1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá tại các cảng cá tỉnh quảng trị

129 68 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 786,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích thực trạng phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá tại các cảng cá tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2015 - 2019 thông qua việc pháttriển cơ sở hạ tầng, dịch vụ cung ứng, đầu tư phát triển d

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐAI HỌC KINH TẾ

-LÊ VĂN SƠN

PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ HẬU CẦN NGHỀ CÁ TẠI CÁC CẢNG CÁ TỈNH QUẢNG TRỊ

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ

MÃ SỐ: 8 31 01 10

LUẬN VĂ THẠC SĨ KHOA HỌC KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS PHAN VĂN HÒA

HUẾ, 2020

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu của tác giả dưới

sự hướng dẫn khoa học của Giáo viên hướng dẫn

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn

này là hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này

đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ

nguồn gốc

Tác giả luận văn

Lê Văn Sơn

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện luận văn này, tác giả đã nhận được sự giúp

đỡ của nhiều cá nhân và tổ chức Tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc

nhất đến PGS TS Phan Văn Hòa, giáo viên hướng dẫn khoa học cho tác giả

vì sự tận tình hướng dẫn của Thầy

Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo,

Trường Đại học Kinh tế Huế, Ban Giám đốc, Phòng Đào tạo Phân hiệuĐại học Huế tại Quảng Trị, cùng toàn thể quý Thầy, Cô giáo hai trường đã

tận tình giảng dạy, quan tâm, giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập vànghiên cứu

Tác giả cũng xin được gửi lời cảm ơn đến Ban lãnh đạo và các anh chị

đồng nghiệp tại Ban quản lý Cảng cá Quảng Trị đã nhiệt tình giúp đỡ, tạođiều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình nghiên cứu, thu thập tài liệuliên quan đến đề tài nghiên cứu; xin cảm ơn các chủ tàu cá được điều tra đã

nhiệt tình tham gia trả lời các câu hỏi điều tra, giúp tác giả thu thập đượcnhững thông tin vô cùng quý báu và hữu ích

Xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã giúp đỡ, động viên, cổ vũ tác giả trongquá trình học tập và nghiên cứu

Mặc dù đã rất cố gắng trong quá trình nghiên cứu nhưng không thểtránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Kính mong quý Thầy, Cô giáo, bạn bè,

đồng nghiệp và những người quan tâm đến đề tài tiếp tục đóng góp ý kiến để

đề tài được hoàn thiện hơn

Một lần nữa, xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả luận văn

Lê Văn Sơn

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 4

TÓM LƯỢC LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC KINH TẾ

Họ và tên học viên:LÊ VĂN SƠN

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế Mã số: 8310110 Niên khóa: 2018 - 2020

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS PHAN VĂN HÒA

Tên đề tài: PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ HẬU CẦN NGHỀ CÁ TẠI CÁC CẢNG

CÁ TỈNH QUẢNG TRỊ

1 Mục tiêu và đối tượng nghiên cứu

Mục tiêu: Đánh giá thực trạng phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá tạicác cảng cá tỉnh Quảng Trị, từ đó đề xuất giải pháp phát triển dịch vụ hậucần nghề cá tại các cảng cá tỉnh Quảng Trị trong thời gian đến

Đối tượng nghiên cứu: Là những vấn đề lên quan đến phát triển dịch

vụ hậu cần nghề cá tại các cảng cá tỉnh Quảng Trị

2 Phương pháp nghiên cứu đã sử dụng

Nguồn số liệu thứ cấp được thu thập từ các cơ quan ban ngành ở trung

ương và địa phương, đặc biệt từ Ban quản lý cảng cá Quảng Trị Nguồn số

liệu sơ cấp được thực hiện điều tra ngẫu nhiên có điều kiện 60 chủ tàu cá địa

phương có sử dụng dịch vụ tại các cảng cá tỉnh Quảng Trị

Phương pháp tổng hợp, phân tích được sử dụng trong luận văn là cácphương pháp tổng hợp tài liệu, phân tổ thống kê, thống kê mô tả, so sánh và

chuyên gia chuyên khảo

3 Các kết quả nghiên cứu chính và kết luận

Luận văn đã hệ thống được cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triểndịch vụ hậu cần nghề cá Phân tích thực trạng phát triển dịch vụ hậu cần nghề

cá tại các cảng cá tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2015 - 2019 thông qua việc pháttriển cơ sở hạ tầng, dịch vụ cung ứng, đầu tư phát triển dịch vụ, tình hình trật

tự trị an, bảo vệ môi trường, phòng chống bão lũ, cháy nổ trên các cảng cá và

đánh giá về phát triển dịch vụ của các chủ tàu cá được điều tra; đề xuất một

số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá tại các cảng cátỉnh Quảng Trị trong thời gian đến

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 5

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM LƯỢC LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC KINH TẾ iii

DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ ix

PHẦN I: MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

2.1 Mục tiêu chung 2

2.2 Mục tiêu cụ thể 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

3.2 Phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

4.1 Phương pháp thu thập số liệu 3

4.2 Phương pháp tổng hợp, phân tích 4

4.3 Công cụ xử lý dữ liệu 5

5 Cấu trúc Luận văn 5

PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỂN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ HẬU CẦN NGHỀ CÁ 6

1.1 Lý luận chung về khai thác hải sản 6

1.1.1 Khái niệm về khai thác hải sản 6

1.1.2 Phân loại nghề khai thác hải sản 6

1.1.3 Đặc điểm của nghề khai thác hải sản 8

1.2 Lý luận về dịch vụ hậu cần nghề cá 9

1.2.1 Khái niệm dịch vụ hậu cần nghề cá 9

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 7

1.2.2 Đặc điểm của dịch vụ hậu cần nghề cá 12

1.3 Lý luận về phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá 14

1.3.1 Khái niệm phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá 14

1.3.2 Vai trò phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá 16

1.3.3 Nội dung phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá 17

1.3.3.1 Phát triển cơ sở hạ tầng dịch vụ hậu cần nghề cá 17

1.3.3.2 Phát triển các hoạt động cung cấp dịch vụ hậu cần nghề cá 20

1.3.3.3 Nâng cao chất lượng dịch vụ hậu cần nghề cá 21

1.3.4 Các chỉ tiêu đánh giá phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá 21

1.3.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá 22

1.3.5.1 Nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên 22

1.3.5.2 Nhóm nhân tố về kinh tế 23

1.3.5.3 Nhóm nhân tố về xã hội 24

1.3.5.4 Nhóm nhân tố về chính sách và an toàn, an ninh trên biển 24

1.4 Kinh nghiệm và bài học kinh nghiệm phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá tại một số cảng cá trong nước 25

1.4.1 Kinh nghiệm phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá của một số cảng cá trong nước 25

1.4.1.1 Kinh nghiệm phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá tại tỉnh Nghệ An 25

1.4.1.2 Kinh nghiệm phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá tại tỉnh Thanh Hóa 27

1.4.2 Bài học kinh nghiệm phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá cho tỉnh Quảng Trị 30 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ HẬU CẦN NGHỀ CÁ TẠI CÁC CẢNG CÁ TỈNH QUẢNG TRỊ 31

2.1 Giới thiệu về Ban quản lý Cảng cá Quảng Trị 31

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 31

2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Ban quản lý Cảng cá Quảng Trị 32

2.1.3 Cơ cấu tổ chức quản lý 34

2.1.4 Các cảng cá trực thuộc Ban quản lý Cảng cá Quảng Trị 36

2.2 Tình hình hoạt động nghề cá tại tỉnh Quảng Trị 37

2.2.1 Tình hình phát triển tàu thuyền đánh cá 37

2.2.2 Tình hình khai thác thủy sản 42

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 8

2.3 Thực trạng phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá tại các cảng cá tỉnh Quảng Trị 43

2.3.1 Phát triển cơ sở hạ tầng cảng cá 43

2.3.2 Phát triển dịch vụ cung ứng tại các cảng cá 47

2.3.3 Tăng cường đầu tư nâng cao chất lượng dịch vụ hậu cần nghề cá 50

2.3.4 Tình hình trật tự trị an, bảo vệ môi trường, tổ chức phòng chống bão lũ, phòng chống cháy nổ trên các cảng cá 56

2.3.5 Ảnh hưởng của các nhân tố đến phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá 58

2.3.5.1 Nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên 58

2.3.5.2 Nhóm nhân tố về kinh tế 58

2.3.5.3 Nhóm nhân tố về xã hội 59

2.3.5.4 Nhóm nhân tố về chính sách và an toàn, an ninh trên biển 59

2.4 Tình hình tàu cá được điều tra 59

2.4.1 Đặc điểm cơ bản của các tàu cá được điều tra 59

2.4.2 Hoạt động khai thác thủy, hải sản của các tàu cá được điều tra 62

2.4.3 Chi phí khai thác thủy, hải sản của các tàu cá được điều tra 64

2.4.4 Kết quả và hiệu quả khai thác thủy, hải sản của các tàu cá được điều tra 65

2.5 Đánh giá của các chủ tàu cá được điều tra về phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá tại các Cảng cá tỉnh Quảng Trị 66

2.5.1 Đánh giá của các chủ tàu cá được điều tra về hệ thống cơ sở hạ tầng tại các cảng cá tỉnh Quảng Trị 66

2.5.2 Đánh giá của các chủ tàu cá được điều tra về dịch vụ và nhu cầu sử dụng dịch vụ hậu cần tại các cảng cá 68

2.5.3 Đánh giá của các chủ tàu cá được điều tra về cơ sở đóng, sửa chữa tàu và đài thông tin duyên hải 71

2.6 Đánh giá chung về phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá tại các cảng cá tỉnh Quảng Trị 72

2.6.1 Ưu điểm 72

2.6.2 Hạn chế và nguyên nhân 75

CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG, MỤC TIÊU, GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ HẬU CẦN NGHỀ CÁ TẠI CÁC CẢNG CÁ TỈNH QUẢNG TRỊ 78

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 9

3.1 Định hướng, mục tiêu phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá tại các cảng cá tỉnh

Quảng Trị 78

3.1.1 Định hướng phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá tại các cảng cá tỉnh Quảng Trị 78

3.1.2 Mục tiêu phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá tại các cảng cá tỉnh Quảng Trị 79 3.2 Giải pháp phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá tại các cảng cá tỉnh Quảng Trị 81

