thực tiễn Hình thức Hội thi nghiệp vụ sư phạm với việc kiểm tra kiến thức tổng hợp vận dụng trắc nghiệm khách quan là phù hợp nhất Nên tổ chức thường xuyên các hình thức show games, tạo các sân chơi trí tuệ cho sinh viên mô phỏng theo các chương trình truyền hình Việt Nam và thế giới Nếu có phòng máy tính nối mạng nên thiết kế các bộ đề có khả năng thay đổi thứ tự các câu hỏi cho từng thí sinh và thiết kế chương trình máy tính để có thể chấm bài tự động Đánh giá là một thuật ngữ chung bao gồm các qui trình đầy đủ dùng để thu thập thông tin về việc học của học sinh (chẳng hạn quan sát, xếp hạng, hay các bài kiểm tra viết) và sự hình thành các phán đoán giá trị có liên quan đến sự tiến triển của việc học tập

Trang 12

Tóm lại, trong lý luận dạy học tích cực, để hoàn thiện 4 cấu trúc hoạt động dạy học và 4 nhiệm vụ dạy học ở bậc đại học, cao đẳng thì nhà trường nhất là các hệ đào tạo sư phạm phải từng bước tự chủ hoàn thiện nội dung chương trình đào tạo, môi trường sư phạm và cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại Quan trọng hơn, giảng viên đại học, cao đẳng phải tự hoàn thiện, dám nghĩ, dám làm, năng động, sáng tạo trong từng chuyên môn của mình để trong mọi hoàn cảnh phải phấn đấu sao cho mỗi tiết học bình thường, sinh viên được hoạt động nhiều hơn, thực hành nhiều hơn, thảo luận nhiều hơn và quan trọng hơn là được suy nghĩ nhiều hơn trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập

Cuối cùng, phương châm đổi mới phương pháp dạy học chính là việc đơn giản hoá các vấn đề phức tạp Kiến thức nào cũng cần cũng quan trọng song phải chọn lọc và trở thành nhu cầu hiểu biết thực sự với từng đối tượng sinh viên Cái mới của phương pháp là dạy ít nhưng học nhiều và chuyên sâu Giảng viên phải coi sinh viên như là những đối tác và được đối thoại, đề xuất yêu cầu trong quá trình truyền thụ, tiếp nhận tri thức Sinh viên cần được giảng viên khơi gợi sự ham muốn hiểu biết khoa học và được hướng dẫn phương pháp để chiếm lĩnh tri thức - biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo

Trang 13

PHẦN II

KẾ HOẠCH ĐÀO TẠO MÔN HỌC HOẶC HỌC

PHẦN

Trang 14

- Đối tượng, chức năng, nhiệm vụ của khoa học lịch sử

- Sơ lược lịch sử, khoa học lịch sử (Việt Nam – chủ yếu và thế giới)

- Phương pháp học tập và nghiên cứu lịch sử ở CĐSP

* Về tư tưởng :

- Nhận thức đúng đắn về Lịch sử với tư cách là một khoa học, về vai trò,

ý nghĩa của môn Lịch sử trong công tác giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ

- Vận dụng sáng tạo quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào học tập, nghiên cứu và giảng dạy Lịch sử

- Xác định thái độ đúng, đổi mới phương pháp khoa học trong nghiên cứu, học tập để đạt chất lượng đào tạo cao

(5 tiết)

1 Lịch sử là một khoa học

1.1.Về khái niệm “lịch sử” và “khoa học”

1.2 Hiện thực lịch sử và nhận thức lịch sử Mối quan hệ giữa hiện thực

Trang 15

2.1 Đối tượng sử học là gì? Các quan niệm khác nhau về đối tượng sử học Đối tượng sử học Mác xít

2.2 Chức năng của sử học: Chức năng khoa học và chức năng xã hội (theo quan điểm Mác xít- Lêninnit)

2.3 Nhiệm vụ của sử học (Chủ yếu là sử học Mác xít)

2.4 Bộ môn Lịch sử ở trường Trung học cơ sở: vai trò, ý nghĩa trong đào tạo thế hệ trẻ

Chương II

SƠ LƯỢC SỰ PHÁT TRIỂN CỦA KHOA HỌC LỊCH SỬ

(4 tiết)

1 Khái quát về lịch sử sử học Việt Nam

1.1 Về bộ môn Lịch sử khoa học lịch sử: Nội dung, ý nghĩa việc học tập

1.2 Sự phát triển của sử học Việt Nam qua các giai đoạn: bối cảnh lịch sử, các quan điểm, phương pháp nghiên cứu và thành tựu sử học Việt Nam trước cách mạng, sử học Mácxít – Lêninnít Việt Nam

VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ LỊCH SỬ VÀ NHẬN THỨC

1.2 Một số quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng

Hồ Chí Minh được vận dụng vào công tác sử học

2 Tính khoa học và tính đảng trong sử học Mác-xít

2.1 Tính khoa học trong công tác sử học

Trang 16

2.2 Nguyên tắc tính đảng cộng sản trong nghiên cứu lịch sử của chúng

3.1 Phương pháp lịch sử và phương pháp logic: Nội dung và mối quan

hệ giữa hai phương pháp này trong nghiên cứu, dạy học lịch sử Những sai lầm thường gặp do vận dụng không đúng hai phương pháp này

3.2 Vận dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic trong giải quyết một số vấn đề chủ yếu trong công tác sử học Những sai lầm mắc phải khi vận dụng không đúng hai phương pháp lịch sử về logic

3.2.1 Xử lý mối quan hệ giữa tài liệu sự kiện và khái quát lý luận 3.2.2 Xử lý mối quan hệ giữa quan điểm lịch sử và quan điểm giai cấp

Chương IV PHƯƠNG PHÁP HỌC TẬP VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Ở

TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM

(5 tiết)

