Mục tiêu của đề tài cho thấy giữa thực tiễn quản trị nguồn nhân lực và kết quả hoạt động doanh nghiệp có mối quan hệ thuận chiều, điều này có nghĩa rằng việc thực hành quản trị nguồn nhân lực tốt sẽ làm tăng kết quả hoạt động cho các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn tỉnh Bình Thuận nói riêng. Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1MỐI QUAN HỆ GIỮA THỰC TIỄN QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC
VÀ KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP DU LỊCH
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH THUẬN RELATIONSHIP BETWEEN HUMAN RESOURCES MANAGEMENT
PRACTICE AND OPERATION RESULTS OF TOURISM
ENTERPRISES IN BINH THUAN PROVINCE
ThS Huỳnh Hữu Nguyên
nguyenhuynhhuu@gmail.com
Tóm tắt
Hội nhập kinh tế thế giới đã mang lại nhiều cơ hội lớn cho sự phát triển kinh tế cũng như
sự phát triển của các doanh nghiệp trong nước nhưng lại đi kèm nhiều thách thức không nhỏ cho các doanh nghiệp Các doanh nghiệp không chỉ chịu sự cạnh tranh từ các doanh nghiệp trong nước mà còn từ các doanh nghiệp nước ngoài với tiềm lực tài chính và năng lực quản lý hiện đại Để đứng vững trong xu thế cạnh tranh, các doanh nghiệp trong nước nói chung và doanh nghiệp du lịch nói riêng đang tập trung nhiều hơn vào nguồn nhân lực có sẵn tại đơn vị, bởi đây là yếu tố cạnh tranh mang tính đặc thù, là chìa khóa, nền tảng cơ bản giúp cho doanh nghiệp hoạt động tốt hơn Các doanh nghiệp ngày càng nhận thức rõ hơn việc quản lý và sử dụng tốt vốn nhân lực sẽ mang lại hiệu quả tốt hơn cho doanh nghiệp Kết quả nghiên cứu đã cho thấy giữa thực tiễn quản trị nguồn nhân lực và kết quả hoạt động doanh nghiệp có mối quan
hệ thuận chiều, điều này có nghĩa rằng việc thực hành quản trị nguồn nhân lực tốt sẽ làm tăng kết quả hoạt động cho các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn tỉnh Bình Thuận nói riêng
Từ khóa: Du lịch, Kết quả hoạt động doanh nghiệp, Nguồn nhân lực, Nguồn nhân lực du
lịch, Quản trị nguồn nhân lực.
Abstract
The world economic integration has brought many great opportunities for economic de-velopment as well as the dede-velopment of domestic enterprises, but it also comes with many chal-lenges for businesses Enterprises are not only subject to competition from domestic enterprises but also from foreign enterprises with financial potential and modern management capacity To stand firm in the competitive trend, domestic businesses in general and tourism businesses in particular are focusing more on available human resources in businesses, because this is a unique competitive factor, is the key, the basic foundation to help businesses operate better Enterprises are more and more aware that the effective management and use of human resources will bring better efficiency to businesses The research results have shown that there is a positive relationship between human resource management practices and the corporate business results, which means that good human resources management practice will increase the enterprise performance
Trang 2Keywords: Tourism, Business Performance, Human Resources, Human resources for
tourism, Human Resource Management
1 Giới thiệu