3.2.1 Quy hoạch phát triển cơ sở hạ tầng dịch vụ hậu cần nghề cá 81

3.2.2 Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng tại các cảng cá, chợ cá 82

3.2.3 Thu hút đầu tư tư nhân, phát triển đa dạng các dịch vụ hậu cần nghề cá 84

3.2.4 Nâng cao chất lượng các dịch vụ tại cảng cá, khu neo đậu 86

PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 88

1 Kết luận 88

2 Kiến nghị 89

2.1 Đối với UBND tỉnh Quảng Trị 89

2.2 Đối với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Trị và các đơn vị liên quan 91

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

PHỤ LỤC PHIẾU ĐIỀU TRA 96

PHỤ LỤC XỬ LÝ SỐ LIỆU 104

Quyết định Hội đồng chấm luận văn……….……… 121

Nhận xét luân văn thạc sĩ (phản biện 1)……… 123

Nhận xét luân văn thạc sĩ (phản biện 2)……… 126

Biên bản của Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ……… 129

Bản giải trình chỉnh sửa luận văn……… ……… 131 Xác nhận hoàn thành luận văn……… ……… 136Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 10

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

Sơ đồ 2.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của Ban quản lý Cảng cá Quảng

Trị 35

Bảng 2.1: Tình hình phát triển tàu đánh cá của tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2015 - 2019 38

Bảng 2.2: Tình hình phát triển tàu cá của tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2015 -2019 phân theo nghề hoạt động 40

Bảng 2.3: Tình hình tàu cá của tỉnh Quảng Trị năm 2019 phân theo vật liệu vỏ 41

Bảng 2.4: Sản lượng thủy sản khai thác của tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2015 - 2019 42

Bảng 2.5: Hiện trạng các cảng cá của tỉnh Quảng Trị năm 2019 43

Bảng 2.6: Thực trạng số lượng tàu, hàng qua các cảng cá của tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2015 - 2019 45

Bảng 2.7: Tình hình các cơ sở cung ứng dịch vụ tại các Cảng cá tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2015 - 2019 47

Bảng 2.8: Tình hình cung ứng các dịch vụ chủ yếu và khối lượng hàng hóa sơ chế, chế biến tại các cơ sở dịch vụ hậu cần nghề cá giai đoạn 2015 - 2019 49

Bảng 2.9: Kêt quả hoạt động kinh doanh của Ban quản lý Cảng cá Quảng Trị giai đoạn 2015 - 2019 55

Bảng 2.10 Đặc điểm cơ bản của các chủ tàu cá được điều tra 60

Bảng 2.11 Đặc điểm cơ bản của các tàu cá được điều tra 61

Bảng 2.12 Tình hình hoạt động của các tàu cá được điều tra 63

Bảng 2.13 Chi phí khai thác của các tàu cá được điều tra 64

Bảng 2.14 Kết quả và hiệu quả khai thác của các tàu cá được điều tra 65

Bảng 2.15 Đánh giá của các chủ tàu cá được điều tra về hệ thống cơ sở hạ tầng tại các cảng cá tỉnh Quảng Trị 67 Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 11

Bảng 2.16 Đánh giá của các chủ tàu cá được điều tra về dịch vụ và nhu

cầu sử dụng dịch vụ hậu cần tại các cảng cá tỉnh Quảng Trị 69Bảng 2.17 Đánh giá của các chủ tàu cá được điều tra về cơ sở đóng, sửa

chữa tàu và đài thông tin duyên hải tỉnh Quảng Trị 71Bảng 3.1 Mục tiêu dịch vụ hậu cần nghề cá năm 2020 và năm 2025 tại

các cảng cá tỉnh Quảng Trị 80Bảng 3.2 Mục tiêu thu tiền dịch vụ hậu cần nghề cá năm 2020 và năm

2025 tại các cảng cá tỉnh Quảng Trị 81

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 12

PHẦN I: MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là quốc gia có nhiều lợi thế về tài nguyên biển với bờ biểndài 3.260 km trải dọc chiều dài đất nước Trung bình 100 km2đất liền có 1 km

bờ biển Vùng đặc quyền kinh tế biển rộng trên 1 triệu km2, trữ lượng nguồnlợi thuỷ sản Việt Nam khoản 5 triệu tấn, sản lượng khai thác năm 2018 đạt 3,4triệu tấn, ngành thuỷ sản đã tạo việc làm cho hàng triệu người dân ven biển và

đóng góp đáng kể vào sự phát triển của nền kinh tế nước nhà [29]

Trong những năm qua, hoạt động khai thác thuỷ sản đang chuyểndần từ khai thác và đánh bắt với quy mô nhỏ, lẻ, khai thác ven bờ sang hoạt

động sản xuất quy mô lớn, thành lập các tổ đội sản xuất với các đội tàu có

công suất lớn, có thể đánh cá xa bờ và nhiều ngày trên biển

Theo thống kê của Sở Nông nghiệp và PTNT Quảng Trị, năm 2019 toàntỉnh có trên 2.317 tàu, thuyền khai thác thủy sản với tổng công suất 127.400CV,

trong đó, tàu cá dưới 20CV chiếm số lượng nhiều nhất với 1.733 chiếc; 344 tàu

cá từ 20CV đến dưới 90CV; 192 tàu cá xa bờ từ 90CV trở lên[17]

Hệ thống cơ sở hạ tầng, dịch vụ hậu cần nghề cá tại Quảng Trị cònthiếu và yếu, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển; toàn tỉnh có 02 cảng

cá chỉ định gồm: Cảng cá Cửa Việt và Cảng cá Cửa Tùng; ngoài ra còn

có khu neo đậu tránh trú bão kết hợp cảng cá Cồn Cỏ, thuộc huyện Đảo

Cồn Cỏ; Hiện nay, chất lượng cảng cá Cửa Tùng và Cửa Việt đều không

đạt quy hoạch Cảng cá Cửa Việt là cảng cá loại I, Cảng cá Cửa Tùng là

cảng cá loại II theo Quyết định số 1976/QĐ-TTg, chưa đáp ứng năng lựccập tàu, bốc dỡ hàng hóa do các hạng mục, phân khu chức năng đềuxuống cấp, cầu cảng không có mái che, bến cảng quá tải thiết kế cho tàu

cá có công suất tối đa 250CV cập cảng, trong khi tàu vỏ thép công suất

lên đến 1.000CV cập cảng; các khu neo đậu tránh trú bão ở Quảng Trị

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 13

quy mô nhỏ, chưa đáp ứng nhu cầu tránh trú bão cho tàu cá; luồng lạchvàn cảng và khu quay trở tàu trước cảng bị bồi lấp nghiêm trọng nên tàu,thuyền nghề cá vào ra khó khăn.

Cơ sở hạ tầng kỹ thuật và cơ sở dịch vụ hậu cần của các cảng cáchưa được đầu tư đồng bộ nên chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển ngành

nghề khai thác và chế biến thủy sản Hoạt động hậu cần nghề cá vẫn diễn ranhỏ lẻ, chưa có sự liên kết phối hợp chặt chẽ giữa các khâu khai thác, vậnchuyển, chế biến và tiêu thụ sản phẩm

Số lượng tàu thuyền phải nằm bờ nhiều vì không được sửa chữa,hoặc không được trang bị ngư lưới cụ đầy đủ, thông tin về ngư trường,nguồn lợi chưa phát triển; sản phẩm khai thác không được bốc dỡ, vậnchuyển và bảo quản kịp thời làm giảm chất lượng và giá trị sản phẩm

Cùng với sự gia tăng về số lượng tàu thuyền khai thác, yêu cầu vềphát triển và hoàn thiện dịch vụ hậu cần nghề cá làm cơ sở cho ngành khaithác thủy, hải sản phát triển là vấn đề cấp thiết

Nhận thấy tầm quan trọng của việc phát triển dịch vụ hậu cần nghề

cá tại các cảng cá nói chung và các cảng cá của tỉnh Quảng Trị do Banquản lý các cảng cá Quảng Trị quản lý và vận hành nói riêng, đặc biệt triểnkhai tốt Luật Thủy sản số 18/2017/QH14 ngày 21/11/2017 [16]; Nghị định

số 26/2019/NĐ-CP ngày 08/03/2019 của Chính phủ Quy định chi tiết một

số điều và biện pháp thi hành Luật Thủy sản; các khuyến nghị của Ủy banChâu Âu EC về chống khai thác bất hợp pháp hải sản, nên tác giả quyết

định lựa chọn đề tài: "Phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá tại các cảng cá

tỉnh Quảng Trị" làm đề tài cho luận văn thạc sĩ

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở hệ thống lý luận, thực tiễn, phân tích đánh giá thực trạng

phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá tại các cảng cá tỉnh Quảng Trị giai đoạnTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 14

2015 - 2019, từ đó đề xuất giải pháp phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá tạicác cảng cá tỉnh Quảng Trị trong thời gian đến.

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển dịch vụ hậucần nghề cá;

- Phân tích thực trạng phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá tại các cảng

cá tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2015 - 2019;

- Đề xuất giải pháp nhằm phát triển dịch vụ hậu cần nghề tại cáccảng cá của tỉnh Quảng Trị đến năm 2025

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Là những vấn đề lên quan đến phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá tạicác cảng cá tỉnh Quảng Trị

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Tại các cảng cá tỉnh Quảng Trị

- Về thời gian: Phân tích, đánh giá thực trạng dịch vụ hậu cần nghề

cá tại các cảng cá tỉnh Quảng Trị trong giai đoạn 2015 - 2019, điều tra, thuthập số liệu sơ cấp năm 2019 và đề ra giải pháp đến năm 2025

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp thu thập số liệu

* Dữ liệu thứ cấp

Các số liệu và thông tin thu thập chủ yếu từ các nguồn:

- Tập hợp các báo cáo tình hình hoạt động, báo cáo thống kê của Banquản lý Cảng cá Quảng Trị

- Văn bản, Quyết định, báo cáo của Sở Nông nghiệp & PTNT và Chicục thủy sản Quảng Trị

- Nghị quyết của hội đồng nhân dân tỉnh, Quyết định, văn bản chỉ

đạo, điều hành của UBND tỉnh Quảng Trị

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 15

- Các văn bản quy phạm pháp luật, các văn bản hướng dẫn, chỉ đạocủa Bộ Nông nghiệp và PTNT, Tổng cục Thủy sản và các cơ quan ban

