1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xác lập chế độ công nghệ sấy thăng hoa cho thủy sản nhóm giáp xác đại diện là tôm sú

5 993 13
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xác lập chế độ công nghệ sấy thăng hoa cho thủy sản nhóm giáp xác đại diện là tôm sú
Tác giả Ngụ Đức Trọng, Phạm Văn Thỉnh
Người hướng dẫn PTS. Nguyễn Văn A
Trường học Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên
Chuyên ngành Khoa học và công nghệ
Thể loại bài báo
Năm xuất bản 2008
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 149,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xác lập chế độ công nghệ sấy thăng hoa cho thủy sản nhóm giáp xác đại diện là tôm sú

Trang 1

NGHIÊN CỨU HOÁ HỌC THỰC VẬT CÂY CHÓ ĐẺ RĂNG CƯA

PHYLLANTHUS URINARIA L MỌC HOANG TẠI THÁI NGUYÊN

Ngô Đức Trọng - Phạm Văn Thỉnh (Trường ĐH Sư phạm - ĐH Thái Nguyên)

1 Đặt vấn đề

Các loài thực vật thuộc chi Phyllanthus L họ Thầu dầu phân bố hầu hết ở các vùng nhiệt

đới và cận nhiệt đới Ở Việt Nam có 44 loài, các loài được chú ý nhiều hơn cả là P niruri L

(chóđẻ thân xanh), P amarus Schum (chó đẻ đắng = diệp hạ châu đắng), P urinaria L (chó đẻ

răng cưa) Trên thế giới các loài này đã được Y học cổ truyền sử dụng từ lâu để chữa bệnh gan,

bệnh thận, bệnh tiểu đường vv… [1-5] Cây chó đẻ răng cưa (Phyllanthus urinaria L.) trong y

học dân tộc được nhân dân dùng để chữa viêm họng, đinh râu, mụn nhọt, viêm da, lở ngứa, sản hậu ứ huyết đau bụng, chàm má, tưa lưỡi, rắn rết cắn, liều lượng không hạn chế [3,4]

Về mặt hoá học thực vật, từ cây chó đẻ răng cưa đã phân lập được một số chất có tác dụng sinh học cao như các flavonoit, các steroit, các tanin, các glycozit, gần đây người ta đã phân lập

được 4 lignan mới có tác dụng chữa bệnh từ cây chó đẻ răng cưa Đài Loan Ở Việt Nam, cây chó

đẻ răng cưa (Phyllanthus urinaria L.) đã được sử dụng làm thuốc chữa bệnh từ lâu, nhưng các

nghiên cứu hoá học thực vật thì mới chỉ bắt đầu từ vài năm gần đây, vì vậy chúng tôi chọn cây chó

đẻ răng cưa mọc hoang tại huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên làm đối tượng nghiên cứu với mục đích hiểu rõ và tìm kiếm thêm các ứng dụng làm thuốc chữa bệnh của cây này tại địa phương

2- Nguyên liệu và phương pháp

Nguyên liệu và điều chế các phần chiết

Cây chó đẻ răng cưa (Phyllanthus urinaria L.) được thu hái tại vùng giáp danh của

huyện Đồng Hỷ với thành phố Thái Nguyên vào tháng 11 năm 2007 Mẫu cây được nhận dạng tại khoa Sinh trường ĐH Sư phạm thuộc ĐHTN Mẫu cây gồm toàn bộ lá và thân (phần ở trên mặt đất), sau khi làm sạch được sấy khô ở nhiệt độ 60oC đến khối lượng không đổi và nghiền thành bột

Mẫu thực vật được chiết bằng etanol 900.Các dịch chiết được gom lại, cất đuổi bớt dung môi ở áp suất thấp, chiết lần lượt bằng n- hexan, etylaxetat, n-butanol Các dung dịch n-hexan, etylaxetat và n- butanol thu được tiếp tục cất loại bỏ dung môi dưới áp suất thấp cho đến khi thu

được ở dạng cao khô

Thiết bị tách và phân tích cấu trúc:

Để phân lập các chất sử dụng phương pháp sắc kí cột, chất hấp phụ là silicagel Merck:

63-200 nm, rửa giải bằng các hệ dung môi có độ phân cực khác nhau

Để phân tích cấu trúc nhờ các phương pháp phổ UV, FT-IR, 1H-NMR, 13C-NMR, phổ DEPS, phổ COSY, phổ EI-MS

3- Kết quả và thảo luận:

3.1- Phân tích định tính:

Trên cơ sở dùng các thuốc thử đặc hiệu để phát hiện các nhóm hợp chất thiên nhiên có hoạt tính sinh lý cao trong thực vật [2] chúng tôi thu được kết quả thử định tính với các nhóm chất, kết quả ấy được chỉ ra ở bảng 1:

Trang 2

76

Bảng 1: Phát hiện các nhóm chất trong cây chó đẻ răng cưa

Ghi chú: Dấu (+): Phản ứng dương tính, (++): Phản ứng dương tính rất rõ; (-): Không có

Như vậy có thể nhận thấy trong thực vật chó đẻ răng cưa có chứa ít nhất 7 nhóm hợp chất có hoạt tính sinh học cao

3.2- Các chất tinh khiết được phân lập

Chất PU-1: Từ cặn n-hexan, tiến hành phân chia nhờ sắc kí cột với chất hấp thụ silicagel

rửa giải bằng hệ dung môi n-hexan – etylaxetat (9:1) thu được chất rắn kết tinh có nhiệt độ nóng chảy ở 139-1410C, Rf=0,72 (trong hệ dung môi n-hexan – CHCl3 85:15) Kí hiệu là PU-1

Bảng 2: Phổ 13 C-NMR của chất PU-1 và β-Sitosterol

Chất PU-1 β-Sitosterol [6] Chất PU-1 β-Sitosterol [6]

Vị trí C δ của 13 C

δ của 13 C

δ của 13 C

δ của

13 C (ppm)

2

3 4 5 10 1

6 7 8 9 13

12 17

16

21 22 24

28 29

26

27 19

18

H O

11 14 15

20 23 25

β-Sitosterol

Trang 3

Chất PU-2 được tách từ cặn etylaxetat có Rf= 0,8 (trong hệ dung môi clorofoc – etylaxetat (9:1) Nó là chất dầu sệt màu nâu Phổ EI-MS cho biết chất PU-2 có pic M+ = 126 suy

ra khối lượng phân tử của PU-2 bằng 126 amu Phổ IR và phổ NMR đều chỉ ra trong phân tử có nhóm cacbonyl νmax= 1700 cm-1 và độ chuyển dịch hoá học (cdhh) của cacbon cacbonyl: δ

C-1=177,91 ppm và của hiđro liên kết với cacbon cacbonyl δH=9,54ppm; Có các dao động đặc trưng cho dị vòng ở vùng 1620 cm-1 Các nguyên tử cacbon chứa nhóm olefin và các nguyên tử hidro có độ cdhh tương ứng như sau: δC-3=124,31ppm và độ cdhh của hidro trong nhóm =CH với δH = 7,48ppm (1H,d, J=3,7Hz); δC-4 =109,62ppm, δH= 6,60ppm (1H,d, J=3,6 Hz) Phổ DEPT cho thấy chất PU-2 có 2 nguyên tử cacbon bậc 4 với các độ cdhh bằng δC-2 =162,14 ppm và δ

C-5=151,70 ppm đó cũng là các nguyên tử cacbon tham gia tạo liên kết đôi; có một nhóm CH2 với

δC-6 =55,89 ppm và độ cdhh của hidro trong nhóm CH2 với δH = 4,70 ppm, có 1 nhóm hydroxyl với vân rộng ν= 3280 cm-1 (Phổ NMR của chất PU-2 xem bảng 3)

