1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đổi mới quản lý nhà nước về giao thông đô thị tại thành phố hà nội trong thời kỳ hội nhập và phát triển

193 1,2K 8
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đổi mới quản lý nhà nước về giao thông đô thị tại thành phố Hà Nội trong thời kỳ hội nhập và phát triển
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Thủy
Người hướng dẫn PGS.TS. Phạm Kim Giao
Trường học Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Quản lý hành chính công
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 193
Dung lượng 5,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với ý tưởng như vậy, đề tài “Đổi mới quản lý nhà nước về giao thông đô thị tại thành phố Hà Nội trong thời kỳ hội nhập và phát triển” sẽ nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn, đề xuất mộ

Trang 1

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH

NGUYỄN THỊ THANH THỦY

ĐỔI MỚI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIAO THÔNG

ĐÔ THỊ TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG THỜI KỲ

HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH CÔNG

HÀ NỘI - 2013

Trang 2

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH

NGUYỄN THỊ THANH THỦY

ĐỔI MỚI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIAO THÔNG

ĐÔ THỊ TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG THỜI KỲ

HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN

Chuyên ngành: Quản lý hành chính công

Mã số: 62 34 82 01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH CÔNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS Phạm Kim Giao

HÀ NỘI - 2013

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn tới:

- Lãnh đạo Học viện Hành chính, Khoa Sau đại học và các đơn vị khác trong Học viện Hành chính đã giúp đỡ, tạo điều kiện về thủ tục và cơ sở vật

chất cho quá trình thực hiện luận án

- PGS.TS Phạm Kim Giao đã hướng dẫn tận tình trong suốt quá trình làm luận án

- Các Giáo sư, Phó giáo sư, các nhà khoa học, các đồng nghiệp đã đóng

góp nhiều ý kiến quý báu để luận án được hoàn thành

Một lần nữa tác giả xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng năm 2013 TÁC GIẢ LUẬN ÁN

NGUYỄN THỊ THANH THỦY

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận án tiến sĩ với đề tài “Đổi mới quản lý nhà nước

về giao thông đô thị tại thành phố Hà Nội trong thời kỳ hội nhập và phát triển” là công trình khoa học do tôi đề xuất và nghiên cứu Các tư liệu được

sử dụng trong luận án là trung thực, có nguồn gốc và trích dẫn rõ ràng Các kết quả nghiên cứu nêu trong luận án chưa có ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

NGUYỄN THỊ THANH THỦY

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

LỜI CAM ĐOAN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC BẢNG vi

DANH MỤC HÌNH vii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 7

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỔI MỚI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIAO THÔNG ĐÔ THỊ 20

1.1 Một số khái niệm liên quan 20

1.2 Những vấn đề chung của quản lý nhà nước về giao thông đô thị 23

1.3 Bối cảnh hội nhập phát triển và sự cần thiết phải đổi mới quản lý nhà nước về giao thông đô thị 31

1.4 Đổi mới quản lý nhà nước về giao thông đô thị theo hướng quản lý giao thông đô thị bền vững nhằm đáp ứng yêu cầu của bối cảnh hội nhập và phát triển 38

1.5 Kinh nghiệm quản lý giao thông đô thị bền vững tại một số thành phố lớn trên thế giới 52

Kết luận chương 1 61

Chương 2: THỰC TRẠNG GIAO THÔNG ĐÔ THỊ VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIAO THÔNG ĐÔ THỊ TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI 63

2.1 Giới thiệu khái quát về thành phố Hà Nội 63

2.2 Thực trạng giao thông đô thị tại thành phố Hà Nội và những vấn đề đặt ra 68

2.3 Thực trạng quản lý nhà nước về giao thông đô thị tại thành phố Hà Nội 78

Trang 6

2.4 Những hạn chế và những vấn đề đặt ra trong quản lý giao thông đô thị

tại thành phố Hà Nội 97

Kết luận chương 2 104

Chương 3: ĐỔI MỚI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIAO THÔNG ĐÔ THỊ TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI THEO HƯỚNG BỀN VỮNG TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN 105

3.1 Những căn cứ của đề xuất đổi mới quản lý nhà nước về giao thông đô thị tại thành phố Hà Nội 105

3.2 Đổi mới quản lý nhà nước về giao thông đô thị tại thành phố Hà Nội theo hướng quản lý giao thông đô thị bền vững 117

3.3 Giải pháp thực hiện đổi mới quản lý nhà nước về giao thông đô thị tại thành phố Hà Nội theo hướng quản lý giao thông đô thị bền vững 124

3.4 Bàn luận về kết quả nghiên cứu 138

Kết luận chương 3 143

KẾT LUẬN 145

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 147

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 148

PHỤ LỤC 159

Phụ lục số 1 160

Phụ lục số 2 163

Phụ lục số 3 183

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ALS Hệ thống cấp phép khu vực

BRT xe buýt vận chuyển nhanh, khối lượng lớn GIS Hệ thống quản lý thông tin địa lý

GTCC giao thông công cộng

GTĐT giao thông đô thị

GTVT giao thông vận tải

HCNN hành chính nhà nước

HĐND Hội đồng nhân dân

ITS Hệ thống giao thông thông minh

KT - XH kinh tế - xã hội

LRT

ODA

vận tải đường sắt nhẹ nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức PLGT pháp luật giao thông

PPPs quan hệ đối tác công - tư

QLNN quản lý nhà nước

QPPL quy phạm pháp luật

TN - MT Tài nguyên - Môi trường

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Các nguồn tài chính tiềm năng cho hệ thống 45

Bảng 2.1: Mạng lưới giao thông đường bộ thành phố Hà Nội (2010) 68

Bảng 2.2: Các tuyến đường sắt đi qua thành phố Hà Nội (2010) 69

Bảng 2.3: Giao thông đường thủy thành phố Hà Nội (2010) 70

Bảng 2.4: Bến xe khách tại thành phố Hà Nội (2010) 71

Bảng 2.5: Bến xe tải tại thành phố Hà Nội (2010) 72

Bảng 2.6: Số lượng các điểm đỗ xe và diện tích tại các quận và huyện trung tâm thành phố Hà Nội (2010) 73

Bảng 2.7: Tỷ lệ các loại phương tiện giao thông chính tại Hà Nội qua các năm 74

Bảng 2.8: Tóm tắt về các cơ quan quản lý nhà nước và việc thực hiện các nội dung QLNN về GTĐT tại thành phố Hà Nội 83

Bảng 3.1: Một số dự án hạ tầng giao thông tiêu biểu ở Hà Nội 116

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1: Bốn trụ cột của giao thông đô thị bền vững 42

Hình 1.2: Sự kết hợp tối ưu trong việc thành lập cơ quan quản lý hiệu lực cho quy hoạch sử dụng đất và giao thônggiao thông đô thị 43

Hình 1.3: Một số hình ảnh về hệ thống đường bộ ở Tokyo 53

Hình 1.4: Tokyo, nơi tất cả các trung tâm đô thị đều nằm xung quanh các nhà ga đa phương tiện 54

Hình 1.5: Hệ thống thu phí giao thông điện tử (ERP) trên đường phố ở Singapore 57

Hình 1.6: Cầu Nam Phố - Nanpu, biểu tượng cho một Thượng Hải phát triển không ngừng 59

Hình 2.1: Một số hình ảnh về thành phố Hà Nội 63

Hình 2.2: Bản đồ hành chính thành phố Hà Nội năm 2008 66

Hình 2.3: Số lượng ô tô, xe máy đăng ký ở Hà Nội qua các năm 74

Hình 2.4: Sự chen lấn khiến tình trạng ùn tắc giao thông mỗi lúc một kéo dài trên đường 76

Hình 2.5: Nguyên nhân gây tai nạn giao thông theo các nhóm 77

Hình 2.6: Phân loại nguyên nhân do con người gây ra theo tỷ lệ % 78

Hình 2.7: Một đoạn tuyến đường bộ vành đai 3 trên cao ở Hà Nội 92

Hình 2.8: Cầu vượt nhẹ tại nút giao thông Chùa Bộc - Tây Sơn 93

Hình 2.9: Phối cảnh đường sắt đô thị tại Hà Nội 95

Hình 2.10: Tắc đường, một vấn nạn thường xuyên xảy ra ở các tuyến đường chính của Hà Nội 99

Hình 3.1: Cầu Thanh Trì, một cây cầu lớn bắc qua sông Hồng được xây dựng bằng nguồn vốn ODA của Nhật Bản 117

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong những thập kỷ cuối của thế kỷ XX, đường lối Đổi mới đúng đắn

do Đảng Cộng sản khởi xướng đã đưa Việt Nam thoát ra khỏi tình trạng trì trệ, lạc hậu của và đạt được những thành tích đáng khâm phục trong phát triển kinh tế Tuy nhiên, mặc dù đã trải qua hơn 25 năm thực hiện Đổi mới nhưng Việt Nam hiện nay vẫn đứng trong hàng ngũ các nước có trình độ phát triển thấp so với các nước trong khu vực và còn phải đối mặt với rất nhiều vấn đề khó khăn cần giải quyết để tiếp tục phát triển bền vững

Những thành tựu phát triển kinh tế kéo theo nhu cầu phát triển các lĩnh vực khác trong xã hội Ở phạm vi toàn quốc gia và trong từng địa phương, trách nhiệm của Nhà nước và chính quyền các địa phương là phải làm sao cho

sự phát triển trên tất cả các lĩnh vực đảm bảo tính hài hòa, hợp lý

Trong phạm vi các thành phố cũng vậy, một khi chỉ quá chú trọng đến phát triển kinh tế mà chưa quan tâm đúng mức đến sự phát triển các lĩnh vực khác thì sẽ dẫn đến hậu quả là phải đối mặt với những vấn đề gây cản trở sự tăng trưởng kinh tế của thành phố Các thành phố ở Việt Nam, đặc biệt là các thành phố lớn như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh hiện đang gặp phải sự mất cân đối trong rất nhiều lĩnh vực của đời sống KT - XH, một trong những lĩnh vực mất cân đối nghiêm trọng nhất là GTĐT