Du lịch được nhìn nhận là một trong những ngành công nghiệp lớn nhất trên thế giới (Goeldner & Ritchie, 2003) Đối với một số quốc gia, du lịch là nguồn thu ngoại tệ quan trọng nhất trong thương mại, một trong những ngành kinh tế hàng đầu và mũi nhọn Mặc dù trong những năm gần đây, tình hình thế giới có nhiều biến động về kinh tế, chính trị, xã hội nhưng ngành du lịch trên toàn thế giới vẫn tăng trưởng liên tục và thể hiện rõ vai trò của ngành trong sự đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của các quốc gia cũng như tạo việc làm cho nhiều người ở khắp nơi trên thế giới Do đó, tác động kinh tế của du lịch luôn là chủ đề nhận được sự quan tâm rất lớn của chính phủ các nước, doanh nghiệp (DN) và các nhà nghiên cứu trên toàn thế giới từ những năm 1970 Trong đó, nguồn nhân lực (NNL) là cơ sở để giúp ngành du lịch phát triển ổn định và bền vững, một quốc gia có thể không dồi dào tài nguyên thiên nhiên và địa lý tốt nhưng nếu NNL của nó tốt thì sự phát triển có thể được mang lại Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường
có nhiều biến động, xu thế quốc tế hóa nền kinh tế len lỏi đến từng ngành, lĩnh vực thì yếu tố NNL có sẵn tại các DN là nền tảng cơ bản và đặc thù nhất giúp cho DN du lịch có thể hoạt động tốt, bởi vì con người – nguồn nhân lực tạo lợi thế cạnh tranh, mang lại sự phát triển bền vững hơn cho công ty (Caliskan, 2010) Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16/01/2017 của Bộ Chính trị
về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn đã xác định “Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn là định hướng chiến lược quan trọng để phát triển đất nước, tạo động lực thúc đẩy sự phát triển của các ngành, lĩnh vực khác” được xem là cơ hội cũng như thách thức cho các địa phương có tiềm năng phát triển du lịch nói chung Bình Thuận là một trong những địa phương trọng điểm trong quy hoạch phát triển du lịch quốc gia, tỉnh Bình Thuận càng cần nắm bắt các cơ hội để phát triển hơn nữa du lịch của mình Thật vậy, tỉnh Bình Thuận được biết đến là tỉnh có nhiều tiềm năng, lợi thế về cảnh quan thiên nhiên, nắng ấm quanh năm, bãi biển đẹp, thích hợp cho việc tổ chức các loại hình thể thao kết hợp nghỉ dưỡng; hoạt động văn hóa, lễ hội của 35 dân tộc anh em khá phong phú, đa dạng và còn lưu giữ được nhiều di sản văn hóa vật thể, phi vật thể có giá trị, đang là yếu tố hấp dẫn các nhà đầu tư và du khách đến với Bình Thuận
Cụ thể, năm 2018, số lượt khách du lịch đến tỉnh đạt 5.751 ngàn lượt người, tăng bình quân 11,4%
so với năm 2015 Doanh thu từ hoạt động du lịch của tỉnh tiếp tục tăng trưởng ở mức cao, năm
2018 đạt 12.860 tỷ đồng, tăng bình quân 18,9%/năm so với năm 2015 Song cần thừa nhận rằng, thực tế du lịch của tỉnh Bình Thuận chưa thật sự phát triển tương xứng với tiềm năng Bên cạnh
đó, trong những năm gần đây, Bình Thuận đã và đang thu hút nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước đến đầu tư, kinh doanh, điều này làm cho kinh tế Bình Thuận trở nên sôi động hơn, theo đó
sự cạnh tranh của các DN trong tỉnh cũng trở nên khóc liệt hơn rất nhiều Để đứng vững trong cuộc cạnh tranh này, các DN trên địa bàn tỉnh phải nâng cao được năng lực quản trị thực tại để
có thể nâng cao được hiệu quả kinh doanh và đứng vững trong xu thế kinh tế quốc tế Các DN
du lịch tại Bình Thuận ngày càng nhận ra rằng, việc quản lý và sử dụng nguồn nhân lực một cách