1 Nhiệm vụ – Yêu cầu của việc học tập Lịch sử ở trường Cao Đẳng Sư Phạm

1.1 Quan niệm về học tập Lịch sử ở trường CĐSP

1.2 Những yêu cầu đối với sinh viên CĐSP

2 Phương pháp học tập lịch sử ở CĐSP

2.1 Trên lớp

2.2 Hoạt động ngoại khóa

2.3 Kiểm tra, đánh giá

3 Phương pháp nghiên cứu khoa học đối với sinh viên CĐSP

3.1 Tiến trình nghiên cứu khoa học

3.2 Phương pháp nghiên cứu lịch sử

6 Đánh giá

Hình thức đánh giá:

- Hoạt động trong giờ học trên lớp và xêmina

- Bài tập nhỏ giữa học phần, được xem là điều kiện thi hết học phần

- Cuối học phần thi viết ( có tính đến kết quả bài tập để cộng thêm điểm)

Tiêu chí đánh giá:

- Nắm vững các khái niệm khoa học, nội dung các vấn đề cơ bản

- Thể hiện kiến thức và phương pháp trong học tập và nghiên cứu Lịch

sử

Trang 17

7 Hướng dẫn thực hiện chương trình

- Cần cung cấp kiến thức mới, tổ chức hướng dẫn sinh viên làm việc và trao đổi trên lớp

- Tổ chức xêmina sau khi học một vài chương và tổng kết 6 tiết

(Chương I + II – 2 tiết; Chương III + IV – 2 tiết; Tổng kết – 2 tiết)

- Chú ý việc vận dụng kiến thức về nhập môn sử học vào việc học tập các học phần về Lịch sử và Phương pháp dạy học Lịch sử vào làm bài tập, nghiên cứu khoa học

8 Tài liệu tham khảo

1 Lê Văn Sáu, Trương Hữu Quýnh, Phan Ngọc Liên: Nhập môn sử học, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1986

2 Phan Ngọc Liên (chủ biên), Trịnh Đình Tùng: Nhập môn sử học (Giáo trình đào tạo giáo viên Trung học cơ sở hệ Cao đẳng sư phạm), NXB Giáo dục, Hà Nội 1989

3 Viện sử học: Sử học Việt Nam trên đường phát triển, NXB Khoa học

xã hội Hà Nội,1989

4 N.A Erơphêêp: Sử học là gì? NXB Giáo dục, Hà Nội, 1981

5 Phan Ngọc Liên (chủ biên): Những vấn đề lịch sử trong tác phẩm Hồ Chí Minh, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 2000

***

PHƯƠNG PHÁP ĐÀO TẠO

Nhập môn sử học gồm phần mở đầu, 4 chương và phân bố thành 2 đơn vị học trình Mục tiêu đào tạo đặt ra mang tính quyết định cho việc thành công của cả quá trình giảng dạy, học tập và nghiên cứu các học phần, phân môn khác của toàn bộ chương trình lịch sử Đó là những kiến thức cơ sở, nền móng của khoa học lịch sử, phương pháp học tập, nghiên cứu và thái độ khoa học, tình cảm nghề nghiệp cần phải truyền thụ cho sinh viên Kế hoạch đào tạo vì thế cũng đòi hỏi phải thực sự khoa học, thiết thực và thu hút được

sự chú ý của sinh viên Kiến thức khoa học về phương pháp luận, phương pháp học tập, nghiên cứu lịch sử và thái độ, tình cảm khoa học của sinh viên

sẽ còn tiếp tục được hoàn thiện trong suốt quá trình đào tạo sau này qua nhiều học phần, phân môn

Cách dạy theo vấn đề và kết hợp các hình thức dạy học mới sẽ đáp ứng yêu cầu một cách hiệu quả nhất “Nhập môn sử học” có thể khái quát qua 3 vấn đề lớn quan hệ mật thiết với nhau:

- Kiến thức cơ bản về khoa học lịch sử

- Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về lịch

sử

Trang 18

- Phương pháp học tập và nghiên cứu khoa học lịch sử

- Vấn đề thứ nhất: “Kiến thức cơ bản về khoa học lịch sử” bao gồm phần

mở đầu, chương I và chương II Đây là sự tổng hợp của một hệ thống kiến thức của nhiều ngành học với rất nhiều khái niệm lịch sử cơ bản, những vấn

đề về lịch sử sử học và phương pháp luận sử học Nhiệm vụ giảng dạy sẽ rất nặng nề và khó hoàn tất nếu chỉ áp dụng cách dạy theo từng chương mục Ở phần này, giảng viên cần chú ý không nên quá cầu toàn trong việc giảng giải toàn bộ hệ thống các khái niệm một cách quá chi tiết hoặc những đi sâu vào những kiến thức quá trừu tượng về phương pháp luận sử học

Nhóm phương pháp thuyết trình sử dụng trong nội dung kiến thức cơ sở bao gồm các phương pháp giảng thuật, giảng giải, giảng diễn… cần phải thực hiện linh hoạt cả hai kiểu thuyết trình: thuyết trình thông báo – tái hiện (nên hạn chế) và thuyết trình đặt – giải quyết vấn đề (phương pháp chủ yếu) Thuyết trình thông báo - tái hiện, giảng giải nhằm hình thành những khái niệm cơ sở ban đầu và những kiến thức sơ giản về phương pháp luận trong nội dung chương I

Thuyết trình đặt – giải quyết vấn đề áp dụng trong nội dung chương II -

Sơ lược lịch sử phát triển của khoa học lịch sử - giảng viên sẽ không thông báo những tri thức khoa học lịch sử dưới dạng có sẵn mà phục hồi (ở mức độ nhất định) con đường mà các nhà sử học từ cổ đại đến ngày nay đã và đang trải qua để hoàn thiện khoa học lịch sử Giảng viên sẽ phải lần lượt nêu các vấn đề (ơrixtic) cơ bản và trình bày cách giải quyết vấn đề, phân tích những mâu thuẫn trong từng cách giải quyết đó và đưa ra những cách giải quyết khác hợp lý hơn, khoa học và hiệu quả hơn Giảng viên cũng có thể minh hoạ cụ thể về các quan điểm sử học cổ đại, phong kiến hay tư sản để nêu bật

sự ưu việt của quan điểm sử học mácxit

Nếu kết hợp tổ chức được những hoạt động xêmina hay thảo luận nhóm nhỏ theo những vấn đề nêu ra thì hiệu quả đạt được rất cao vì sinh viên sẽ được dẫn đắt, theo dõi quá trình phát hiện ra chân lý khoa học và có được cảm xúc thực sự của một người nghiên cứu khoa học

