1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các nhân tố tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên các Trường Đại học khối ngành kinh tế ở Việt Nam

19 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 459,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu này nhằm mục tiêu phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên thuộc khối ngành kinh tế ở Việt Nam. Dữ liệu nghiên cứu thu thập được từ 765 sinh viên có ý định khởi nghiệp thông qua bảng câu hỏi thiết kế sẵn. Sử dụng các phương pháp nghiên cứu bao gồm thống kê mô tả, phân tích CFA, phân tích SEM, kiểm định Boostrap. Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP

CỦA SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHỐI NGÀNH KINH TẾ Ở VIỆT NAM FACTORS AFFECTING TO STARTUP INTENTION

OF ECONOMIC SECTOR’S STUDENTS IN VIETNAM

TS Đinh Thị Hương; ThS Hà Thị Quỳnh Nga

Trường Đại học Thương mại

dinhhuongtm@gmail.com

Tóm tắt

Nghiên cứu này nhằm mục tiêu phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên thuộc khối ngành kinh tế ở Việt Nam Dữ liệu nghiên cứu thu thập được từ 765 sinh viên có ý định khởi nghiệp thông qua bảng câu hỏi thiết kế sẵn Sử dụng các phương pháp nghiên cứu bao gồm thống kê mô tả, phân tích CFA, phân tích SEM, kiểm định Boostrap Kết quả nghiên cứu cho thấy yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên thuộc khối ngành kinh tế ở Việt Nam gồm: tinh thần khởi nghiệp, kiến thức khởi nghiệp, môi trường khởi nghiệp, giáo dục kinh doanh, hỗ trợ tài chính và tuổi của sinh viên Trong số đó, yếu tố tinh thần khởi nghiệp là yếu tố tác động mạnh nhất đến ý định khởi nghiệp của sinh viên thuộc khối ngành kinh tế ở Việt Nam Đồng thời nghiên cứu cũng gợi ý một số giải pháp, kiến nghị với sinh viên, các trường Đại học, các Bộ, ngành liên quan nhằm phát triển hoạt động khởi nghiệp cho sinh viên thuộc khối ngành kinh tế nói riêng và sinh viên Việt Nam nói chung.

Từ khoá: khởi nghiệp, sinh viên, ngành kinh tế, Việt Nam

Abstract

The research aims to analyze the factors affecting to startup intention of economic sector’s students in Vietnam The data was collected through pre-designed questionnaires from 765 stu-dents with the intention to startup a business Furthermore, the collected data was processed using research method including descriptive statistics, confirmatory factor analysis, SEM analy-sis, Bootstraping According to the results, there are several factors affecting to startup intention

of economic sector’s students in Vietnam including: entrepreneurship spirit, entrepreneurship knowledge, startup environment, business education, financial support and student’s age Of which, entrepreneurship spirit is the factor with the strongest impact At the same time, the re-search also suggests a number of solutions and recommendations to related students, universities, ministries and branches in order to develop the startup activities of students of economic sector’s

in particular and Vietnamese students in general.

Keywords: startup, students, economic sector, Vietnam

Trang 2

1 Đặt vấn đề

Khởi nghiệp luôn có mối quan hệ chặt chẽ với sự phát triển kinh tế của một quốc gia Sự gia tăng các doanh nghiệp mới là một trong những động lực đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, xóa đói giảm nghèo và tạo công ăn việc làm (Davidsson, 1995) Nhưng theo GEM (2018) đã chỉ

ra rằng tỷ lệ ý định kinh doanh tại Việt Nam - những người có ý định khởi nghiệp trong vòng 3 năm tới vẫn tiếp tục tăng lên, từ mức 18,2% năm 2014, lên lên 22,3% năm 2015 và đạt 25% năm

2017, xếp thứ 19/54, tuy nhiên vẫn thấp hơn mức trung bình 30,3% ở các nước phát triển dựa trên nguồn lực Trong khi đó, tỉ lệ này ở khu vực châu Phi cận Sahara là 48% và mức trung bình của các nước cùng trình độ phát triển với Việt Nam là 41,5% Một trong những cản trở đối với tinh thần khởi nghiệp của người trẻ Việt Nam đó là, chương trình giáo dục phổ thông cũng như cấp bậc đại học không có nội dung khuyến khích phát triển tinh thần kinh doanh, trong khi đó ở một số nước khác, khởi nghiệp đã trở thành một môn học chính thức của nhiều trường đại học