Trang 3hiệu quả sẽ mang lại hiệu quả tích cực hơn cho DN, là chìa khóa để giữ vững cho một công ty có lợi nhuận hoặc kinh doanh tốt hơn (Fitz-enz, Jac, 2010) Theo một số nghiên cứu trên thế giới, thực tiễn quản trị nguồn nhân lực còn chứa nhiều chức năng quan trọng khác cũng như ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp và được nhắc đến trong các nghiên cứu của Huselid (1995); Pfeffer (1998); Trần Kim Dung và cộng sự (2015) Các nghiên cứu đều thống nhất rằng thực tiễn quản trị nguồn nhân lực (TTQTNNL) có thể dẫn đến kết quả hoạt động của công ty cao hơn và mang lại lợi thế cạnh tranh bền vững cho DN
2 Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước
2.1 Thực tiễn quản trị NNL
“Nguồn nhân lực” hay “Nguồn lực con người”, là khái niệm được hình thành trong quá trình nghiên cứu, xem xét con người với tư cách là một nguồn lực và là động lực của sự phát triển Theo Begg và cộng sự (1995), nguồn nhân lực (NNL) là sự kết hợp giữa những kỹ năng, kiến thức và toàn bộ quá trình chuyên môn mà con người tích lũy được; NNL của một tổ chức, doanh nghiệp được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định (Trần Kim Dung, 2006) Theo Beer và cộng sự (1984) thì quản trị nguồn nhân lực (QTNNL) liên quan đến tất cả các quyết định và hành động quản trị
có ảnh hưởng đến bản chất của mối quan hệ giữa tổ chức và nhân viên – nguồn nhân lực của nó Còn theo Abdalkrim (2012), QTNNL nhấn mạnh vào các khía cạnh tích cực của người lao động
và là một trong những tài sản không thể thay thế, góp phần vào sự thành công của một doanh nghiệp Có nhiều quan điểm về Thực tiễn quản trị nguồn nhân lực (TTQTNNL) trong các nghiên cứu trước đây Theo Delery & Doty (1996) thì TTQTNNL là một tập hợp các chính sách, hoạt động phù hợp với nội bộ của công ty và được thiết kế, thực hiện để đảm bảo rằng nguồn nhân lực của công ty đóng góp vào việc đạt được các mục tiêu kinh doanh của công ty Ngoài các chức năng cơ bản của QTNNL như tuyển dụng, đào tạo và phát triển, trả công lao động, đánh giá hiệu quả làm việc , các nghiên cứu về TTQTNNL có thể bao gồm các thành phần khác tùy vào môi trường và đối tượng nghiên cứu khác nhau Patterson và cộng sự (1997) cho rằng TTQTNNL gồm 12 thành phần như: tuyển dụng và lựa chọn, sự giới thiệu, đào tạo, đánh giá, kỹ năng linh hoạt, đa công việc, trách nhiệm công việc, làm việc nhóm, thông tin, nâng cao chất lượng nhóm,
sự hài hòa, hệ thống lương thưởng – chế độ đãi ngộ; TTQTNNL được xem như một hệ thống thu hút, phát triển, thúc đẩy và giữ chân nhân viên để đảm việc thực hiện hiệu quả và sự tồn tại của
tổ chức nói chung, các thành viên trong tổ chức nói riêng (Schuler và Jackson, 1987); A Som (2008) cho rằng TTQTNNL gồm 06 thành phần là vai trò của phòng quản lý nhân sự, tuyển dụng, đào tạo và phát triển, đánh giá hiệu quả làm việc của nhân viên, trả công lao động, khen thưởng; TTQTNNL gồm 04 thành phần là tuyển dụng và lựa chọn, đào tạo và phát triển, đánh giá hiệu quả làm việc của nhân viên, trả công lao động (Absar và cộng sự, 2010); Abdalkrim (2012) cho rằng TTQTNNL gồm 07 thành phần Đó là đào tạo - phát triển, đánh giá hiệu quả làm việc của nhân viên, trao quyền cho nhân viên, trả công lao động, luân chuyển công việc, sự tham gia của nhân viên vào quá trình quản lý và hệ thống lựa chọn; TTQTNNL gồm: tuyển dụng và lựa chọn, đào tạo và phát triển, điều hành hoạt động, hệ thống hoạch định nghề nghiệp, hệ thống trả công lao động, sự tham gia của người lao động (Masood, 2010)
Trang 42.2 Kết quả hoạt động doanh nghiệp
Theo Juliana B Santos và cộng sự (2012), kết quả hoạt động của doanh nghiệp (KQHDDN)