Bảng 3: Phổ cộng hưởng từ 1 H-NMR và 13 C-NMR của các U2 và U3

Từ các thông tin chỉ ra nhờ phổ IR, NMR, DEPT và EI-MS có thể quy kết được chất

PU-2 là 5- hydroxymetylfufural C6H6O3 Hiện nay chất 5- hidroxyfufural đã được phân lập từ một

số cây thuốc dân gian khác như từ cây Địa hoàng, cây Trinh nữ hoàng cung nó có vai trò trong

quá trình chuyển hoá chất trong cơ thể sinh vật, còn trong cây chó đẻ răng cưa (Phyllanthus urinaria L.) lần đầu tiên được phân lập và nhận dạng cấu trúc phân tử

Chất PU-3 cũng được tách từ cặn etylaxetat, là chất rắn kết tinh, tinh thể hình kim màu

vàng có nhiệt độ nóng chảy ở 249-250oC Phổ IR cho các vân hấp thụ đặc trưng cho nhóm cacboxyl ν = 1700 cm-1, vân rất tù ở số sóng ν=2900-3300 cm-1 đặc trưng cho các nhóm OH của fenol Phổ 1H-NMR cho tín hiệu 7,09 ppm ứng với 2 proton ở các vị trí C-2 và C-6 Phổ 13 C-NMR cho thấy các độ cdhh ở các tín hiệu δC-1=120,48 ppm, δC-2= δC-6= 108,73 ppm, δC-3=δ

C-5=145,40 ppm, δC-4=137,98 ppm và δC-7=167,46 ppm (số liệu về phổ NMR được chỉ ra ở bảng 3) Những dữ liệu về phổ của chất PU-3 hoàn toàn phù hợp với phổ của axit galic Như vậy chất PU-3 được tách ra từ dịch chiết etylaxetat của cây chó đẻ răng cưa được nhận dạng là axit galic

Có thể coi đây là một đơn phân để tham gia vào việc tạo ra các tanin thuỷ phân và tham gia vào các chuyển hoá khác tạo ra các lignan trong cây chó đẻ răng cưa

1

CO O H

O H

HO

OH

O

C H

H 2

C HO

O

1

2

3 4

5

3 4 5 6 7

Hidroxymetylfufural Axit galic

Trang 4

78

Chất PU-4 Từ cặn etylaxetat ngoài các chất PU-2 và PU-3 trình bày ở trên chúng tôi

còn thu được một hỗn hợp có màu vàng, cho màu đỏ cam với phản ứng xianiđin, màu xanh đen với dung dịch FeCl3 1% điều đó nói lên trong hỗn hợp này có flavonoit

Bằng phương pháp sắc kí cột silicagel rửa giải bằng hệ dung môi Toluen: Etylaxetat: Axitfomic (5:4:1) thu được 29mg chất rắn màu vàng (có Rf =40 trong hệ dung môi trên), nóng chảy ở 276-278oC Phổ khối lượng EI-MS cho pic ion phân tử ở m/z =286 ứng với công thức

C15H10O6 Phổ IR cho vân hấp thụ đặc trưng cho nhóm OH ở 3640 cm-1, nhóm cacbonyl 1680

cm-1 và nối đôi ở 1600cm-1 Phổ UV của chất PU-4 có cực đại hấp thụ có λmax ở 265 nm và 365

nm phù hợp với các hợp chất flavonoit có nối đôi ở vị trí C2-C3 Các phổ IR và UV hoàn toàn phù hợp với các dữ kiện phổ 1H-NMR và 13C-NMR trên bảng 4 Các tín hiệu δ=176,58 ppm là của cacbon cacbonyl ở C-4, δ= 147,03 ppm đặc trưng cho C-2 và δ=136,52 ppm là tín hiệu của C-3, đó là những nguyên tử cacbon chứa liên kết đôi nhưng C-2 liên kết với oxi ở vị trí số 1 còn C-3 liên kết với nhóm OH và nhóm C=O Tín hiệu δ=157,78 ppm và 164,98 ppm tương ứng với

độ chuyển dịch hoá học của C-5 và C-7 vòng A, còn δ=160,16 ppm là tín hiệu 13NMR của

