1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng tại chi nhánh NHN& PTNT Đinh Công.DOC

95 987 12
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải Pháp Mở Rộng Hoạt Động Cho Vay Tiêu Dùng Tại Chi Nhánh NHNo&PTNT Đinh Công
Trường học Đại học Nông Nghiệp
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại báo cáo thực tập
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 619,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giải pháp mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng tại chi nhánh NHN& PTNT Đinh Công

Trang 1

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

NHNo&PTNT :Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn

Trang 2

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Bảng 1.1: Tỷ lệ tăng trưởng GDP và thu nhập bình quân đầu người của Việt

Nam giai đoạn 2001-2006

Bảng1 2: Cho vay tiêu dùng với các hộ gia đình bằng đồng nội tệ

Bảng 1.3: Mô hình cho điểm tín dụng tiêu dùng

Bảng 2.4: Tình hình huy động vốn qua các năm của chi nhánh

Bảng 2.5: Phân loại dư nợ theo tính chất nguồn vốn của chi nhánh

Bảng 2.6: Phân loại dư nợ theo thành phần kinh tế

Bảng 2.7: Kết quả tài chính qua các năm

Bảng 2.8: Sự biến động của hoạt động cho vay tiêu dùng qua các năm

Bảng 2.9: Doanh số cho vay tiêu dùng theo mục đích vay vốn

Bảng 2.10: Doanh số cho vay tiêu dùng phân theo thời gian

Bảng 2.11: So sánh mức tăng trưởng GDP năm 2004 giữa các nước trong khu

vực

Bảng 3.12: Kế hoạch huy động vốn tại chi nhánh năm 2007

Bảng 3.13: Kế hoạch sử dụng vốn tại chi nhánh năm 2007

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Thật khó tưởng tượng ra một nền kinh tế nào đó không có sự hiệndiện của hệ thống ngân hàng thương mại Ngày nay, cùng với sự phát triểncủa kinh tế thì vai trò của hệ thống ngân hàng thương mại càng được khẳngđịnh Vai trò này đặc biệt được khẳng định trong việc thúc đẩy sự phát triểncủa nền kinh tế Các hoạt động của ngân hàng thương mại không ngừng được

mở rộng và phát triển cả về mặt lượng và mặt chất Trong các hoạt động đó cóthể nói hoạt động cho vay là hoạt động truyền thống và quan trọng vào bậcnhất của các ngân hàng thương mại.Không có bất kì ngân hàng nào trên thếgiới mà không thực hiện hoạt động truyền thống này Thông qua hoạt độngcho vay của mình các ngân hàng thương mại đã góp phần cung ứng vốn cho

sự phát triển của nền kinh tế Hoạt động cho vay được xem như là một đặctrưng nổi bật nhất của ngân hàng thương mại Đây là hoạt động mang lại lợinhuận cao nhất cho ngân hàng, nhưng cũng là hoạt động chứa đựng nhiều rủi

ro nhất trong hoạt động của ngân hàng Cho vay tiêu dùng là hình thức chovay phổ biến của các ngân hàng thương mại Đây là hình thức cho vay bắtnguồn từ các hãng bán lẻ trước yêu cầu mở rộng việc tiêu thụ hàng hoá Tuỳtheo từng ngân hàng thương mại, từng thời điểm và từng chiến lược của mỗingân hàng mà tỷ trọng cho vay tiêu dùng trong dư nợ của các ngân hàng làkhác nhau Hiện nay trên thế giới, cho vay tiêu dùng là một hình thức cho vaykhá phổ biến và chiếm tỷ trong cao trong tổng dư nợ của các ngân hàngthương mại (tại các nước phát triển nó có thể chiếm từ 40-50% tổng dư nợ).Dựa trên nguyên tắc tối đa hoá lợi nhuận, mở rộng cho vay tiêu dùng là nhucầu của mọi ngân hàng thương mại nói chung và hệ thống NHNo& PTNTViệt Nam nói riêng

Trang 4

Là một chi nhánh mới được thành lập trên cơ sở tổ chức sắp xếp lạiphòng giao dịch Định Công năm 2003, chi nhánh NHNo& PTNT Định Công

là đơn vị phụ thuộc NHNo& PTNT Thăng Long Tuy mới đi vào hoạt độngvới tư cách là chi nhánh cấp 2 loại 4 được 4 năm nhưng chi nhánh Định Công