có thể được xem xét dưới nhiều hình thức thể hiện khác nhau và được coi như là một tập hợp con của hiệu quả tổ chức, bao gồm kết quả hoạt động và tài chính; Nó còn được phát biểu bao gồm: năng suất sản xuất, chất lượng sản phẩm và tình hình tài chính (Caliskan, 2010) Còn theo Delaney
và Huselid (1996) KQHDDN được đánh giá dựa vào nhận thức về kết quả của tổ chức và kết quả thị trường: Kết quả tổ chức được xem xét thông qua nhận thức về các yếu tố: chất lượng sản phẩm, dịch vụ hoặc chương trình, khả năng phát triển sản phẩm, dịch vụ hoặc chương trình, khả năng thu hút và duy trì nhân viên, sự hài lòng của khách hàng, mối quan hệ giữa quản lý và nhân viên, mối quan hệ giữa nhân viên nói chung; Kết quả thị trường bao gồm: Tiếp thị, sự tăng trưởng của doanh thu, lợi nhuận, thị phần KQHDDN còn được đo lường dựa trên năng suất lao động và kết quả tài chính (Guest và cộng sự, 2003) Trong đó, năng suất lao động được xác định dựa trên doanh số bán hàng trên mỗi thành viên và kết quả tài chính được đo lường thông qua lợi nhuận của công ty trên mỗi thành viên Tương tự như vậy, Anita Talaja (2013) cũng cho rằng KQHDDN được đánh giá dựa trên doanh số bán hàng, tăng trưởng doanh số, lợi nhuận, thị phần và tăng trưởng thị phần Tại Việt Nam, nghiên cứu Trần Kim Dung và cộng sự (2015) đã cho thấy KQHDDN được thể hiện qua thông qua nhận thức về các thành phần như: doanh thu, lợi nhuận, lãnh đạo hài lòng về hiệu quả hoạt động, phát triển thị trường, khách hàng hài lòng với sản phẩm, quy trình điều hành hiệu quả
2.3 Mối quan hệ giữa TTQTNNL và KQHDDN
Do có vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạt động kinh doanh của bất kỳ DN nào nên NNL, TTQTNNL và mối quan hệ giữa TTQTNNL với KQHDDN luôn là vấn đề được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm Theo Caliskan (2010), các DN ngày càng nhận thức rằng chính sách và thực tiễn quản trị nguồn nhân lực thành công có thể làm tăng kết quả hoạt động doanh nghiệp trong các lĩnh vực khác nhau như năng suất sản xuất, chất lượng sản phẩm và tình hình tài chính; Đồng quan điểm đó, Ahmad và cộng sự (2003); Delaney và cộng sự (1996) cũng cho rằng TTQTNNL có thể làm cải thiện và nâng cao KQHDDN Bên cạnh đó, nghiên cứu của Wright và cộng sự (1992) còn cho thấy rằng TTQTNNL có thể giúp tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững khi nó phù hợp với chiến lược cạnh tranh của tổ chức Nghiên cứu của Trần Kim Dung và cộng sự (2015) cũng đã cho thấy mối quan hệ tích cực giữa các thành phần TTQTNNL với KQHDDN khi thực hiện nghiên cứu tại môi trường kinh tế Việt Nam Như vậy, hầu hết các nghiên cứu về mối quan hệ giữa TTQTNNL với KQHDDN đều cho rằng TTQTNNL có mối quan hệ tích cực lên KQHDDN, hay có thể hiểu rằng việc thực hành quản trị nguồn nhân lực tốt sẽ làm tăng KQHDDN
2.4 Mô hình nghiên cứu và giả thuyết
Thông qua phân tích tổng quan cơ sở lý thuyết nền và các nghiên cứu thực nghiệm có mục tiêu nghiên cứu tương đồng với mục tiêu của nghiên cứu này, khung phân tích cho nghiên cứu được xây dựng Mô hình nghiên cứu lý thuyết được xây dựng dựa trên mô hình trong các nghiên cứu của Delaney và cộng sự (1996), Wan và cộng sự (2002), Abdullah (2009) và Trần Kim Dung
Trang 5và cộng sự (2015) gồm 06 yếu tố thành phần của TTQTNNL: Tuyển dụng, Đào tạo và phát triển, Thăng tiến, Trả công lao động, Động viên và Đánh giá nhân viên tác động đến KQHDDN du lịch trên địa bàn tỉnh Bình Thuận