Trong khi đề tài tập trung đánh giá, phân tích các tàu có khả năng vươnkhơi, từ 250 CV trở lên, thời gian đi biển trên 7 ngày, có khả năng sử dụng

các dịch vụ cảng nhiều Với công suất này, năm 2019 toàn tỉnh Quảng Trị

có 198 tàu Để đảm bảo đánh giá, phân tích được các đánh giá, nhận xét

của các chủ tàu cá trong việc sử dụng các dịch vụ hậu cần nghề cá và cókhả năng tổng hợp thông tin, phản ánh tình hình phát triển dịch vụ hậu cầnnghề cá của địa phương trong thời gian qua và những năm đến, tác giả chọn

số mẫu khảo sát là 60 mẫu, chiếm 30% số tàu cá có công suất lớn hơn 250

CV của địa phương

4.2 Phương pháp tổng hợp, phân tích

Luận văn sử dụng các phương pháp phân tích tổng hợp sau:

- Phương pháp tổng hợp tài liệu: nhằm tổng hợp phần cơ sở lý luận

và thực tiễn vấn đề nghiên cứu về phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 16

- Phương pháp phân tổ thống kê: sử dụng các tiêu chuẩn, phân chiacác tiêu thức, chỉ tiêu thành các tổ, nhóm khác nhau nhằm so sánh, phân

5 Cấu trúc Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, nội dung chính của luận

văn được chia làm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển dịch vụ hậu cần

Trang 17

PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỂN VỀ PHÁT

TRIỂN DỊCH VỤ HẬU CẦN NGHỀ CÁ

1.1 Lý luận chung về khai thác hải sản

1.1.1 Khái niệm về khai thác hải sản

Khai thác hải sản được xem là một nghề chủ yếu của ngành thuỷ sản

Đây là một trong những nghề có từ lâu đời nhằm khai thác nguồn lợi hải sản

sẳn có trong tự nhiên biển cả, đáp ứng nhu cầu cuộc sống Từ trước đến nay

đã có nhiều tác giả đưa ra các khái niệm khác nhau về khai thác hải sản

Theo Luật Thủy sản năm 2017, khái niệm khai thác thủy sản là hoạt

động đánh bắt hoặc hoạt động hậu cần đánh bắt nguồn lợi thủy sản Hoạt động

hậu cần đánh bắt nguồn lợi thủy sản là hoạt động thăm dò, tìm kiếm, dẫn dụ,vận chuyển nguồn lợi thủy sản đánh bắt trong vùng nước tự nhiên [16]

Như vậy, có thể nói, khai thác hải sản là hoạt động đánh bắt hoặc

hoạt động hậu cần đánh bắt nguồn lợi hải sản trên vùng biển của Việt Namhoặc quốc tế được cấp phép Hoạt động hậu cần đánh bắt nguồn lợi hải sản

là hoạt động thăm dò, tìm kiếm, dẫn dụ, vận chuyển nguồn lợi hải sản đánhbắt trong vùng nước tự nhiên

Tức khai thác hải sản là quá trình hoạt động của con người sử dụngcác loại phương tiện như tàu, thuyền, các cấu trúc nổi khác và các loại ngư

cụ để thu được những nguồn lợi sinh vật từ biển và đại dương nhằm đáp

ứng nhu cầu của con người

1.1.2 Phân loại nghề khai thác hải sản

- Theo cơ cấu nghề nghiệp: Hiện nay ở Việt Nam có khoảng 25 loại

nghề khai thác hải sản khác nhau, trong đó có 6 họ nghề chính sau đây[25]:

+ Họ lưới kéo (gồm lưới kéo đơn, lưới kéo đôi, lưới kéo tôm)

+ Họ lưới vây (gồm lưới vây ánh sáng, lưới rùng)

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 18

+ Họ lưới vó, mành (lưới vó, rớ, lưới vó ánh sáng, mành chà, mành đèn).+ Họ lưới rê (Rê thu ngừ, rê chuồn, rê 3 lớp đánh mực, rê thường, rê

đa loài)

+ Họ câu (Câu mập, câu chân rạn, câu mực, câu tay)

+ Họ nghề khác (lưới trủ, giã cào )

- Theo năng lực phương tiện khai thác: Gồm có các loại tàu có công

suất dưới 20CV, công suất từ 20 - 49 CV, công suất từ 50 - 89 CV, côngsuất từ 90 - 249 CV, công suất 250 CV trở lên

- Theo ngư trường:

+ Ngư trường vùng ven bờ và vùng lộng <50m nước sâu: Vùng ven

bờ từ 20 m sâu trở vào chủ yếu là ngư trường khai thác của các phương tiệnthủ công, các tàu thuyền có công suất nhỏ chuyên hoạt động bằng nghề ven

bờ như: xăm trủ, te giã ruốc, giã tôm, rê 3 lớp, khai thác nhuyễn thể Vùng

nước sâu từ 20-40 m là ngư trường khai thác chủ yếu của các loại tàu,

thuyền gắn máy có công suất từ 20-60CV chuyên sử dụng các nghề mànhánh sáng, mành rút, giã kéo tôm cá, lừ bóng, câu chụp mực

+ Ngư trường khơi từ 50m - 90m nước sâu đòi hỏi trang bị tàu,

thuyền có công suất trên 60CV, chịu được sóng, gió cấp 5-6, hoạt động chủyếu bằng các nghề lưới vây, rê khơi, câu khơi

+ Ngư trường khơi từ 90 m nước sâu trở lên đòi hỏi phải trang bị tàu

công suất trên 90 CV, các tàu khai thác có khả năng chịu được sóng gió cấp

6-7, đánh bắt dài ngày trên biển bằng các nghề vây rút, chụp mực và câu khơi

Thực tế sản xuất, mỗi vùng biển có một cách bố trí sản xuất khác nhauphụ thuộc vào nghề nghiệp khai thác và quy mô, mức độ trang bị tàu thuyền,

ngư lưới cụ phục vụ sản xuất Vì vậy, phân loại thành ba vùng chủ yếu:

- Xa bờ (độ sâu nước biển trên 50 m)

- Gần bờ (độ sâu nước biển dưới 20 m)

- Ngư trường kết hợp gần bờ và xa bờ

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 19

1.1.3 Đặc điểm của nghề khai thác hải sản

- Ngh ề khai thác hải sản phụ thuộc vào ngư trường:

Ngư trường là vùng biển có nguồn lợi hải sản tập trung được xácđịnh để tàu cá đến khai thác Mỗi loại ngư trường có vị trí địa lý khácnhau, điều kiện địa hình, chế độ thuỷ triều khác nhau và nguồn thực vật,động vật phù du khác nhau do đó có trữ lượng nguồn lợi hải sản khác

nhau Vì vậy, xác định đúng ngư trường là điều kiện hết sức cần thiết, làmột trong những yếu tố quan trọng có tính quyết định năng suất khaithác của nghề cá hiện nay

- Ngh ề khai thác hải sản mang tính thời vụ:

Ở vùng biển Việt Nam, thời tiết phân mùa rõ rệt do ảnh hưởng củagió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây Nam Vào mùa xuân đa số các loài cá

di cư vào những vùng nước nóng gần bờ và ven các đảo, nơi có nhiệt độ vàđịa điểm phù hợp để sinh sản Vào mùa hè một số loài vẫn tiến hành sinh

sản, một số loài đã kết thúc giai đoạn đẻ rộ Các loài cá nhỏ còn phân bố ởvùng gần bờ, các loài lớn di chuyển dần ra các vùng nước sâu hơn

Vào mùa thu và đông, do ảnh hưởng của khí hậu lục địa, nhiệt độvùng nước gần bờ giảm thấp, các loài cá trưởng thành di chuyển ra cácvùng nước sâu có nhiệt độ cao hơn Vì vậy hoạt động khai thác hải sản trênvùng biển Quảng Trị được chia thành 2 vụ chính:

Vụ cá Nam bắt đầu từ tháng 4 đến hết tháng 8 cùng với gió mùa TâyNam Tuy thời gian ngắn nhưng đây là vụ khai thác chính, có năng suất vàsản lượng cao, các tàu cá tập trung khai thác hải sản vào mùa này Sản

lượng khai thác hải sản vụ cá Nam thường chiếm từ 60-65% tổng sản lượngkhai thác trong năm

Vụ cá Bắc bắt đầu từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau cùng với gió

mùa Đông Bắc Vào vụ này các đàn cá tập trung kiếm mồi ở vùng nước

sâu, vì vậy các tàu cá thường tập trung khai thác ở ngư trường xa bờ

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 20

- Khai thác h ải sản chịu ảnh hưởng của khí hậu, thời tiết:

Với đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, hoạt động khai thác hải sảnchỉ có thể tiến hành vào những lúc thời tiết thuận lợi, gió từ cấp 6-7 trởxuống Vào những thời điểm này các loại phương tiện khai thác, lao độngnghề cá được huy động tối đa Ngược lại vào những lúc thời tiết xấu (biển

động) các tàu thuyền phải neo đậu và trú, tránh ở các cảng, cửa sông, cửa

lạch Nếu thời tiết bất lợi thì tầu thuyền không thể ra khơi khai thác có khikéo dài nhiều tháng trong năm, ngoài việc không có thu nhập, các chủ

phương tiện còn phải lo bảo vệ và bảo dưỡng máy móc, thiết bị tàu thuyền

với chi phí khá lớn

- Khai thác h ải sản là nghề có độ rủi ro cao:

Khai thác hải sản bắt buộc hoạt động xa đất liền, biển khơi mênhmông luôn ẩn chứa nhiều mối nguy hiểm đối với tính mạng và tài sản ngư

dân, đặc biệt đối với vùng biển Việt Nam hiện tượng thời tiết diễn biến

phức tạp, khó lường Môi trường hoạt động khai thác hải sản rất khắcnghiệt, sóng to, gió lớn, tai nạn, sự cố, bão lốc, không thể dự báo trước

được làm chìm tàu thuyền, cuốn trôi ngư lưới cụ, đe dọa đến sự an toàn

tính mạng của ngư dân, nhất là đối với các tàu thuyền khai thác xa bờ Hơnthế nữa, quá trình hoạt động của tàu thuyền trên biển còn bị tàu thuyền

nước ngoài bắt giữ trái phép, tước đoạt tài sản…Vì vậy, cần tổ chức tốt hệ

thống thông tin liên lạc, cảnh báo thiên tai, tổ chức ứng cứu kịp thời khi córủi ro, bảo đảm an toàn cho ngư dân là yêu cầu hết sức cần thiết trong quátrình hoạt động của ngư dân trên biển

1.2 Lý luận về dịch vụ hậu cần nghề cá

1.2.1 Khái niệm dịch vụ hậu cần nghề cá

Hoạt động khai thác hải sản trên biển là hoạt động tổng hợp, đa dạnggồm nhiều giai đoạn, nhiều khâu khác nhau từ việc chuẩn bị cơ sở vật chất,tàu thuyền, ngư lưới cụ, khai thác thủy hải sản, đến tiêu thụ sản phẩm VìTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 21

vậy, việc dịch vụ cung cấp đầy đủ các điều kiện cho hoạt động này là hếtsức quan trọng và được xem là dịch vụ hậu cần nghề cá Dịch vụ hậu cầnnghề cá là các hoạt động hỗ trợ đẩy mạnh phát triển khai thác hải sản trêncác vùng biển, đảm bảo an toàn cũng như nâng cao hiệu quả sản xuất từkhai thác đến thu mua, chế biến sản phẩm của ngư dân.