đã khẳng định được vai trò là trung gian tài chính quan trọng trên địa bàn Chinhánh luôn cung cấp những khoản cho vay an toàn và hiệu quả góp phần tíchcực vào sự phát triển của địa bàn cũng như sự phát triển chung của thủ đô Hànội Cho vay tiêu dùng luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng dư nợ của chinhánh Định Công, thậm chí có năm nó chiếm tới hơn 70% tổng dư nợ của chinhánh Tuy nhiên hiện nay chi nhánh vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu vay củangười tiêu dùng trên địa bàn, vì vậy việc mở rộng cho vay tiêu dùng tại chinhánh là vô cùng cần thiết Sau một thời gian thực tập tại chi nhánh ĐịnhCông cùng với những kiến thức em được tiếp thu trong truờng, em lựa chọn

đề tài: “Giải pháp mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng tại chi nhánh

NHNo& PTNT Đinh Công” cho luận văn tốt nghiệp của mình.

Việc nghiên cứu cho luận văn của em được tiến hành tại chi nhánhNHNo& PTNT Định Công, có trụ sở tại nhà CT5, khu đô thị Định Công,Thanh Trì, Hà Nội Thông qua phương pháp nghiên cứu phân tích, so sánh,thống kê, bảng biểu của các năm 2004; 2005; 2006, em muốn đưa ra những líluận chung cũng như ý kiến của mình nhằm mở rộng hơn hoạt động cho vaytiêu dùng của chi nhánh Định Công

Luận văn của em gồm 3 phần, ngoài phần mở đầu và phần kết luận,phần nội dung gồm 3 chương:

 Chương 1: Tổng quan về ngân hàng thương mại và hoạt độngcho vay của ngân hàng thương mại

 Chương 2: Tình hình cho vay tiêu dùng tại chi nhánh NHNo&PTNT Định Công

Trang 5

 Chương 3: Giải pháp mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng tạichi nhánh NHNo& PTNT Định Công.

Em xin trân trọng cảm ơn các thầy cô trong khoa Ngân hàng- tàichính, đặc biệt là GS- TS Nguyễn Văn Nam đã dành nhiều tâm huyết giúp đỡcũng như chỉ bảo em trong thời gian thực tập và thời gian làm luận văn tốtnghiệp

Đồng thời em cũng xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ công nhânviên chi nhánh NHNo& PTNT Định Công, đặc biệt là những cán bộ tín dụngtại phòng tín dụng của chi nhánh đã tận tình chỉ bảo em trong suốt thời gianthực tập của em tại chi nhánh

Trang 6

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

VÀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG

Ngân hàng ra đời gắn liền với nhu cầu phát triển của nền sản xuấthàng hoá Sự hình thành và phát triển của ngân hàng và sự phát triển của nềnkinh tế có sự tác động qua lại lẫn nhau, sự phát triển của nền kinh tế thúc đẩy

và đặt ra yêu cầu cho sự ra đời của ngân hàng Sự ra đời của ngân hàng lạigiúp cho sự phát triển của nền kinh tế và sự phát triển của tiền tệ Việc đổitiền hay đúc tiền của các thợ vàng được coi là nguồn gốc của sự ra đời ngànhngân hàng hiện nay Những người cho vay nặng lãi cũng là nguồn gốc cho sự

ra đời của nghề ngân hàng Lịch sử ra đời của ngân hàng luôn gắn liền vớiviệc cho vay nặng lãi của những người giàu có, những người này đồng thờicũng làm luôn việc đổi tiền Yêu cầu về sự an toàn cho các khoản tiền lớnlàm phát sinh thêm nghề cất trữ tiền, việc này cũng thường do những ngườithực hiện việc đổi tiền đảm nhận Có thể gọi những người này là những ngườikinh doanh tiền tệ Nghiệp vụ cho vay được những người kinh doanh ngoại tệthực hiện từ rất sớm, ban đầu họ dùng vốn tự có để cho vay nhưng sau đó họ

Trang 7

nhận ra rằng có một số người có nhu cầu gửi tiền và sau một thời gian thì họrút tiền ra Tuy nhiên không phải mọi người gửi tiền đều rút tiền cùng mộtlúc, do vậy luôn có một số tiền nhất định tam thời “nhàn rỗi”, tận dụng điềunày những người kinh doanh tiền tệ có thể lấy số tiền đó cho những người cónhu cầu vay vốn vay Đây là những hoạt động sơ khai góp phần hình thànhnên ngành ngân hàng.