Hình 1 Mô hình nghiên cứu lý thuyết
3 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng tổng hợp hai phương pháp định tính và định lượng Nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua phương thức thảo luận nhóm với 15 đáp viên là chủ doanh nghiệp, quản lý có kinh nghiệm và thâm niên công tác tại các DN kinh doanh du lịch trên địa bàn tỉnh Bình Thuận với mục đích điều chỉnh các biến quan sát dùng để đo lường các khái niệm nghiên cứu cho phù hợp với điều kiện nghiên cứu tại Bình Thuận Nghiên cứu định lượng được thực hiện thông qua phân tích dữ liệu thu thập được từ khảo sát 250 đáp viên (trong đó có 239 phiếu trả lời hợp lệ) là các cán bộ quản lý, nhân viên đang làm việc trong các DN du lịch trên địa bàn tỉnh trong giai đoạn từ tháng 6/2020 đến tháng 8/2020 theo phương pháp lấy mẫu thuận tiện bằng
kỹ thuật phỏng vấn trực tiếp thông qua bảng hỏi nhằm kiểm định mô hình và các giả thuyết nghiên cứu Kích thước mẫu phụ thuộc thuộc vào phương pháp phân tích, nghiên cứu này có sử dụng phân tích nhân tố khám phá (EFA) nên theo Gorsuch (1983) khi phân tích nhân tố phải có mẫu
ít nhất 200 quan sát để đảm bảo độ tin cậy của kết quả nghiên cứu và tính đại diện của mẫu nghiên cứu Còn theo quan điểm của Hair và cộng sự (2010), khi phân tích EFA kích thước mẫu tối thiểu
là 50, tốt hơn là 100, hoặc tỷ lệ 5:1, tức là 5 mẫu cho 1 biến quan sát Do đó, nghiên cứu tiến hành khảo sát 250 đáp viên để đảm bảo tính đại diện của quy mô mẫu cũng như giảm thiểu sai sót trong quá trình lấy mẫu và đảm bảo tính tin cậy cho kết quả nghiên cứu
4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Nghiên cứu có tất cả 7 thang đo được sử dụng để đo lường cho các khái niệm nghiên cứu, bao gồm 6 thang đo cho các yếu tố độc lập được kế thừa từ thang đo trong các nghiên cứu của Patterson và cộng sự (1997), A Som (2008), Abdalkrim (2012), (Masood, 2010), Trần Kim
Trang 6Dung và cộng sự (2015) và thang đo cho yếu tố phụ thuộc được kế thừa từ thang đo trong nghiên cứu của Anita Talaja (2013), Trần Kim Dung và cộng sự (2015)
Kết quả đánh giá độ tin cậy các thang đo dùng trong nghiên cứu thông qua hệ số Alpha cho thấy các thang đo đều đạt yêu cầu của Kiểm định Cronbach và đều lớn hơn 0,6 (Nguyễn Đình Thọ, 2011) Bên cạnh đó, kết quả phân tích cũng cho thấy các biến quan sát DT3 và LT2 đều có hệ số tương quan biến tổng nhỏ hơn 0,3 nên sẽ bị loại khỏi thang đo “Đào tạo và phát triển” và “Trả công lao động” trước khi tiến hành bước phân tích EFA tiếp theo
Về kết quả phân tích nhân tố khám phá cho các yếu tố thành phần của HMR trong các
DN du lịch trên địa bàn tỉnh Bình Thuận cho thấy: tại giá trị Eigenvalue bằng 1,297 phân tích EFA rút trích được 6 nhân tố với tổng phương sai trích bằng 67,481%; các biến quan sát trong 6 nhân tố được trích đều có hệ số tải lớn hơn 0,6 và đạt yêu cầu của Kiểm định EFA Kết quả tổng hợp được trình bày trong bảng 1 bên dưới
Bảng 1 Kết quả EFA cho các yếu tố độc lập
Biến
quan sát biến quan sát Nội dung Nhân tố 1 Nhân tố 2 Nhân tố 3 Nhân tố 4 Nhân tố 5 Nhân tố 6
TT2 Xác định nhu cầu phát triển
của cá nhân phù hợp với yêu
cầu của công ty
0,905
TT1 Công ty tạo cơ hội thăng tiến
nghề nghiệp cho nhân viên 0,896
TT4 Mỗi nhân viên hiểu và nắm
rõ điều kiện để được thăng
tiến
0,837
TT3 Các cá nhân trong công ty
được định hướng phát triển
nghề nghiệp rõ ràng
0,813
DG3 Nhân viên được đánh giá dựa