và phổ thông Thêm vào đó, môi trường khởi nghiệp chưa phát triển tương xứng, hệ sinh thái khởi nghiệp năm 2018 tiếp tục được cải thiện ở những chỉ số đứng đầu nhưng lại kém đi ở những chỉ số đứng cuối Trong số 12 chỉ số về điều kiện kinh doanh, ba chỉ số mà Việt Nam có thứ hạng cao nhất là: năng động của thị trường nội địa (5/54), văn hóa và chuẩn mực xã hội (6/54), cơ sở

hạ tầng (10/54) Ba chỉ số Việt Nam có thứ hạng thấp nhất là: tài chính cho kinh doanh (39/54), giáo dục kinh doanh sau phổ thông (40/54) và chương trình hỗ trợ của Chính phủ (43/54) Bên cạnh đó các cơ sở hạ tầng, hỗ trợ tài chính vẫn chưa phát triển một cách toàn diện đến mức mong đợi, nhất là đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa Những nguyên nhân nêu trên đã dẫn đến việc sinh viên khối ngành kinh tế ở Việt Nam tham gia khởi sự kinh doanh rất hạn chế Vì thế, thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp là rất quan trọng cho sự thành công của xã hội ngày nay, vốn dĩ đang phải đối mặt với những thách thức rất lớn về kinh tế Xuất phát từ thực tế nêu trên, bài viết được lựa chọn thực hiện nhằm nghiên cứu các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên

Từ kết quả nghiên cứu thấy được bức tranh tổng quan thực trạng các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên thuộc khối ngành kinh tế ở Việt Nam và gợi ý một số giải pháp, kiến nghị với sinh viên, các trường Đại học, các Bộ, ngành liên quan nhằm thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp của sinh viên khối ngành kinh tế ở Việt Nam

2 Tổng quan nghiên cứu

Sự thay đổi của trình độ khoa học, công nghệ cũng như xu hướng phát triển của nền kinh

tế đã tác động đến mục tiêu của sinh viên sau khi ra trường là tự khởi nghiệp, tự mình tạo việc làm cho bản thân chứ không chỉ dừng ở một mục tiêu là đi xin việc như trước kia Khởi sự kinh doanh sáng tạo là mục tiêu chiến lược trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước của thế hệ trẻ và hiện nay, các nghiên cứu về chủ đề này ở nước ngoài và trong nước được đề cập như:

Autio và cộng sự (2001), “Entrepreneurial Intent among Students in Scandinavia and in the USA” nghiên cứu về mô hình ý định kinh doanh giữa sinh viên châu Âu và Bắc Mỹ; Lĩnán

và cộng sự (2011), “Factors affecting entrepreneurial intention levels: a role for education”

nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Tây Ban Nha; Karali

(2013),“The Impact of entrepreneurship education programs on entrepreneurial intentions: An application of the theory of planned behavior” nghiên cứu về mô hình tác động của giáo dục kinh doanh đến ý định kinh doanh; Ambad và Dami (2016), “Determinants of Entrepreneurial

Trang 3

Intention Among Undergraduate Students in Malaysia”, về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi

nghiệp của sinh viên tại Malaysia; Tại Việt Nam các nghiên cứu của Lê Thị Trang Đài, Nguyễn

Thị Phương Anh (2016), “ Các nhân tố tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên thuộc khối ngành kinh tế và kỹ thuật tại Trường Đại học Lạc Hồng” Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục

tiêu xác định các nhân tố tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên thuộc khối ngành kinh

tế và kỹ thuật trường Đại học Lạc Hồng Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ 166 sinh viên có

ý định khởi nghiệp thông qua khảo sát trực tiếp bằng bảng câu hỏi Sử dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá và hồi quy, tìm thấy 5 nhân tố có tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên trường Đại học Lạc Hồng, lần lượt là: Thái độ cá nhân, nhận thức của xã hội, nhận thức kiểm soát hành vi, cảm nhận cản trở tài chính, giáo dục cho sinh viên; Nguyễn Thanh Hùng,

Nguyễn Thị Kim Pha (2016), “Những nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học Trà Vinh” Nghiên cứu nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi

sự doanh nghiệp của sinh viên Trường Đại học Trà Vinh Mẫu nghiên cứu được khảo sát từ 405 sinh viên bậc Đại học ở các ngành học khác nhau Nghiên cứu dựa trên phương pháp thống kê

mô tả và mô hình cân bằng cấu trúc tuyến tính Kết quả nghiên cứu cho thấy những nhân tố ảnh hưởng dương đến ý định khởi nghiệp của sinh viên thông qua nhân tố sự tự tin về tính khả thi trong khởi nghiệp gồm: hoạt động giảng dạy, hoạt động ngoại khóa, ý kiến của những người xung quanh và sở thích kinh doanh ảnh hưởng trực tiếp đến sự tự tin Sự tự tin về tính khả thi trong khởi nghiệp càng cao thì ý định khởi nghiệp của sinh viên càng tăng; Nguyễn Thị Phương Mai