1.1.2 Lịch sử phát triển của NHTM

Với hình thức ngân hàng đầu tiên là ngân hàng của những người thợvàng hay những người cho vay nặng lãi, lịch sử phát triển của ngân hàng bặtđầu được hình thành Trải qua nhiều bước thăng trầm trong lịch sử với sự sụp

đổ và phát triển, ngân hàng ngày càng khẳng định vị thế không thể thay thếcủa nó trong nền kinh tế

Ban đầu khi các ngân hàng của những thợ vàng hay những người chovay nặng lãi được hình thành, họ chủ yếu thực hiện các nghiệp vụ giản đơncủa ngân hàng như: Nhận tiền gửi, cho vay phục vụ tiêu dùng, cất trữ tiền.Sau đó các ngân hàng này cũng phát triển thêm hình thức cho vay với nhữngngười giàu có, vua chúa với mục đích không phải là tiêu dùng như phục vụchiến tranh Hình thức cho vay lúc này là thấu chi, tức là cho phép người vayvay nhiều hơn số tiền mà họ gửi tại ngân hàng Điều này gây ra rủi ro chongân hàng Các ngân hàng này sau một thời gian hình thành và phát triển thìđứng trước nguy cơ sụp đổ vì các ngân hàng thường mất khả năng thanh toán

do việc phát hành những chứng chỉ tiền gửi khống để cho vay

Sau sự sụp đổ của ngân hàng của thợ vàng hay những người cho vaynặng lãi thì ngân hàng của những người lái buôn ra đời Trước nhu cầu vayvốn để buôn bán, nhu cầu thanh toán, ngân hàng lái buôn ra đời Hình thứcngân hàng này được gọi là ngân hàng thương mại Như vậy ngân hàngthương mại ra đời cùng với tư bản thương nghiệp và sự luân chuyển của tư

Trang 8

bản thương nghiệp Lúc này các nghiệp vụ ngân hàng cũng được mở rộng hơn

so với hình thức ngân hàng trước: Nhận tiền gửi, thanh toán, cất giữ, cho vay.Hình thức cho vay lúc này không phải là hình thức thấu chi như trước mà chủyếu là cho lái buôn vay để thực hiện việc buôn bán của họ dưới hình thứcchiết khấu thương phiếu Hình thức cho vay này là hình thức cho vay ngắnhạn, nó được hình thành trên cơ sở sự luân chuyển của hàng hoá Vào thờiđiểm này các ngân hàng vẫn không dám cho vay tiêu dùng vì độ rủi ro caocủa nó, hình thức cho vay vẫn chủ yếu là cho vay ngắn hạn, những khoản vaytrung va dài hạn hầu như không tồn tại Hình thức ngân hàng thương mại đầutiên này sau một thời gian hoạt động và phát triển thì nhiều ngân hàng rơi vàtình trang phá sản, sụp đổ Sự sụp đổ này ảnh hưởng nghiêm trọng tới sự pháttriển của nền kinh tế Sau đó nhiều hình thức ngân hàng thương mại khácđược thành lập như ngân hàng đầu tư, ngân hàng phát triển… Các ngân hàngnày chủ yếu thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ Cùng thời gian này cũngđánh dấu sự ra đời của ngân hàng Nhà nước, ngoài chức năng kinh doanh tiền

tệ như các ngân hàng thương mại khác thì loại hình ngân hàng quan trọng nàycòn có chức năng xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ quốc gia

Nền kinh tế từng bước phát triển kéo theo sự phát triển mạnh mẽ củacông nghệ đã tạo điều kiện cho sự ra đời của nhiều hình thức ngân hàngthương mại khác nhau như: Ngân hàng tư nhân, ngân hàng cổ phần, ngânhàng thương mại Nhà nước, ngân hàng liên doanh…Bước tiến bộ vượt bậccủa giai đoạn so với giai đoạn trước là sự tách biệt rõ ràng giữa ngân hàngNhà nước( Ngân hàng trung ương) với các ngân hàng thương mại khác Hìnhthức hoạt động lúc này của các ngân hàng thương mại cũng được mở rộngkhông ngừng

Trang 9

1.2 Chức năng của NHTM

Ngân hàng thương mại hoạt động với vai trò là định chế tài chính quantrọng, vai trò và chức năng của ngân hàng thương mại ngày càng được mởrộng Có thể tóm tắt chức năng của ngân hàng thương mại theo 3 chức năngchính như sau:

1.2.1 Chức năng làm trung gian tài chính

Đây là chức năng thể hiện rõ nét nhất đặc điểm của ngân hàng thươngmại- một trung gian tài chính Thực hiện chức năng này tức là ngân hàngđóng vai trò là người trung gian giúp chuyển vốn từ những đối tượng tạm thời

dư vốn đến những người thiếu hụt vốn và có nhu cầu vay vốn Sự tồn tại củangân hàng thương mại là vô cùng cần thiết vì sự hai đối tượng trên nếu quan

hệ trực tiếp với nhau thì gặp rất nhiều trở ngại về không gian, thời gian…

1.2.2 Chức năng làm trung gian thanh toán

Ngay từ khi có sự hình thành của hình thức ngân hàng thương mại đầutiên- Ngân hàng của những người lái buôn, ngân hàng thương mại đã có chứcnăng này Ngày này,ngân hàng thương mại trở thành trung gian thanh toánquan trọng và có qui mô lớn nhất tại đa số các quốc gia trên thế giới Thựchiện chức năng này nghĩa là ngân hàng sẽ thay mặt khách hàng của mìnhthanh toán tiền hàng hoá và dịch vụ cho ngưòi cung cấp Hiện nay các ngânhàng thương mại không chỉ thực hiện chức năng thanh toán hộ cho kháchhàng mà còn thực hiện việc thanh toán bù trừ giữa các ngân hàng thông quangân hàng trung ương hay thông qua các trung tâm thanh toán Thực hiệnhình thức thanh toán này các ngân hàng thương mại hiện nay thường sử dụngphương pháp thanh toán thủ công hay thanh toán điện tử (Phổ biến hiện nay)

1.2.3 Chức năng tạo phương tiện thanh toán

Ngay từ khi tồn tại hình thức ngân hàng của những thợ vàng, cácngân hàng đã tạo ra những phương tiện thanh toán bằng việc phát hành ra

Trang 10

những giấy nhận nợ với khách hàng Những giấy nhận nợ này được phát hànhdựa trên số lượng tiền kim loại mà các ngân hàng này nắm giữ, nhưng sau đócác giấy nhận nợ này đi vào lưu thông thể hiện được những ưu điểm vượt trội.Các giấy nhận nợ này dần thay thế cho tiền kim loại cả trong thanh toán lẫncất trữ và tiền giấy ra đời từ đó.

Nhận thấy việc phát hành ra tiền giấy mang lại một khoản lợi nhuậnkhổng lồ, các ngân hàng đua nhau phat hành tiền riêng của ngân hàng củamình Việc đua nhau phát hành tiền của các ngân hàng làm rối loạn nền kinh

tế dẫn tới Nhà nước phải qui định việc phát hành tiền giấy cho ngân hàngTrung ương( Tại một số nước thì việc này được giao cho Bộ tài chính)

Ngân hàng hiện nay thực hiện chức năng tạo phương tiện thanh toánbằng việc tạo ra những số dư trên tài khoản của khách hàng, qua đó kháchhàng có thể sử dụng số dư này thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ cho nhà cungcấp Ngân hàng có thể tạo ra số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán củakhách hàng bằng cách cho khách hành vay tiền Như vậy thông qua hoạt độngcho vay của mình hay cấp tín dụng cho khách hàng ngân hàng đã thực hiệnchức năng tạo phương tiện thanh toán

2 Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại

2.1 Các hình thức cho vay của NHTM

2.1.1 Định nghĩa về cho vay

Có khá nhiều định nghĩa khác nhau về hoạt động cho vay của ngânhàng thương mại

Trong cuốn Tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính, FREDERICS.MISHKIN đã cho rằng, cho vay là món nợ đối với cá nhân hoặc công tynhận món vay đó, nhưng là một tài sản có đối với ngân hàng vì nó mang lạilợi nhuận cho ngân hàng này

Trang 11

Trong cuốn Ngân hàng thương mại, PGS TS PHAN THỊ THU HÀ chorằng, cho vay là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết kháchhàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định.

Trong cuốn Nghiệp vụ ngân hàng thương mại do PGS.TS LÊ VĂN TỀchủ biên, nhóm tác giả cũng đã đưa ra định nghĩa về hoạt động tín dụng củangân hàng như sau: “ Tín dụng (Credit) xuất phát từ chữ La tinh là Credo (tintưởng, tín nhiệm) là một giao dịch về tài sản ( tiền hoặc hàng hoá) giữa bêncho vay (ngân hàng hay các định chế tài chính khác) và bên đi vay ( cá nhân,doanh nghiệp hoặc các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tàisản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận, bên

đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vaykhi đến hạn thanh toán”