DG4 Nhân viên nhận được thông
tin phản hồi và tư vấn sau
đánh giá
0,885
DG2 Hệ thống đánh giá trong công
ty góp phần nâng cao hiệu
quả làm việc
0,806
DG1 Hệ thống đánh giá trong công
ty là công bằng và chính xác 0,770
DV1 Nhìn chung nhân viên luôn
cảm thấy hứng thú khi làm
việc
0,807 DV2 Nhân viên được cảm thấy
Trang 7Nguồn: Tính toán của tác giả
DV3 Nhân viên công ty thường làm việc
DV4 Nhìn chung, việc động viên nhân viên
trong công ty đạt hiệu quả tốt 0,789
TD1 Tiêu chuẩn tuyển dụng được chuẩn
hóa, phù hợp với yêu cầu công việc 0,806
TD2 CBQL các phòng và phòng nhân sự
phối hợp nhịp nhàng trong việc tuyển
chọn nhân viên
0,805
TD4 Công ty đã lựa chọn được những
người có năng lực phù hợp với công
việc
0,801
TD3 Quá trình tuyển dụng nhân sự của
công ty diễn ra công bằng, minh bạch 0,749
LT5 Nhân viên được thưởng dựa trên kết
LT4 Thu nhập của nhân viên tương xứng
LT1 Anh/ Chị đánh giá cao chế độ đãi ngộ,
LT3 Nhân viên được trả lương, thưởng
DT5 Chương trình đào tạo được thiết kế
DT1 Nhân viên được đào tạo kiến thức, kỹ
DT2 Công ty tạo cơ hội phát triển nghề
DT4 Quá trình đào tạo và phát triển giúp
nâng cao hiệu quả làm việc của nhân
viên
0,666
Hệ số Alpha 0,893 0,869 0,834 0,822 0,785 0,755
Eigenvalue 4,493 2,912 2,715 2,514 2,263 1,297
Phương sai trích (%) 18,722 30,856 42,169 52,654 62,075 67,481
Barlett: Chi-Square 2984,476
Trang 8Về kết quả phân tích nhân tố khám phá cho yếu tố phụ thuộc của mô hình – Kết quả hoạt động của các DN du lịch trên địa bàn tỉnh Bình Thuận ở Bảng 2 bên dưới cho thấy 04 biến quan sát đo lường cho khái niệm nghiên cứu sau khi phân tích được rút trích thành 01 nhân tố tại giá trị Eigenvalue bằng 2,914 với tổng phương sai trích khi phân tích nhân tố bằng 72,850%; cả 4 biến quan sát đều có hệ số tải nhân tố lớn hơn 0,7 (đạt yêu cầu của Kiểm định EFA)
Bảng 2 Kết quả EFA cho yếu tố phụ thuộc
Nguồn: Tính toán của tác giả
Về kiểm định các giả thuyết nghiên cứu, kết quả phân tích hồi quy trong Bảng 3 bên dưới cho thấy có 5 trong 6 yếu tố độc lập được phân tích có ảnh hưởng đến biến phụ thuộc của mô hình (Sig của kiểm định t < 0,05), hệ số hồi quy chuẩn hóa (β) của các yếu tố này cho thấy chúng
có mối quan hệ thuận chiều với Kết quả hoạt động của các DN du lịch trên địa bàn tỉnh Bình Thuận Do đó, có thể kết luận rằng các giả thuyết nghiên cứu H1, H2, H3, H4, H6 trong mô hình nghiên cứu đều được chấp nhận và giả thuyết H5 không được chấp nhận ở mức ý nghĩa 5%
Bảng 3 Kết quả kiểm định các giả thuyết nghiên cứu
Nguồn: Tính toán của tác giả
Biến quan sát Nội dung Nhân tố 1
KQ1 Công ty đạt mục tiêu về phát triển thị trường 0,866 KQ4 Nhìn chung khách hàng hài lòng với sản phẩm, dịch vụ của công ty 0,794
Phương sai trích (%) 72,850
Barlett: Chi-Square 498,470
Mô hình
Hệ số hồi quy chưa chuẩn hóa
Hệ số hồi quy
Thống kê
đa cộng tuyến
Trang 9Kết quả nghiên cứu đã cho thấy có 05 yếu tố đo lường sự tác động của HMR đến Kết quả hoạt động của các DN du lịch trên địa bàn tỉnh Bình Thuận và được trình bày theo phương trình sau:
KQ = 0,166*TD + 0,42*DT + 0,198*TT + 0,245*LTH + 0,465*DG
Kết quả này cũng cho thấy sự tương đồng nhất định với kết quả trong nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước trước đây có mục tiêu nghiên cứu tương đồng Đối với yếu tố Tuyển dụng, khi thay đổi 1 đơn vị trong khi các yếu tố khác không đổi thì Kết quả hoạt động của các