Một số hoạt động dịch vụ hậu cần nghề cá chủ yếu: dịch vụ tại cảng

cá, bến cá, vận tải, khu neo đậu tránh trú bão cho tàu thuyền khai thác;

đóng mới, sửa chữa tàu thuyền; cung cấp nguyên liệu, nhiên liệu (xăng dầu,nước đá ), ngư cụ, trang thiết bị cho khai thác hải sản; thu mua hải sản của

các tàu thuyền sau chuyến khai thác về

Theo Quy hoạch tổng thể phát triển ngành thuỷ sản đến năm 2020,tầm nhìn 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số

1690/QĐ-TTg ngày 16/9/2010 thì khái niệm Dịch vụ hậu cần nghề cá được

hiểu là: Hệ thống cảng cá, bến cá, khu neo đậu tàu thuyền nghề cá; cơ khí

đóng sửa tàu thuyền nghề cá; cơ sở cung cấp lưới sợi, nước đá, ngư cụ [27]

Theo Đào Xuân Thắng, Dịch vụ hậu cần nghề cá là: Các dịch vụ neođậu, cung cấp nhu yếu phẩm, nguyên nhiên liệu, ngư cụ, sửa chữa, đóng

mới tàu thuyền, thu mua và chế biến hải sản và các hoạt động hỗ trợ khác,bao gồm: Thông tin ngư trường, nguồn lợi; công tác đăng kiểm và đảm bảo

an toàn cho người và tàu cá hoạt động trên biển [22]

Các loại hình dịch vụ hậu cần nghề cá bao gồm: (i)- Dịch vụ neo

đậu, trú tránh bão tại cảng cá, bến cá, khu neo đậu; (ii)- Dịch vụ cung cấp

các yếu tố đầu vào bao gồm: Dịch vụ cho hoạt động của tàu cá như cungcấp xăng, dầu, trang thiết bị, sửa chữa; dịch vụ cho người trên tàu và hoạt

động đánh bắt như nhu yếu phẩm, ngư cụ, nước ngọt; dịch vụ cho bảo quản

hải sản; (iii)- Dịch vụ thu mua hải sản; (iv)- Dịch vụ sửa chữa, đóng mớitàu cá; (v)- Dịch vụ thông tin liên lạc, tìm kiếm cứu nạn, thông tin ngưtrường, thị trường [22]

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 22

Để đáp ứng các loại hình dịch vụ hậu cần nghề cá như trên, địaphương cần xây dựng cơ sở hạ tầng gồm: Hệ thống cảng cá, bến cá; khuneo đậu tàu thuyền; chợ cá; hệ thống thu mua; hệ thống cung ứng xăng,

dầu, lưới, ngư cụ, thực phẩm; các cơ sở chế biến hải sản Cơ sở dịch vụ hậucần nghề cá bao gồm rất nhiều lĩnh vực trong đó chú trọng tới các hoạt

động liên quan đến đóng tàu, sửa chữa máy móc, thiết bị, phát triển công

nghệ khai thác từng bước cơ giới hóa các quá trình khai thác, chế biến, lưugiữ và vận chuyển hải sản đến các thị trường tiêu thụ [22]

Có thể kể đến các nhóm dịch vụ hậu cần chủ yếu dưới đây:

- Cơ sở đóng, sửa chữa tàu cá: Sửa chữa và đóng mới tàu thuyền làmột dịch vụ hậu cần quan trọng trong phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá.Tàu thuyền khai thác thủy sản nước ta chủ yếu là tàu, thuyền loại nhỏ, vỏ

gỗ, có công suất nhỏ (dưới 90CV), thiết kế theo kiểu truyền thống Loạitàu, thuyền này chỉ phù hợp với hình thức khai thác gần bờ Để mở rộngquy mô và đến các ngư trường xa để khai thác hải sản, đòi hỏi tàu cá phải

có công suất lớn, chịu được sức gió cấp 5, cấp 6 và có năng lực khai thác

và vận chuyển lớn hơn [15]

- Công nghiệp phụ trợ phục vụ cho việc khai thác thác hải sản: Cơkhí chế tạo phục vụ khai thác hải sản là chế tạo các thiết bị thủy lực dùngtrong khai thác, thiết bị trên boong; chế tạo các loại phụ kiện cho tàu cá,các thiết bị trích lực từ máy chính; chế tạo các loại máy sản xuất dây, lướisợi, bao bì, phụ tùng ngư cụ và trang thiết bị cứu sinh Việc xây dựng vànâng cấp các trung tâm cơ khí thủy sản và mạng lưới hệ thống các trạm bảoTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 23

dưỡng, bảo hành giúp thực hiện việc đại tu, trung tu và bảo dưỡng tiểu tutàu cá tại các tỉnh ven biển, đồng thời thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, quản lýchất lượng các sản phẩm cơ khí thủy sản.

- Cơ sở chế biến thủy hải sản: Hoạt động sản xuất và chế biến sảnphẩm là một trong những mục tiêu hàng đầu trong phát triển hậu cần nghề

cá, không chỉ tăng giá trị sản phẩm, phát triển các dịch vụ hỗ trợ khác màcòn góp phần tạo công ăn việc làm cho nhân dân địa phương đồng thời ổn

định kinh tế - xã hội Nếu công tác sản xuất, chế biến sản phẩm tốt, giá thu

mua sản phẩm của ngư dân sẽ cao hơn đồng thời khuyến khích ngư dân ra

khơi, mở rộng các hoạt động đánh bắt

1.2.2 Đặc điểm của dịch vụ hậu cần nghề cá

- Tính th ời vụ và phụ thuộc nhiều vào thời tiết, đòi hỏi dịch vụ hậu

c ần nghề cá phải đáp ứng yêu cầu này

Nghề cá có nhiều loại hình khai thác khác nhau, tuy nhiên mỗi loạinghề khai thác chỉ phù hợp với một số loài thủy sản và có tính thời vụ Đốivới từng thời kỳ khác nhau, hoạt động khai thác chủ yếu tập trung vào một

số sản phẩm chủ yếu mang lại giá trị kinh tế cao như: ở vùng Bắc Trung Bộkhai thác cá cơm hiệu quả chủ yếu từ tháng 2 đến tháng 4; đánh mực chủyếu từ tháng 5 đến tháng 8 Quy luật này cũng phụ thuộc vào từng vùngkhác nhau, thời gian khai thác ở cá ở phía Bắc khác thời gian khai thác cá ởphía miền Trung cũng như ở miền Nam Vì vậy nếu chọn đúng thời điểmkhai thác cá thì lượng cá nhiều, trọng lượng đạt tiêu chuẩn và dễ khai thác,hiệu quả kinh tế sẽ cao hơn

Nghề khai thác thủy hải sản phụ thuộc nhiều vào thời tiết Khônggiống như các ngành nghề khác, tàu thuyền nghề cá làm việc trên biển vìvậy chỉ có thể ra khơi khai thác khi trời yên, biển lặng Những khi gió mùa,

áp thấp nhiệt đới hay bão tố các tàu cá phải nghỉ nằm bờ hoặc nếu đangkhai thác trên biển thì phải nhanh chóng tìm nơi trú ẩn an toàn hay thoát rakhỏi vùng nguy hiểm nếu không sẽ bị sóng, gió đánh chìm Bên cạnh đóTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 24

một số nghề còn phụ thuộc thời gian trong tháng Ví dụ, những ngày trăngsáng từ 13 đến 20 hàng tháng những tàu hành nghề theo hình thức đánh

bóng (dùng bóng đèn để thu hút cá đến gần) thì những ngày trăng sáng phải

nghỉ, vì nếu có khai thác thì cũng không có hiệu quả và rất dễ bị lỗ vốn

- D ịch vụ hậu cần nghề cá phải tuân thủ các quy định của Nhà nước

Để đảm bảo phát triển nguồn lợi thủy sản bền vững, bảo vệ môi

trường và đa dạng sinh học, nghề khai thác thủy sản phải tuân thủ nhiều

quy định khác nhau như: cỡ lưới phải phù hợp với các loại thủy sản khai

thác vì nếu cỡ lưới quá nhỏ sẽ bắt phải những con chưa đủ trọng lượng theotiêu chuẩn nên rất dễ tận diệt loài; về thời gian khai thác phải tránh thờigian sinh vật đẻ trứng, bên cạnh đó là quy định hình thức cấm khai thác

như cấm dùng chất nổ, hóa chất độc hại và thường xuyên có các lựclượng chức năng tổ chức kiểm tra tuần tra việc thực hiện các quy định này

Chính vì thế các cơ sở dịch vụ hậu cần nghề cá phải cung cấp các phươngtiện, dụng cụ, sản phẩm tuân thủ các quy định này như phải cung cấp ngư

lưới cụ đúng quy chuẩn, máy móc đảm bảo về quy định khí thải, sả thải bảo

vệ môi trường, xăng dầu đảm bảo đúng tiêu chuẩn, tiêu thụ và chế biến sảnphẩm phải đảm bảo xử lý môi trường, an toàn thực phẩm, … Song song vớiviệc đáp ứng các dịch vụ theo quy định đó, các cơ sở cung cấp dịch vụ hậucần nghề cá không được cung cấp các sản phẩm, hàng hóa mà pháp luậtcấm hoặc không cho phép sử dụng cho các tàu cá và ngư dân Ví dụ ngư

lưới cụ không đảm bảo tiêu chuẩn, chất nổ khai thác hủy diệt, …

- Ngh ề cá đòi hỏi chi phí lớn, nhiều rủi ro, vì vậy các cơ sở cung

c ấp dịch vụ hậu cần nghề cá phải đảm bảo điều kiện về sản phẩm hàng

hóa, kho bãi, công ngh ệ bảo quản, cung cấp cho ngư dân và tàu cá

Mỗi chuyến đi biển khai thác, ngoài chi phí đóng tàu và trang bị ngư

lưới cụ cần thiết thì các tàu cần trang bị dầu, nước, đá lạnh, thức ăn, hàng

hóa thiết yếu khác vì vậy chi phí là rất lớn Bên cạnh đó tình hình thời tiếtTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 25

phức tạp, diễn biến khó lường, nguồn lợi thủy sản không ổn định, tình hìnhtranh chấp trên biển ngày càng căng thẳng và đã có nhiều tàu thuyền và

ngư dân bị bắt và xua đuổi làm cho mỗi chuyến đi biển của ngư dân tiềm

ẩn nhiều rủi ro

- Để nâng cao hiệu quả khai thác hải sản, hiện nay trên cả nước đang hình thành các tổ đội sản xuất trên biển và các hiệp hội nghề cá.