Bên cạnh đó, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng lên thể hiện thông qua sự hội nhập ngày càng sâu, rộng vào tiến trình phát triển chung của thế giới Sự hội nhập quốc tế có tác động đến tất cả các lĩnh vực đời sống KT - XH của đất nước nói chung cũng như của các đô thị nói riêng, trong đó có lĩnh vực GTĐT Ngoài tác động tích cực là đưa Việt Nam hòa chung vào nhịp độ phát triển chung của thế giới để tận dụng những

cơ hội cho phát triển thì tác động tiêu cực của hội nhập quốc tế là có thể làm trầm trọng thêm những vấn đề vốn có của đất nước

Trang 11

Tại các thành phố lớn của Việt Nam, một trong những biểu hiện thể hiện tác động tiêu cực của hội nhập quốc tế là sự mất cân đối nghiêm trọng giữa cung và cầu về giao thông Tình trạng này làm cho chất lượng cuộc sống của người dân thành phố bị giảm sút đáng kể

Trong thời gian qua, mặc dù với sự cố gắng của các cơ quan QLNN, nhiều giải pháp đã được đề xuất và thực hiện nhưng nhìn chung các giải pháp còn mang tính tình thế, chưa giải quyết được tận gốc nguyên nhân phát sinh ra

sự mất cân đối trong GTĐT và kết quả là tình hình GTĐT ở các thành phố lớn của Việt Nam ngày càng trở nên căng thẳng với những biểu hiện như ách tắc

và tai nạn giao thông gia tăng Tình trạng này dẫn tới hậu quả là gây lãng phí tiền bạc của xã hội và ô nhiễm môi trường sống

Thực trạng đó đòi hỏi chính quyền các thành phố lớn phải tiếp cận công tác QLNN về GTĐT theo một cách khác để có thể xem xét lại một cách toàn diện hoạt động QLNN về GTĐT, từ đó phân tích và tìm kiếm các cách thức

để giải quyết vấn đề GTĐT một cách căn bản và triệt để hơn Có như vậy mới làm cho các thành phố này đảm nhiệm được chức năng là trung tâm tăng trưởng kinh tế của một đất nước cơ bản được công nghiệp hoá, hiện đại hoá

vào năm 2020 Với ý tưởng như vậy, đề tài “Đổi mới quản lý nhà nước về giao thông đô thị tại thành phố Hà Nội trong thời kỳ hội nhập và phát triển” sẽ nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn, đề xuất một cách tiếp cận

mới đối với QLNN về GTĐT để từ đó xây dựng luận cứ lý luận và thực tiễn làm cơ sở để tìm kiếm giải pháp quản lý, góp phần gợi ý cho Nhà nước

và chính quyền thành phố Hà Nội cũng như các thành phố lớn khác của Việt Nam giải quyết được những vấn đề về GTĐT đang đặt ra, tạo ra sự phát triển tương xứng các lĩnh vực KT - XH của Thành phố, từ đó hướng tới sự phát triển bền vững trong tương lai, trở thành trung tâm vững chắc cho quá trình xây dựng và phát triển đất nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trang 12

2 Mục đích nghiên cứu

Việc nghiên cứu đề tài nhằm mục đích xây dựng luận cứ lý luận và thực tiễn làm cơ sở đề xuất định hướng đổi mới QLNN về GTĐT tại thành phố Hà Nội, giúp giải quyết được một cách cơ bản những vấn đề GTĐT đang và sẽ đặt ra tại thành phố Hà Nội nói riêng và các thành phố lớn của Việt Nam nói

chung trong bối cảnh hội nhập và phát triển

3 Nội dung nghiên cứu

Với mục đích trên, đề tài tập trung thực hiện những nội chính sau đây:

- Xây dựng và hệ thống hóa những luận cứ lý luận và thực tiễn làm cơ sở

đề xuất đổi mới QLNN về GTĐT tại thành phố Hà Nội trong thời kỳ hội nhập

và phát triển theo hướng quản lý GTĐT bền vững

- Đề xuất nội dung đổi mới QLNN về GTĐT theo hướng quản lý GTĐT bền vững cho thành phố Hà Nội trong thời kỳ hội nhập phát triển và những giải pháp để thực hiện

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là hoạt động quản lý nhà nước về giao thông đô thị

Trang 13

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về nội dung: cách tiếp cận và nội dung, giải pháp đổi mới QLNN về GTĐT theo hướng phát triển bền vững

- Phạm vi về không gian: thành phố Hà Nội

- Phạm vi về thời gian: từ năm 2000 đến 2020

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở phương pháp luận

Luận án được nghiên cứu dựa trên các quan điểm phương pháp luận sau đây:

- Chủ nghĩa duy vật biện chứng: xem xét hoạt động QLNN về GTĐT trong sự vận động và chịu ảnh hưởng của những yếu tố tác động từ bối cảnh thực tiễn

- Chủ nghĩa duy vật lịch sử: xem xét hoạt động QLNN về GTĐT trong những điều kiện cụ thể và khi những điều kiện thay đổi thì cần phải thay đổi hoạt động quản lý

- Quan điểm hệ thống: xem xét QLNN về GTĐT trong mối quan hệ mang tính hệ thống giữa các yếu tố tạo thành hoạt động quản lý, gắn kết chúng với nhau trên cơ sở hướng tới mục tiêu chung là tạo dựng được hệ thống GTĐT bền vững

5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Trong quá trình nghiên cứu luận án, tác giả luận án sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:

- Phương pháp phân tích và xử lý thông tin: nghiên cứu các tài liệu lý

thuyết, các văn bản hiện hành liên quan đến GTĐT, đến QLNN, QLNN về GTĐT để hệ thống hóa lý luận QLNN về GTĐT Phương pháp này cũng được

sử dụng để phân tích các số liệu thống kê và tình hình thực tiễn để đánh giá hạn chế của hoạt động QLNN về GTĐT tại thành phố Hà Nội và xác định những vấn đề cần phải giải quyết

Trang 14

- Phương pháp tổng hợp: nghiên cứu và liên kết các mặt, các bộ phận

của thông tin liên quan sự tác động tới GTĐT và hoạt động QLNN về GTĐT trong thời kỳ hội nhập và phát triển để luận giải sự cần thiết phải đổi mới QLNN về GTĐT theo hướng quản lý GTĐT bền vững

- Phương pháp hệ thống hóa: sắp xếp các tri thức của đối tượng nghiên

cứu trong luận án - hoạt động QLNN về GTĐT đã được phân tích và tổng hợp theo một cấu trúc nhất định nhằm tạo trình bày một cách hệ thống lý thuyết QLNN về GTĐT, giúp cho sự hiểu biết QLNN về GTĐT đầy đủ và sâu sắc hơn

- Phương pháp thống kê: sử dụng các số liệu thống kê để phân tích và

làm rõ các xu hướng vận động của những vấn đề có liên quan để lập luận nhằm minh chứng cho những nhận xét và kết luận của tác giả

6 Đóng góp mới của luận án

6.1 Về lý luận

Luận án góp phần làm sáng tỏ về phương diện lý luận trong khoa học

quản lý hành chính nhà nước thông qua:

- Hệ thống hóa lý thuyết QLNN về GTĐT với các nội dung: xây dựng khái niệm QLNN về GTĐT, chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, phương pháp quản lý, công cụ quản lý, biện pháp quản lý, nhiệm vụ quản lý và các hoạt động quản lý

- Phân tích sự tác động của bối cảnh hội nhập và phát triển tới GTĐT và QLNN về GTĐT

- Luận giải về xu hướng tất yếu của đổi mới QLNN về GTĐT theo hướng quản lý GTĐT bền vững

- Xây dựng khái niệm GTĐT bền vững và khái niệm quản lý GTĐT bền vững

- Khái quát hóa một số mô hình quản lý GTĐT bền vững đã được các nhà nghiên cứu đề xuất

Trang 15

- Xây dựng luận cứ thực tiễn từ bài học kinh nghiệm về quản lý GTĐT bền vững của một số thành phố lớn trên thế giới

- Xây dựng luận cứ lý luận cho đổi mới QLNN về GTĐT theo hướng phát triển bền vững

6.2 Về thực tiễn

Luận án có những đóng góp sau đây:

- Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ làm cơ sở cho đổi mới căn bản cách tiếp cận về QLNN về GTĐT tại thành phố Hà Nội, từ đó có những định hướng và giải pháp để giải quyết một cách hệ thống và toàn diện những vấn

đề GTĐT đang đặt ra tại thành phố Hà Nội cũng như tại các thành phố lớn của Việt Nam trong thời kỳ hội nhập và phát triển

- Những luận cứ lý thuyết và thực tiễn được trình bày trong luận án có thể được sử dụng trong nghiên cứu, giảng dạy khối kiến thức quản lý hành chính nhà nước và đặc biệt là khối kiến thức cơ sở ngành QLNN về đô thị cho đào tạo đại học hành chính hệ chính quy

7 Kết cấu luận án

Ngoài các phần: Mở đầu, Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án gồm 3 chương chính sau đây:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đổi mới quản lý nhà nước về

giao thông đô thị

Chương 2: Thực trạng giao thông đô thị và quản lý nhà nước về giao

thông đô thị tại thành phố Hà Nội

Chương 3: Đổi mới quản lý nhà nước về giao thông đô thị tại thành phố

Hà Nội theo hướng quản lý giao thông đô thị bền vững trong thời kỳ hội nhập và phát triển

Trang 16

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

Trong những thập kỷ cuối của thế kỷ XX, quá trình hội nhập quốc tế làm cho các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước ở khu vực châu Á được gia nhập vào nền kinh tế thế giới và trở thành khu vực kinh tế năng động nhất thế giới với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và tăng liên tục Sự phát triển kinh tế kéo theo tốc độ đô thị hóa gia tăng với đặc trưng chủ yếu tại các thành phố lớn của những nước này là sự tập trung quá mức dân số Điều đó đã và đang gây áp lực đối với hệ thống hạ tầng tại các thành phố lớn, đặc biệt là đối với

hạ tầng GTĐT Những vấn đề về GTĐT diễn ra hàng ngày tại các thành phố của những quốc gia trong khu vực như: ùn tắc và tai nạn giao thông, ô nhiễm môi trường do khí thải từ các phương tiện giao thông,… đã và đang trở thành nguy cơ đe dọa đến sự phát triển bền vững của các thành phố