Ví dụ: Nêu nhận định của F Enghels: “Lịch sử loài người từ khi thành văn đến ngày nay là lịch sử đấu tranh giai cấp” hoặc đánh giá về khoa học lịch sử “Trong tất cả các khoa học, chúng tôi chỉ công nhận có một khoa học

đó là khoa học lịch sử” Như vậy, với sự hướng dẫn của giảng viên, sinh viên sẽ phải vận dụng những tri thức về khảo cổ học, khoa học tự nhiên, lịch

sử, triết học… để chứng minh lịch sử là khoa học của mọi khoa học

Chú ý: những nội dung về phương pháp luận hay những khái niệm phức tạp (như hình thái kinh tế – xã hội, ý thức hệ, chủ nghĩa duy vật lịch sử,

Trang 19

phương thức sản xuất …) sẽ được sinh viên sư phạm đặc biệt quan tâm, giảng viên cần sử dụng những thuật ngữ quen thuộc, giải thích thật kỹ những thuật ngữ mới, khái niệm mới Chính những vấn đề, những nội dung lịch sử phức tạp hoặc những kiến thức mang tính hàn lâm, kinh điển, những quy luật lịch sử, cấu trúc vấn đề, mối lin hệ giữa sự kiện, hiện tượng lịch sử, các kết luận khoa học mà sinh viên tự chiếm lĩnh, nắm bắt được lại đem đến sự say mê, hứng thú trong học tập Đó chính là chìa khoá mở ra nguồn gốc mọi hiện tượng lịch sử và những vấn đề lớn của lịch sử

Nội dung sinh viên tự học sẽ là những nội dung, những tiêu mục chưa có điều kiện đi sâu phân tích và khả năng sinh viên có thể vận dụng kiến thức

đã học để tự tìm hiểu, giải quyết Giảng viên cần hướng dẫn phương pháp nghiên cứu và thông qua bài tập nhận thức để đánh giá, cho điểm điều kiện thi hết học phần

- Vấn đề thứ hai: Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong

cơ sở nhận thức lịch sử và vận dụng nghiên cứu, học tập lịch sử Đây là nội dung trọng tâm của toàn bộ học phần “Nhập môn sử học” Chủ nghĩa duy vật lịch sử và tư tưởng Hồ Chí Minh sẽ là kim chỉ nam cho mọi chương trình phân môn của khoa học lịch sử

Phương pháp thuyết trình đặt – giải quyết vấn đề sẽ là giải pháp chủ yếu

để trình bày các luận cứ lịch sử: Giảng viên cần chứng minh chủ nghĩa Lênin là sự phát triển đỉnh cao của khoa học xã hội và đề ra phương pháp khoa học nhất để nghiên cứu, học tập lịch sử; Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự tiếp thu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam và tình hình thế giới Tư tưởng Hồ Chí Minh còn

Mác-là cơ sở phương pháp luận của khoa học xã hội với những đặc trưng mới đó

là sự kết hợp tài tình chủ nghĩa duy vật lịch sử với những nhân tố duy vật và biện chứng của triết học phương Đông, kết hợp hài hoà giữa các nhân tố hiện đại và truyền thống

Nội dung những quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh được vận dụng vào nghiên cứu, học tập lịch sử (Sẽ cụ thể hoá trong phần hướng dẫn phương pháp học tập, nghiên cứu lịch sử)4

Giải quyết vấn đề lịch sử xã hội loài người là lịch sử của các phương thức sản xuất và là lịch sử đấu tranh giai cấp, giảng viên nên dùng phương pháp sơ đồ hoá các vấn đề lịch sử để trình bày quá trình phát triển của lịch

sử qua 5 hình thái kinh tế – xã hội Hệ thống các sơ đồ đơn giản nhưng chứa đựng hàm lượng tri thức cao sẽ giúp sinh viên có khả năng hệ thống, khái quát các vấn đề lịch sử và rèn luyện các kĩ năng tư duy lịch sử

4 Tham khảo “Những vấn đề lịch sử trong tác phẩm Hồ Chí Minh”- Gs Phan Ngọc Liên - NXB Đại học Quốc gia Hà Nội – 2006

Trang 20

Vấn đề nêu ra để giải quyết là một nội dung tổng hợp và có thể tổ chức xêmina theo từng nhóm vấn đề như sau:

“Nội dung học thuyết về hình thái kinh tế – xã hội của chủ nghĩa Lênin Ý nghĩa của nó đối với việc nhận thức các thời kì lịch sử Dẫn chứng

Mác-cụ thể về phần chương trình lịch sử thế giới, lịch sử Việt Nam đang học”

Với slideshow sơ đồ trên, giảng viên sử dụng những hiệu ứng về kênh chữ, kênh hình, hoặc click vào các biểu tượng (icon) liên kết (hyperlink) tìm đến các trang tư liệu khác để dẫn dắt sinh viên chứng minh các quan điểm cơ bản: lịch sử xã hội là lịch sử sản xuất, lịch sử của các hình thái kinh tế xã hội

kế tiếp nhau và lịch sử đấu tranh giai cấp Lịch sử diễn ra theo quy luật thông qua các hoạt động của con người Vai trò quần chúng và cá nhân trong lịch sử…

Hệ thống các sơ đồ có thể thiết kế theo logic, trình tự phát triển của lịch sử:

Ví dụ: Khái quát các nội dung cơ bản hai mô hình xã hội cổ đại phương Đông và phương Tây Giảng viên có thể dựa vào sơ đồ phân tích mối quan

hệ qua lại giữa các vấn đề để làm rõ tính hệ thống của chúng và cũng dễ dàng làm nổi rõ sự khác biệt giữa hai mô hình này về nền tảng kinh tế, thể chế chính trị và cơ cấu xã hội:

Trang 21

Các hình thái kinh tế – xã hội tiếp theo sẽ là sự phát triển của kinh tế

(nền sản xuất, quan hệ sản xuất ) chi phối sự phát triển của chính trị, văn

hoá, xã hội Giảng viên sẽ hướng dẫn sinh viên thiết kế các sơ đồ về hình

thái kinh tế – xã hội phong kiến, tư bản chủ nghĩa, chủ nghĩa tư bản hiện

đại…

Trang 22

Dạng sơ đồ này cũng có thể giải quyết những vấn đề lịch sử trừu tượng, phức tạp khác như cơ sở hình thành phong trào văn hoá phục hưng:

Trang 23

Hoặc trình bày về nguyên lý cách mạng vô sản:

Trang 24

- Vấn đề thứ ba: “Vận dụng lý luận trong học tập, nghiên cứu khoa học lịch sử”

Đây chính là mục đích và yêu cầu chủ yếu của học phần “Nhập môn sử học” Sau khi giới thiệu khái quát toàn bộ chương IV, giảng viên xây dựng cho sinh viên kế hoạch tự học thông qua một số dự án nhỏ và các bài tập nhận thức với các yêu cầu cụ thể:

+ Trình bày có hệ thống các khái niệm khoa học, nội dung các vấn đề

cơ bản của phương pháp học tập và nghiên cứu khoa học lịch sử

+ Vận dụng kiến thức và phương pháp trong học tập và nghiên cứu lịch

sử

Nhận xét, đánh giá các bài tập nhận thức và tổng kết, giảng viên cần nhấn mạnh nội dung về rèn luyện năng lực tự học, năng lực dạy học của sinh viên sau này và đặc biệt khả năng biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo

- Trang bị cho người học một số khái niệm về các phương pháp nghiên cứu cơ bản của khảo cổ học nhằm góp phần hình thành các kỹ năng thực hành trong nghiên cứu lịch sử, nhất là phần lịch sử địa phương

- Trang bị cho giáo sinh những kiến thức cơ bản liên quan đến dạy học các khóa trình Lịch sử ở trường THCS

* Về tư tưởng:

Bồi dưỡng cho sinh viên ý thức trân trọng, bảo vệ các di vật khảo cổ

* Về kỹ năng:

Bồi dưỡng các kỹ năng xem xét, phân loại, vẽ lại các hiện vật khảo cổ:

kỹ năng sử dụng các tài liệu khảo cổ học để học tập, giảng dạy ở THCS và nghiên cứu lịch sử

5 Chương trình chi tiết:

PHẦN I: ĐẠI CƯƠNG

Trang 25

Chương I DẪN LUẬN

(3 tiết)

1 Điều tra và khai quật khảo cổ

2 Các phương pháp nghiên cứu ở trong phòng:

- Hệ thống niên đại tương đối và niên đại tuyệt đối; Các phương pháp xác định niên đại tương đối và niên đại tuyệt đối của khảo cổ học

- Các phương pháp nghiên cứu khác

Chương IV NGUỒN GỐC LOÀI NGƯỜI

(2 tiết)

1 Những bằng chứng khoa học về bằng chứng loài người

2 Động lực của quá trình chuyển biến từ vượn thành người

3 Vấn đề cái nòi của loài người

PHẦN II: CÁC THỜI ĐẠI KHẢO CỔ

Chương V THỜI ĐẠI ĐỒ ĐÁ CŨ

(4 tiết)

1 Khái niệm các thời đại khảo cổ và niên đại

2 Các giai đoạn phát triển của thời đại đồ đá cũ và đặc điểm mỗi giai đoạn

3 Thời đại đồ đá cũ ở Việt Nam

Chương VI

Trang 26

THỜI ĐẠI ĐỒ ĐÁ GIỮA

(3 tiết)

1 Những đặc điểm chung của thời đại đồ đá giữa

2 Thời đại đồ đá giữa ở Việt Nam

Chương VII THỜI ĐẠI ĐỒ ĐÁ MỚI

(3 tiết)

1 Những đặc điểm chung của thời đại đồ đá mới

2 Thời đại đồ đá mới ở Việt Nam

Chương VIII THỜI ĐẠI KIM KHÍ

(4 tiết)

1 Những đặc điểm chung của thời đại đồ đá – đồng

2 Những đặc điểm của thời đại đồng thau

3 Những đặc điểm chung của thời sơ kỳ sắt

4 Thời đại kim khí ở Việt Nam Quá trình hình thành nền văn minh Việt

7 Hướng dẫn thực hiện Chương trình:

- Môn khảo cổ học đại cương chủ yếu nhằm cung cấp kiến thức bổ sung cho phần lịch sử thế giới và dân tộc hơn là bồi dưỡng kiến thức chuyên ngành

- Phần thực hành: đưa sinh viên đi tham quan bảo tàng, xem và tập vẽ một số hiện vật, tổ chức xêmina (3 lần, mỗi lần 2 tiết, 1 lần sau khi học phần

I, 1 lần sau khi học phần II và tổng kết)

8 Tài liệu tham khảo:

1 Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Diệp Đình Hoa: Cơ sở khảo cổ học, NXB Đại học và THCN, Hà Nội, 1979