và các cộng sự (2018), “Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của nữ sinh viên ngành quản trị kinh doanh trên địa bàn Hà Nội” Nghiên cứu nhằm khám phá và xác định mức độ ảnh

hưởng của các yếu tố đến ý định khởi nghiệp của nữ sinh viên ngành quản trị kinh doanh tại các trường Đại học trên địa bàn Hà Nội Kết quả khảo sát 434 nữ sinh viên cho thấy thái độ cá nhân,

sự hỗ trợ từ chương trình đào tạo ảnh hưởng mạnh nhất đến ý định khởi nghiệp của nữ sinh viên;

Nguyễn Xuân Hiệp và các cộng sự (2018), “Các yếu tố ảnh hưởng đến khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên khối ngành kinh tế tại các Trường Đại học ngành kinh tế các trường Đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh” Nghiên cứu đề xuất kế thừa mô hình nghiên cứu của Ambad và Damit

(2016) Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ 430 sinh viên năm cuối, khối ngành kinh tế của 10 trường Đại học tại TP.HCM có tỷ lệ sinh viên khởi nghiệp cao sau khi tốt nghiệp và được kiểm định bằng phân tích hồi quy tuyến tính bội Kết quả nghiên cứu cho thấy, các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên khối ngành kinh tế các trường Đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh được sắp xếp theo trình tự mức độ quan trọng từ cao xuống thấp) bao gồm: Giáo dục kinh doanh; Chuẩn chủ quan; Môi trường khởi nghiệp; Đặc điểm tính cách và nhận

thức tính khả thi; Dư Thị Hà và các cộng sự (2018), “Thực trạng việc làm và một số yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên khoa Quốc tế Đại học Thái Nguyên” Nghiên cứu

đánh giá thực trạng việc làm và các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Khoa Quốc tế chúng tôi đã thực hiện nghiên cứu với 27 biến quan sát cho 5 nhóm nhân tố đó là tinh thần khởi nghiệp, kiến thức về khởi nghiệp, kỹ năng, điều kiện kinh tế xã hội và hỗ trợ tài chính trên 152 sinh viên thuộc khối ngành Quản trị kinh doanh, Kinh doanh quốc tế, Kế toán Tài chính và Quản lý Tài nguyên môi trường Khoa Quốc tế - Đại học Thái Nguyên Nghiên cứu cho rằng để nâng cao ý định khởi nghiệp của sinh viên, trong chương trình đào tạo của mình, Khoa Quốc tế cần trang bị các kiến thức cũng như kỹ năng giúp cho sinh viên tự tin để khởi nghiệp sau khi được đào tạo

Trang 4

Tóm lại, thông qua các nghiên cứu nêu trên thì việc nghiên cứu chuyên sâu về các yếu tố

tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên thuộc khối ngành kinh tế ở Việt Nam là cấp bách

và có ý nghĩa lớn để thấy được một bức tranh khái quát nhất thực trạng các yếu tố tác động đến

ý định khởi nghiệp của sinh viên thuộc khối ngành kinh tế ở Việt Nam cũng như một số gợi ý thúc đẩy khởi nghiệp của sinh viên khối ngành kinh tế nói riêng và sinh viên ở Việt Nam nói chung

3 Cơ sở lý thuyết

(i) Ý định khởi nghiệp

Ý định khởi nghiệp là một thái độ làm việc đề cao tính độc lập, tự chủ, sáng tạo, luôn đổi mới và chấp nhận rủi ro để tạo ra giá trị mới trong doanh nghiệp hiện tại Như vây, ý định khởi nghiệp không phải là quyết định tại một thời điểm nhất định mà là kết quả của một quá trình, một cá nhân phải có tiềm năng ý định khởi nghiệp trước khi đi đến quyết định khởi nghiệp Do

đó, trên cơ sở các nghiên cứu trước đây, ý định khởi nghiệp trong nghiên cứu này hiểu theo nghĩa

là một cá nhân (tự mình hoặc cùng người khác), có khả năng sắp xếp các nguồn lực để nắm bắt được cơ hội kinh doanh mới, trên tinh thần đổi mới, sáng tạo để tạo một công việc kinh doanh riêng nhằm tạo việc làm, thu nhập và các giá trị cho riêng mình, đồng thời tạo ra giá trị có lợi cho nhóm khởi nghiệp, người lao động, cộng đồng Khởi nghiệp là một quá trình bắt đầu từ việc nhận biết cơ hội, từ đó phát triển các ý tưởng, nhằm tạo dựng một doanh nghiệp mới (Shapero, 1982) Tuy nhiên không phải ai cũng nắm bắt được các cơ hội để ý định khởi nghiệp Một cá nhân có tiềm năng ý định khởi nghiệp phải có mong muốn và nhận thấy tính khả thi của việc ý định khởi nghiệp, hoặc có thái độ tích cực và được sự ủng hộ của những người xung quanh, cũng như có khả năng kiểm soát hoạt động ý định khởi nghiệp (Ajzen, 1991), hoặc có mong muốn và sự tự tin về khả năng của bản thân để ý định khởi nghiệp (Krueger & Brazeal, 1994)

