Mục tiêu của nghiên cứu này là khái quát hoá các nghiên cứu trong và ngoài nước hiện có về sử dụng công cụ quản lý rủi ro danh mục cho vay tại NHTM; Phân tích thực trạng sử dụng công cụ quản lý rủi ro danh mục cho vay tại các NHTM Việt Nam; Đưa ra một số khuyến nghị đối với các NHTM Việt Nam về sử dụng công cụ quản lý rủi ro danh mục cho vay. Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1SỬ DỤNG CÔNG CỤ QUẢN LÝ RỦI RO DANH MỤC CHO VAY
TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
USING RISK MANAGEMENT TOOLS FOR LOAN PORTFOLIOS
IN COMMERCIAL BANKS IN VIETNAM
ThS Nguyễn Bích Ngân – Học viện Ngân hàng
ngannb@hvnh.edu.vn
Tóm tắt
Trong hàng thập kỉ, để quản lý rủi ro danh mục cho vay, các nhà quản trị ngân hàng đã tập trung phần lớn nỗ lực của mình vào việc đưa ra các quyết định cho vay cẩn trọng và giám sát sau cho vay kĩ lưỡng Mặc dù các hành động kiểm soát này vẫn tiếp tục được duy trì ở hiện tại, nhưng phân tích về các vấn đề tín dụng đã xảy ra đối với các ngân hàng thương mại (NHTM) trong quá khứ như rủi ro liên quan tới các danh mục cho vay ngành dầu khí, nông nghiệp và bất động sản những năm 1980 tại các NHTM trên thế giới cho thấy, các công cụ của quản lý rủi ro danh mục cho vay cần phải được bổ sung thêm Trước đây, các công cụ quản lý rủi ro đối với danh mục cho vay tập trung nhiều vào các chỉ báo về chất lượng khoản vay như tình hình nợ quá hạn, nợ dưới chuẩn hay xu hướng biến đổi trong xếp hạng tín dụng Tuy vậy, các NHTM nhận thấy rằng các chỉ báo như trên là không đủ giúp họ có các hành động kịp thời để đối phó với rủi
ro tín dụng, đặc biệt khi đồng thời nền kinh tế đang gia tăng các rủi ro hệ thống
Như vậy, quản lý rủi ro danh mục cho vay hiệu quả vẫn cần bắt đầu với việc kiểm soát chất lượng của từng khoản vay trong danh mục Nhưng bên cạnh đó, việc phát triển các công cụ quản lý rủi ro mới trên nền tảng công nghệ và hệ thống thông tin đa chiều đã và đang là xu thế tại các NHTM trên thế giới Tuy vậy, thực tế cho tới ngày nay, không nhiều các NHTM đã áp dụng được các công cụ quản lý rủi ro danh mục cho vay hiện đại như trên Vì thế, nghiên cứu này đưa ra thực trạng về sử dụng công cụ quản lý rủi ro danh mục cho vay tại các NHTM Việt Nam, từ đó đưa ra một số khuyến nghị về sử dụng công cụ quản lý rủi ro danh mục cho vay tại các NHTM
Từ khoá: Quản lý rủi ro tín dụng, Danh mục cho vay, Công cụ quản lý rủi ro tín dụng
Abstract
For a decade, in purpose of credit risk management in loan portfolio, bank managers have focused in credit decision and credit monitoring Although these methods are still applied at the present, problems with credit portfolio in the past such as oil, agriculture and real-estate portfolio during 1980s revealed the requirements of more tools for credit risk management Before, tools for credit risk management of loan porfolio are often indicators of loans’ quality like non- performing loan ratio, over-due loan ratio or changes in credit rating However, banks have realized that these kinds of indicators are not sufficient for in-time actions toward credit risk,
Trang 2especially when systematical risks in the economy increase In that order, soundness tools for credit risk management of loan portfolio are still concentrated for each loan item in the portfolio,
in combination with modern tools in the context of new technology era In fact, small number of banks in Viet Nam have applied these modern tools By this reason, the research aims at pointing out facts and giving solutions of using tools and techniques for credit risk management of loan portfolio in Vietnamese commercial banks.