Các tổ đội sản xuất này gồm nhiều tàu thuyền khác nhau cùng khaithác trên biển vừa phối hợp trong khai thác, phát hiện luồng cá vừa bảo vệlẫn nhau trên biển Đòi hỏi dịch vụ hậu cần nghề cá phải đáp ứng đầy đủ,

đồng bộ, mới và hiện đại cho các đội tàu cá và ngư dân

Những đặc điểm trên đã ảnh hưởng lớn đến việc phát triển dịch vụhậu cần nghề cá của mỗi địa phương Dịch vụ hậu cần nghề cá luôn gắnliền với hiệu quả khai thác của ngư dân Các cơ sở sản xuất, chế biến sảnphẩm cũng như các doanh nghiệp hoạt động dịch vụ khác cần tìm hiểu kỹ

để có kế hoạch sản xuất phù hợp với đơn vị mình

1.3 Lý luận về phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá

1.3.1 Khái niệm phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá

Thuật ngữ phát triển được nhiều tác giả đưa vào trong các sách từ

điển tiếng Việt, được xem là khuynh hướng vận động đã xác định về hướng

của sự vật: Hướng đi lên từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện

hơn Về khái niệm này có thể thấy phát triển là một khuynh hướng có tính

chất chủ động, thay đổi có tính chất tích cực so với trạng thái ban đầu Tuyvậy, khi xem xét phát triển của một tổ chức thì cần xem xét tác động từ cácyếu tố bên ngoài tác động vào tổ chức đó để hoàn thiện hơn Cho nên nếuxem xét một khía cạnh nào đó, để phát triển đúng mục tiêu, định hướng cầnphải có sự quản lý

Phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá là phát triển các cơ sở đóng mới

và sửa chữa tàu cá, cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão; phát triển cơ sởTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 26

cung cấp xăng dầu, nước, đá và các hàng hóa khác; phát triển dịch vụ trênbiển Khái niệm phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá ở đây hiểu như việc gia

tăng số lượng chưa phản ánh toàn bộ nội hàm của phát triển [28]

Nếu xem xét trên khía cạnh xu hướng, thì phát triển dịch vụ hậu cầnnghề cá là sự phát triển theo chiều rộng (tức phát triển về mặt quy mô số

lượng và thay đổi cơ cấu hình thái); phát triển theo chiều sâu (tức phát triển

về mặt chất lượng và thay đổi cơ cấu về mặt nội hàm của chúng) Phát triểndịch vụ hậu cần nghề cá theo chiều rộng là quá trình phát triển nhằm mởrộng quy mô, tăng trưởng về mặt số lượng, về loại hình dịch vụ Phát triểntheo chiều rộng về mặt cơ cấu cũng chính là đầu tư mới trên cơ sở cải tạo

và mở rộng cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có, xây dựng mới các cơ sở vậtchất với những kỹ thuật công nghệ cơ bản như cũ Phát triển dịch vụ hậucần nghề cá theo chiều sâu là quá trình phát triển trên cơ sở cải tạo, nângcấp, đồng bộ hóa, hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có, hoàn chỉnh

về mặt cơ cấu, thể chế, chính sách và chất lượng dịch vụ Phát triển theochiều sâu, giúp các cơ sở hậu cần nghề cá nâng cao chất lượng dịch vụ, gia

tăng các loại hình dịch vụ đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của phát triển

khai thác thủy, hải sản

Như vậy, phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá là sự tăng lên về loại

hình, chủng loại các dịch vụ hậu cần nghề cá, tăng lên số lượng dịch vụ Sựbao phủ của mạng lưới, đa dạng hóa các dịch vụ hỗ trợ, nâng cao chất

lượng dịch vụ Tóm lại, phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá bao gồm:

- Phát triển hạ tầng các cơ sở dịch vụ hậu cần nghề cá về quy mô, sốlượng, loại hình dịch vụ, công nghệ Trong đó cơ sở dịch vụ hậu cần nghề

cá bao gồm: Cảng cá, khu neo đậu tàu thuyền nghề cá; cơ sở đóng mới, sửachữa tàu cá; tàu dịch vụ hậu cần; chợ cá; đài thông tin duyên hải; cơ sở chếbiến hải sản

- Phát triển hoạt động cung cấp dịch vụ hậu cần cho tàu cá trên cáckhía cạnh, số lượng, chất lượng, cơ cấu và hiệu quả

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 27

- Các hoạt động cung cấp dịch vụ hậu cần nghề cá bao gồm: Neo

đậu, trú tránh trú bão; cung ứng nguyên, nhiên vật liệu; tiêu thụ sản phẩm;

cung cấp nhu yếu phẩm; đóng mới và sửa chữa tàu thuyền; cung cấp thôngtin liên lạc, tìm kiếm cứu nạn, liên lạc

1.3.2 Vai trò phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá

Phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá có vai trò to lớn trong việc pháttriển nghề cá nói riêng và kinh tế biển nói chung Có thể đưa ra một số vaitrò sau:

- Phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá góp phần thúc đẩy phát triểnhoạt động khai thác thủy hải sản Việc phát triển tốt hệ thống dịch vụ hậucần nghề cá như: Cảng cá, chợ cá, tàu thuyền, nơi tránh trú bão, thông tin

ngư trường, công nghệ đóng và sửa chữa tàu cá sẽ giúp đảm bảo các điều

kiện để nâng cao năng lực, trình độ khai thác thủy sản xa bờ của ngư dân,

từ đó góp phần nâng cao sản lượng thủy sản hằng năm

- Phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá tốt, hợp lý sẽ giảm thiểu tổn thấtsau khai thác, nâng cao chất lượng, giá trị sản phẩm Trong khai thác thủyhải sản, sản phẩm thường được bảo quản bằng phương pháp ướp đá theocách truyền thống Việc phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá đồng bộ, đáp

ứng các yêu cầu khai thác hải sản, sẽ giúp ngư dân có cơ hội và điều kiện

để hiện đại hóa tàu cá, ứng dụng công nghệ bảo quản tiên tiến Hải sản sau

khai thác được bảo quản tốt hơn, đáp ứng các tiêu chuẩn về chất lượng, từ

đó nâng cao giá trị sản phẩm và giảm thiểu tổn thất

- Phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá góp phần giải quyết việc làm,

tăng thu nhập cho người lao động: Phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá sẽ tạo

ra nhiều việc làm mới như dịch vụ thu mua trên biển, tiêu thụ cá tại cácchợ, cung cấp đá ướp, xăng dầu, đóng mới và sửa chữa tàu thuyền gópphần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, nâng cao thu nhập,góp phần xóa đói, giảm nghèo phát triển kinh tế - xã hội

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 28

Sự phát triển của dịch vụ hậu cần nghề cá sẽ kéo theo rất nhiều hoạt

động khác liên quan, trong đó có các hoạt động kinh doanh, buôn bán, vận

chuyển, chế biến các sản phẩm thủy sản, sửa chữa, đóng mới tàu thuyền Rõràng là sự phát triển của dịch vụ hậu cần nghề cá có vai trò quan trọng khôngnhững trong việc phục vụ khai thác thủy sản mà còn tạo điều kiện việc làm

cho hàng trăm nghìn lao động, đặc biệt là lao động nghèo khu vực ven biển là

những vùng mà lực lượng lao động ở đây vốn đã nghèo về đời sống vật chất,học vấn và không có nghề nghiệp gì khác ngoài nghề khai thác biển

- Phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá góp phần bảo vệ an ninh và chủquyền quốc gia trên biển: Nếu phát triển tốt hệ thống hậu cần nghề cá, sẽgóp phần thúc đẩy phát triển hạ tầng kỹ thuật phục vụ khai thác hải sảnvùng biển xa bờ Đầu tư, nâng cấp, hiện đại hóa các cảng cá, các khu neo

đậu tránh trú bão, các khu hậu cần dịch vụ nghề cá ven biển và trên các hảiđảo Hoàn thiện hệ thống thông tin tàu cá, chủ động cảnh báo thiên tai, kịp

thời ứng phó với các tai nạn, rủi ro trên biển, cứu hộ cứu nạn Tổ chức tốthoạt động của lực lượng kiểm ngư, phối hợp, kịp thời với các lực lượngchức năng bảo vệ biển, đảo để bảo vệ nguồn lợi gắn với bảo vệ ngư dân,bảo đảm tốt về quốc phòng an ninh trên biển và hải đảo Trên cơ sở đó giúp

ngư dân có điều kiện vươn khơi xa, tiết kiệm được chi phí, giảm được tổn

thất sau khai thác, tiếp cận được với ngư trường lớn, qua đó thúc đẩy ngưdân tham gia bám biển, bảo vệ chủ quyền biển đảo Quốc gia

1.3.3 Nội dung phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá

1.3.3.1 Phát triển cơ sở hạ tầng dịch vụ hậu cần nghề cá

Phát triển cơ sở hạ tầng dịch vụ hậu cần nghề cá là sự phát triển hạtầng cơ sở các dịch vụ phục vụ phát triển nghề cá, gồm:

* Phát triển hạ tầng cảng cá

Theo Luật Thủy sản Việt Nam năm 2017, Cảng cá là cảng chuyêndụng cho tàu cá, bao gồm vùng đất cảng cá và vùng nước cảng cá Vùng