(ii) Tinh thần khởi nghiệp

Tinh thần khởi nghiệp là một động lực của sự phát triển Ở mức độ cá nhân, nó đưa ý tưởng trở thành sáng kiến thực tế và giải phóng sức mạnh sáng tạo của nguồn vốn nhân lực Ở góc độ

tổ chức, nó là động lực chính cho tăng trưởng và sự sống còn của doanh nghiệp (Autio và cộng

sự, 2001) Mọi người có khả năng và định hướng khởi nghiệp khác nhau dù họ là chủ doanh nghiệp hay đang làm thuê cho ai đó Hiện nay, ngay cả các DN lớn cũng đưa tinh thần khởi nghiệp trở thành ưu tiên chiến lược vì họ muốn duy trì tính cơ động, sự khát khao và tham vọng như những công ty startup trẻ trung Sáng tạo đổi mới hiện được đặt ở vị trí trung tâm trong lịch trình của các DN lớn Nhưng làm thế nào để xây dựng một tổ chức có tinh thần khởi nghiệp? Rõ ràng điều này là không thể thực hiện trong một sớm một chiều, cũng không thể chỉ ứng dụng một công thức chung cho mọi cá nhân, mọi hoàn cảnh Tuy nhiên, sự sẵn sàng tiếp thu kiến thức và

kỹ năng mới, mong muốn ứng dụng ý tưởng đã nghĩ ra vào thực tế, linh hoạt thay đổi cách thức, chiến thuật thực hiện khi gặp thất bại, tinh thần dám nghĩ dám làm, dám mạo hiểm là những yếu

tố tinh thần của mỗi cá nhân khi quyết định khởi nghiệp

(iii) Kiến thức khởi nghiệp

Hiện nay muốn làm bất cứ một việc gì trong bất cứ một ngành nghề nào mỗi cá nhân cũng cần phải có kiến thức về ngành nghề đó, vì thế nếu muốn khởi nghiệp trong một lĩnh vực nào đó

Trang 5

mỗi cá nhân cần tìm hiểu, nắm vững các kiến thức xung quanh lĩnh vực đó (Ambad và Dami, 2016) Việc hiểu biết các kiến thức cơ bản, chuyên môn trong lĩnh vực mình hoạt động hay nhiều khía cạnh khác nhau trong doanh nghiệp như thị trường kinh doanh, lập kế hoạch kinh doanh, quản trị nhân sự, bán hàng và marketing, quản lý tài chính huy động vốn, pháp luật, chính sách

ưu đãi khởi nghiệp, thủ tục đăng ký kinh doanh, pháp luật, chính sách ưu đãi khởi nghiệp, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan là một bước đệm quan trọng giúp cá nhân tránh khỏi sự thất bại trong việc thiếu chuyên môn và những lí do ngoài ý muốn

(iv) Môi trường khởi nghiệp

Môi trường khởi nghiệp là tập hợp các yếu tố quy định khả năng tiếp cận các nguồn lực tài chính; các chính sách hỗ trợ của Chính phủ; sự hỗ trợ tư vấn, đào tạo về khởi nghiệp từ các tổ chức phi Chính phủ; sự hỗ trợ tiếp cận thị trường, cùng các chuẩn mực văn hóa thúc đẩy ý định khởi nghiệp (Grimaldi và Gradi, 2005; Radas và Bozic, 2009) Radas và Bozic (2009); Ambad

và Damit (2016) cho thấy các chính sách của Chính phủ hỗ trợ cho việc xuất hiện các nhà khởi nghiệp kinh doanh năng động, cũng như khuyến khích các doanh nghiệp trong giai đoạn đầu sau khi khởi nghiệp