Key words: Credit Risk management, Loan portfolio, Tools for credit risk management
1 Giới thiệu nghiên cứu
Trong hàng thập kỉ, để quản lý rủi ro danh mục cho vay, các nhà quản trị ngân hàng đã tậptrung phần lớn nỗ lực của mình vào việc đưa ra các quyết định cho vay cẩn trọng và giám sát saucho vay kĩ lưỡng Mặc dù các hành động kiểm soát này vẫn tiếp tục được duy trì ở hiện tại, nhưngphân tích về các vấn đề tín dụng đã xảy ra đối với các NHTM trong quá khứ như rủi ro liên quantới các danh mục cho vay ngành dầu khí, nông nghiệp và bất động sản những năm 1980 tại cácNHTM trên thế giới cho thấy, các công cụ của quản lý rủi ro danh mục cho vay cần phải được
bổ sung thêm Trước đây, các công cụ quản lý rủi ro đối với danh mục cho vay tập trung nhiềuvào các chỉ báo về chất lượng khoản vay như tình hình nợ quá hạn, nợ dưới chuẩn hay xu hướngbiến đổi trong xếp hạng tín dụng Tuy vậy, các NHTM nhận thấy rằng các chỉ báo như trên làkhông đủ giúp họ có các hành động kịp thời để đối phó với rủi ro tín dụng, đặc biệt khi đồng thờinền kinh tế đang gia tăng các rủi ro hệ thống Như vậy, quản lý rủi ro danh mục cho vay hiệu quảvẫn cần bắt đầu với việc kiểm soát chất lượng của từng khoản vay trong danh mục Nhưng bêncạnh đó, việc phát triển các công cụ quản lý rủi ro mới trên nền tảng công nghệ và hệ thống thôngtin đa chiều đã và đang là một xu thế tại các NHTM trên thế giới Tuy vậy, thực tế cho tới ngàynay, không nhiều các NHTM đã áp dụng được các công cụ quản lý rủi ro danh mục cho vay hiệnđại như trên
Tại Việt Nam, trước xu thế hội nhập cùng với thay đổi trong các quy định pháp lý hướngtới một hệ thống NHTM an toàn, hiệu quả và tiệm cận với các chuẩn mực quốc tế hiện đại vềquản lý ngân hàng, các NHTM đã đạt được một số thành công nhất định trong việc áp dụng cáccông cụ mới vào quản lý rủi ro tín dụng nói chung và quản lý rủi ro danh mục cho vay nói riêng.Tuy nhiên, bởi nhiều lí do mà việc quản lý rủi ro danh mục cho vay tại các NHTM Việt Nam vẫntồn tại một số hạn chế Cụ thể, công cụ quản lý rủi ro danh mục cho vay tại các NHTM hiện nayphần lớn vẫn tập trung vào công cụ quản lý rủi ro với từng khoản vay riêng biệt mà thiếu đi nhữngphương pháp, công cụ quản lý rủi ro hiện đại trên phạm vi toàn danh mục Vì vậy, danh mục chovay tại các NHTM vẫn còn tiềm ẩn nhiều rủi ro mà hệ luỵ là danh mục cho vay được cơ cấu kém,rủi ro tín dụng không được nhận diện kịp thời, mức nợ xấu cao tại NHTM trong suốt giai đoạn
từ cuối năm 2011 trở về sau
Vì thế, mục tiêu tổng quát của nghiên cứu này là đưa ra bức tranh khái quát về sử dụngcông cụ quản lý rủi ro danh mục cho vay tại các NHTM Việt Nam Để thực hiện mục tiêu tổng
Trang 3quát này, nghiên cứu hướng tới ba mục tiêu cụ thể là: thứ nhất, khái quát hoá các nghiên cứu trong và ngoài nước hiện có về sử dụng công cụ quản lý rủi ro danh mục cho vay tại NHTM; thứ hai, phân tích thực trạng sử dụng công cụ quản lý rủi ro danh mục cho vay tại các NHTM Việt Nam; thứ ba, đưa ra một số khuyến nghị đối với các NHTM Việt Nam về sử dụng công cụ quản
lý rủi ro danh mục cho vay
2 Tổng quan nghiên cứu về công cụ quản lý rủi ro danh mục cho vay
2.1 Nghiên cứu về nhóm các công cụ hiện đại
Về nhóm công cụ hiện đại trong quản lý rủi ro danh mục cho vay, theo như nghiên cứu củahầu hết các nhà kinh tế thì các sản phẩm phái sinh tín dụng đang nổi lên như một biện pháp giảmthiểu, phòng tránh tác động của rủi ro danh mục tín dụng hiện đại và khá hiệu quả Số lượng cácnghiên cứu trong và ngoài nước về các sản phẩm phái sinh tín dụng này là khá đồ sộ, một vài cácnghiên cứu tiêu biểu trong số đó như sau:
aHuỳnh Thị Hương Thảo (2014) đã đưa ra góc nhìn khái quát về sự phát triển và thựctrạng của thị trường phái sinh tín dụng trên thế giới và Việt Nam Từ những đánh giá này, tác giảchỉ ra nguyên nhân của những hạn chế trong phát triển thị trường này tại Việt Nam, điều nàykhiến cho các công cụ này chưa được các NHTM biết tới nhiều và chưa được sử dụng trên thực
tế quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng Từ đó, tác giả đề xuất các kiến nghị và điều kiện cầnthiết để thúc đẩy sự phát triển của thị trường phái sinh tín dụng tại Việt Nam
aNguyễn Thị Châu Long và Trần Thụy Ái Phương (2014) nghiên cứu về đặc điểm củacác công cụ phái sinh tín dụng cũng như thực trạng việc sử dụng các công cụ này trong quản lýrủi ro tín dụng tại ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam Các phân tích thực trạng việc sửdụng công cụ phái sinh tín dụng được nghiên cứu tại công trình này cho thấy, việc áp dụng nhómcông cụ này chưa phổ biến tại các NHTM Việt Nam nói chung và tại NHTM được nghiên cứucũng chưa sử dụng các công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro tín dụng được lý thuyết chỉ ranhư: trái phiếu liên kết rủi ro tín dụng, hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng, hợp đồng quyền chọntín dụng và hợp đồng hoán đổi tổng thu nhập Tại công trình này, các tác giả cũng đưa ra một số
đề xuất về phía Nhà nước và bản thân NHTM cần thực hiện để đẩy mạnh việc sử dụng các công
cụ này trong giảm thiểu rủi ro tín dụng trên thực tiễn
aNguyễn Minh Sáng và Nguyễn Thị Lan Hương (2013) giới thiệu về việc sử dụng cáccông cụ ngoại bảng, bao gồm các công cụ tài chính phái sinh, để gia tăng lợi nhuận cũng nhưgiảm thiểu rủi ro trong hoạt động của NHTM Đồng thời, vì giao dịch ngoại bảng cũng sẽ tạo rarủi ro cho ngân hàng, do đó nhóm tác giả còn đưa ra khuyến nghị cho các ngân hàng về việcquản lý rủi ro cho các hoạt động ngoại bảng này, từ đó giúp các NHTM có cách nhìn nhận toàndiện hơn về các công cụ trên Theo nhận định trong nghiên cứu của nhóm tác giả, tại Việt Namhiện nay đã xuất hiện nhiều yếu tố tiềm năng để phát triển hoạt động ngoại bảng, riêng thị trườngphái sinh tín dụng có thể sẽ sớm hình thành tại Việt Nam Thêm vào đó, dự báo về sự phát triểntrong tương lai của nhóm công cụ phái sinh tín dụng trong quản lý rủi ro danh mục tín dụng đượccho là do nhu cầu sử dụng để phòng ngừa rủi ro là rất lớn xuất phát từ nhiều nguyên nhân tại
Trang 4danh mục tín dụng như: nợ xấu và nợ quá hạn vẫn ở mức cao, mức độ tập trung tín dụng cao tạicác NHTM Hơn nữa, với phương thức quản lý rủi ro này, các NHTM không cần điều chỉnh danhmục tín dụng hiện tại của mình, điều này là phù hợp trong xu hướng chuyên môn hoá trong cáclĩnh vực cho vay của các NHTM Việt Nam hiện nay
aBluhm, Overbeck và Wegner (2010) đã nghiên cứu về cách thức phân loại, cấu trúc,nguyên tắc trao đổi các dòng tiền, cũng như vai trò của sản phẩm nghĩa vụ nợ thế chấp (CollateralDebt Obligation - CDO) như một công cụ phái sinh hiện đại giúp NHTM có thể quản lý rủi rotrên phạm vi toàn bộ danh mục tín dụng của mình, trong đó có danh mục cho vay Tuy vậy thực
tế, việc sử dụng các sản phẩm phái sinh tín dụng tại các NHTM chưa được phổ biến do nguyênnhân từ rủi ro đạo đức và lựa chọn đối nghịch Trên nền tảng lý luận này, luận án sẽ đưa ra một
số kiến nghị góp phần đưa phái sinh tín dụng trở thành một công cụ hiệu quả hơn trong quản lýrủi ro danh mục cho vay trên thị trường Việt Nam