Trang 27

2 F Anghen: Vai trò của lao động trong quá trình chuyển biến từ vượn

thành người Mác – Ănghen tuyển tập, tập I, NXB Sự thật, Hà Nội, 1962

3 Cô-sven: Sơ yếu lịch sử văn hóa nguyên thủy, Hà Nội, 1961

4 Hùng vương dựng nước, tập 1, 2, 3, 4, NXB Khoa học xã hội, Hà

sử dụng linh hoạt phương pháp thuyết trình kiểu thông báo - tái hiện và kết

hợp với phương pháp trực quan sinh động

Chú ý cập nhật những thành tựu mới nhất về khảo cổ học thế giới và Việt

Nam Ví dụ những phát hiện gần đây về nguồn gốc loài người với những di

cốt hoá thạch xa hơn nhiều triệu năm, sự phát lộ của di tích hoàng thành

Thăng Long gần đây hay những di chỉ lịch sử, văn hoá ở Việt Nam đã được

Unesco công nhận là di sản thế giới Một số di tích khác đang được đề nghị

Unesco công nhận…

Nếu có điều kiện nên thiết kế các slide shows trình chiếu một cách hệ

thống quá trình phát triển và những thành tựu chủ yếu của ngành khảo cổ

học từ trước đến nay

Nội dung trình diễn nhằm cung cấp cho sinh viên một số kiến thức cơ

bản về khảo cổ học để minh họa và bổ sung cho những kiến thức về lịch sử

thế giới và lịch sử dân tộc, đặc biệt phần về xã hội nguyên thủy và cổ đại

đang học

Chú ý liên hệ với những di chỉ khảo cổ học trong nước, ở địa phương

và giáo dục tư tưởng, tình cảm, thái độ khoa học cho sinh viên Ví dụ nền

Trang 28

văn hoá đá cuội Hoà Bình (đá mới) là nguồn gốc và có ảnh hưởng sâu rộng đến các nền văn hoá nguyên thủy của nhiều quốc gia khu vực Đông Nam Á

Nếu có những di chỉ khảo cổ ở địa phương nên tổ chức tham quan, vận dụng kiến thức để khảo sát nghiên cứu và làm bài tập nhận thức đánh giá cho điểm giữa học phần

Trang 29

Về nội dung thực hành, ngoài việc tập vẽ hiện vật, mô phỏng phục dựng hiện vật, mô hình, đắp sa bàn… cần tập cho sinh viên khả năng khái quát tổng hợp hoặc giới thiệu được những nét tiêu biểu của một di chỉ, di tích lịch

sử, văn hoá cụ thể

Ví dụ: Sau khi giới thiệu khái quát về khu di tích Đền Hùng, giảng viên hướng dẫn sinh viên làm bài tập nhận thức đánh giá về một di chỉ lịch sử và văn hoá tiêu biểu của Việt Nam:

Khu di tích Đền Hùng thể hiện sinh động bề dày lịch sử dân tộc Việt Nam từ huyền thoại đến thực tiễn Đó là biểu tượng của tinh thần đại đoàn kết dân tộc Việt Nam Những di tích, hiện vật ở đây rất phong phú giàu chất huyền thoại và dấu ấn lịch sử đã khái quát hoá truyền thống và tinh thần dân tộc làm nên sức mạnh Việt Nam

Truyền thuyết về giai đoạn hồng hoang như Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Au Cơ và 18 đời Vua Hùng… trong lịch sử 4 nghìn năm dựng nước và giữ nước của các thế hệ con Rồng, cháu Tiên đã nói lên cội nguồn của truyền thống lịch sử và bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam

Trang 30

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có tầm nhìn chiến lược khi Người đề cao

truyền thống uống nước nhớ nguồn, khơi dậy sức mạnh của cả dân tộc để

vượt qua những năm tháng khó khăn nhất bằng lời dặn dò thật giản dị mà vô

cùng thấm thía: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải

cùng nhau giữ lấy nước”

Vượt lên cả truyền thuyết và thời gian, Đền Hùng ngày nay tiếp tục là

biểu tượng của tinh thần đại đoàn kết, là cảm hứng nghệ thuật và niềm tự

hào của dân tộc Việt Nam

- Mục tiêu lâu dài của khảo cổ học là hình thành những khái niệm về

các phương pháp nghiên cứu cơ bản của khảo cổ học nhằm góp phần hình

thành các kỹ năng thực hành trong nghiên cứu lịch sử, nhất là phần lịch sử

địa phương

- Mục tiêu trước mắt, trang bị cho giáo sinh những kiến thức cơ bản,

thiết thực liên quan đến dạy học các khóa trình Lịch sử ở trường THCS

Qua đồng Nhà sàn Lưỡi cày

đồng

Sa bàn Điện Biên phủ Lễ hội thời Hùng Vương Thạp

đồng Đào Thịnh

1 Tên học phần :

Trang 31

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LỊCH SỬ XÃ HỘI NGUYÊN THỦY

1 Sự xuất hiện loài người và đời sống bầy người nguyên thủy

1.1 Nguồn gốc loài người

1.2 Đời sống của bầy người nguyên thủy

2 Sự hình thành và phát triển của công xã thị tộc mẫu hệ

2.1 Sự hình thành công xã thị tộc mẫu hệ

2.2 Đời sống của con người thời công xã thị tộc mẫu hệ

3 Sự tan rã của chế độ công xã nguyên thủy

3.1 Sự xuất hiện kim loại và sự phát triển của sản xuất

3.2 Sự hình thành công xã thị tộc phụ hệ

3.3 Sự xuất hiện chế độ tư hữu và xã hội có giai cấp

Trang 32

Chương II

XÃ HỘI CỔ ĐẠI PHƯƠNG ĐÔNG VÀ PHƯƠNG TÂY

(6 tiết)

1 Xã hội cổ đại phương Đông

1.1 Điều kiện tự nhiên và nền tảng kinh tế

1.2 Cơ cấu xã hội của xã hội cổ đại phương Đông

1.3 Nhà nước chuyên chế cổ đại phương Đông

1.4 Văn hóa cổ đại phương Đông

2 Xã hội cổ đại phương Đông

2.1 Điều kiện tự nhiên và nền tảng kinh tế

2.2 Cơ cấu xã hội của xã hội cổ đại phương Tây

2.3 Chế độ chiếm hữu nô lệ

2.4 Văn hóa cổ đại Hy Lạp và Roma

Chương III

AI CẬP CỔ ĐẠI

(4 tiết)