Chính vì thế mà có rất nhiều tổ chức và tác giả trên thế giới cũng như ở trong nước nghiên cứu về vấn đề quản lý GTĐT tại các thành phố của những nước đang phát triển nhằm giúp chính phủ các nước này cũng như chính quyền các thành phố giải quyết các vấn đề GTĐT Sau đây là một số công trình có liên quan đến đề tài luận án:

1 Các công trình nghiên cứu quản lý giao thông đô thị trên thế giới

Các nghiên cứu của các tác giả trên thế giới về quản lý GTĐT tập trung vào hai nhóm vấn đề sau:

Nhóm thứ nhất, các nghiên cứu về giải pháp tổng thể để giải quyết các vấn đề GTĐT

Trong luận án tiến sĩ có tên “Traffic Management in Motorcycle Dependent Cities” (Quản lý giao thông trong các thành phố phụ thuộc xe

máy) của tác giả Khuất Việt Hùng, với mục tiêu mong muốn đạt được là thành phố sống tốt với hệ thống giao thông bền vững, tác giả đưa ra khái niệm

Trang 17

quản lý giao thông trong các thành phố phụ thuộc xe máy Đây là một cách tiếp cận nhằm giải quyết các vấn đề giao thông trong ngắn hạn trong khi các giải pháp về hạ tầng giao thông và giao thông bằng các phương tiện vận tải khối lượng lớn là các giải pháp lâu dài

Các biện pháp được đề cập đến trong luận án là thiết lập và áp dụng hệ thống đánh giá đa tiêu chí, trong đó tính hiệu quả của biện pháp được đánh giá bằng mức độ đạt được của 4 mục tiêu chiến lược cho hệ thống giao thông bền vững là: (1) đảm bảo nhu cầu đi lại trong đô thị, (2) đảm bảo an toàn giao thông, (3) bảo vệ môi trường, (4) phát triển đô thị và kinh tế của vùng lãnh thổ [69]

Trong tài liệu với tiêu đề “A model of urban transport management”

(Mô hình quản lý GTĐT), tác giả Paolo Ferrari đã đề xuất một mô hình quản

lý giao thông để giải quyết vấn đề GTĐT Trong mô hình này, tất cả các loại hình GTCC và giao thông cá nhân đều bị quản lý bởi hệ thống kiểm soát của chính quyền như: trả tiền sử dụng đường, giá vé đi lại, các dịch vụ giao thông đặc thù [80] Có thể tìm thấy ở nghiên cứu này những luận điểm cả

về lý thuyết và thực tiễn để xây dựng các giải pháp cho vấn đề GTĐT tại Việt Nam

Cũng nhằm hướng tới các giải pháp chung cho vấn đề GTĐT, các tác giả Sutanto Soehodho, Akimasa Fujiwara, Tetsuro Hyodo, Cresencio Jr

Montalbo đã trình bày một công trình nghiên cứu có tựa đề “Transprtation Issues and Future Condition in Tokyo, Jakarta, Manila and Hiroshima” (Các

vấn đề về giao thông và điều kiện trong tương lai Tokyo, Jakarta, Manila and Hiroshima) Trong tài liệu này, các tác giả đã thảo luận về các vấn đề GTĐT tại 4 thành phố ở châu Á là Tokyo, Jakarta, Manila and Hiroshima Những ý kiến tập trung vào xem xét nền tảng KT - XH hoặc nhân khẩu học Đây là những yếu tố kích hoạt chủ yếu cho hệ thống giao thông ở các đô thị [85] Bài học rút ra được từ các thành phố khác nhau này có thể là những kinh nghiệm tốt để chia sẻ cho hoạt động phát triển GTĐT tại các thành phố

Trang 18

Trong những năm gần đây, trước sự gia tăng áp lực về những vấn đề GTĐT tại các thành phố lớn của các nước đang phát triển, đã có một số công trình nghiên cứu gợi ý thay đổi mang tính nền tảng cho quản lý GTĐT, đó là

thay đổi cách tiếp cận về quản lý GTĐT theo hướng bền vững Một số công

trình tiêu biểu đó là:

- Bài viết có tựa đề “The Four Pillars of Sustainable Urban oTransportation” (Bốn trụ cột của GTĐT bền vững) do tác giả Christopher Kenedy và cộng sự nghiên cứu cho thấy rằng, ngày nay, mọi người đều đã nhận ra tính không bền vững của GTĐT và sử dụng đất tại các thành phố Vấn

đề đặt ra là cần phải làm thế nào để tiến tới một tương lai bền vững hơn, đặc biệt là để có nhiều bên liên quan tham gia vào hệ thống đô thị phức tạp Theo quan điểm của các tác giả, để đạt được sự bền vững của GTĐT cần phải thiết lập được 4 trụ cột phù hợp, đó là: quản lý sử dụng đất và giao thông hiệu quả; nguồn vốn cấp hiệu quả, công bằng và ổn định; đầu tư cơ sở hạ tầng chiến lược; và chú ý tới thiết kế của khu vực xung quanh [68]

- Năm 2006, tác giả Todd Goldman và Roger Gorman đã viết bài báo có tựa đề “Sustainable urban transport: Four innovative directions” (GTĐT bền

vững: 4 hướng đổi mới) đăng trên tạp chí Technology in Society số 28

(2006) Bài viết đã chỉ ra rằng, những nỗ lực để xác định và thực hiện quan điểm bền vững trong bối cảnh đô thị thường rơi vào một trong 2 xu hướng hành động: hoặc coi GTĐT bền vững như là chính sách mang tính giải pháp hoặc coi GTĐT bền vững như là chính sách mang tính mục đích Các tác giả cho rằng, để thành công, chính sách GTĐT bền vững cần phải tránh sai lầm thông thường của chính sách giao thông là bỏ qua hệ thống lớn hơn mà trong

đó diễn ra các hoạt động giao thông Mục tiêu của GTĐT bền vững có thể đạt được bởi một số đổi mới trong GTĐT Các tác giả đã xác định ra 4 lĩnh vực đổi mới là: Sự đi lại kiểu mới, Thành phố hậu cần vận tải (logistics ), Hệ thống quản lý thông minh và Thành phố đáng sống [64]

Trang 19

- Nhận thấy việc đầu tư với nguồn vốn khổng lồ vào hoàn thiện và nâng cấp hạ tầng GTĐT tại các thành phố thường là kém hiệu quả, Ngân hàng Phát

triển châu Á (ADB) đã công bố công trình nghiên cứu có tên Changing Course - A New Paradigm for Sustainable Urban Transport (Thay đổi hướng

đi - một mô hình mới cho GTĐT bền vững) vào năm 2009 Công trình này đã

lý giải về sự cần thiết phải có một cách thức mới và xác định các vấn đề liên quan về quản lý, về tài chính, về giao thông, và về chính sách sử dụng đất Cách thức mới này bao gồm 5 thành tố cơ bản: chính sách giao thông dựa trên cơ sở thực tiễn, coi quy hoạch sử dụng đất như là một phần của giải pháp, cầu về giao thông cần phải được quản lý theo cung về giao thông, các quy hoạch và dự án phải có tầm nhìn rộng, hiệu quả của chính sách cần phải được những người hưởng lợi nhận biết được Theo cách thức mới này, các sáng kiến của ADB về GTĐT cho tương lai cũng sẽ giúp xây dựng năng lực để đẩy nhanh những thay đổi tích cực [55]

Nhóm thứ hai, các nghiên cứu về những giải pháp để giải quyết các vấn

đề riêng biệt trong GTĐT

Quản lý ùn tắc giao thông

Tài liệu của tổ chức Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) với

tựa đề “Managing Urban Traffic Congestion” (Quản lý ùn tắc GTĐT) được

công bố năm 2007 gợi mở định hướng chính sách và các khuyến nghị khuyến nghị quản lý ùn tắc giao thông dựa trên việc sử dụng đất hiệu quả và các biện pháp tài chính liên quan tới các loại phí sử dụng hạ tầng GTĐT [78]

Ngoài ra, các giải pháp quản lý ùn tắc GTĐT cũng được đề cập tới tại các tài liệu khác với việc giải quyết nhiều vấn đề GTĐT mà ùn tắc giao thông chỉ là một trong số đó

Quản lý cầu về giao thông

Bài trình bày của tác giả Manfred Breithaupt thuộc Tổ chức GTZ có tựa

đề “Transport Demand Management - Part 1(Road Pricing and Congestion

Trang 20

Charging)” (Quản lý nhu cầu giao thông - phần 1 (Phí sử dụng đường và phí

ùn tắc) tại Hội nghị EST tổ chức ngày 17-3-2008 tại Singapore đã phân tích các vấn đề về GTĐT mà các nước đang phát triển phải đối mặt và gợi mở ra hướng giải quyết bằng cách quản lý cầu về giao thông Các giải pháp cụ thể được tác giả đề xuất để quản lý cầu về giao thông là: sử dụng đất, hạn chế phương tiện giao thông trong khu vực trung tâm, thuế nhiên liệu, trả phí sử dụng đường,…[73]

Cuốn sách có tên Quản lý nhu cầu giao thông là tài liệu giảng dạy của

các tác giả Andrea Broaddus, Todd Litman, Gopinath Menon đã được dịch sang tiếng Việt được xuất bản năm 2009 tại Cộng hòa Liên bang Đức đã trang

bị cơ sở lý luận và có nhiều ví dụ minh họa cho quản lý nhu cầu giao thông, cách thức lựa chọn chính sách vận tải một cách hiệu quả cũng như các biện pháp thực hiện chính sách này Đồng thời chính sách sử dụng đất cũng được

đề cập tới nhằm tạo ra các cộng đồng dân cư dễ tiếp cận và lựa chọn các hình thức vận tải phù hợp [32]