aLê Hồ An Châu (2006) tập trung phân tích về các hạn chế và từ đó đưa ra các điều kiệncần thiết để phát triển thị trường phái sinh tín dụng tại Việt Nam Nghiên cứu này đưa ra cáckhuyến nghị và đề xuất khá chi tiết về các yếu tố thúc đẩy thị trường như: hành lang pháp lý,phát triển thị trường các công cụ nợ, các trang bị hiểu biết và công cụ quản lý cho các giao dịchphái sinh tín dụng tại NHTM, vai trò của các cơ quan quản lý nhà nước…Tuy vậy trong nghiêncứu này, thực trạng về sử dụng các công cụ phái sinh tín dụng này tại NHTM chưa được chỉ ra.aNghiên cứu được thực hiện bởi Minton, Stulz và Williamson (2005) đã cho thấy tại cácNHTM Hoa Kì, công cụ này tỏ ra có tác dụng tốt khi giúp giảm thiểu rủi ro cho cả danh mục tíndụng bởi ưu điểm của công cụ này là không quan trọng loại khoản vay được bảo hiểm bởi công
cụ đó là gì
2.2 Nghiên cứu về nhóm các công cụ truyền thống
Thứ nhất, về đa dạng hoá danh mục cho vay Trong nhóm các công cụ truyền thống để
quản lý rủi ro danh mục cho vay, đa dạng hoá danh mục được sử dụng như công cụ khá phổ biếntại các NHTM và có nhiều nghiên cứu thực tiễn được đưa ra về tính hiệu quả của công cụ nàytrên các NHTM tại các thị trường khác nhau, ví dụ như:
aCác nghiên cứu của Nguyễn Thị Quế Thu (2016), Bùi Diệu Anh (2010) đều chỉ ra lợiích của việc đa dạng hoá danh mục cho vay là không chỉ giúp NHTM gia tăng lợi nhuận mà còngiúp giảm thiểu rủi ro tập trung danh mục Bên cạnh đó, Nguyễn Minh Hiếu (2011) còn đưa ra
cụ thể hoá các giải pháp đa dạng hoá danh mục cho vay đối với một NHTM được nghiên cứutheo từng khía cạnh về ngành kinh tế, loại hình doanh nghiệp, quy mô doanh nghiệp, kì hạn chovay, hình thức bảo đảm….và cách kết hợp các tiểu danh mục theo từng tiêu thức khác nhau thànhmột danh mục cho vay có hiệu quả Như vậy, các nghiên cứu trong nước đã chỉ rõ lợi ích của đadạng hoá danh mục cho vay như một công cụ được sử dụng phổ biến và có hiệu quả trong quản
lý rủi ro tại các NHTM Việt Nam
aRossi, Schwaiger và Winkler (2009) nghiên cứu về mức độ ảnh hưởng của việc đa dạnghóa danh mục cho vay đến rủi ro, tính hiệu quả và khả năng vốn hóa của các ngân hàng Úc Với
Trang 5mục đích tương tự, Kamp, Pfingsten và Prath (2005) tập trung nghiên cứu về mức độ đa dạnghóa danh mục các khoản vay tại các ngân hàng của Đức và ảnh hưởng của nó đến danh mục chovay của ngân hàng
Thứ hai, về mua bán nợ Mua bán nợ là công cụ để quản lý rủi ro trên phạm vi danh mục
cho vay đã được các NHTM sử dụng từ nhiều năm trước, như được đề cập tới trong nghiên cứucủa Smithson (2003) Tác giả này đưa ra khá chi tiết về các nội dung: khái niệm, các chủ thểtham gia, sự phát triển của thị trường mua bán nợ ngân hàng trên thế giới từ những năm 1970 Với các nghiên cứu tại Việt Nam về công cụ mua bán nợ, các nghiên cứu hướng tới nhữngmục tiêu nghiên cứu khá đa dạng xoay quanh nội dung này như pháp luật về giao dịch mua bán
nợ, thực trạng thị trường mua bán nợ tại Việt Nam và khuyến nghị chính sách để phát triển thịtrường, hoạt động của công ty mua bán nợ của tổ chức tín dụng… Tuy vậy không có nhiều cácnghiên cứu trong nước đưa ra được góc nhìn tổng quan về thực trạng việc sử dụng công cụ nàytrong quản lý rủi ro tín dụng tại các NHTM Một số các công trình tiêu biểu có thể kể tới như: aHuỳnh Thị Hương Thảo (2019) sử dụng mô hình định lượng để đánh giá tác động củarủi ro tín dụng tới hiệu quả hoạt động của NHTM, từ đó nhấn mạnh việc quản lý rủi ro nhằm hạnchế tác động của rủi ro tín dụng là cần thiết để cải thiện hoạt động ngân hàng Một trong số các
đề xuất nhằm quản lý rủi ro tín dụng mà tác giả đưa ra là phát triển thị trường mua bán nợ, đâyđược xem là giải pháp quan trọng giúp NHTM xử lý các khoản nợ xấu triệt để