C-4/ của vòng B, 3 nhóm hiđroxyl còn lại sẽ liên kết vào các vị trí 5,7,4/ của vòng A và B Tín hiệu cộng hưởng proton tại 8,15 ppm (dd, J=8,2 và 2,2) là của H-2/ và H-6/ và 7,01 ppm (dd, J=8,2 và 2,2) là tính hiệu của H-3/ và H-5/, kết hợp với các thông tin phổ 13C-NMR có thể khẳng định vòng B có 1 nhóm OH ở vị trí 4/ Tín hiệu cộng hưởng ở 6,26 ppm (1H,d,J=2,1) và 6,52 ppm (1H,d,J=2,1) là tín hiệu của proton ở C-6 và C-8

Từ tất cả các thông tin về phổ EI-MS, NMR, IR, UV và các hằng số vật lý có thể quy kết chất PU-4 là Kampherol, chất có tác dụng sinh học quan trọng

Bảng 4: Phổ 1 H-NMR và 13 C-NMR của chất PU-4

Vị trí cacbon

13 C-NMR (δ-ppm)

1 H-NMR (δ-ppm, J-Hz)

Vị trí cacbon

13 C-NMR (δ-ppm)

1 H-NMR (δ-ppm, J-Hz)

O

O

OH

OH

HO

OH

1

2

3

4 5

6 7

8 9

10

1/

2/

3/

4/

5/

6/

Kampherol hay 3,5,7,4/-tetrahidroxi flavon

Trang 5

4 Kết luận

Từ phần trên mặt đất của cây chó đẻ răng cưa Phyllathus urinaria bằng các phản ứng

định tính đã phát hiện có chứa các nhóm chất có hoạt tính sinh lý cao là đường khử, ancanloit,

saponin, steroit, flavonoit, cumarin và các chất polyphenol khác

Đã phân lập và sử dụng các phương pháp phân tích hiện đại xác định được cấu trúc của 4

chất có hoạt tính sinh học cao trong cây chó đẻ răng cưa: β-sitosterol, hidroxymetylfufural, axit galic và kampherol

Summary

Chemical studies on the constituents of Phyllanthus urinaria L growing wildly

in Thai Nguyen province

The n-hexan extract of the plant Phyllathus urinaria was isolatete β-sitosterol, and the ethylacetate extract of the plant Phyllathus urinaria were isolated 5-hidroxyfufural and acid gallic and kampherol

Tài liệu tham khảo

[1]- Nguyễn Phương Dung và các cộng sự Tạp chí Y học thực hành 1996, số 11, tr.12-14

[2]- Nguyễn Văn Đàn (1997), Các phương pháp nghiên cứu cây thuốc, Nxb Y- Dược, TP Hồ Chí Minh

[3]- Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam (1999) Nxb Y học Hà Nội

[4]- Đỗ Huy Bích và các cộng sự (2004), Cây thuốc và các động vật làm thuốc ở Việt Nam Nxb

KH&KT Hà Nội

[5]- Syamasundar và các cộng sự J Ethnopharmacol 1985, 14 (1) 41-44

[6]- Goat J.L., Akihisa T Analysis of steroit frest ed., p.324 Chapman & Hall London NewYork- Tokyo- 1997

Ngày đăng: 14/11/2012, 14:42

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Phát hiện các nhóm chất trong cây chó đẻ răng cưa. - Xác lập chế độ công nghệ sấy thăng hoa cho thủy sản nhóm giáp xác đại diện là tôm sú
Bảng 1 Phát hiện các nhóm chất trong cây chó đẻ răng cưa (Trang 2)
Bảng 3: Phổ cộng hưởng từ  1 H-NMR và  13 C-NMR của các  U2 và U3. - Xác lập chế độ công nghệ sấy thăng hoa cho thủy sản nhóm giáp xác đại diện là tôm sú
Bảng 3 Phổ cộng hưởng từ 1 H-NMR và 13 C-NMR của các U2 và U3 (Trang 3)
Bảng 4: Phổ  1 H-NMR và  13 C-NMR của chất PU-4 - Xác lập chế độ công nghệ sấy thăng hoa cho thủy sản nhóm giáp xác đại diện là tôm sú
Bảng 4 Phổ 1 H-NMR và 13 C-NMR của chất PU-4 (Trang 4)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w