Một công cụ quản lý nhu cầu giao thông đã được áp dụng rất thành công

ở Singapore được tác giả Foo Tuan Seik từ Trường Quản lý Xây dựng và Bất động sản thuộc Trường Đại học Quốc gia Singapore trình bày trong tài

liệu có tựa đề “An effective demand management instrument in urban transport: the Area Licensing Scheme in Singapore” (Công cụ quản lý nhu cầu giao thông hiệu quả: Hệ thống cấp phép khu vực ở Singapore) năm 1997

[61] Trong nghiên cứu này, tác giả đã thảo luận về hiệu lực của hệ thống ALS và sự phát triển của hệ thống này theo trình tự thời gian; phân tích tác động tích cực của hệ thống này đối với vấn đề ùn tắc giao thông

Mới đây, Ủy ban Châu Âu (EC) đã công bố một công trình nghiên cứu

trong cuốn sách có tên Innovation in urban mobility: Policy making and planning (Đổi mới về cách thức đi lại: xây dựng chính sách và quy hoạch)

Theo quan điểm của các tác giả cuốn sách, để đưa những xu hướng đi lại ngày

Trang 21

nay vào con đường phát triển bền vững thì cần tư duy lại vấn đề đi lại trong

đô thị một cách toàn diện [60] Điều này có nghĩa là, các nhà quản lý đô thị cần thi hành các chính sách GTĐT bền vững và tích hợp để tối ưu hóa việc sử dụng tất cả các loại hình giao thông trong mạng lưới đối với cả vận chuyển hành khách và hàng hóa

Nguồn tài chính cho GTĐT

Các giải pháp quản lý về cầu giao thông giúp cho hoạt động giao thông được diễn ra hài hòa với chi phí hợp lý và khai thác hạ tầng giao thông hiệu quả Tuy nhiên, trong quá trình phát triển của các đô thị cũng cần quan tâm tới nhu cầu phát triển hạ tầng giao thông Yêu cầu đối với hạ tầng giao thông

là hiện đại, phù hợp với quy mô và sự phân bố dân cư và các khu chức năng của đô thị Nhu cầu này đòi hỏi một nguồn tài chính rất lớn mà nếu chỉ lấy từ ngân sách nhà nước và ngân sách của chính quyền đô thị thì không bao giờ có thể đáp ứng được Do vậy, các giải pháp cho vấn đề tài chính GTĐT cũng được nhiều tác giả đề cập tới

Một trong những nghiên cứu đó là bài viết có tên “A Robust Solution for Urban Transportation Infrastructure and Service Development: Private Sector Participation” (Giải pháp thiết thực cho phát trển hạ tầng và dịch vụ GTĐT: Sự tham gia của khu vực tư) đăng trên tạp chí Asian Journal of Civil Engineering (Building and Housing) Vol 6, No 3 (2005) Tác giả bài viết đề

xuất sự tham gia của khu vực tư (PSP) như là một giải pháp có ý nghĩa cho phát triển hạ tầng và dịch vụ giao thông Quan điểm này khẳng định sự cần thiết và vai trò của khu vực tư tham gia vào đổi mới GTĐT [71] Mặc dù giải pháp PSP có cả mặt tích cực và tiêu cực nhưng nếu được áp dụng, nó sẽ là giải pháp cho nhiều vấn đề GTĐT cả trong hiện tại và tương lai Nó được coi như là một phương tiện để gia tăng nguồn vốn và hoàn thiện quản lý

Nghiên cứu phân tích tài chính được trình bày trong báo cáo có tên

“Study on Urban Transport Development” (Nghiên cứu về phát triển GTĐT)

Trang 22

do PADECO Co LTD thực hiện theo hợp đồng với WB vào năm 2000 cũng

là nghiên cứu về giải pháp tài chính cho vấn đề GTĐT nhưng có bổ sung thêm các giải pháp về thể chế Trong báo cáo này, các tác giả tập trung nghiên cứu, phân tích về quản lý GTĐT tại các thành phố tiêu biểu ở châu Á là: Tokyo, Kobe, Nagoya, Hamamatshu, Bangkok, Manila, Seoul, Singapore

và Đài Loan [89] Qua các tình huống nghiên cứu này, các tác giả đã phân tích những vấn đề cụ thể về tài chính cho GTĐT, thể chế và quản lý GTĐT, GTĐT và đói nghèo, an toàn giao thông và môi trường Từ đó, rút ra các bài học về quản lý GTĐT

Áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý GTĐT

Hiện nay, công nghệ thông tin được ứng dụng rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Vì vậy, vấn đề sử dụng các công cụ áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý và giải quyết vấn đề GTĐT cũng được đặt

ra Có 3 nghiên cứu tiêu biểu đề cập đến khía cạnh này đó là: (1) bài viết có tên

“Urban Transport and Local Governance in Asia Developing Countries”

(GTĐT và chính quyền địa phương ở các nước đang phát triển châu Á); (2)

nghiên cứu có tên “State-of-the-art of urban traffic management policies and technologies” (Nghệ thuật quản lý của Nhà nước trong các chính sách và công nghệ quản lý GTĐT), (3) bài viết có tên “Multi-Agent System for Modeling Transport Systems” (Hệ thống Hỗ trợ điều hành hệ thống giao thông)

Trong nghiên cứu thứ nhất “Urban Transport and Local Governance in Asia Developing Countries”, các tác giả đã phân tích việc sử dụng hệ thống

quản lý thông tin địa lý (GIS) trong quản lý GTĐT Thông qua điều tra việc đi lại bằng hệ thống GIS, nghiên cứu chỉ ra rằng mô hình hành vi giao thông tại các khu vực phát triển thưa thớt cũng khác với những hành vi đó trong các khu vực phát triển trước đây Các điều tra đã đưa ra những bức tranh rõ ràng

để hiểu rõ mối quan hệ giữa các mô hình giao thông của dân cư và nhu cầu của họ để phát triển các dịch vụ vận tải [56]

Trang 23

Một công cụ hiện đại khác áp dụng trong quản lý GTĐT - hệ thống giao

thông thông minh (ITS) được nghiên cứu tại tài liệu “State-of-the-art of urban traffic management policies and technologies” Đây là công cụ đóng vai trò

quan trọng trong quản lý GTĐT Nó được coi là giải pháp tiềm năng đối với nhiều vấn đề của đô thị [66]

Việc áp dụng hệ thống Hỗ trợ Điều hành (SSO) trong quản lý GTĐT được trình bày tại nghiên cứu thứ 3 về áp dụng công nghệ thông tin giúp cho các nhà quản lý thực thi công việc tốt hơn SSO cho phép theo dõi kịp thời mạng lưới GTĐT giúp hỗ trợ theo dõi và kiểm soát giao thông [58]

Giải pháp mang tính thể chế

Bài viết với tựa đề “Institutional Frame-Work for Urban Transport”

(Khung thể chế cho GTĐT) của Bộ Phát triển Đô thị (Ấn Độ) đã phân tích về tình hình GTĐT tại Ấn Độ và những vấn đề đặt ra liên quan đến thể chế Đồng thời tài liệu cũng xem xét kinh nghiệm của một số thành phố như Singapore, Hongkong, Bangkok, London, Bogota,…cũng như phân tích vai trò của các cơ quan nhà nước trong quản lý GTĐT Từ đó, xây dựng nên khung thể chế để quản lý GTĐT [76]

Một nghiên cứu nữa bổ sung thêm vào các giải pháp mang tính thể chế là

tài liệu “Experience in Urban Traffic Management and Demand Management

in Developing Countries” (Kinh nghiệm quản lý giao thông và quản lý nhu

cầu giao thông tại các nước đang phát triển) được công bố năm 2000 của tác giả John A Cracknell Qua kinh nghiệm về quản lý giao thông và quản lý cầu

về giao thông tại các thành phố của các nước đang phát triển chú trọng đến khía cạnh thể chế để phát triển bền vững; xác định các vấn đề ảnh hưởng tới quy hoạch thành công và các yếu tố thực hiện quản lý giao thông và quản lý nhu cầu giao thông của các dự án từ Ngân hàng; gợi ý các chính sách quản lý giao thông và quản lý cầu về giao thông [67]

Trang 24

Tài liệu này đã đề cập đến khá nhiều vấn đề mang tính chất lý luận liên quan đến GTĐT như: vai trò của quản lý giao thông, kỹ thuật quản lý giao thông, thể chế quản lý giao thông, đào tạo nguồn nhân lực cho quản lý giao thông, quản lý giao thông với an toàn đường phố, quản lý giao thông và đói nghèo và các xu hướng quản lý giao thông

Kinh nghiệm quản lý GTĐT

Có nhiều tài liệu nghiên cứu về kinh nghiệm của các nước trong quản lý GTĐT, những kinh nghiệm này là những bài học tốt để có thể học tập và vận dụng vào điều kiện thực tiễn của mỗi thành phố

Tác giả Mohinder Singh từ Cơ quan quản lý Quy hoạch đất giao thông

Singapore trình bày nghiên cứu dưới tựa đề “Urban Transport Planning and Management: Best Practices – Land Transport in Singapore” (Quy hoạch và

quản lý GTĐT: kinh nghiệm tốt nhất là biện pháp sử dụng đất giao thông ở Singapore” Tác giả đã trình bày cách làm của Singapore khi thực hiện quy hoạch giao thông tích hợp với sử dụng đất [84] Chính nhờ cách làm này mà Singapore đã giải quyết được vấn nạn GTĐT và trở thành một đất nước có hệ thống GTĐT hiện đại hàng đầu thế giới Đây là bài học rất có ý nghĩa đối với các thành phố lớn ở Việt Nam trong tình hình hiện nay

Bổ sung thêm vào kinh nghiệm quản lý GTĐT tại thành phố của các

nước đang phát triển và các nước châu Á là tài liệu có tên “Transport Problems Facing Large Cities” (Các thành phố lớn đối mặt với những vấn đề

giao thông” của các tác giả Tom Edwards và Stewart Smith công bố năm

2008 Nội dung của bài nghiên cứu này là bài học kinh nghiệm từ các thành phố lớn ở châu Âu có so sánh với một thành phố của châu Á là Tokyo Sự thực hành tốt nhất chính sách GTĐT từ các thành phố trên thế giới được xác định trước hết từ GTCC, sau đó là giảm ùn tắc giao thông [86] Kinh nghiệm quốc tế chỉ ra rằng, ùn tắc giao thông chỉ được giải quyết tốt nhất với sự kết hợp của việc khuyến khích và không khuyến khích