aHoàng Thị Duyên (2016) đưa ra đánh giá tổng quan về thực trạng nợ xấu toàn hệ thốngNHTM Việt Nam dựa theo kết quả nghiên cứu của Vietnam Report thực hiện cùng năm, từ đóđưa ra những kiến nghị để kiểm soát nợ xấu và hạn chế các tác động tiêu cực tới nền kinh tế.Theo đó việc xử lý nợ xấu của hệ thống sẽ có vai trò rất quan trọng của Công ty quản lý tài sảncủa các tổ chức tín dụng (VAMC) với tư cách là đối tác mua bán nợ xấu với tổ chức tín dụng tạiViệt Nam Theo tác giả, việc tạo điều kiện thuận lợi để phát triển thị trường mua bán nợ và nângcao hiệu quả hoạt động của VAMC là hai nhiệm vụ trọng tâm cần thực hiện liên quan tới giảipháp mua bán nợ để xử lý nợ xấu tại các tổ chức tín dụng Việt Nam hiện nay
aĐào Duy Huân (2013) thông qua đánh giá thực trạng thị trường mua bán nợ tại ViệtNam, tác giả cho rằng tại Việt Nam, nợ xấu phát sinh cao nhưng thị trường mua bán nợ lại chưaphát triển, do đó việc xây dựng một thị trường mua bán nợ quốc gia được xem là giải pháp đểgiải cứu nút thắt nợ xấu trong hệ thống tài chính nói chung và hệ thống các tổ chức tín dụng nóiriêng Cơ sở cho nhận định này là bởi theo khảo sát ý kiến các chuyên gia tại nghiên cứu này, nợxấu có thể được xử lý nhanh thông qua thị trường mua bán nợ, hơn nữa còn giúp tránh những hệlụy tiêu cực mà nợ xấu để lại cho nền kinh tế Từ đó, tác giả đưa ra ba điều kiện cần thiết thựchiện để hình thành thị trường mua bán nợ cho các tổ chức tín dụng tại Việt Nam, đồng thời đềxuất tám nhóm giải pháp để hỗ trợ thị trường mua bán nợ này hoạt động hiệu quả
Trang 6Bảng 1: Tóm tắt các công cụ quản lý rủi ro danh mục cho vay
được đưa ra tại các nghiên cứu
Nguồn: Tác giả tổng hợp
3 Thực trạng sử dụng công cụ quản lý rủi ro danh mục cho vay tại các NHTM Việt Nam
3.1 Phương pháp nghiên cứu
Để đưa ra các đánh giá về thực trạng sử dụng công cụ quản lý rủi ro danh mục cho vay tạicác NHTM Việt Nam, tác giả dựa trên phương pháp khảo sát trên mẫu nghiên cứu gồm 16 NHTM
cụ thể như sau:
Nguồn: Tác giả
Biểu đồ 1: Cơ cấu mẫu nghiên cứu
STT Công cụ được nghiên cứu Tác giả (Năm thực hiện nghiên cứu)
1 Công cụ phái sinh tín dụng
- Huỳnh Thị Hương Thảo (2014)
- Nguyễn Thị Châu Long và Trần Thụy Ái Phương(2014)
- Nguyễn Minh Sáng và Nguyễn Thị Lan Hương(2013)
- Bluhm, C., Overbeck, L và Wegner, C (2010)
- Lê Hồ An Châu (2006)
- Minton, B., Stulz, R và Williamson, R (2005)
- Smithson, C (2003)
2 Đa dạng hoá danh mục cho vay
- Nguyễn Thị Quế Thu (2016)
- Nguyễn Minh Hiếu (2011)
- Bùi Diệu Anh (2010)
- Rossi, S., Schwaiger, M và Winkler, G (2009)
- Kamp, A., Pfingsten, A và Prath, D (2005)
3 Sản phẩm của chứng khoánhoá các khoản vay (CDO) - Bluhm, C., Overbeck, L và Wegner, C (2010)- Smithson, C (2003)
4 Mua bán nợ - Huỳnh Thị Hương Thảo (2019)- Hoàng Thị Duyên (2016)
- Đào Duy Huân (2013)
- Smithson, C (2003)
Trang 7Trong đó:
iNhóm 1: bao gồm nhóm 09 ngân hàng được lựa chọn triển khai Basel II theo quy địnhcủa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) là NHTMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV),NHTMCP Công Thương Việt Nam (VietinBank), NHTMCP Ngoại Thương Việt Nam (Vietcom-bank), NHTMCP Kĩ thương (Techcombank), NHTMCP Á Châu (ACB), NHTMCP Việt NamThịnh Vượng (VPBank), NHTMCP Quân Đội (MB), NHTMCP Hàng Hải (Maritime Bank) vàNHTMCP Quốc Tế (VIB)
iNhóm 2: bao gồm 07 NHTM Việt Nam không nằm trong nhóm 09 ngân hàng trên làNHTMCP Phát triển nhà Thành phố Hồ Chí Minh (HD Bank), NHTMCP An bình (AB Bank),NHTMCP Bảo Việt (Bao Viet bank), NHTMCP Đại Chúng (PVcomBank), NHTMCP Xăng dầuPetrolimex (PG bank), NHTMCP Sài Gòn thương tín (Sacombank) và NHTMCP Quốc dân(NCB) Trong nhóm này có một số ngân hàng đã thực hiện triển khai Basel II dù chưa nằm trongdiện triển khai thí điểm của NHNN, còn một số các ngân hàng hoàn toàn chưa bắt đầu quá trìnhtriển khai Basel II hoặc chưa có định hướng rõ ràng về việc này