đất cảng cá là khu vực được giới hạn để xây dựng cầu cảng, kho, bãi, nhà

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 29

xưởng, trụ sở, cơ sở dịch vụ, hệ thống giao thông, thông tin liên lạc, điện,nước và công trình phụ trợ khác phục vụ cho hoạt động của cảng cá Vùngnước cảng cá là vùng nước được giới hạn để thiết lập vùng nước trước cầu

cảng, vùng quay trở tàu, khu neo đậu, khu chuyển tải, luồng vào cảng cá vàcông trình phụ trợ khác [16]

Với hạ tầng được đầu tư xây dựng hiện đại, được quản lý tốt, cáccảng cá sẽ góp phần quan trọng vào việc phát triển nghề cá cả về số lượng

và chất lượng, giảm thời gian các tàu thuyền nghề cá lưu lại cảng để bốc dỡhàng hóa, tăng khối lượng cung cấp và phân phối hải sản, đẩy nhanh tốc độphát triển của các tàu cá lớn hơn và hiện đại hơn

Việc hoàn thiện công tác quản lý cảng cá sẽ giải quyết những vấn đề

về môi trường, đồng thời từng bước đưa hoạt động của các cảng phát triểntheo hướng hiện đại có sự quản lý của Nhà nước

Cảng cá được đánh giá thông qua phân loại cảng cá (loại I, loại II,loại III) Các tiêu chí phân loại cảng cá có thể là: (i)- Vị trí xây dựng cảng

cá (sự thuận tiện hay không thuận thiện) (ii)- Các trang thiết bị chủ yếuphục vụ cho bốc dỡ hàng hóa của cảng được cơ giới hóa (iii)- Diện tíchvùng đất cảng cá (iv)- Độ sâu luồng vào cảng và vùng nước trước cảng.(v)- Diện tích đất vùng cảng (vi)- Lượng hàng thủy sản qua cảng [16]

Phát triển hạ tầng cảng cá là trên cơ sở quy hoạch đã được phêduyệt, thúc đẩy phát triển về: Số lượng, diện tích, các công trình phụ trợhay nâng công suất tiếp nhận tàu, áp dụng công nghệ hiện đại vào hoạt

động của cảng cá

* Phát triển hạ tầng chợ cá

Chợ cá là chợ chuyên kinh doanh các mặt hàng thủy, hải sản Chợvừa là nơi tiêu thụ thủy hải sản, tập trung thu gom các mặt hàng thủy hảisản phân tán, nhỏ lẻ của các tàu thuyền để cung ứng cho các thị trường tiêuthụ lớn trong và ngoài nước, vừa là nơi cung ứng các hàng thiết yếu như đálạnh, nước ngọt, xăng dầu… cho các tàu thuyền ra khơi Ngoài ra, nhữngTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 30

nơi có chợ cá sẽ thúc đẩy các ngành sản xuất khác phát triển như sản xuất

đá lạnh, ngư lưới cụ

Những tàu cá sau một chuyến ra khơi dài ngày với sản lượng hải sảnlớn nếu được tiêu thụ nhanh chóng và kịp thời giúp đảm bảo chất lượng hảisản Thương mại buôn bán hải sản thuận lợi, dễ dàng và phát triển sẽ giúp

đẩy mạnh hoạt động khai thác xa bờ

Chợ được phân thành các loại: I, II, III Xếp loại chợ gồm các tiêuchí: (i)- Số lượng điểm kinh doanh tại chợ (ii)- Tình trạng xây dựng củachợ (kiên cố, hiện đại theo quy hoạch) (iii)- Vị trí xây dựng của chợ (sựthuận tiện hay không thuận thiện) (iv)- Thời gian họp chợ (v)- Mặt bằngxây dựng chợ (vi)- Sự đa dạng của các dịch vụ tại chợ [5]

Phát triển hạ tầng chợ cá là phát triển về số lượng, quy mô chợ, nănglực thu mua và tiêu thụ hải sản, công nghệ bảo quản và chế biến phù hợpvới quy hoạch

* Phát triển hạ tầng cơ sở đóng mới và sửa chữa tàu cá

Sửa chữa và đóng mới tàu cá là một dịch vụ hậu cần quan trọngtrong phát triển nghề cá Tàu cá khai thác thủy sản nước ta chủ yếu là tàu,thuyền loại nhỏ, vỏ gỗ, có công suất nhỏ (dưới 90CV), thiết kế theo kiểutruyền thống, trang thiết bị còn thiếu và kém chất lượng Loại tàu, thuyềnnày chỉ phù hợp với hình thức khai thác gần bờ và ngắn ngày Để mở rộngquy mô và khai thác ở các ngư trường lớn đòi hỏi phương tiện phải có côngsuất lớn, chịu được sức gió cấp 5, cấp 6 và có khả năng khai thác và vậnchuyển lớn hơn

Cơ sở đóng mới, sửa chữa tàu cá vỏ gỗ được đánh giá thông qua cáctiêu chí sau: (i)- Diện tích mặt bằng (ii)- Nhà điều hành (iii)- Trang thiết

bị để hạ thủy tàu phù hợp với trọng lượng tàu đóng (iv)- Vùng nước neo

đậu tàu có khả năng neo đậu tối thiểu (v)- Trang thiết bị thi công phần vỏ

(vi)- Trang thiết bị thi công, lắp đặt cơ khí-máy-điện [7]

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 31

Phát triển hạ tầng cơ sở đóng, sửa chữa tàu cá là phát triển về số

lượng, công suất sửa chữa, đóng mới tàu cá, năng lực công suất tàu thuyềnđóng mới, công nghệ sửa chữa và đóng mới, phù hợp với quy hoạch

* Phát triển hạ tầng cung cấp thông tin liên lạc

Nhằm giảm thiểu nguy cơ rủi ro đối với các phương tiện hoạt độngtrên biển và hội nhập quốc tế, từ năm 1997, Hệ thống Đài Thông tin Duyênhải Việt Nam được Nhà nước đầu tư xây dựng và đi vào hoạt động Đây làmột Hệ thống gồm 32 Đài Thông tin duyên hải, bố trí dọc theo bờ biển từMóng Cái tới Hà Tiên, được Công ty Thông tin điện tử Hàng hải Việt Nam

tổ chức quản lý và khai thác Trong đó có 2 đài thông tin duyên hải đặcbiệt, là đài thông tin vệ tinh mặt đất Inmarsat Hải Phòng và Đài thông tinthu tín hiệu cấp cứu qua vệ tinh Cospas-Sarsat [30]

Hệ thống đài thông tin duyên hải được chia thành các loại: I, II, III

Đài thông tin duyên hải được đánh giá, xếp loại thông qua các tiêu chí sau:

(i)- Về số lượng, cơ sở hạ tầng của đài; (ii)- Trang thiết bị của đài Khả năng đáp ứng nhu cầu của tàu thuyền trên biển; (iv)- Khả năng phát

(iii)-sóng đến các ngư trường[26]

Phát triển hạ tầng hệ thống thông tin duyên hải là phát triển về số

lượng, quy mô, công nghệ đáp ứng tốt nhu cầu về dịch vụ thông tin cho người

và phương tiện hoạt động trên các vùng biển, phục vụ phòng chống thiên tai,tìm kiếm, cứu nạn, an toàn, an ninh hàng hải, bảo vệ môi trường biển

1.3.3.2 Phát triển các hoạt động cung cấp dịch vụ hậu cần nghề cá

Phát triển các hoạt động cung cấp dịch vụ hậu cần nghề cá là pháttriển về số lượng dịch vụ, cơ cấu dịch vụ và chất lượng dịch vụ tại các cơ

sở hậu cần nghề cá, đáp ứng nhu cầu dịch vụ, hỗ trợ tốt các tàu cá vươn

khơi, bám biển khai thác thủy hải sản Gồm các loại dịch vụ: (i)- Dịch vụneo đậu, tránh trú bão tại cảng cá, khu neo đậu; (ii)- Dịch vụ cung cấp các

yếu tố đầu vào cho tàu cá gồm: Dịch vụ cho hoạt động của tàu cá như cungcấp xăng, dầu, trang thiết bị, sửa chữa; dịch vụ cho người trên tàu và hoạtTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 32

động đánh bắt như nhu yếu phẩm, ngư cụ, nước ngọt; dịch vụ cho bảo quản

hải sản; (iii)- Dịch vụ thu mua hải sản; (iv)- Dịch vụ sửa chữa, đóng mớitàu cá; (v)- Dịch vụ thông tin liên lạc, tìm kiếm cứu nạn, thông tin ngư

trường, thị trường

Các chỉ tiêu đánh giá như sau: (i)- Số lượng dịch vụ tại mỗi cơ sởhậu cần (ii)- Khả năng đáp ứng dịch vụ nêu trên so với nhu cầu của tàu cá.(iii)- Chất lượng dịch vụ tại cơ sở cung cấp theo các mức độ (iv)- Giá dịch

vụ tại các cơ sở cung cấp (v)- Doanh thu và lợi nhuận của các cơ sở dịch

vụ từ việc cung cấp các dịch vụ (vi)- Sự hài lòng của các chủ tàu với cácdịch vụ

1.3.3.3 Nâng cao chất lượng dịch vụ hậu cần nghề cá

Chất lượng dịch vụ hậu cần nghề cá là chất lượng dịch vụ được cungcấp cho các chủ tàu thuyền, quá trình cung cấp này được đánh giá đã đáp

ứng được nhu cầu của họ hay chưa, các chủ tàu thuyền này hài lòng với các

dịch vụ này không Tùy thuộc vào từng loại hình dịch vụ mà có những yêucầu khác nhau về chất lượng dịch vụ được cung cấp

Đánh giá chất lượng dịch vụ hậu cần nghề cá thông qua việc đánh

giá chất lượng dịch vụ cung cấp tại các cảng cá, chợ đầu mối, khu neo đậutránh trú bão; chất lượng cung cấp dịch vụ đóng mới sửa chữa tàu cá; chất

lượng dịch vụ cung cấp xăng dầu, nước đá phục vụ cho khai thác hải sản;

chất lượng các dịch vụ thu mua sản phẩm thủy hải sản mà các tàu cá khaithác được; các dịch vụ khác phục vụ quá trình đi biển của các tàu cá

1.3.4 Các chỉ tiêu đánh giá phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá

Để đánh giá phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá, thường người ta sử

dụng các chỉ tiêu phản ánh sự gia tăng về quy mô số lượng, sự gia tăng vềchất lượng, và dịch vụ đảm bảo an ninh trật tư, bảo vệ môi trường, tổ chứcphòng chống bão lũ, cháy nổ tại các cảng cá và khu vực lân cận Chủ yếu

sử dụng các chỉ tiêu sau:

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 33

- Số lượng cảng cá, khu neo đậu.