Trang 25

2 Các công trình nghiên cứu quản lý giao thông đô thị ở Việt Nam

Tại Việt Nam, tuy vấn đề GTĐT là một trong những vấn đề ngày càng trở nên nóng bỏng ở 2 thành phố lớn nhất cả nước là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh nhưng cho đến nay, chưa có một nghiên cứu nào thật sự toàn diện dưới góc độ QLNN về vấn đề này Do vậy, hiện nay chưa có công trình nghiên cứu nào giúp cho Chính phủ và chính quyền của các thành phố này đề

ra những giải pháp có tầm chiến lược, kết hợp được cả khía cạnh kỹ thuật và khía cạnh quản lý trong giải quyết các vấn đề GTĐT

Đóng góp nhiều nhất vào những nỗ lực cải thiện GTĐT của Hà Nội là các dự án của các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JBIC), Cơ quan hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) và Ngân hàng Thế giới (WB) Tài liệu của các dự án từ các tổ chức này cung cấp những luận cứ khoa học và thực tiễn và cũng có những đề xuất giải pháp nhưng những giải pháp này phần nhiều mang tính kỹ thuật

Ngoài ra, còn một số công trình nghiên cứu cung cấp những cơ sở lý luận về GTĐT và một số vấn đề liên quan - những kiến thức cần phải nắm vững đối với mọi tác giả khi nghiên cứu vấn đề GTĐT Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu như:

- Cuốn sách Giao thông đô thị và quy hoạch đường phố của tác giả Lâm

Quang Cường, Trường Đại học Xây dựng xuất bản năm 1993 [33]

- Cuốn sách Vấn đề tổ chức phát triển giao thông đô thị tại thành phố

Hồ Chí Minh của tác giả Nguyễn Văn Tài do Nhà xuất bản Trẻ ấn hành năm

1993 [4]

- Cuốn Quy hoạch mạng lưới giao thông của tác giả Vũ Thị Vinh do Nhà

xuất bản Xây dựng ấn hành năm 2001 [54]

- Cuốn Quy hoạch giao thông vận tải và thiết kế công trình giao thông vận tải (tái bản lần thứ 2) của tác giả Nguyễn Xuân Trục do Nhà xuất bản Giáo dục phát hành năm 2005 [51]

Trang 26

Những công trình nghiên cứu trên cung cấp nền tảng lý thuyết về GTĐT với những nội dung cơ bản như: khái niệm, vai trò, đặc điểm, yêu cầu của GTĐT; quá trình hình thành và phát triển GTĐT; các yếu tố ảnh hưởng đến GTĐT, quy hoạch và thiết kế đường GTĐT,…

Bên cạnh đó, còn có những công trình đề cập đến những khía cạnh hoặc vấn đề riêng lẻ của quản lý GTĐT như: quản lý lưu lượng giao thông, tổ chức GTĐT, biện pháp phát triển xe buýt, quản lý và phát triển hạ tầng giao thông,… Có thể kể đến những công trình đó là:

- Đề tài “Nghiên cứu chính sách và cơ chế trợ giá cho xe buýt tại thành phố Hồ Chí Minh” do tác giả Lê Trung Tính (Trung tâm quản lý và điều hành vận tải hành khách công cộng - Sở Giao thông công chính thành phố Hồ Chí Minh) thực hiện năm 2000 [50]

- Cuốn sách Một số vấn đề cơ bản về kinh tế đầu tư quy hoạch và quản

lý cơ sở hạ tầng đô thị của tác giả Trần Đức Dục do Nhà xuất bản Xây dựng

phát hành năm 2000 [36]

- Đề tài nghiên cứu “Các biện pháp trước mắt giảm kẹt xe tại thành phố

Hồ Chí Minh” do tác giả Hồ Thanh Phong (trường Đại học Bách khoa thành phố Hồ Chí Minh) thực hiện năm 2003 [46]

Về quản lý GTĐT theo hướng bền vững, có 2 bài viết được đăng trên

cuốn Giao thông vận tải - phát triển bền vững và hội nhập do Trung tâm Đào

tạo và Thông tin - Viện Khoa học và Công nghệ Giao thông vận tải xuất bản năm 2010 đó là:

- Tác giả Phạm Ngọc Đăng với bài viết có tựa đề “Bàn về các biện pháp phát triển giao thông đô thị bền vững - giao thông đô thị xanh ở nước ta” đã

đề xuất các giải pháp quản lý GTĐT theo quan điểm của bảo vệ môi trường,

đó là các biện pháp hạn chế và kiểm soát khí thải do các phương tiện giao thông gây ra [34]

Trang 27

- Tác giả Nguyễn Xuân Nguyên với bài viết “Những vấn đề trong giao thông đô thị và giải pháp trong quản lý giao thông đô thị bền vững ở Việt Nam” đã đề xuất các giải pháp quản lý GTĐT bền vững nhưng mới chỉ dừng lại ở mức độ gợi mở chứ chưa thật cụ thể để thấy được trách nhiệm của các cơ quan quản lý [52]

3 Nhận xét về các công trình nghiên cứu và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục giải quyết

3.1 Nhận xét về các công trình nghiên cứu

Qua tổng quan những công trình nghiên cứu liên quan tới quản lý GTĐT trên đây, tác giả rút ra những nhận xét sau đây:

Thứ nhất, những điều mà các công trình nghiên cứu này đã làm được là:

- Xây dựng được nền tảng lý thuyết về hệ thống GTĐT giúp hiểu rõ về đối tượng quản lý của QLNN về GTĐT

- Đề ra giải pháp giải quyết đối với những vấn đề GTĐT theo những khía cạnh khác nhau: quản lý cầu về giao thông, quản lý ùn tắc, tài chính cho phát triển GTĐT, áp dụng công nghệ hiện đại trong quản lý GTĐT

- Đề xuất thay đổi cách tiếp cận về quản lý GTĐT theo hướng quản lý GTĐT bền vững với một số mô hình quản lý được gợi ý: mô hình 4 trụ cột [68], mô hình đổi mới theo 4 hướng [64] và mô hình quản lý GTĐT bền vững theo quan điểm của ADB [55]

- Những thực tiễn thành công trong thực hiện các giải pháp quản lý GTĐT tại các thành phố của các nước trên thế giới

Thứ hai, những khoảng trống về lý luận cần được khắc phục

Ngày nay, tất cả các quốc gia trên thế giới cũng như các thành phố của các quốc gia đều chịu tác động rất lớn của xu hướng hội nhập quốc tế Các nghiên cứu trên đã trang bị cả về lý luận và thực tiễn quản lý GTĐT dưới nhiều góc độ và khía cạnh khác nhau dưới những tác động của nhiều yếu tố kinh tế, dân cư,… nhưng chưa đặt quản lý GTĐT trong một bối cảnh rộng

Trang 28

hơn của quốc tế - bối cảnh hội nhập và phát triển để tìm hiểu xu hướng vận

động của GTĐT trong bối cảnh đó đồng thời chỉ ra hướng thay đổi cần thiết trong quản lý GTĐT Mặc dù các công trình mới đây (các mô hình quản lý GTĐT bền vững) đã phát hiện ra xu hướng cần đổi mới quản lý GTĐT nhưng lại chưa chỉ ra được một cách rõ ràng khái niệm quản lý GTĐT và định hướng đổi mới quản lý thiếu sự gắn kết với bối cảnh quốc tế

Mỗi mô hình quản lý GTĐT bền vững được công bố cũng chỉ đề cập tới một số định hướng thuộc lĩnh vực GTĐT chứ chưa mang tính tổng thể, toàn diện Mục tiêu của đổi mới quản lý GTĐT theo hướng khá rõ ràng đó là nhằm tạo dựng được hệ thống GTĐT bền vững, đóng góp vào sự phát triển bền vững của đô thị - một trong những mục tiêu thiên niên kỷ mà Liên hợp quốc

đã xác định Tuy nhiên, cơ sở nền tảng (triết lý) cùng những luận cứ của những đổi mới này lại chưa được thấy thật sự rõ ràng

3.2 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu

Từ sự phân tích về những khoảng trống trên, có thể thấy những vấn đề cần tiếp tục được nghiên cứu trong quản lý GTĐT là:

- Nghiên cứu, phân tích sự tác động của bối cảnh hội nhập và phát triển tới sự phát triển GTĐT và QLNN về GTĐT Từ đó xác định những yêu cầu đặt ra trong QLNN về GTĐT Đây là cơ sở quan trọng để xác định hướng đổi mới trong QLNN về GTĐT

- Tìm ra cơ sở nền tảng (triết lý) của đổi mới QLNN về GTĐT, xây dựng luận cứ để trên cơ sở đó đề xuất những định hướng và giải pháp đổi mới QLNN về GTĐT cho phù hợp với điều kiện thực tế của từng đô thị

Vì thế, luận án sẽ góp phần giải quyết những vấn đề trên và đề xuất đổi mới QLNN về GTĐT cho một thành phố cụ thể là thành phố Hà Nội

Trang 29

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỔI MỚI

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIAO THÔNG ĐÔ THỊ

1.1 Một số khái niệm liên quan

1.1.1 Đô thị

Theo cách hiểu chung nhất thì “đô thị là nơi tập trung dân cư với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, họ sống và làm việc theo phong cách sống văn minh, hiện đại hơn, có tổ chức và có hiệu quả kinh tế, văn hóa cao” [41, tr.10]

Do trình độ phát triển kinh tế - xã hội khác nhau nên khái niệm đô thị tại các quốc gia là không giống nhau Ở Việt Nam, theo quy định của Nghị định

số 42/2009/NĐ - CP ngày 07/5/2009 của Chính phủ về việc phân loại đô thị thì một điểm dân cư được gọi là đô thị khi nó đạt được các tiêu chuẩn cơ bản của đô thị, bao gồm 6 điều kiện, trong đó có 4 điều kiện quan trọng nhất là [4, Điều 6]:

- Quy mô dân số toàn đô thị tối thiểu phải đạt từ 4.000 người trở lên;

- Mật độ dân số tối thiểu đạt từ 2.000 người/km2 trở lên;

- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp được tính trong phạm vi ranh giới nội thành, nội thị, khu vực xây dựng tập trung phải đạt tối thiểu 65% so với tổng

số lao động

- Hệ thống công trình hạ tầng đô thị tối thiểu là từng mặt đã và đang được xây dựng tiến tới đồng bộ

1.1.2 Giao thông đô thị

Hệ thống GTĐT là một trong những loại cơ sở hạ tầng kỹ thuật quan trọng nhất của đô thị bởi nó chính là “huyết mạch” cho các hoạt động sống cơ bản của đô thị Đó là các hoạt động: làm việc, nghỉ ngơi, học tập, mua sắm,

du lịch, sản xuất và phân phối hàng hóa và nhiều hoạt động khác

Trang 30

Xét về mặt kỹ thuật, GTĐT là một tập hợp các công trình, các phương tiện, các con đường đảm bảo sự liên hệ thuận lợi giữa các khu vực trong thành phố với các khu vực bên ngoài thành phố [33, tr.6]

Tuy nhiên, ở góc độ quản lý, cần phải quan tâm hơn đến mục đích của GTĐT Mục đích của hệ thống GTĐT là đáp ứng nhu cầu về tiếp cận với dịch

vụ vận tải người và hàng hóa có hiệu quả và chất lượng đồng thời tăng cường đóng góp vào sự phát triển kinh tế, xã hội, môi trường và đảm bảo an toàn Do vậy, khi xem xét GTĐT dưới góc độ quản lý cần phải mở rộng khái niệm hơn

so với khái niệm GTĐT về mặt kỹ thuật, có như vậy mới xác định được phạm

vi tác động cần thiết để đảm bảo đạt được mục đích của GTĐT

Từ khái niệm GTĐT về mặt kỹ thuật, có thể thấy rằng hệ thống GTĐT được cấu thành bởi 2 thành tố: công trình giao thông và phương tiện giao thông Tuy nhiên, để đạt được mục đích của GTĐT thì không thể không đề cập tới người tham gia giao thông Con người là đối tượng vận chuyển nhưng cũng có thể họ đồng thời là chủ thể vận hành các phương tiện giao thông tạo

ra sự tương tác giữa công trình giao thông và phương tiện giao thông, vì thế

họ cũng là một bộ phận quyết định đến việc đảm bảo mục đích của GTĐT Như vậy, giao thông là một quá trình vận chuyển con người và hàng hóa, trong quá trình chuyển động đó diễn ra sự tương tác giữa các bộ phận có liên quan là các yếu tố tĩnh như hạ tầng giao thông và các yếu tố mang tính chất động như phương tiện giao thông và con người tham gia giao thông

Do đó, có thể hiểu rằng GTĐT là một hệ thống trong đó diễn ra sự tương tác giữa các đối tượng vận động như người và phương tiện giao thông với các công trình giao thông trên địa bàn đô thị để vận chuyển người và hàng hóa phục vụ cho các hoạt động của đời sống xã hội trên địa bàn đô thị

Khái niệm trên chỉ ra những yếu tố cấu thành hệ thống GTĐT bao gồm 3

bộ phận: kết cấu hạ tầng giao thông, phương tiện giao thông và người tham gia giao thông Đây chính là những đối tượng sẽ chịu tác động của hoạt động QLNN đối với lĩnh vực GTĐT

Trang 31

1.1.3 Quản lý nhà nước

Theo cách hiểu chung nhất thì quản lý là “hoạt động một cách có tổ chức của chủ thể vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và các hành vi của con người, nhằm duy trì tính ổn định và sự phát triển của đối tượng theo những mục tiêu đã định” [44, tr.68]

Ở phạm vi toàn quốc gia, cần có một chủ thể chung để thực hiện chức năng quản lý đối với tất cả các quá trình và các hành vi của con người trong lãnh thổ quốc gia đó, vì thế nhà nước ra đời để thực hiện nhiệm vụ quản lý toàn xã hội - đó là quản lý nhà nước

Về mặt cơ cấu, QLNN bao gồm các yếu tố: chủ thể, khách thể và quan

hệ giữa chúng Chủ thể quản lý làm nảy sinh các tác động quản lý; khách thể quản lý là bên chịu sự tác động của chủ thể, phục tùng chủ thể để sáng tạo ra các sản phẩm theo mong muốn của chủ thể

Trong QLNN, mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể là mối quan hệ quyền lực trực thuộc, là thứ bậc quản lý; cấp dưới phải phục tùng cấp trên theo quy định của pháp luật Đây là sự khác nhau giữa chủ thể và khách thể của QLNN với các loại chủ thể không sử dụng quyền lực nhà nước [44, tr.84]

Từ những phân tích trên, có thể hiểu QLNN là sự tác động có tổ chức mang tính quyền lực công của các cơ quan hành chính nhà nước dựa trên những quy định của pháp luật lên các quá trình và hành vi của các tổ chức,

cá nhân trong xã hội nhằm đảm bảo sự ổn định và phát triển của quốc gia theo những mục tiêu xác định

1.1.4 Quản lý nhà nước về giao thông đô thị

Do đặc tính của hành vi thuộc khách thể của QLNN rất đa dạng, mỗi loại hình có đặc điểm riêng nên cần phải phân loại để hình thành nên những cơ quan tương ứng nhằm định hướng và điều chỉnh hành vi trong các ngành, các lĩnh vực cụ thể và các đối tượng cụ thể cũng như có phương pháp quản lý thích hợp với từng loại [44, tr.90]

Trang 32

Trong đô thị, các hành vi thuộc khách thể QLNN được phân chia thành các lĩnh vực khác nhau theo các hoạt động sống và sản xuất của con người trong đô thị, một trong những lĩnh vực đó là GTĐT

Với chức năng chính là vận chuyển hành khách và hàng hóa, GTĐT đóng vai trò là hệ thống huyết mạch trong cơ thể sống đô thị, không có giao thông thì không có các hoạt động sản xuất, thương mại, dịch vụ (gọi chung là hoạt động kinh tế) và sinh hoạt của dân cư trong đô thị Vai trò này đặt ra yêu cầu đối với hệ thống GTĐT là phải phục vụ tốt cho các nhu cầu đi lại và vận chuyển trong các hoạt động kinh tế và đời sống trên địa bàn đô thị Chính vì thế, mục đích của QLNN về GTĐT là đảm bảo tạo dựng hệ thống giao thông đáp ứng nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa trong đô thị Muốn vậy, GTĐT cần phải đảm bảo thông suốt, an toàn, thuận tiện, chi phí thấp và bảo

vệ môi trường

Từ những phân tích trên, tác giả rút ra khái niệm QLNN về GTĐT là:

QLNN về GTĐT là sự tác động có tổ chức, mang tính quyền lực công của các

cơ quan QLNN lên các quá trình và hành vi trong lĩnh vực GTĐT nhằm vận chuyển hàng hoá và hành khách thông suốt, an toàn, thuận tiện với chi phí thấp, bảo vệ môi trường, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển chung của

đô thị

1.2 Những vấn đề chung của quản lý nhà nước về giao thông đô thị

Xét dưới góc độ là một hành động, quản lý nói chung được định nghĩa là

“sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã đề ra” [40, tr.9]

Kết hợp khái niệm quản lý nói chung và khái niệm QLNN về GTĐT (đã được trình bày tại mục 1.1.4), có thể thấy rằng, hoạt động quản lý được diễn

ra thông qua sự tương tác giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý Vì thế, yếu tố cấu thành chủ yếu cho hoạt động QLNN về GTĐT là: chủ thể quản lý

và đối tượng quản lý trong GTĐT

Trang 33

Tuy nhiên, do có sự khác nhau về chủ thể quản lý và tính chất của đối tượng quản lý nên hoạt động quản lý đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội diễn ra là không giống nhau Sự khác biệt về các hoạt động này được thể hiện

ở các phương pháp và công cụ mà chủ thể quản lý lựa chọn sao cho phù hợp với đặc điểm của đối tượng quản lý để đạt được mục tiêu một cách tốt nhất

Sự kết hợp công cụ quản lý và phương pháp quản lý được thể hiện thông qua những nội dung và hoạt động cụ thể của chủ thể quản lý

Từ sự phân tích trên cùng với kết hợp khái niệm QLNN về GTĐT (đã được trình bày tại mục 1.1.4), có thể rút ra những vấn đề chung của QLNN về GTĐT bao gồm: chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, phương pháp quản lý, công cụ quản lý, nội dung quản lý, các hoạt động quản lý Sau đây là nội dung

cụ thể của những vấn đề này

1.2.1 Chủ thể quản lý

Chủ thể QLNN nói chung là nhà nước với hệ thống các cơ quan nhà nước trong đó hệ thống các cơ quan HCNN là chủ thể trực tiếp thực hiện chức năng QLNN đối với tất cả các lĩnh vực trong đời sống xã hội

Cơ quan HCNN là “tổ chức cơ cấu có thẩm quyền mang tính quyền lực - pháp lý có hiệu lực bắt buộc đối với xã hội” [44, tr.85]

Thẩm quyền pháp lý của cơ quan HCNN được thể hiện thông qua các hoạt động [44, tr.86]:

- Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hành chính có tính chất bắt buộc đối với các tổ chức, cá nhân thuộc quyền và đối với toàn xã hội trong phạm vi thẩm quyền được pháp luật quy định

- Kiểm tra việc thực hiện các văn bản do mình ban hành đối với các đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh của văn bản

Cơ quan HCNN thực hiện chức năng QLNN trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, vì thế các cơ quan này được tổ chức thành hệ thống cơ quan HCNN để thực hiện chức năng QLNN trong từng lĩnh vực khác nhau