Khảo sát gồm 22 vấn đề được đưa ra, hướng tới đối tượng trả lời là các cán bộ làm việc tạicác bộ phận liên quan tới nghiệp vụ quản lý rủi ro danh mục cho vay tại các NHTM, trong khoảngthời gian từ 1/1/2019 đến 31/12/2019 Các đối tượng được khảo sát tham gia trả lời các câu hỏiliên quan tới các mảng nội dung về thực hiện quản lý rủi ro danh mục cho vay tại NHTM củamình, cùng với các đánh giá chủ quan về các vấn đề được đưa ra dựa trên thang điểm gồm bốnmức từ 1 đến 41như sau:
- Mức điểm 1: Chưa áp dụng hoặc mới áp dụng từ 10% trở xuống
- Mức điểm 2: Áp dụng trên 10% đến 50%
- Mức điểm 3: Áp dụng trên 50% đến dưới 100%
- Mức điểm 4: Thực hiện áp dụng đầy đủ 100%
Dưới đây là khái quát về kết quả thực hiện khảo sát được thực hiện tại luận án:
Bảng 2: Tổng hợp kết quả thực hiện khảo sát tại luận án
1 Thang điểm này được thực hiện theo Cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về yêu cầu các NHTM báo cáo tình hình thực hiện triển khai Basel II theo công văn số 212/NHNN-TTGSNH
Thời gian nhận phản hồi (số ngày trung bình từ lúc
Tỷ lệ số câu hỏi được trả lời trong mỗi phiếu khảo
Trang 8Nguồn: Tác giả
3.2 Các kết quả nghiên cứu chính
3.2.1 Về nhóm các công cụ truyền thống
3.2.1.1.Về các công cụ quản lý rủi ro tín dụng với từng khoản vay trong danh mục
Các NHTM Việt Nam hiện đã thực hiện được các phương pháp sau để quản lý rủi ro tíndụng trên từng khoản vay:
hPhân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng: Hiện nay các NHTM đều thực hiệnphân loại nợ theo chuẩn mực được quy định tại Thông tư 02/2013/TT-NHNN Ngoài việc phânloại nợ thành 05 nhóm theo quy định, mỗi NHTM còn thực hiện chi tiết hơn bằng việc xây dựng
hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ và phân loại nợ theo hệ thống nội bộ này Cũng theo khảo sát,100% các NHTM thuộc mẫu nghiên cứu đều đã xây dựng được hệ thống này nhưng khác nhau
về phương pháp xây dựng và kết quả vận hành trên thực tế
hNâng cao chất lượng tín dụng bằng việc thực hiện tốt các bước trong quy trình cấp tíndụng, đặc biệt khâu giám sát sau cho vay: Dù hiện nay tất cả các NHTM đều có quy định về quytrình tín dụng rất chi tiết trong sổ tay tín dụng, nhưng những hạn chế trong quản trị rủi ro tíndụng vẫn xuất hiện, có thể do những nguyên nhân bao gồm việc mở rộng tín dụng quá mức, đồngnghĩa với việc lựa chọn khách hàng kém kỹ càng, khả năng giám sát việc sử dụng khoản vayyếu, việc tuân thủ theo quy trình tín dụng bị lơi lỏng Bên cạnh đó, sự yếu kém của đội ngũ cán
bộ, nhân viên ngân hàng cũng dễ dẫn tới nguy cơ rủi ro tín dụng
hTriển khai bảo hiểm tín dụng cho từng khoản vay: Bảo hiểm tín dụng là một hình thứcbảo hiểm tự thoả thuận giữa NHTM với khách hàng, giúp người vay trả nợ ngân hàng khi họkhông may gặp rủi ro không lường trước Khi khách hàng mua bảo hiểm khoản vay, số tiền kháchhàng chi trả cho bảo hiểm sẽ dựa trên gói vay của mình tại ngân hàng Sau khi khách hàng muabảo hiểm, trong trường hợp khách hàng không may gặp phải những rủi ro không lường trướcđược hoặc tài sản mà khách hàng dùng trong vay thế chấp xảy ra các sự cố, công ty bảo hiểm sẽtrả nợ thay khách hàng
Bộ phận làm việc của cán bộ trả lời khảo sát - Khối quản lý rủi ro: Phòng quản lý rủi ro tín
dụng
- Khối tác nghiệp: Phòng quản lý tín dụng, Phòng tín dụng
Chức vụ cao nhất của cán bộ trả lời khảo sát Phó giám đốc khối quản lý rủi ro
Kinh nghiệm làm việc tại bộ phận hiện tại của cán
bộ trả lời khảo sát (số trung bình năm làm việc) 4,3 (năm)
Trang 9Nguồn: Khảo sát của tác giả
Biểu đồ 2: Tỷ lệ NHTM tham gia bảo hiểm tín dụng