(vi) Giáo dục kinh doanh

Giáo dục tinh thần kinh doanh là những nội dung giáo dục liên quan đến chương trình, các bài giảng ngoại khóa, hoặc các khóa học cung cấp cho sinh viên những kiến thức, kỹ năng và thái độ để theo đuổi sự nghiệp kinh doanh (Ambad và Damit, 2016) Lĩnán và cộng sự (2011); Ambad và Damit (2016) đã kiểm chứng giáo dục kinh doanh có mối liện hệ tích cực đến ý định kinh doanh; giáo dục tinh thần kinh doanh là một phương tiện hiệu quả trong việc gây cảm hứng sinh viên có ý định khởi nghiệp kinh doanh

(iv) Hỗ trợ tài chính

Vốn luôn là yêu cầu đầu tiên quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển mạnh hay yếu của doanh nghiệp Đối với cá nhân có ý định khởi nghiệp thì việc phát sinh nhu cầu vốn và tìm kiếm hay gọi vốn là tất yếu (Perea K.H.et al, 2011) Trong quá trình khởi sự kinh doanhviệc tìm kiếm nguồn tài trợ, gọi vốn cho các ý tưởng không dễ dàng Thông thường các cá nhân thường tìm vốn từ những mối quan hệ sẵn có, đủ tin cậy và có sự ủng hộ cao như sự hỗ trợ tài chính từ các trường Đại học, từ gia đình, các nhà đầu tư, các cơ quan chức năng và từ thực hành khởi nghiệp Tuy nhiên, các nguồn vốn này thường không có tính ổn định, đặc biệt áp lực về trả nợ có thể không cao, chính vì vậy có thể dẫn đến thiếu động lực trong việc sử dụng vốn, nhất là khi ý tưởng kinh doanh rơi vào tình trạng khó tiếp cận thị trường so với ban đầu Thực tế cho thấy, nhiều ý định khởi nghiệp trong các lĩnh vực tư vấn hay dịch vụ thương mại điện tử có sử dụng công nghệ, mạng xã hội thì không cần quá nhiều vốn nhưng những ý tưởng hay dự án về xây dựng, vận tải,

du lịch có xu hướng cần nhiều vốn hơn

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Thang đo và mô hình nghiên cứu

(i) Thang đo nghiên cứu

Thang đo ý định khởi nghiệp được kế thừa và phát triển từ các nghiên cứu của Karali (2013), Ambad và Dami (2016), Nguyễn Thanh Hùng, Nguyễn Thị Kim Pha (2016), Dư Thị Hà

Trang 6

và cộng sự (2018)… Thang đo đo lường dạng Likert 5 điểm: trong đó 1 là hoàn toàn phản đối

và 5 là hoàn toàn đồng ý với 6 biến quan sát và được mã hóa từ YD1→YD6 (xem bảng 1)

Bảng 1: Ý định khởi nghiệp

Thang đo tinh thần khởi nghiệp được kế thừa và phát triển từ các nghiên cứu của Autio và cộng sự (2001), Ambad và Dami (2016), Dư Thị Hà và cộng sự (2018)… Thang đo đo lường dạng Likert 5 điểm: trong đó 1 là hoàn toàn phản đối và 5 là hoàn toàn đồng ý với 5 biến quan sát và được mã hóa từ TT1→TT5 (xem bảng 2)

Bảng 2: Thang đo tinh thần khởi nghiệp

Thang đo kiến thức khởi nghiệp được kế thừa và phát triển từ các nghiên cứu của Karali (2013), Ambad và Dami (2016), Dư Thị Hà và cộng sự (2018)… Thang đo đo lường dạng Likert

5 điểm: trong đó 1 là hoàn toàn phản đối và 5 là hoàn toàn đồng ý với 6 biến quan sát và được

mã hóa từ KT1→KT6 (xem bảng 3)

Bảng 3: Thang đo kiến thức khởi nghiệp

YD1 Suy nghĩ nghiêm túc về KN

YD2 Quyết định sẽ khởi nghiệp trong tương lai

YD3 Mục tiêu nghề nghiệp là trở thành doanh nhân

YD4 Quyết tâm tạo ra một DN trong tương lai

YD5 Muốn được tự làm chủ DN

YD6 Cố gắng hết sức để bắt đầu công việc kinh doanh

TT1 Sự sẵn sàng tiếp thu kiến thức và kỹ năng mới

TT2 Sự cố gắng tìm ra những phương pháp sáng tạo nhất và cũng là tối ưu

nhất TT3 Sự mong muốn ứng dụng ý tưởng đã nghĩ ra vào thực tế

TT4 Sự linh hoạt thay đổi cách thức, chiến thuật thực hiện khi gặp thất bại TT5 Tinh thần dám nghĩ dám làm, dám mạo hiểm