1 Điều kiện tự nhiên và đời sống kinh tế

1.1 Điều kiện tự nhiên và dân cư

1.2 Sự phát triển của các ngành kinh tế

2 Các giai đoạn phát triển của Nhà nước Ai Cập cổ đại

2.1 Thời Cổ Vương quốc

2.2 Thời Trung Vương quốc

2.3 Thời Tân Vương quốc

3 Nhà nước chuyên chế Ai Cập cổ đại

3.1 Cơ cấu xã hội của Ai Cập cổ đại

3.2 Nhà nước chuyên chế Ai Cập cổ đại

4 Văn hóa Ai Cập cổ đại

Trang 33

trong các giai đoạn phát triển của công xã thị tộc; đặc điểm của hai mô hình

xã hội cổ đại phương Đông, phương Tây

• Tiêu chí: Nắm vững kiến thức, biết trình bày và vận dụng kiến thức vào dạy học Lịch sử ở THCS

7 Hướng dẫn thực hiện chương trình

- Chương trình giới thiệu tiến trình phát triển chung của lịch sử xã hội loài người từ xã hội nguyên thủy sang xã hội có giai cấp và nhà nước thời cổ đại nhằm giúp cho sinh viên bước đầu nhận thức được quy luật phát sinh và phát triển của lịch sử xã hội loài người như là một quá trình lịch sử tự nhiên

Vì vậy khi thực hiện chương trình nên tập trung đi sâu vào những giai đoạn chuyển tiếp từ xã hội nguyên thủy sang xã hội có giai cấp và nhà nước và từ

xã hội cổ đại sang xã hội phong kiến… Việc làm rõ những nội dung trên đây cũng giúp cho sinh viên có cơ sở để tiếp thu tốt hơn các học phần tiếp sau:

“Các quốc gia phong kiến phương Đông và phương Tây”

- Chương trình giành một lượng thời gian đáng kể để giới thiệu về hai

mô hình xã hội cổ đại phương Đông và phương Tây Đây là những nội dung

có liên quan trực tiếp tới chương trình lịch sử lớp 6, vì vậy phần này cũng là nội dung trọng tâm của chương trình Khi giới thiệu về hai mô hình xã hội

cổ đại, cần đặc biệt chú ý tới mối quan hệ qua lại giữa các sự kiện, các mục

để làm rõ tính hệ thống của chúng Đồng thời cũng cần làm nổi rõ sự khác biệt giữa hai mô hình này về nền tảng kinh tế, thể chế chính trị và cơ cấu xã hội

- Chương III: Giới thiệu một số quốc gia tiêu biểu Ai Cập cổ đại để sinh viên làm quen dần và sẽ được nghiên cứu đầy đủ hơn các quốc gia khác tương tự khi có điều kiện học lên đại học

- Về xêmina (2 tiết) thảo luận và nắm được những nội dung cơ bản về những đặc điểm của hai mô hình xã hội cổ đại phương Đông và phương Tây

- Hướng dẫn học sinh sử dụng kiến thức đang học để dạy ở THCS

8 Tài liệu tham khảo:

1 Lương Ninh (chủ biên): Lịch sử thế giới cổ đại NXB Giáo dục, HN,

1998

2 Chiêm Tế: Lịch sử thế giới cổ đại, NXB Giáo dục, HN, 1978

3 Trịnh Nhu, Nguyễn Gia Phu: Đại cương lịch sử thế giới cổ đại, Tập

Trang 34

6 Đổng Tập Minh: Sơ lược lịch sử Trung Quốc, NXB Ngoại Văn, Bắc Kinh, 1963 (Bản dịch tiếng Việt)

- Những nhân tố chuyển hoá từ vượn người thành người vượn?

- Những nhân tố nào tác động đến sự chuyển biến của xã hội loài người

từ thời kỳ bầy người nguyên thủy sang công xã thị tộc?

- Vai trò công cụ kim loại và sự phát triển sản xuất dẫn đến sự tan rã của công xã nguyên thủy và sự ra đời xã hội có giai cấp, nhà nước thời cổ đại đã diễn ra như thế nào?

- So sánh hai mô hình xã hội cổ đại phương Đông và xã hội cổ đại phương Tây

Giảng dạy giai đoạn lịch sử này cần sử dụng hệ thống sơ đồ và kênh hình tư liệu để hệ thống khái quát các vấn đề lịch sử, khắc sâu kiến thức cơ bản và hình thành các khái niệm, rèn luyện kỹ năng tư duy theo phương pháp luận sử học mácxít Đó có thể là các sơ đồ theo dạng biên niên (timelines), các sơ đồ mang tính quy luật của sự phát triển lịch sử và kết hợp với hệ thống các kênh hình minh họa phong phú

Trang 37

Các dạng sơ đồ đơn giản về phương pháp luận giúp sinh viên tự học tự nghiên cứu và tự tìm ra cách giải quyết các vấn đề lịch sử như giai đoạn chuyển tiếp từ xã hội nguyên thủy sang xã hội có giai cấp và nhà nước và từ

xã hội cổ đại sang xã hội phong kiến… Việc làm rõ những nội dung trên đây cũng giúp cho sinh viên có cơ sở để tiep thu tốt hơn các học phần: “Các quốc gia phong kiến phương Đông và phương Tây”

Từ quy luật về sự phát triển kinh tế quyết định, chi phối các vấn đề về chính trị, văn hoá, xã hội cần hình thành cho sinh viên các dạng sơ đồ biểu

đồ khác nhau về sự phát triển của các hình thái kinh tế-xã hội từ CXNT đến CHNL, chế độ phong kiến phương Đông và phương Tây

Ví dụ: Về sự phát triển của công xã nguyên thủy có thể lập bảng so sánh giữa 2 thời kỳ

Trang 38

-Phương thức sống:

- Săn bắt, hái lượm

- An lông, ở lỗ Dã man

- Công cụ đá cũ, kỹ thuật ghè đẽo chế tác thô sơ

- Phụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên

- Săn bắn, hái lượm Đá giữa, cách mạng đá mới Kỹ thuật mài, đục lỗ - Công cụ có 2 bộ phận Kim loại xuất hiện (3500 Tr.CN)

- Chăn nuôi, trồng trọt, thủ công nghiệp, trao đổi, buôn bán sơ khai

- Tổ chức xã hội :