Về mặt lý thuyết, hình thức bảo hiểm tín dụng sẽ giúp NHTM giảm thiểu được rất nhiềurủi ro do người đi vay không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ, đồng thời NHTM cũng dễ chấpthuận cho vay hơn với những khoản vay được mua bảo hiểm này Về tính pháp lý, việc thực hiệnhình thức bảo hiểm rủi ro này được NHTM tuân thủ theo các nguyên tắc tín dụng quy định tạiThông tư 39/2016/TT-NHNN Trên thực tế, rất nhiều các NHTM đã triển khai sản phẩm này, tuyvậy mới áp dụng phần lớn trên sản phẩm vay tín chấp và thẻ tín dụng, chứ chưa mở rộng ra cácsản phẩm khác Cụ thể hơn, kết quả khảo sát trên mẫu nghiên cứu tại biểu đồ trên cho thấy, chưatới một nửa các NHTM nhóm 2 đã sử dụng sản phẩm bảo hiểm tín dụng này Điều này cho thấynhóm các NHTM nhóm này chưa chú trọng vào việc bảo hiểm rủi ro cho khoản vay có thể donguyên nhân về mục tiêu mở rộng quy mô danh mục cho vay và đảm bảo tỷ lệ sinh lời mục tiêu,điều này trái ngược với các NHTM nhóm 1 với 100% các NHTM đều đã áp dụng sản phẩm nàytrên các khoản cho vay của mình
3.2.1.2 Về đa dạng hoá danh mục cho vay
Trên thực tế, theo kết quả nghiên cứu báo cáo tài chính của NHTM, hiện nay danh mụccho vay của các NHTM Việt Nam được cơ cấu theo các tiêu chí sau đây:
Bảng 2: Cơ cấu danh mục cho vay của các NHTM
1 Danh mục cho vay theo thời hạn 1.1 Cho vay ngắn hạn
1.2 Cho vay trung hạn1.3 Cho vay dài hạn
2 Danh mục cho vay theo ngành kinh tế 2.1 Cho vay ngành công nghiệp
2.1 Cho vay ngành nông nghiệp2.1 Cho vay ngành xây dựng2.1 Cho vay ngành giao thông vận tải2.1 cho vay tiêu dùng
Trang 10
Nguồn: Tổng hợp của tác giả theo Báo cáo tài chính của các NHTM
Về cơ cấu danh mục theo ngành nghề kinh tế, nằm trong lộ trình thực hiện đề án tái cơ cấu
các tổ chức tín dụng tại Việt Nam, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị quyết số 11/NQ-CPnăm 2011 về giảm tốc độ và tỷ trọng vốn tín dụng của khu vực phi sản xuất, nhất là lĩnh vực bấtđộng sản, chứng khoán, NHNN đã yêu cầu các tổ chức tín dụng đưa tỷ trọng dư nợ cho vay lĩnhvực phi sản xuất so với tổng dư nợ về mức tối đa là 16% Kể từ năm 2012, các tổ chức tín dụng
đã kiểm soát tỷ trọng dư nợ lĩnh vực phi sản xuất ở mức dưới 16% tổng dư nợ Bên cạnh đó, dư
nợ cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh của hệ thống các NHTM đều trên 80% Tuy vậy trongkhoảng 2018 trở lại đây, cơ cấu tín dụng có xu hướng thay đổi theo hướng dư nợ tín dụng cholĩnh vực phi sản xuất (bất động sản, tiêu dùng và chứng khoán) tăng dần Mặc dù tín dụng vẫntập trung chủ yếu vào lĩnh vực sản xuất - kinh doanh, song tỷ trọng trong tổng dư nợ đã thấp hơn
so với trước đây Bên cạnh đó, hướng tới mục tiêu chuyển dịch cơ cấu đầu tư và cơ cấu kinh tế,đổi mới mô hình tăng trưởng và đa dạng hóa danh mục tín dụng của hệ thống ngân hàng, NHNN
đã yêu cầu các ngân hàng tập trung nguồn vốn cho các lĩnh vực kinh tế quan trọng Các lĩnh vựcnày bao gồm: phát triển nông nghiệp, nông thôn (quy định tại Nghị định số 41/2010/NĐ-CP vềchính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn); phương án, dự án sản xuất -kinh doanh hàng xuất khẩu quy định tại Luật Thương mại; sản xuất - kinh doanh của doanhnghiệp vừa và nhỏ (quy định tại Nghị định số 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển DNNVV),
3 Danh mục cho vay theo khu vực địa lý 3.1 Khu vực miền Bắc
3.1 Khu vực miền Trung3.1 Khu vực miền Nam
4 Danh mục cho vay theo đối tượng khách
hàng 4.1 Doanh nghiệp sở hữu Nhà nước4.2 Công ty TNHH & Cổ phần
4.3 Công ty 100% vốn nước ngoài4.4 Công ty liên doanh
4.5 Hợp tác xã4.6 Cá nhân
5 Danh mục cho vay theo loại tiền tệ 5.1 Cho vay nội tệ
5.2 Cho vay ngoại tệ
6 Danh mục cho vay theo lĩnh vực đầu tư 6.1 Cho vay sản xuất