KT1 Hiểu biết về pháp luật, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật,

chính sách ưu đãi khởi nghiệp KT2 Kiến thức về thị trường kinh doanh

KT3 Kiến thức về lập kế hoạch kinh doanh, huy động vốn

KT4 Hiểu biết về quản trị nhân sự

KT5 Hiểu biết về bán hàng và marketing

KT6 Hiểu biết về quản lý tài chính

Trang 7

Thang đo môi trường khởi nghiệp được kế thừa và phát triển từ các nghiên cứu của Grimaldi và Gradi (2005); Radas và Bozic (2009); Ambad và Damit (2016), Nguyễn Xuân Hiệp

và các cộng sự (2019) Thang đo đo lường dạng Likert 5 điểm: trong đó 1 là hoàn toàn phản đối

và 5 là hoàn toàn đồng ý với 4biến quan sát và được mã hóa từ MT1→MT4 (xem bảng 4)

Bảng 4: Thang đo môi trường khởi nghiệp

Thang đo môi trường khởi nghiệp được kế thừa và phát triển từ các nghiên cứu của Lĩnán

và cộng sự (2011) và Ambad và Damit (2016), Nguyễn Xuân Hiệp và các cộng sự (2019), Dư Thị Hà và cộng sự (2018)… Thang đo đo lường dạng Likert 5 điểm: trong đó 1 là hoàn toàn phản đối và 5 là hoàn toàn đồng ý với 6 biến quan sát và được mã hóa từ GD1→GD5 (xem bảng 5)

Bảng 5: Thang đo giáo dục kinh doanh

Thang đo môi trường khởi nghiệp được kế thừa và phát triển từ các nghiên cứu của Ferera K.H.et (2010), Perea K.H.et al, 2011, Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự (2016), Dư Thị Hà và cộng

sự (2018)… Thang đo đo lường dạng Likert 5 điểm: trong đó 1 là hoàn toàn phản đối và 5 là hoàn toàn đồng ý với 5 biến quan sát và được mã hóa từ TC1→TC5 (xem bảng 6)

Bảng 6: Thang đo hỗ trợ tài chính

MT1 Chính sách ưu đãi, hỗ trợ khởi nghiệp từ cơ quan chức năng MT2 Địa điểm kinh doanh thuận lợi

MT3 Trang thiết bị, cơ sở vật chất hiện đại

MT4 Mức độ tiếp nhận của cộng đồng, công chúng đối với sản

phẩm khởi nghiệp

GD1 Giáo dục trong trường ĐH khuyến khích bạn phát triển những ý tưởng

sáng tạo để khởi nghiệp GD2 Giáo dục trong trường ĐH cung cấp những kỹ năng và năng lực cần thiết

để bạn khởi nghiệp GD3 Giáo dục trong trường ĐH cung cấp những kiến thức cần thiết về kinh

doanh để bạn khởi nghiệp GD4 Bạn thường xuyên tham gia các hoạt động ngoại khóa về khởi nghiệp GD5 Sau khi hoàn thành các khóa học khởi nghiệp, bạn hăng hái muốn trở

thành doanh nhân

TC1 Hỗ trợ tài chính từ các trường ĐH

TC2 Hỗ trợ tài chính từ gia đình

TC3 Hỗ trợ tài chính từ các nhà đầu tư

TC4 Hỗ trợ tài chính của các cơ quan chức năng

TC5 Hỗ trợ tài chính từ thực hành khởi nghiệp

Trang 8

Hình 1: Mô hình nghiên cứu về các nhân tố tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên các trường Đại học khối ngành kinh tế ở Việt Nam

(Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả)

Các nghiên cứu có đề cập đến tác động của tinh thần khởi nghiệp tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên khối ngành kinh tế ở Việt Nam của Karali (2013), Ambad và Dami (2016), Nguyễn Thanh Hùng, Nguyễn Thị Kim Pha (2016), Dư Thị Hà và cộng sự (2018)

Các nghiên cứu có đề cập đến tác động của kiến thức khởi nghiệp tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên khối ngành kinh tế ở Việt Nam của

Các nghiên cứu có đề cập đến tác động của môi trường khởi nghiệp tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên khối ngành kinh tế ở Việt Nam của Grimaldi và Gradi (2005); Radas

và Bozic (2009); Ambad và Damit (2016), Nguyễn Xuân Hiệp và các cộng sự (2019)

Các nghiên cứu có đề cập đến tác động của giáo dục tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên khối ngành kinh tế ở Việt Nam của Lĩnán và cộng sự (2011) và Ambad và Damit (2016), Nguyễn Xuân Hiệp và các cộng sự (2019), Dư Thị Hà và cộng sự (2018)