- Bầy: 20-30 sống trong hang Không bền vững Mang tính bản năng

- Hôn nhân tạp giao

- Phân công lao động

sơ khai giữa đàn ông, đàn bà

- Công xã thị tộc: Hàng trăm người, đồng huyết, định cư

- Hôn nhân quần hôn – từng đôi một - hôn nhân một vợ một chồng

- Xuất hiện công xã nông thôn

- Phân công lao động xã hội lớn

- Văn hoá:

Chưa có ý thức và ý niệm văn hoá

Tín ngưỡng, tôn giáo (tô tem, vật tổ) và nghệ thuật sơ khai (hình vẽ, nhảy múa)- ngưỡng cửa văn minh

ở Việt Nam và thế giới:

Trang 39

Sinh hoảt cuía con ngỉìi nguyn thuíy vaì nưn vn hoạ í thìi kyì hu kyì ư ạ cuỵ, cuc cạch mảng kyỵ thut í thìi ải ư ạ mi, vn minh í thìi ải kim loải (ưng vaì st) trn th gii vaì í Vit Nam

- Khại quạt nưn vn minh nguyn thuíy th gii:

(Lch sỉí nhn loải 570 triu nm trỉc)

+ Chu kyì 16 tyí nm vuỵ trủ giaỵn ní mt lưn.4.600 triu nm vuỵ trủ xut hin qua vủ n “Big Bang” Sỉ sng trn trại t bt ưu xut hin

Cạch y 600 triu nm sỉ sng ng vt xut hin dỉi bin tỉì on baìo, a baìo n t baìo

+ 40.000 - 5000 nm Tr.CN ngỉìi nguyn thuíy xut hin í ng Phi 40.000 nm nh cỉ í Uc, 13.000 nm n Bc Myỵ qua eo B ring ìi sng: Sn bn hại lỉm

- Quạ trçnh phạt trin:

Hu kyì ư ạ cuỵ - nin ải 40.000 - 5.000 trCN:

Ngỉìi Homo Sapiens xut hin í chu u vaì chu Phi cạch y 500.000 nm Í chu u tin hoạ thaình ngỉìi Neanderthal Loaìi ngỉìi phn tạn rng raỵi

Hçnh thỉc sng chuí yu laì sn bn hại lỉm Bit ch tảo cng củ bịng ạ th s: rçu khng cạn, nảo vaì muỵi lao

Bit duìng lỉía ch ngỉ lỉía vaì bit tảo ra lỉía laì mt tin b quan trong trong quạ trçnh tin hoạ Cui thìi kyì bng haì trçnh sn bn cao: cạn lao bịng g tng tưm phọng vaì m xuyn sn voi Mamut (Siberi, Nam Phi, Ai Cp, Nht Phạp, Ba tỉ, Alaska, Canada)

10.000 nm bt ưu gieo trưng

Bng haì kt thục, nản hưng thuíy thay i kh hu Samảc trí nn maìu mỵ, Con ngỉìi bit thuưn dỉỵng sục vt vaì gieo trưng trn nỉng ry Chuí ng nguưn thỉc n (tỉì Th n bì ng a Trung Haíi Tỉ Mesopotamia n daỵy Zagros Ba Tỉ 9.000 nm xut hin cạc nng trang & bit dỉ trỉỵ thỉc n

6.000 nm thaình ph ưu tin xut hin í ty Ạ.(Th Nh kyì)

ư ạ mi - nin ải 5000 - 3500 nm:

Bit ch tảo sỉí dủng cng củ kim loải (Cu, Fe)

Phạt trin chn nui, trưng trot ìi sng aím baío Vai troì phủ nỉỵ laìm chuí gia çnh, cng ưng

Sỉ phn cng lao ng ln Ch th tc mu h tan rã, Cng xaỵ th tc phủ h ra i

+ 5.000-1200 nm nưn vn minh ưu tin í Ai Cp trn sng Nil: Kim tỉ thạp, h thng chnh tr, sỉ tin hoạ cuía chỉỵ vit tỉng hçnh, kyỵ thut ư ưng Tải Sahara Bc Phi nghư chn nui trưng trot phạt trin

- Vn hoạ nguyn thuíy í Vit Nam

* Thìi ải ư ạ cuỵ:

+ Ngỉìi vỉn Vit Nam Di tch nụi o (30 vản nm trỉc y) ư ạ cuỵ (Dc M- Nai)

+ Vn hoạ Cuì Lao Ruìa (lỉu vỉc sng ưng Nai)

ư ạ mi, ư ưng , st sm 5.000 - 3500 (Bçnh a- Bin Hoaì nai)(aìn ạ Ba 24 thanh ạ Chu Thi hồc Bỉíu Long ch tạc th s nhỉng cọ m theo “fa”chun)

Cui ạ mi, ưng vaì st sm tỉng ỉng thìi ải Huìng Vỉng

* Thìi bt ưu dỉng nỉc Vua Huìng dỉng nỉc(2.500 - 2.000 trCN)

+ 15 b tc nguìi Vit c lỉu vỉc sng Hưng, sng Maỵ B tc Vn Lang thng nht cng ưng thaình quc gia Vn Lang.(4.000 hay 3000 nm?)