6.2 Cho vay phi sản xuất
7 Danh mục cho vay theo tính chất đảm bảo 7.1 Cho vay có đảm bảo
7.2 Cho vay không có đảm bảo
8 Danh mục cho vay theo hình thức 8.1 Cho vay ứng trước
8.2 Cho vay chiết khấu giấy tờ có giá8.3 Cho thuê tài chính
Trang 11
phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ (quy định tại Quyết định số 12/2011/QĐ-TTg về chính sáchphát triển một số ngành công nghiệp hỗ trợ); doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao (quy địnhtại Luật Công nghệ cao và các quy định của pháp luật có liên quan) Các biện pháp được đưa ra
để khuyến khích NHTM cho vay các lĩnh vực trên bao gồm: NHNN đã áp dụng trần lãi suất chovay của các ngân hàng đối với các lĩnh vực ưu tiên, thấp hơn từ 2-3% mặt bằng lãi suất cho vaytrên thị trường; NHNN yêu cầu các ngân hàng, đặc biệt là nhóm các NHTM có sở hữu Nhà nước,thực hiện triển khai các gói tín dụng ưu đãi cho các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanhtrong các lĩnh vực ưu tiên kể trên (Tô Ngọc Hưng, 2017)
Về cơ cấu danh mục theo thời hạn, tại tất cả các NHTM được khảo sát đều duy trì tỷ trọng
tín dụng cao hơn vào các kì hạn trung và dài hạn Tuy vậy kể từ khi Thông tư 06/2016/TT-NHNNsửa đổi, bổ sung cho Thông tư 36/2014/TT-NHNN quy định về các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo antoàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có hiệu lực, tỷtrọng cho vay các kì hạn trung và dài hạn đã được giảm bớt nhằm tránh rủi ro do dòng vốn tíndụng đổ vào các lĩnh vực nhạy cảm, tỷ trọng cho vay ngắn hạn, đặc biệt là vốn dành cho vay tíndụng tiêu dùng đã được tăng lên
3.2.2 Về nhóm các công cụ hiện đại
3.2.2.1 Về nghiệp vụ mua bán nợ
Hiện nay, thị trường mua bán nợ dành cho các tổ chức tín dụng tại Việt Nam bao gồm cácthành viên tham gia như sau: Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Mua bán nợ ViệtNam (DATC), Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC), các công tymua bán nợ và tài sản thuộc các NHTM, các tổ chức tài chính, các doanh nghiệp đáp ứng đượctiêu chuẩn theo Nghị định 69/2016/NĐ-CP của Chính Phủ Việc mua bán nợ của NHTM đượcthực hiện theo thông tư số 09/2015/TT- NHNN quy định về hoạt động mua bán nợ của tổ chứctín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
Để thực hiện nghiệp vụ quản lý rủi ro danh mục cho vay, về mặt lý thuyết, NHTM sẽ cầnbán các khoản nợ cần phân tán rủi ro trong danh mục của mình cho các bên đối tác Thực tế pháttriển thị trường mua bán nợ ở Việt Nam cho thấy, doanh số bán nợ và song song với đó là mua
nợ còn rất khiêm tốn mà nguyên nhân được cho là do thị trường chưa phát triển đúng bản chất
và các khoản nợ bán được thường là được mua theo chỉ định hoặc bên mua nợ nhằm mục đích
cơ cấu lại tài sản của mình
Tuy nhiên, kể từ khi công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC)được thành lập và hoạt động theo Nghị định 53/2013/NĐ-CP của Chính phủ, Quyết định số843/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 1459/QĐ-NHNN của NHNN, hoạtđộng mua bán nợ trong hệ thống các NHTM Việt Nam đã được cải thiện Từ ngày 1/10/2013,VAMC đã chính thức mua nợ xấu của các tổ chức tín dụng theo kế hoạch được Ngân hàng Nhànước phê duyệt hàng năm Sau khi mua nợ xấu, VAMC thực hiện tổng hợp, phân loại, đánh giá
và xây dựng danh mục khoản nợ xấu để áp dụng các biện pháp thu hồi nợ có hiệu quả như đônđốc thu hồi, khởi kiện, cơ cấu nợ, bán nợ, bán tài sản bảo đảm hoặc ủy quyền cho các tổ chức tíndụng thu hồi nợ Đối với các NHTM, hoạt động của VAMC nhằm góp phần đưa nợ xấu ra khỏibảng cân đối kế toán của ngân hàng, kéo dài thời gian trích lập dự phòng rủi ro từ 5 đến 10 năm,