Các nghiên cứu có đề cập đến tác động của hỗ trợ tài chính tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên khối ngành kinh tế ở Việt Nam của Ferera K.H.et (2010), Perea K.H.et al, 2011, Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự (2016), Dư Thị Hà và cộng sự (2018)…

Biến kiểm soát giới tính sau khi thảo luận chuyên gia nhóm nghiên cứu đề xuất biến giới tính có tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên khối ngành kinh tế ở Việt Nam

Như vậy, từ kết quả của các nghiên cứu trên, cho phép đưa ra mô hình nghiên cứu lý thuyết

về yếu tố ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực của các DN như sau (Hình 1)

4.2 Phương pháp nghiên cứu định tính

Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tác giả thu thập, nghiên cứu dữ liệu thứ cấp nhằm phản

Trang 9

ánh một cách khách quan, đa chiều các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên thuộc khối ngành kinh tế ở Việt Nam Nhóm tác giả tiến hành tổng hợp, kế thừa các kết quả nghiên cứu của các học giả về yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên thuộc khối ngành kinh tế ở Việt Nam cùng với một số báo cáo có liên quan của: GEM, VCCI, CIEM, Đây là những minh chứng quan trọng để đánh giá thực trạng khởi nghiệp của sinh viên các trường Đại học thuộc khối ngành kinh tế ở Việt Nam

Phương pháp phỏng vấn chuyên sâu: Tác giả kĩ thuật phỏng vấn chuyên sâu và thảo luận nhóm tập trung nhằm xây dựng các khái niệm lý thuyết, các biến quan sát và các thang đo Sau khi phỏng vấn 10 chuyên gia là các chuyên gia, các nhà quản lý tại các DN khởi nghiệp; tác giả tiến hành thảo luận và thiết kế bản hỏi với 6 biến với tổng cộng gồm 30 biến quan sát (items) Bên cạnh đó, sau khi có được kết quả nghiên cứu thực trạng yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên thuộc khối ngành kinh tế ở Việt Nam tác giả tiến hành thảo luận chuyên gia

về kết quả thu được và những vấn đề đặt ra

Phương pháp xử lý thông tin dữ liệu: Bài báo sử dụng các phương pháp như trừu tượng khoa học, phương pháp quy nạp và diễn dịch, phương pháp phân tích và tổng hợp, thống kê, so sánh; Kết hợp với việc minh họa bằng bảng biểu, hình vẽ cho vấn đề nghiên cứu trở nên trực quan hơn

4.3 Phương pháp nghiên cứu định lượng

Từ cơ sở lý thuyết đã tổng hợp, các biến quan sát được xây dựng trên thang đo Likert 5 điểm (từ 1 = hoàn toàn không đồng ý đến 5 = hoàn toàn đồng ý) phản ánh 6 khái niệm nghiên cứu hoàn chỉnh Bên cạnh đó, theo Hair và các cộng sự (1998), thì quy tắc thông thường, kích thước mẫu phải lớn hơn hoặc bằng 100 và mẫu nhỏ nhất phải có tỷ lệ mong muốn và n = 5*k Hair et al (2006) cũng cho rằng nếu chọn tiêu chuẩn factor loading > 0,3 thì cỡ mẫu ít nhất là

350, nếu cỡ mẫu khoảng 100 thì nên chọn tiêu chuẩn factor loading > 0,55 Để đảm bảo được tính đại diện của số liệu sinh viên khối ngành kinh tế, cỡ mẫu là 850 từ sinh viên khối ngành kinh tế tại Trường Đại học Thương mại, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Trường Đại học Ngoại Thương, Trường Đại học kinh tế - Đại học Huế, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng, Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Kinh tế - tài chính Thành phố Hồ Chí Minh Thời gian là từ 7/2020- 8/2020 Phương pháp chọn mẫu của tác giả là chọn mẫu ngẫu nhiên phi xác suất Kích thước mẫu nghiên cứu được chia đều định mức cho mỗi trường Đại học Tiếp cận đối tượng điều tra theo 2 cách: (i) Gửi phiếu khảo sát đã thiết kế trên Google doc đến địa chỉ email của sinh viên tại các Trường Đại học; (ii) Gửi phiếu khảo sát trực tiếp đến sinh viên tại các Trường Đại học Sau khi sang lọc các phiếu trả lời, loại bỏ phiếu không hợp lệ (do điền thiếu thông tin) còn lại 765 phiếu hợp lệ nhóm tác giả sử dụng để nhập và xử lý

dữ liệu Dữ liệu thu được tiến hành nhập vào file Excel, sau đó thực hiện phân tích dữ liệu bằng phần mềm SPSS và AMOS phiên bản 21 Cụ thể, phần mềm SPSS dùng để phân tích thống kê

mô tả, phân tích độ tin cậy của thang đo Crobanch’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích nhân tố khắng định CFA, phân tích mô hình SEM, kiểm định Boostrap