DN du lịch trên địa bàn tỉnh Bình Thuận sẽ thay đổi cùng chiều 0,166 đơn vị và như vậy: việc các tiêu chuẩn tuyển dụng được chuẩn hóa, phù hợp với yêu cầu công việc, sự phối hợp nhịp nhàng trong việc tuyển chọn nhân viên giữa các phòng ban với phòng nhân sự trong DN, việc lựa chọn được những người có năng lực phù hợp với công việc và quá trình tuyển dụng nhân sự diễn ra công bằng, minh bạch sẽ giúp các DN du lịch trên địa bàn tỉnh nâng cao được kết quả hoạt động; kết quả này cũng cho thấy sự tương đồng với kết quả trong nghiên cứu của Delaney
& Huselid (1996), Wright và cộng sự (1999), Abdullah (2009), Trần Kim Dung và cộng sự (2015) Đối với yếu tố Đào tạo và phát triển, khi thay đổi 1 đơn vị trong khi các yếu tố khác không đổi thì Kết quả hoạt động của các DN du lịch trên địa bàn tỉnh Bình Thuận sẽ thay đổi cùng chiều 0,42 đơn vị và như vậy: việc thiết kế chương trình đào tạo theo đúng mục tiêu của Công ty, tạo điều kiện để nhân viên được đào tạo kiến thức, kỹ năng cần thiết để thực hiện công việc và việc
DN tạo cơ hội phát triển nghề nghiệp cho nhân viên sẽ giúp các DN du lịch trên địa bàn tỉnh nâng cao được kết quả hoạt động; kết quả này cũng cho thấy sự tương đồng với kết quả trong nghiên cứu của Delaney & Huselid (1996), Wright và cộng sự (1999), Wan và cộng sự (2002), Abdullah (2009), Trần Kim Dung và cộng sự (2015) Đối với yếu tố Thăng tiến, khi thay đổi 1 đơn vị trong khi các yếu tố khác không đổi thì Kết quả hoạt động của các DN du lịch trên địa bàn tỉnh Bình Thuận sẽ thay đổi cùng chiều 0,198 đơn vị và như vậy: việc xác định nhu cầu phát triển của cá nhân phù hợp với yêu cầu của DN, công ty tạo cơ hội thăng tiến nghề nghiệp cho nhân viên và giúp nhân viên hiểu rõ điều kiện để được thăng tiến và định hướng phát triển nghề nghiệp
rõ ràng sẽ giúp các DN du lịch trên địa bàn tỉnh nâng cao được kết quả hoạt động; kết quả này cũng cho thấy sự tương đồng với kết quả trong nghiên cứu của Delaney & Huselid (1996), Wright
và cộng sự (1999), Wan và cộng sự (2002), Abdullah (2009), Trần Kim Dung và cộng sự (2015) Đối với yếu tố Trả công lao động, khi thay đổi 1 đơn vị trong khi các yếu tố khác không đổi thì Kết quả hoạt động của các DN du lịch trên địa bàn tỉnh Bình Thuận sẽ thay đổi cùng chiều 0,245 đơn vị và như vậy: việc thu nhập của nhân viên tương xứng với kết quả làm việc, nhân viên được trả lương, thưởng công bằng và dựa trên kết quả kinh doanh, và chế độ đãi ngộ, phúc lợi của Công ty tốt sẽ giúp các DN du lịch trên địa bàn tỉnh nâng cao được kết quả hoạt động; kết quả này cũng cho thấy sự tương đồng với kết quả trong nghiên cứu của Delaney & Huselid (1996), Wan và cộng sự (2002), Abdullah (2009), Trần Kim Dung và cộng sự (2015) Đối với yếu tố Đánh giá nhân viên, khi thay đổi 1 đơn vị trong khi các yếu tố khác không đổi thì Kết quả hoạt động của các DN du lịch trên địa bàn tỉnh Bình Thuận sẽ thay đổi cùng chiều 0,465 đơn vị và như vậy: việc nhân viên được đánh giá dựa trên kết quả cụ thể, nhân viên nhận được thông tin phản hồi và tư vấn sau đánh giá, hệ thống đánh giá trong công ty công bằng và chính xác, góp phần nâng cao hiệu quả làm việc sẽ giúp các DN du lịch trên địa bàn tỉnh nâng cao được kết quả
Trang 10hoạt động; kết quả này cũng cho thấy sự tương đồng với kết quả trong nghiên cứu của Wright và cộng sự (1999), Wan và cộng sự (2002), Abdullah (2009), Trần Kim Dung và cộng sự (2015)
5 Kết luận và khuyến nghị