- Diện tích cảng cá, khu neo đậu, quy mô cầu cảng, khu neo đậu

- Công suất tiếp nhận tàu thuyền cập cảng bốc dỡ hàng hóa

- Số lượng kho, công suất kho chứa hàng hóa tại cảng

- Số lượng các trang thiết bị chủ yếu, dây chuyền xếp dỡ hàng hóa,

năng lực bốc dỡ hàng hóa

- Lượng hàng hóa thủy sản qua cảng

- Số lượng chợ cá, số lượng cơ sở kinh doanh thu mua, chế biến thủyhải sản

- Số lượng cơ sở đóng mới, sửa chữa tàu cá

- Số lượng phương tiện đường bộ ra vào cảng

- Số lượng cơ sở kinh doanh cung cấp dịch vụ hậu cần nghề cá, cungcấp các yếu tố đầu vào: điện, xăng dầu, đá lạnh, nước ngọt, nhu yếu phẩm,

cơ sở thu mua, chế biến thủy hải sản, …

- Các chỉ tiêu dịch vụ về phát triển hạ tầng đài thông tin duyên hải,các chỉ tiêu đánh dịch vụ công đảm bảo trật tự trị an, bảo vệ môi trường,phòng chống bão lũ, phòng chống cháy nổ,…

- Tình hình áp dụng máy móc kỹ thuật, công nghệ tiên tiến và pháttriển dịch vụ đáp ứng nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ hậu cần nghề cá

1.3.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá 1.3.5.1 Nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên

Nguồn tài nguyên biển, trữ lượng cá, yếu tố thời tiết, ảnh hưởng biến

đổi mạnh của địa tầng trái đất cũng như chuyển biến phức tạp của khí hậugây tác động đến các dòng chảy, luồng chảy tự nhiên, biến đổi thảm động

thực vật Biến đổi môi trường tự nhiên tác động trực tiếp đến hoạt động

khai thác và đánh bắt hải sản Tuy nhiên trong những năm gần đây biến đổi

thất thường của thời tiết đã làm thay đổi một phần đáng kể cấu trúc nguồntài nguyên biển Ngoài ra môi trường sống của các loài thủy sản vùng ven

bờ, một số vùng có nguy cơ bị ô nhiễm do tác động của các ngành liênTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 34

quan cũng như nạn khai thác đánh bắt trái phép: sử dụng hóa học, chất nổdẫn đến sản lượng khai thác bị giảm sút.

Quảng Trị là tỉnh ven biển Bắc Trung Bộ với bờ biển dài khoảng75km, có 4 huyện ven biển: Vĩnh Linh, Gio Linh, Triệu Phong, Hải Lăngvới 12 xã, thị trấn giáp biển và 4 xã cửa lạch cùng huyện đảo Cồn Cỏ nằmcách bờ 28km

Với vị trí nằm ở trung điểm của đất nước, có vai trò quan trọng trêntuyến đường huyết mạch chính của hành lang kinh tế Đông - Tây nối Lào -Thái Lan -Myanma qua 2 Cửa khẩu quốc tế Lao Bảo và La Lay đến cáccảng biển lớn của miền Trung Với hai cửa lạch lớn là Cửa Tùng và CửaViệt, dọc bờ biển có nhiều vũng kín thuận lợi cho phát triển cảng, xây dựngkhu sửa chữa, neo đậu tàu thuyền và còn có nhiều bãi tắm đẹp, danh lamthắng cảnh là điều kiện thuận lợi cho địa phương này phát triển du lịch sinhthái biển

1.3.5.2 Nhóm nhân tố về kinh tế

Nhóm nhân tố về kinh tế quyết định đến nguồn lực kinh tế đầu tư pháttriển dịch vụ hậu cần nghề cá Nếu nền kinh tế tăng trưởng, nhà nước và

người dân có nhiều nguồn lực, họ sẽ đầu tư phát triển các cơ sở, dịch vụ hậu

cần nghề cá Tàu thuyền được đầu tư lớn hơn, công suất cao có thể vươn xa,

năng suất khai thác cao hơn Nền kinh tế phát triển cho phép ngư dân đầu tư

công nghệ khai thác tiên tiến, ngư lưới cụ hiện đại, công nghệ bảo quản chếbiến hiệu quả làm cho năng suất, chất lượng hải sản cao hơn, giá trị lớn hơn

Nền kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây có những chuyểnbiến tích cực Tốc độ tăng trưởng GDP trong giai đoạn 2015 - 2019 đạtmức cao, trung bình trên 7,0% Năm 2019, tốc độ phát triển kinh tế ViệtNam vẫn là một trong những nước đạt tốc độ tăng trưởng cao nhất khu vựcvới 7,02% Sản lượng thủy sản khai thác năm 2019 ước tính đạt 3.768,3nghìn tấn, tăng 4,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng cá đạt

2.844,9 nghìn tấn, tăng 4,6%; tôm đạt 157,6 nghìn tấn, giảm 1% năm 2019.

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 35

Mỹ là thị trường có kim ngạch xuất khẩu thủy sản lớn nhất nước ta.Cuộc khủng hoảng tài chính đã tác động mạnh đến tổng kim ngạch, ngoài

ra hệ thống luật pháp và sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa các doanh nghiệpxuất khẩu trong nước và các nhà sản xuất, cung cấp thủy sản tại thị trường

Mỹ đã gây ảnh hưởng xấu đến tình trạng xuất khẩu chung

Chỉ số giá tiêu dùng trong nước tăng cao, đặc biệt giá nguyên liệu

đầu vào đối với ngành khai thác đánh bắt cá: xăng dầu và các thiết bị ngưlưới cụ biến đổi liên tục theo chiều hướng xấu làm ảnh hưởng mạnh tới chi

phí hoạt động khai thác đánh bắt xa bờ của ngư dân

1.3.5.3 Nhóm nhân tố về xã hội

Nhóm nhân tố về xã hội tác động đến sự phát triển dịch vụ hậu cầnnghề cá bao gồm các yếu tố về con người như dân số, số lượng, chất lượngnguồn lao động, trình độ học vấn, công tác đào tạo bồi dưỡng nghề nghiệp

lao động cho ngành khai thác thủy sản, công tác tổ chức quản lý khai thác

thủy sản của các chủ tàu cá Xã hội phát triển đảm bảo ngư ý có ý thức bảo

vệ khai thác tốt hơn nguồn tài nguyên biển, vì thế nguồn lợi và chất lượngthủy hải sản cao hơn

1.3.5.4 Nhóm nhân tố về chính sách và an toàn, an ninh trên biển

Chủ trương, chính sách của Nhà nước và địa phương đóng vai trò rấtquan trọng trong việc phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá Việc ban hành racác chính sách là căn cứ quan trọng trong việc xây dựng và phát triển dịch

vụ hậu cần nghề cá phục vụ khai thác thủy hải sản Hệ thống văn bản, quyphạm pháp luật, quy chế, quy định trong quản lý và phát triển các cơ sởdịch vụ hậu cần phục vụ cho khai thác thủy hải sản có tính chất định hướngcác hoạt động Vì vậy, nó ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển ổn định vàbền vững của dịch vụ hậu cần nghề cá

Việc xác định và ban hành kịp thời những chính sách hỗ trợ, khuyếnkhích, dẫn dắt sự tham gia đầu tư phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá củakhu vực tư nhân có vai trò rất quan trọng trong việc huy động nguồn lực đểphát triển nhanh và bền vững hậu cần nghề cá hiện nay

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 36

Ngoài những chính sách về bảo vệ nguồn lợi thủy hải sản, chính sách

đầu tư hạ tầng cơ sở dịch vụ hậu cần nghề cá, chính sách quản lý tổ chức

sản xuất trên biển,… thì chính sách an ninh, an toàn trên biển hiện nay làrất cần thiết Chính những điều đó đã tác động không nhỏ đến phát triểndịch vụ hậu cần nghề cá hiện nay

1.4 Kinh nghiệm và bài học kinh nghiệm phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá tại một số cảng cá trong nước

1.4.1 Kinh nghiệm phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá của một số cảng

cá trong nước

Phát triển kinh tế biển đang là xu thế tất yếu của thế giới vì vậy hiệnnay hậu cần nghề cá đang được nhiều địa phương cũng như nhiều quốc giatập trung phát triển Qua nghiên cứu, tìm hiểu cho thấy đã có nhiều địa

phương cũng có nhiều sáng kiến hay đem lại hiệu quả cao Một số mô hình

tiêu biểu như:

1.4.1.1 Kinh nghiệm phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá tại tỉnh Nghệ An

Nghệ An là địa phương ven biển đang thành công trong mô hình xãhội hóa đầu tư các dịch vụ hậu cần nghề cá ngay tại các cảng cá, đượcnhiều địa phương có biển đến nghiên cứu, học tập

Mô hình tiêu biểu là tại cảng cá Cửa Hội, một trong những cảng cálớn nhất ở khu vực các tỉnh ven biển Bắc miền Trung

Những ngày này, tuy nghề đi biển gặp khó khăn và không phải vàochính vụ khai thác thủy sản, nhưng tại cảng cá Cửa Hội nằm trên địa bàn

phường Nghi Hải, thị xã Cửa Lò vẫn tấp nập tàu thuyền ra vào Đến đây

không chỉ có tàu thuyền của ngư dân trong tỉnh Nghệ An mà còn ở nhữngtỉnh khác như: Quảng Ngãi, Quảng Nam, Thanh Hóa, Hà Tĩnh

Mỗi năm cảng cá Cửa Hội phục vụ 30.000 lượt tàu vào cảng và đây

đang thực sự là những tiểu khu công nghiệp chuyên ngành thủy sản tại địaphương; chiếm phần lớn trong số đó là tàu xa bờ

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 37

Tuy những địa phương này đều có cảng cá nhưng tàu thuyền của cáctỉnh vẫn tìm đến cảng cá Cửa Hội Đến đây, tàu thuyền được sử dụng cácdịch vụ hậu cần nghề cá một cách đầy đủ, từ nước ngọt, nước uống, dầuchạy tàu, đá lạnh dùng để ướp thủy sản, rau xanh, gạo…