Nưn vn minh “lụa nỉc” vaì vn hoạ “nhaì saìn”

Trang phủc: aìn ng ọng kh cíi trưn, ưu git lng chim aìn baì mc vạy

Phong tủc: Thì cụng t tin, anh huìng dn tc Tn giạo s khai

Nhum rng, n trưu vaì xm mçnh Hçnh thaình & nh hçnh baín sc vn hoạ dn tc tỉì thìi Huìng Vỉng thỉ VI

Trang 40

aỵ sỉí dủng cng củ bịng ưng vaì st Cạc nghư laìm gm, ục ưng, trưng du nui tịm, dt vaíi,

an lỉi, ạnh cạ

Cạc di ch vn hoạ chuí yu:

+ Vn hoạ Phuìng Nguyn (nỉía ưu thin nin kyí thỉ hai tr.CN)

+ Vn hoạ ưng u (nỉía sau thin nin kyí thỉ hai tr.CN)

+ Vn hoạ Goì Mun (cui TNK thỉ hai ưu TNK thỉ nht tr.CN)

+ Vn hoạ ng Sn (TNK 1 trCN) Trng ưng Ngoc Luỵ Minh hoả kyỵ thut ục vaì ch tạc ưng

m thanh Y ngha cạc hoa tit, hoa vn trn mt trng

+ An Dỉng Vỉng - nỉc u Lảc nỉía sau th kyí III tr.CN Khạng chin chng Tưn.Khạng chin chng Triu aì Tht bải 179 tr.CN

Nhỉỵng truyưn thuyt vư nguưn gc dn tc, truyưn thng vaì baín sc vn hoạ dn tc:

Truyn trm trỉng, Sn tinh-Thuíy tinh, Thạnh Giọng, Bạnh Chỉng bạnh Daìy, Trưu Cau, Quaí dỉa oí, Loa thaình, Noí thưn- Khai thạc y ngha, baìi hoc lch sỉí vaì nhỉỵng thng ip khạc vư truyưn thng lch sỉí vaì baín sc vn hoạ dn tc

Giaíi thch khại nim baín sc vn hoạ dn tc Lin h ngaìy nay

Ngày đăng: 21/12/2013, 21:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan Ngọc Liên, Trần Văn Trị (chủ biên): Phương pháp dạy học lịch sử, NXB Giáo dục Hà Nội 1992 Khác
2. Phan Ngọc Liên, Nguyễn Phan Quang, Trần Văn Trị, Công tác ngoại khóa thực hành bộ môn lịch sử ở trường phổ thông, NXB Giáo dục, Hà Nội 1968 Khác
3. Gây hứng thú trong học tập lịch sử, NXB Giáo dục, Hà Nội 1983 Khác
4. Trương Hữu Quýnh, Phan Ngọc Liên, Nguyễn Cảnh Minh… Lịch sử địa phương, NXB Giáo dục, Hà Nội 1989 Khác
5. Đỗ Hồng Thái, nghiên cứu và dạy học lịch sử địa phương ở Việt Bắc, ĐHQG, Hà Nội 1996.*** Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

“Nội dung học thuyết về hình thái kinh tế –xã hội của chủ nghĩa Mác- Mác-Lênin. Ý nghĩa của nó đối với việc nhận thức các thời kì lịch sử - Tài liệu Kế hoạch đào tạo ngành Lịch sử doc
i dung học thuyết về hình thái kinh tế –xã hội của chủ nghĩa Mác- Mác-Lênin. Ý nghĩa của nó đối với việc nhận thức các thời kì lịch sử (Trang 20)
Các hình thái kinh tế –xã hội tiếp theo sẽ là sự phát triển của kinh tế (nền sản xuất, quan hệ sản xuất ) chi phối sự phát triển của chính trị , v ă n  hoá, xã hội - Tài liệu Kế hoạch đào tạo ngành Lịch sử doc
c hình thái kinh tế –xã hội tiếp theo sẽ là sự phát triển của kinh tế (nền sản xuất, quan hệ sản xuất ) chi phối sự phát triển của chính trị , v ă n hoá, xã hội (Trang 21)
-M ục tiêu lâu dài của khảo cổ học là hình thành những khái niệm về các phương pháp nghiên cứu cơ bản của khảo cổ học nhằm góp phầ n hình  thành các kỹ năng thực hành trong nghiên cứu lịch sử, nhất là phần lịch sử địa phương - Tài liệu Kế hoạch đào tạo ngành Lịch sử doc
c tiêu lâu dài của khảo cổ học là hình thành những khái niệm về các phương pháp nghiên cứu cơ bản của khảo cổ học nhằm góp phầ n hình thành các kỹ năng thực hành trong nghiên cứu lịch sử, nhất là phần lịch sử địa phương (Trang 30)
Ví dụ: Về sự phát triển của công xã nguyên thủy có thể lập bảng so sánh giữa 2 thời kỳ - Tài liệu Kế hoạch đào tạo ngành Lịch sử doc
d ụ: Về sự phát triển của công xã nguyên thủy có thể lập bảng so sánh giữa 2 thời kỳ (Trang 37)
Với việc nghiên cứu lịch sử về các quốc gia điển hình nên định hình cho sinh viên phương pháp tư duy logic về mối liên hệ giữa các vấn đề , các s ự kiện, hiện tượng lịch sử - Tài liệu Kế hoạch đào tạo ngành Lịch sử doc
i việc nghiên cứu lịch sử về các quốc gia điển hình nên định hình cho sinh viên phương pháp tư duy logic về mối liên hệ giữa các vấn đề , các s ự kiện, hiện tượng lịch sử (Trang 41)
+ Chủ nghĩa Truman: nguy cơ cộng sản, sứ mệnh của Mỹ, hình thành liên minh chống cộng - Tài liệu Kế hoạch đào tạo ngành Lịch sử doc
h ủ nghĩa Truman: nguy cơ cộng sản, sứ mệnh của Mỹ, hình thành liên minh chống cộng (Trang 112)
MÔ HÌNH GIÁO DỤC (theo UNESCO, 1998) - Tài liệu Kế hoạch đào tạo ngành Lịch sử doc
theo UNESCO, 1998) (Trang 180)
Nắm bắt kiến thức, hình thành kĩ năng xử lí kiến thức  trong bài học và phát triển ở tầm mức cao hơn là kiến  thức tổng hợp trong cuộc  sống - Tài liệu Kế hoạch đào tạo ngành Lịch sử doc
m bắt kiến thức, hình thành kĩ năng xử lí kiến thức trong bài học và phát triển ở tầm mức cao hơn là kiến thức tổng hợp trong cuộc sống (Trang 183)
HAI MÔ HÌNH DẠY HỌC - Tài liệu Kế hoạch đào tạo ngành Lịch sử doc
HAI MÔ HÌNH DẠY HỌC (Trang 184)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w