Ngành du lịch đang cho thấy sự vươn mình mạnh mẽ và đóng góp rất lớn vào sự phát triển kinh tế xã hội trong thời gian gần đây Với vai trò là ngành mũi nhọn của tỉnh, Du lịch Bình Thuận đang nhận được sự quan tâm rất lớn từ phía lãnh đạo tỉnh và các bên liên quan Riêng đối với các DN du lịch, việc đứng vững trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế đang mang lại rất nhiều
cơ hội cũng như thách thức không hề nhỏ khi các DN phải chịu sự cạnh tranh lớn từ không chỉ các DN du lịch trong nước mà còn là các DN có vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài với trình độ,
kỹ năng quản lý kinh doanh hoàn toàn vượt bậc Do đó, để các DN du lịch trong nước hoàn toàn đứng vững và cạnh tranh sòng phẳng với các DN khác đòi hỏi các DN phải có một chiến lược kinh doanh phù hợp gắn với việc sử dụng lợi thế các nguồn lực hiện có của DN mà đặc biệt đó
là NNL của DN vì đó là một nguồn lực mang tính đặc thù và nếu được phát triển tốt sẽ đem lại
sự phát triển bền vững cho DN trong tương lai Nghiên cứu đã cho thấy mối quan hệ thuận chiều giữa TTQTNNL với KQHD của các DN du lịch trên địa bàn tỉnh Bình Thuận Các yếu tố thành phần của TTQTNNL tác động đến KQHDDN theo mức độ giảm dần gồm: Đánh giá nhân viên (β = 0,465); Đào tạo và phát triển (β = 0,42); Trả công lao động (β = 0,245); Thăng tiến (β = 0,198); Tuyển dụng (β = 0,166) Kết quả này sẽ là cơ sở khoa học để giúp nhà quản trị của các
DN du lịch tại Bình Thuận có được cái nhìn chi tiết hơn về mối quan hệ giữa TTQTNNL với KQHDDN cũng như các thành phần chính của TTQTNNL tác động trực tiếp đến KQHD của các
DN du lịch trên địa bàn tỉnh Bình Thuận để từ đó đưa ra các chính sách phù hợp nhằm nâng cao được hiệu quả công tác QTNNL để góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của DN trong thời gian tới Thông qua kết quả phân tích, nghiên cứu cũng đã gợi ý một số chính sách nâng cao hiệu quả công tác QTNNL trong các DN du lịch như sau:
Đối với yếu tố Đánh giá nhân viên, Việc đánh giá một cách chính xác hiệu quả làm việc
của nhân viên sẽ giúp cho DN xác định đúng hơn năng lực và khả năng của nhân viên trong DN
Do đó, các DN du lịch trên địa bàn tỉnh cần quan tâm, thiết lập các tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả làm việc của nhân viên một cách trung thực, chính xác và minh bạch Đây cũng sẽ là tiêu chí giúp cho nhân viên nhìn nhận được những mặt còn yếu của họ để kịp thời có những điều chỉnh cho phù hợp với sự phát triển chung của DN
Đối với yếu tố Đào tạo và phát triển, Nhà quản trị các DN du lịch trên địa bàn tỉnh cần xác
định rõ ràng mục tiêu, chiến lược phát triển để xây dựng những chương trình đào tạo và phát triển nhân sự trong DN phù hợp với điều kiện tại đơn vị DN cần tạo điều kiện để người lao động tham gia các chương trình đào tạo nâng cao chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ để có thể đáp ứng tốt hơn sự thay đổi của môi trường kinh doanh trong xu thế hội nhập Việc đào tạo có thể được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau như đào tạo tại chỗ, tổ chức những khóa đào tạo tại doanh nghiệp, hay hỗ trợ tạo điều kiện cho nhân viên tham gia các khóa đào tạo bên ngoài Bên cạnh đó, các DN cần xây dựng hệ thống đánh giá về hiệu quả của công tác đào tạo nhân sự để kịp thời chỉnh sửa chính sách đào tạo cho phù hợp với mục tiêu chung của đơn vị
Đối với yếu tố Trả công lao động, Nhà quản trị các DN du lịch trên địa bàn tỉnh cần đảm