Như vậy, qua nghiên cứu định tính và định lượng, dữ liệu thu thập được phân thành các hạng mục bao gồm: cơ sở lý thuyết, số liệu thống kê, dữ liệu sơ cấp về thực trạng, dữ liệu thảo

Trang 10

luận kết quả nghiên cứu và những vấn đề đặt ra Trên cơ sở đó tác giả xây dựng khung dàn ý, lồng ghép dữ liệu để có nghiên cứu hoàn chỉnh

5 Kết quả nghiên cứu

5.1 Đặc điểm của mẫu nghiên cứu

Mẫu thu thập được xử lý qua phần mềm SPSS 21 với tổng số 765 phiếu điều tra hợp lệ thu được từ 9 trường Đại học khối ngành kinh tế ở Việt Nam, kết quả phân tích thống kê chỉ ra rằng có 74,38% sinh viên trả lời là Nữ và 25,62 % sinh viên trả lời là Nam Tỷ lệ này phù hợp với đặc thù của sinh viên khối ngành kinh tế chủ yếu là Nữ; Về năm học, sinh viên học tập năm

1 chiếm tỷ lệ 5,88%, năm 2 là 16,34%, năm 3 là 37,65%, năm cuối là 40,13%; Về độ tuổi tỷ lệ tuổi 18 là 5,49%, tỷ lệ độ tuổi 19 là 15,68%, tỷ lệ độ tuổi 20 là 35,95, tỷ lệ độ tuổi trên 21 là 42,88%; Về hộ khẩu thường trú tại các Thành phố là 38,56%, tại các địa phương khác là 61,43% Kết quả này cho thấy tỷ lệ sinh viên từ các địa phương khác đến học tại các Thành phố chiếm

tỷ lệ chủ yếu

5.2 Kiểm định độ tin cậy của thang đo

Độ tin cậy của thang đo được đánh giá bằng phương pháp nhất quán nội tại qua hệ số Cron-bach’s Alpha Sử dụng phương pháp hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha trước khi phân tích nhân tố EFA để loại các biến không phù hợp vì biến rác này có thể tạo ra các yếu tố giả (Nguyễn Đình Thọ & Nguyễn Thị Mai Trang, 2009) Hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha chỉ cho biết các đo lường

có liên kết với nhau hay không nhưng không cho biết biến quan sát nào cần bỏ đi và biến quan sát nào cần giữ lại Khi đó, việc tính toán hệ số tương quan biến - tổng sẽ giúp loại ra những biến quan sát nào không đóng góp nhiều cho sự mô tả của khái niệm cần đo (Hoàng Trọng & Chu Nghuyễn Mộng Ngọc, 2005) Các tiêu chí được sử dụng khi thực hiện đánh giá độ tin cậy của thang đo như sau:

- Loại các biến quan sát có hệ số tương quan biến - tổng nhỏ (nhỏ hơn 0.3); tiêu chuẩn chọn thang đo khi có độ tin cậy Cronbach’s Alpha lớn hơn 0.6 Hệ số Cronbach’s Alpha càng lớn thì độ tin cậy nhất quán càng cao( Nunally & Burnstein, 1994; Nguyễn Đình Thọ & Nguyễn Thị Mai Trang, 2009)

- Các mức giá trị của Cronbach’s Alpha: lớn hơn 0.8 là thang đo tốt; từ 0,7 đến 0.8 là thang

đo có thể sử dụng được; từ 0.6 trở lên là có thể sử dụng trong trường hợp khái niệm nghiên cứu

là mới trong bối cảnh nghiên cứu (Nunally, 1978; Peterson, 1994; Hoàng Trọng & Chu Nghuyễn Mộng Ngọc, 2005)

(i) Độ tin cậy của thang đo ý định khởi nghiệp - YD

Về độ tin cậy của nhân tố YD cho thấy hầu hết các biến quan sát trong thang đo PT có hệ

số Cronbach’s Alpha = 0.815 > 0.6 điều này đảm bảo độ tin cậy cao Hệ số tương quan biến tổng (corrected item-total corelation) thấp nhất đạt 0.551 đều cao hơn 0.3 cho thấy tất cả các biến quan sát đều được sử dụng để phân tích nhân tố khám phá EFA

(ii) Độ tin cậy của thang đo tinh thần khởi nghiệp - TT

Về độ tin cậy của nhân tố TT cho thấy rằng hầu hết các biến trong thang đo đều có hệ số

Ngày đăng: 29/07/2021, 09:21

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w