Trang 34

Như vậy, trong lĩnh vực GTĐT, chủ thể quản lý sẽ là hệ thống các cơ quan HCNN được tổ chức để thực hiện chức năng QLNN về GTĐT Tùy theo cách thức tổ chức khác nhau ở mỗi đô thị và ở mỗi nước mà các cơ quan này

có tên gọi khác nhau nhưng nhìn chung được chia thành 2 loại cơ quan theo thẩm quyền quản lý:

- Cơ quan có thẩm quyền chung: là cơ quan có chức năng và thẩm quyền quản lý mọi mặt đời sống xã hội trên phạm vi lãnh thổ trong đó có lĩnh vực GTĐT (ví dụ: Chính phủ; UBND thành phố, thị xã, thị trấn)

- Cơ quan có thẩm quyền riêng là cơ quan chỉ có chức năng và thẩm quyền quản lý đối với lĩnh vực GTĐT (ví dụ: Bộ GTVT và các cơ quan cấp dưới) hoặc cơ quan quản lý một mặt của lĩnh vực GTĐT (ví dụ như: Bộ Công

an và các cơ quan cấp dưới quản lý đối với việc lưu hành phương tiện giao thông, Bộ Tài chính và các cơ quan cấp dưới quản lý đối với các loại thuế và phí liên quan tới GTĐT,… )

1.2.2 Đối tượng quản lý

Theo khái niệm QLNN về GTĐT (được trình bày tại mục 1.1.4), đối tượng của QLNN về GTĐT là các quá trình và hành vi trong lĩnh vực GTĐT Các quá trình và hiện tượng này được hình thành và phát sinh trong sự tương tác giữa các yếu tố động (con người, phương tiện) với các yếu tố tĩnh (công trình giao thông) Như vậy, có thể thấy rằng, đối tượng của QLNN về GTĐT bao gồm các quá trình, hành vi liên quan tới các yếu tố:

- Hệ thống cơ sở hạ tầng GTĐT: các hoạt động liên quan tới xây dựng, cải tạo, phát triển, khai thác và sử dụng hệ thống hạ tầng GTĐT

- Phương tiện giao thông: các hoạt động liên quan đến vận hành phương tiện giao thông ở đô thị như việc lưu hành phương tiện giao thông, tiêu chuẩn

kỹ thuật phương tiện, các loại phương tiện giao thông trong đô thị,…

- Người tham gia giao thông: hành vi của người tham gia giao thông như

sử dụng phương tiện giao thông, việc chấp hành luật lệ giao thông

Trang 35

1.2.3 Phương pháp quản lý

Phương pháp quản lý là cách thức mà chủ thể quản lý tác động vào đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu mà chủ thể đã xác định Công tác quản lý được thực hiện tốt khi chủ thể quản lý lựa chọn đúng phương pháp quản lý Hoạt động quản lý HCNN nói chung có đối tượng tác động là con người

- chủ thể của các hành vi trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, vì thế hoạt động QLNN về GTĐT cũng sử dụng các phương pháp quản lý cơ bản tác động vào con người như: phương pháp hành chính, phương pháp tuyên truyền

- giáo dục và phương pháp kinh tế Ngoài ra, do GTĐT là một lĩnh vực thuộc

hạ tầng kỹ thuật đô thị nên trong quản lý GTĐT không thể không kể tới phương pháp kỹ thuật Việc sử dụng đúng đắn và có hiệu quả phương pháp quản lý phụ thuộc vào tình huống quản lý, đối tượng quản lý và đặc biệt là trình độ, năng lực của nhà quản lý

Trong QLNN về GTĐT, các phương pháp quản lý trên được vận dụng như sau:

Phương pháp hành chính là phương pháp đặc thù của hoạt động QLNN (sử dụng quyền lực công, mang tính cưỡng chế) bởi nó “có tính bắt buộc, chấp hành theo luật pháp, quy tắc,… của bộ máy nhà nước” [39, tr.233]

Phương pháp hành chính được thực hiện trong QLNN về GTĐT thông qua các mệnh lệnh hành chính được ban hành bởi các chủ thể quản lý đối với các chủ thể thực hiện các hành vi trong lĩnh vực GTĐT

Phương pháp tuyên truyền - giáo dục là phương pháp tác động tới nhận

thức và tình cảm của các chủ thể thực hiện hành vi để từ đó lôi cuốn các chủ thể thực hiện các hành động thuộc đối tượng quản lý chấp hành và thực hiện những gì mà chủ thể quản lý mong muốn [38, tr.120] Trong QLNN về GTĐT, người tham gia giao thông là một bộ phận cấu thành của hệ thống GTĐT nên việc sử dụng phương pháp này để tác động lên ý thức chấp hành pháp luật về giao thông là hết sức cần thiết

Trang 36

Phương pháp kinh tế là phương pháp tác động của chủ thể quản lý tới

đối tượng quản lý thông qua lợi ích kinh tế Phương pháp này được thực hiện thông qua việc lựa chọn và sử dụng hệ thống đòn bẩy kinh tế như giá cả, lãi suất, thuế, phí,…[40, tr.60] Phương pháp kinh tế được sử dụng trong QLNN

về GTĐT thể hiện thông qua các chính sách khuyến khích hoặc hạn chế, ví dụ như: giảm giá cước để khuyến khích người dân sử dụng phương tiện vận tải hành khách công cộng, tăng lệ phí cấp phép phương tiện giao thông để hạn chế

sử dụng phương tiện giao thông cá nhân, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp để khuyến khích tư nhân tham gia vào đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông,…

Phương pháp kỹ thuật là quản lý thông qua các tiêu chuẩn và yêu cầu kỹ

thuật đối với đối tượng quản lý Các công trình GTĐT và phương tiện giao thông là những yếu tố kỹ thuật trong hệ thống GTĐT, để đảm bảo chất lượng hoạt động của hệ thống, đòi hỏi các yếu tố này phải đạt được các tiêu chuẩn

kỹ thuật đã được xác định Căn cứ trên các tiêu chuẩn kỹ thuật đó, các cơ quản quản lý sẽ ra các quyết định cho phép hoặc không cho phép vận hành công trình hoặc phương tiện giao thông, đồng thời đó cũng là căn cứ để các

cơ quan quản lý kiểm tra, đánh giá chất lượng của việc thực hiện các dự án về công trình giao thông để ra quyết định nghiệm thu hoặc không nghiệm thu đối với công trình

Phương pháp kỹ thuật cũng được dùng để xác định mối quan hệ giữa cung (khả năng đáp ứng của hệ thống GTĐT) và cầu (nhu cầu giao thông) trong GTĐT để từ đó cũng sử dụng các biện pháp kỹ thuật kết hợp với các biện pháp khác để điều chỉnh mối quan hệ cung - cầu về GTĐT sao cho tiến tới cân bằng, giải quyết những vấn đề về giao thông trong quá trình phát triển

Trang 37

Các công cụ trong QLNN về GTĐT gồm rất nhiều loại với những đặc điểm khác nhau nhưng nhìn chung bao gồm các công cụ chủ yếu là: pháp luật, quy hoạch và chính sách

Pháp luật: là công cụ đặc thù của hoạt động QLNN, tạo khuôn khổ pháp

lý cho các hoạt động liên quan đến GTĐT và là cơ sở để các cơ quan nhà nước điều chỉnh các hành vi liên quan đến GTĐT

Quy hoạch: quy hoạch phản ánh mối quan hệ về không gian giữa hệ

thống GTĐT với các công trình khác trong đô thị, quy hoạch GTĐT được phê duyệt cũng được coi là cơ sở pháp lý cho hoạt động QLNN về GTĐT Chất lượng quy hoạch là ảnh hưởng tới hiệu quả và hiệu lực QLNN về GTĐT

Chính sách: là những biện pháp do các cơ quan quản lý đề ra để giải

quyết những thách thức đặt ra trong GTĐT, đó là sự kết hợp giữa những gì

mà pháp luật quy định với những điều kiện hiện có để giải quyết những đòi hỏi của thực tiễn trong lĩnh vực GTĐT

Mỗi loại công cụ trên có cách thức tác động khác nhau và được sử dụng trong những hoạt động quản lý khác nhau tùy từng điều kiện cụ thể và năng lực của chủ thể quản lý

1.2.5 Biện pháp quản lý

Về lý luận, có thể tách rời các phương pháp, các công cụ để thấy rõ tính chất, đặc điểm, ưu điểm, nhược điểm, hướng tác động và hình thức thể hiện của chúng Nhưng trong thực tế, giữa các phương pháp với nhau và giữa phương pháp quản lý và công cụ quản lý có mối quan hệ hữu cơ với nhau, không thể tách rời [40, tr.70 - 71] Vì thế, trên thực tế quản lý, cần phải xem xét biện pháp quản lý mới đánh giá được đầy đủ chất lượng của công tác quản lý

Biện pháp quản lý GTĐT là các thức giải quyết đối với các vấn đề GTĐT, là sự thể hiện việc vận dụng kết hợp giữa các phương pháp quản lý và công cụ quản lý để giải quyết các vấn đề trong lĩnh vực GTĐT Các biện

Trang 38

pháp đúng đắn, phù hợp với tình hình thực tiễn sẽ giải quyết được vấn đề đặt ra, làm tăng hiệu lực, hiệu quả của hoạt động QLNN Ngược lại, nếu các biện pháp đề ra không phù hợp với tình hình thực tiễn sẽ không giải quyết được vấn đề đặt ra, gây lãng phí nguồn lực và đặc biệt là làm mất lòng tin của người dân đối với nhà nước nói chung và đối với chính quyền thành phố nói riêng

Dưới góc độ lý thuyết, nguyên tắc chung trong việc đề ra biện pháp quản

lý là [40, tr.72]:

- Thứ nhất, phù hợp với đối tượng quản lý về tính chất đặc điểm và

thực trạng;

- Thứ hai, phù hợp xu hướng vận động của đối tượng quản lý;

- Thứ ba, đáp ứng yêu cầu của quy luật khách quan và không trái với

nguyên tắc quản lý;

- Thứ tư, phù hợp với chủ trương, chính sách và pháp luật của nhà nước;