Các mặt hàng thủy sản mà các tàu thuyền khai thác trên biển cũng

được các cơ sở cấp đông và những điểm thu mua thủy sản trong cảng thumua ngay Ông Lê Văn Mạnh, chủ tàu đánh cá của tỉnh Quãng Ngãi cho

biết, thuận lợi đủ bề và với chất lượng, giá cả cạnh tranh nên tàu thuyền củacác tỉnh thường tìm đến cảng cá Cửa Hội là điều dễ hiểu

Tại cảng cá Cửa Hội đã hình thành được những dịch vụ hậu cần nghề

cá lớn mạnh, với 11 xưởng sản xuất đá lạnh, 4 xưởng cấp đông bảo quảnhải sản, 1 xưởng cơ khí sửa chữa tàu thuyền; 2 doanh nghiệp cung cấpnhiên liệu cho tàu thuyền và các dịch vụ ngư cụ, hàng hóa phục vụ đi biểnkhác Tất cả những dịch vụ hậu cần này đều do các doanh nghiệp, cá nhân

tự đầu tư từ chủ trương xã hội hóa phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá củatỉnh Nghệ An Với cách làm này, nhà nước không phải bỏ vốn đầu tư, trong

khi ngư dân, chủ tàu thuyền được hưởng lợi trực tiếp, với chất lượng phục

vụ, giá cả cạnh tranh

Dịch vụ hậu cần nghề cá tại cảng cá phát triển, ngoài việc đáp ứng

được nhu cầu đi biển cho tàu thuyền còn góp phần giải quyết công ăn việclàm cho ngư dân và cho chính người dân địa phương, ngân sách tỉnh cũng

có thêm nguồn thu Tham gia mở các dịch vụ hậu cần nghề cá tại cảng cákhông chỉ người dân địa phương mà còn có cả những người dân ngoài tỉnh

Ông Phạm Cương, chủ xưởng sửa chữa tàu thuyền tại cảng Cửa Hội

là một người đến từ tỉnh Quảng Nam cho biết: Ở cảng cá Cửa Hội tàuthuyền ra vào nhiều, dịch vụ sửa chữa tàu thuyền có lợi nhuận, trong khiBan Quản lý cảng cá cũng khuyến khích nên tôi đến đây để mở cơ sở

Ông Nguyễn Hữu Thọ, Giám đốc Ban Quản lý Cảng cá Nghệ Ancho biết, trong điều kiện nguồn ngân sách có hạn, tỉnh Nghệ An coi xã hộiTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 38

hóa đầu tư phát triển các dịch vụ hậu cần tại các cảng cá là việc làm cần

thiết, quan trọng Chủ trương này có nhiều lợi ích: Đối với các cảng cá, nhà

nước chỉ phải đầu tư hạ tầng ban đầu của cảng cá, không phải bỏ vốn đầu

tư các dịch vụ hậu cần kèm theo; các cá nhân, đơn vị đầu tư dịch vụ hậu

cần tại cảng cá thu được lợi nhuận

Thành công từ chủ trương xã hội hóa dịch vụ hậu cần nghề cá tại cáccảng cá ở Nghệ An mang nhiều ý nghĩa kinh tế - xã hội Cũng là cách giántiếp hỗ trợ cho đội tàu khai thác xa bờ vừa làm kinh tế, vừa tham gia bảo vệchủ quyền biển đảo Việt Nam

1.4.1.2 Kinh nghiệm phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá tại tỉnh Thanh Hóa

Những năm gần đây, tại Thanh Hóa đã có nhiều đội tàu với côngsuất lớn thường xuyên có mặt tại các ngư trường để cung cấp xăng dầu, đálạnh và các loại thực phẩm thiết yếu cho các tàu đang khai thác và tổchức thu mua hải sản trên biển Dịch vụ hậu cần nghề cá này đang gópphần giải quyết việc làm cho nhiều lao động, mở hướng làm giàu cho nhiều

hộ dân vùng biển Thanh Hóa

Thanh Hóa có 6 huyện ven biển và bờ biển dài 102 km với 7 cửalạch lớn nhỏ, trong đó năm cửa lạch chính gồm lạch Sung, lạch Trường,lạch Hới, lạch Bạng và lạch Ghép Ðây là nơi sông, biển giao hòa, thuận lợicho tàu thuyền neo đậu, thúc đẩy giao thương và thuận lợi cho việc pháttriển dịch vụ hậu cần nghề cá Trong những năm qua, Thanh Hóa đã huy

động hiệu quả mọi nguồn lực đầu tư xây dựng các cảng cá, bến cá, hệ

thống các chợ đầu mối cùng các khu neo đậu tàu thuyền ở các cửa lạch.Nhiều địa phương đã đầu tư hàng chục tỷ đồng xây dựng các bến cá vensông, biển Bên cạnh đó, Thanh Hóa nỗ lực kêu gọi đầu tư, lồng ghép các

chương trình dự án, bố trí nguồn vốn tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng

nhằm định hình các trung tâm nghề cá lớn

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 39

Thời gian qua, nghề khai thác hải sản của tỉnh không ngừng pháttriển, tăng lượng tàu cá có công suất lớn, khai thác xa bờ, giảm áp lựcvùng biển ven bờ, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho ngư dânvùng ven biển.

Với định hướng phát triển các tàu cá có công suất lớn, có khả năng

vươn khơi xa, giảm gánh nặng cho nguồn lợi thủy sản gần bờ, tỉnh chủtrương hạn chế tàu có công suất nhỏ, nhất là tàu có công suất dưới 20CV

Thực hiện các chủ trương, chính sách của Ðảng, Nhà nước, ngư dân trongtỉnh mạnh dạn đầu tư tàu công suất lớn vươn khơi khai thác xa bờ dài ngày,hiệu quả kinh tế cao Từ đầu năm đến nay ngư dân ở các địa phương venbiển của tỉnh đã đóng mới 103 tàu cá, công suất từ 90CV trở lên Lâu nay,

ngư trường truyền thống của ngư dân trong tỉnh là vùng biển Vịnh Bắc bộ,ngư trường hai tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An Gần đây, nhiều tàu cá công

suất lớn của ngư dân đã đăng ký giấy phép khai thác vùng biển phía Nam,

vươn tới ngư trường Hoàng Sa, Trường Sa để khai thác hải sản Ông

Nguyễn Văn Tuy, xã Ngư Lộc (Hậu Lộc) chủ tàu cá mang biển hiệu TH90789-TS với công suất 829CV cho biết, tàu cá của gia đình đăng ký hoạt

động khai thác hải sản thường xuyên ở ngư trường Hoàng Sa, Trường Sa

bằng nghề chụp mực, lưới rê, vây, khu vực này hải sản còn nhiều, khai thácrất hiệu quả Chuyến biển giáp tết dương lịch, tàu của ông đã trúng đậm,

khai thác đạt sản lượng 60 tấn, tương đương 600 triệu đồng

Hiện nay, toàn tỉnh Thanh Hóa có 1.872 tàu cá công suất từ 90CVtrở lên, chiếm 26,5% tổng số tàu cá của tỉnh Trong năm 2018, sản lượngkhai thác hải sản đạt 116.926 tấn, tăng 7,2% so với cùng kỳ, trong đó, khaithác biển đạt 112.826 tấn hải sản Nhiều tàu cá được trang bị các phươngtiện hàng hải hiện đại, như máy định vị, máy dò cá, máy thông tin liên lạc;công nghệ và phương tiện khai thác tiên tiến Ngư dân cũng từng bước pháttriển các nghề khai thác hải sản có hiệu quả kinh tế cao, như: Nghề câu,vây, chụp mực, lưới rê Với định hướng khai thác chọn lọc, nghề lưới rêTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 40

đã và đang mang lại thu nhập cao cho ngư dân các huyện Hậu Lộc, Hoằng

Hóa, Tĩnh Gia và trung bình doanh thu đạt 80 triệu đồng/chuyến khai

thác Ngoài ra, các địa phương ven biển đã phối hợp với các ban, ngành,đoàn thể có liên quan của tỉnh tổ chức tuyên truyền nâng cao nhận thức

pháp luật và vận động ngư dân cam kết không sử dụng chất nổ, hóa chất,

xung điện hay phương tiện cấm để khai thác hải sản và không tranh chấpngư trường [4]

Ông Nguyễn Đức Cường, Chi cục trưởng chi cục Thủy sản, cho biết:Thời gian qua, chi cục cùng với các địa phương đã tích cực triển khai thựchiện các chính sách phát triển thủy sản, tạo điều kiện cho ngư dân đóng tàu

cá công suất lớn, trang thiết bị hiện đại, vươn khơi xa khai thác hải sản.Một số chủ tàu đã tự giác bỏ nghề khai thác hải sản mang tính hủy diệtchuyển đổi sang nghề khai thác khơi xa, mở rộng ngư trường Công tácquản lý, bảo đảm an toàn cho người và tàu cá hoạt động trên biển, bảo vệnguồn lợi thủy sản được thực hiện thường xuyên Chủ động thực hiện kếhoạch của UBND tỉnh nhằm ngăn chặn, giảm thiểu và loại bỏ khai thácthủy sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định Việc kiểmsoát nghề cá hiệu quả sẽ góp phần quan trọng trong việc duy trì nguồn lợithủy sản và hệ sinh thái thủy sinh, bảo đảm nghề cá phát triển hiệu quả, antoàn, bền vững, góp phần nâng cao đời sống của cộng đồng ngư dân

Để hướng tới nghề khai thác hải sản bền vững, tỉnh định hướng việc

sắp xếp, cơ cấu ngành nghề khai thác một cách phù hợp, giảm dần và tiếntới xóa bỏ các nghề khai thác thiếu bền vững Tổ chức lại sản xuất trên biểntheo mô hình tổ đoàn kết trên biển đối với khai thác vùng biển khơi và môhình đồng quản lý đối với vùng biển ven bờ Chuyển giao công nghệ khaithác tiên tiến, trang thiết bị phục vụ khai thác và bảo quản sản phẩm khaithác xa bờ; khuyến khích thành lập các đội tàu cung ứng dịch vụ hậu cần,mua gom sản phẩm cho các tàu khai thác xa bờ, tạo điều kiện cho lao độngnghề cá đi biển dài ngày Tổ chức tốt thông tin liên lạc, cảnh báo thiên taiTrường Đại học Kinh tế Huế

Ngày đăng: 28/07/2021, 16:27

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w