- Cuối cùng, phù hợp với trình độ nhà quản lý và hệ thống công cụ quản

lý hiện thời

1.2.6 Nhiệm vụ quản lý

Nhiệm vụ của QLNN về GTĐT là thực hiện tất cả các chức năng liên quan đến hạ tầng giao thông và quản lý sự lưu thông của các loại phương tiện vận chuyển hành khách và hàng hóa Nói chung, những nhiệm vụ này bao gồm [76]:

- Quy hoạch và phát triển hạ tầng giao thông,

- Quản lý mạng lưới hạ tầng giao thông và việc sử dụng mạng lưới đường bao gồm việc cấp phép lưu hành phương tiện và cấp phép lái xe,

- Tổ chức, phát triển và điều hành giao thông công cộng,

- Huy động nguồn tài chính và đầu tư cho giao thông đô thị

Những nhiệm vụ trên cho thấy, QLNN về GTĐT tác động và điều chỉnh đến tất cả các bộ phận cấu thành đối tượng quản lý của QLNN về GTĐT để

Trang 39

thực hiện đầy đủ các chức năng quản lý nhằm đạt được mục đích đề ra Các nhiệm vụ được thực hiện trên cơ sở khung thể chế do các cơ quan nhà nước

có thẩm quyền ban hành Tùy thuộc vào quy định pháp luật mà tại các đô thị của các quốc gia, các nhiệm vụ QLNN về GTĐT có thể không hoàn toàn giống nhau nhưng các nhiệm vụ cơ bản của QLNN về GTĐT bao gồm:

- Xây dựng khung thể chế QLNN về GTĐT,

- Quy hoạch hệ thống GTĐT,

- Xây dựng hạ tầng GTĐT,

- Quản lý khai thác, sử dụng hạ tầng giao thông,

- Bảo vệ hạ tầng giao thông,

- Tìm kiếm nguồn tài chính và sử dụng cho đầu tư phát triển GTĐT,

- Quản lý sự vận hành của các loại hình giao thông và các loại phương tiện giao thông,

- Tổ chức vận hành giao thông trong đô thị,

- Bảo vệ môi trường sống đô thị,

- Đảm bảo trật tự an toàn giao thông

1.2.7 Các hoạt động quản lý

Khái niệm QLNN về GTĐT (mục 1.1.4) đã chỉ rõ, QLNN về GTĐT là hoạt động của các cơ quan quyền lực nhà nước nên hoạt động quản lý có đặc trưng khác biệt với các chủ thể quản lý khác trong xã hội đó là sử dụng quyền lực công Với quyền lực này, các cơ quan HCNN thực hiện chức năng quản lý của mình thông qua các hoạt động thuộc 2 nhóm hình thức hoạt động là: những hoạt động mang tính pháp lý và những hoạt động ít mang tính pháp lý [42, tr.180 - 183]:

- Hình thức hoạt động mang tính pháp lý được thể hiện thông qua các

hoạt động của cơ quan HCNN theo pháp luật quy định cụ thể gắn với việc ban hành và áp dụng các quy phạm pháp luật, hình thức này thể hiện rõ tính chất quyền lực của cơ quan HCNN

Trang 40

- Hình thức hoạt động ít mang tính pháp lý biểu hiện thông qua những

hoạt động không tạo ra sự thay đổi trong cơ chế điều chỉnh pháp luật, không làm phát sinh các quan hệ pháp luật hành chính Các hoạt động này liên quan chặt chẽ tới thẩm quyền của các cơ quan HCNN

Từ sự phân tích về các hình thức hoạt động của cơ quan HCNN trên đây kết hợp với đối tượng quản lý, có thể rút ra các hoạt động cụ thể QLNN về GTĐT bao gồm:

- Ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực GTĐT;

- Ban hành các chính sách đối với GTĐT;

- Ban hành chiến lược và kế hoạch phát triển hệ thống GTĐT;

- Ban hành các quyết định giải quyết các vấn đề cụ thể trong lĩnh vực GTĐT;

- Thiết lập bộ máy quản lý;

- Huy động nguồn lực phát triển hệ thống GTĐT;

- Tổ chức thực hiện hoặc quản lý các dự án về GTĐT;

- Tổ chức điều hành hoạt động lưu thông trên mạng lưới đường;

- Thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm trong lĩnh vực GTĐT

1.3 Bối cảnh hội nhập phát triển và sự cần thiết phải đổi mới quản

lý nhà nước về giao thông đô thị

1.3.1 Bối cảnh hội nhập phát triển

Hội nhập quốc tế là sự gắn kết của một quốc gia với khu vực và thế giới trên các lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội, đó là các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Hội nhập quốc tế là xu thế khách quan của thế giới và là nhu cầu nội tại của mỗi quốc gia mà trước hết từ nhu cầu của nền kinh tế của quốc gia đó

Hội nhập quốc tế thường gắn liền với sự phát triển bởi các nguồn lực kinh

tế cơ bản được luân chuyển giữa các quốc gia nên thúc đẩy các quốc gia hòa vào nhịp phát triển chung của thế giới Các nguồn lực kinh tế đó bao gồm [93]:

Ngày đăng: 21/12/2013, 20:48

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Bốn trụ cột của giao thông đô thị bền vững - Đổi mới quản lý nhà nước về giao thông đô thị tại thành phố hà nội trong thời kỳ hội nhập và phát triển
Hình 1.1 Bốn trụ cột của giao thông đô thị bền vững (Trang 51)
Hình 1.3: Một số hình ảnh về hệ thống đường bộ ở Tokyo - Đổi mới quản lý nhà nước về giao thông đô thị tại thành phố hà nội trong thời kỳ hội nhập và phát triển
Hình 1.3 Một số hình ảnh về hệ thống đường bộ ở Tokyo (Trang 62)
Hình 1.5: Hệ thống thu phí giao thông điện tử (ERP) - Đổi mới quản lý nhà nước về giao thông đô thị tại thành phố hà nội trong thời kỳ hội nhập và phát triển
Hình 1.5 Hệ thống thu phí giao thông điện tử (ERP) (Trang 66)
Hình 1.6: Cầu Nam Phố - Nanpu, biểu tượng cho một Thượng Hải - Đổi mới quản lý nhà nước về giao thông đô thị tại thành phố hà nội trong thời kỳ hội nhập và phát triển
Hình 1.6 Cầu Nam Phố - Nanpu, biểu tượng cho một Thượng Hải (Trang 68)
Hình 2.1: Một số hình ảnh về thành phố Hà Nội - Đổi mới quản lý nhà nước về giao thông đô thị tại thành phố hà nội trong thời kỳ hội nhập và phát triển
Hình 2.1 Một số hình ảnh về thành phố Hà Nội (Trang 72)
Hình 2.2: Bản đồ hành chính thành phố Hà Nội năm 2008 - Đổi mới quản lý nhà nước về giao thông đô thị tại thành phố hà nội trong thời kỳ hội nhập và phát triển
Hình 2.2 Bản đồ hành chính thành phố Hà Nội năm 2008 (Trang 75)
Hình 2.3: Số lượng ô tô, xe máy đăng ký ở Hà Nội qua các năm - Đổi mới quản lý nhà nước về giao thông đô thị tại thành phố hà nội trong thời kỳ hội nhập và phát triển
Hình 2.3 Số lượng ô tô, xe máy đăng ký ở Hà Nội qua các năm (Trang 83)
Hình 2.4:  Sự chen lấn khiến tình  trạng ùn tắc giao thông - Đổi mới quản lý nhà nước về giao thông đô thị tại thành phố hà nội trong thời kỳ hội nhập và phát triển
Hình 2.4 Sự chen lấn khiến tình trạng ùn tắc giao thông (Trang 85)
Hình 2.5:  Nguyên nhân gây tai nạn giao thông theo các nhóm - Đổi mới quản lý nhà nước về giao thông đô thị tại thành phố hà nội trong thời kỳ hội nhập và phát triển
Hình 2.5 Nguyên nhân gây tai nạn giao thông theo các nhóm (Trang 86)
Hình 2.6: Phân loại nguyên nhân do con người gây ra theo tỷ lệ % - Đổi mới quản lý nhà nước về giao thông đô thị tại thành phố hà nội trong thời kỳ hội nhập và phát triển
Hình 2.6 Phân loại nguyên nhân do con người gây ra theo tỷ lệ % (Trang 87)
Hình 2.7: Một đoạn tuyến đường bộ vành đai 3 trên cao ở Hà Nội - Đổi mới quản lý nhà nước về giao thông đô thị tại thành phố hà nội trong thời kỳ hội nhập và phát triển
Hình 2.7 Một đoạn tuyến đường bộ vành đai 3 trên cao ở Hà Nội (Trang 101)
Hình 2.8: Cầu vượt nhẹ tại nút giao thông Chùa Bộc - Tây Sơn - Đổi mới quản lý nhà nước về giao thông đô thị tại thành phố hà nội trong thời kỳ hội nhập và phát triển
Hình 2.8 Cầu vượt nhẹ tại nút giao thông Chùa Bộc - Tây Sơn (Trang 102)
Hình 2.9: Phối cảnh đường sắt đô thị tại Hà Nội - Đổi mới quản lý nhà nước về giao thông đô thị tại thành phố hà nội trong thời kỳ hội nhập và phát triển
Hình 2.9 Phối cảnh đường sắt đô thị tại Hà Nội (Trang 104)
Hình 2.10: Tắc đường, một vấn nạn thường xuyên xảy ra ở các tuyến - Đổi mới quản lý nhà nước về giao thông đô thị tại thành phố hà nội trong thời kỳ hội nhập và phát triển
Hình 2.10 Tắc đường, một vấn nạn thường xuyên xảy ra ở các tuyến (Trang 108)
Hình 3.1: Cầu Thanh Trì, một cây cầu lớn bắc qua sông Hồng được xây - Đổi mới quản lý nhà nước về giao thông đô thị tại thành phố hà nội trong thời kỳ hội nhập và phát triển
Hình 3.1 Cầu Thanh Trì, một cây cầu lớn bắc qua sông Hồng được xây (Trang 126)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w