Qua việc tiếp nhận những định nghĩa cho vay của các tác giả trên, theo

em hiểu theo một nghĩa chung nhất thì cho vay là hoạt động tài trợ của ngânhàng thương mại cho những nhu cầu vốn của khách hàng trên cơ sở nguyêntắc hoàn trả,có thời hạn và có lãi

2.1.2 Các hình thức cho vay của NHTM

Hiện nay tại các ngân hàng thương mại tồn tại nhiều loại hình cho vaykhác nhau, các loại hình này được phân loại ra thành từng nhóm phù hợp vớinhu cầu của khách hàng cũng như giúp ngân hàng quản lí các khoản vay dễdàng hơn Việc phân chia các loại cho vay chính là việc sắp xếp các khoảnvay theo tùng nhóm dựa trên một số tiêu thức nhất định

Tuỳ theo từng ngân hàng mà tồn tại các cách phân loại cho vay khácnhau, nhưng nhìn chung hiện nay tồn tại các các cách phân loại sau:

2.1.2.1 Căn cứ theo thời hạn cho vay

Theo tiêu thức này các ngân hàng chia cho vay ra thành 3 loại chính:

Trang 12

Hình thức cho vay này có thời hạn vay dưới 12 tháng, bổ sung sự thiếuhụt vốn ngắn hạn của Nhà nước, doanh nghiệp cũng như nhu cầu chi tiêungắn hạn của cá nhân Với hình thức cho vay này, ngân hàng có thể áp dụnghình thức cho vay trực tiếp, cho vay gián tiếp, cho vay theo món, cho vaytheo hạn mức, cho vay có tài sản đảm bảo, cho vay không cần tài sản đảmbảo, thấu chi, chiết khấu hay luân chuyển.

 Cho vay trung hạn

Tuỳ theo từng quốc gia mà có cách quy định về thời hạn cho vay trunghạn khác nhau Theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, cho vaytrung hạn có thưòi hạn từ trên 1 năm cho tới 5 năm Cho vay trung hạnthường được dùng để tài trợ cho việc mua sắm trang thiết bị, xây dựng, cảitiến kĩ thuật, mua công nghệ sản xuất…

 Cho vay dài hạn

Theo những quy định chung thì cho vay dài hạn có thời hạn là trên 5năm, tuỳ theo từng trường hợp cụ thể mà có quy định về thời gian tối đa củakhoản vay Các khoản cho vay dài hạn dùng tài trợ cho những nhu cầu vốndài hạn như xây nhà, mua các thiết bị, công nghệ cần vốn có qui mô lớn, xâynhà máy sản xuất mới

2.1.2.2 Căn cứ theo tài sản đảm bảo

Theo căn cứ này ta có thể chia cho vay ra thành 2 loại:

 Cho vay có tài sản đảm bảo

Với hình thức này ngân hàng yêu cầu khách hàng của mình khi nhậnvốn vay từ ngân hàng cần có tài sản đảm bảo Tài sản đảm bảo của kháchhang có thể được thực hiện dưới dạng cầm cố, thế chấp hay bảo lãnh củangười thứ ba Tài sản đảm bảo giúp cho ngân hàng hạn chế những rủi ro cóthể xảy ra và giúp cho ngân hàng bù đắp được phần nào tổn thất khi kháchhàng không hoàn thành được nghĩa vụ với ngân hàng Vì sự đảm bảo này có

Trang 13

cơ sở pháp lý nên ngân hàng có thêm nguồn thu thứ hai nếu như nguồn thu nợthứ nhất không được khách hàng thực hiện.

 Cho vay không có tài sản đảm bảo

Việc yêu cầu tài sản đảm bảo có thể giúp ngân hàng hạn chế đượcnhững rủi ro xảy ra, nhưng có nhiều trường hợp tài sản đảm bảo lại làm hạnchế việc khách hàng tiếp cận với nguồn vốn của ngân hàng Trong một sốtrường hợp đặc biệt ngân hàng có thể cấp tín dụng cho khách hàng mà khôngđòi hỏi tài sản đảm bảo Với hình thức này, tức là khách hàng không cần thựchiện việc cầm cố, thế chấp hay không cần sự bảo lãnh của người thứ ba Chovay không cần tài sản đảm bảo chủ yếu áp dụng cho những khách hàng có uytín, có quan hệ lâu năm với ngân hàng

2.1.2.3 Căn cứ theo hình thức cho vay

Theo căn cứ này, ta có thể chia cho vay ra thành 2 loại:

 Cho vay trực tiếp với khách hàng

Đây là hình thức cho vay tương đối phổ biến của ngân hàng đối vớikhách hàng Với hình thức này, khách hàng có nhu cầu vay vốn được ngânhàng trực tiếp giao vốn kèm theo một hợp đồng tín dụng, trong đó qui định rõ

số tiền và thời hạn mà khách hàng này phải hoàn trả cả vốn lẫn lãi cho ngânhàng

 Cho vay gián tiếp

Đây là hình thức cho vay mà ngân hàng không trực tiếp giao vốn chokhách hàng Việc cho vay của ngân hàng được thực hiện thông qua các tổchức trung gian Hiện nay tại Việt Nam các tổ chức trung gian thường là các

tổ, đội, nhóm, hội(phụ nữ, nông dân…), nhóm sản xuất… Các tố chức trunggian này thường có các thành viên hoạt động theo những tiêu chí chung Ngânhàng thực hiện việc cho vay theo tổ, tức là đã chuyển một số bước trong tiếntrình cho vay cho các tổ này như: Phát tiền cho vay, thu nợ gốc và lãi khi đến

Trang 14

hạn,…Ngoài ra với hình thức cho vay gián tiếp này ngân hàng có thể áp dụngcho các hãng sản xuất, hãng bán lẻ.

Bên cạnh các căn cứ trên, nhiều ngân hàng còn có nhiều căn cứ khác đểphân loại cho vay như: Căn cứ vào loại tiền vay, có thể chia thành cho vaybằng nội tệ, cho vay bằng ngoại tệ; Căn cứ vào đối tượng vay, có thể chiathành cho vay với Nhà nước, cho vay với tổ chức tín dụng, cho vay với doanhnghiệp, cho vay với hộ gia đình, cho vay với cá nhân; Căn cứ vào mục đíchvay, có thể chia thành cho vay tiêu dùng và cho vay kinh doanh; Căn cứ vàocác ngành kinh tế, có thể chia thành cho vay công nghiệp-thương mại, chovay nông nghiệp và cho vay xuất nhập khẩu…

Việc phân chia các hình thức cho vay này có ý nghĩa vô cùng quantrọng trong việc quản lý các khoản vay của ngân hàng Tuỳ theo từng đặc thùriêng mà các ngân hàng có các tiêu chí phân chia khác nhau

2.2 Hình thức cho vay tiêu dùng của các NHTM

2.2.1 Quá trình hình thành và phát triển hình thức cho vay tiêu dùng tại NHTM

Sự ra đời của hệ thống các ngân hàng thương mại gắn liền với sự pháttriển của nền kinh tế hàng hoá Các nghiệp vụ của ngân hàng thương mạicũng không ngừng được mở rộng và phát triển cả về số lượng và chất lượng.Các hình thức ngân hàng thương mại đầu tiên với nghiệp vụ truyền thống làcho vay ngắn hạn, đã góp phần cung ứng vốn phục vụ sự phát triển của nềnkinh tế Cùng với nhu cầu về nguồn vốn trung và dài hạn, cũng như khả năngquản trị rủi ro của các ngân hàng được nâng cao, các ngân hàng thương mại

đã “mạnh dạn” mở rộng các hình thức tín dụng trung và dài hạn Nhưng cũngchính vì tập trung vào hình thức tín dụng mới mẻ và hứa hẹn mang lại nguồnlợi nhuận lớn này, mà các ngân hàng thương mại đã “bỏ quên” một mảng hoạtđộng cũng mang lại nguồn lợi nhuận không nhỏ - Cho vay tiêu dùng

Trang 15

Vào những năm 40 của thế kỷ XX, thế giới đã chứng kiến nhiều sựbiến đổi lớn, hệ thống ngân hàng cũng có những bước thăng trầm Sự ra đời

và phát triển của các tổ chức trung gian phi ngân hàng đã làm cho phạm vihoạt động của các ngân hàng thương mại bị thu hẹp lại Trước sức ép cạnhcạnh cũng như mong muốn sinh tồn và phát triển, các ngân hàng thương mạiphải mở rộng phạm vi hoạt động ra những khu vực trước đây các ngân hàng

“e ngại” Nếu như trước đây các ngân hàng cho rằng cho vay tiêu dùng vớinhững món vay nhỏ vụn, nguy cơ tiềm ẩn rủi ro cao sẽ không thể mang lạinguồn lợi nhuận mong đợi cho ngân hàng, thì bây giờ các ngân hàng đã khẳngđịnh cho vay tiêu dùng là một thế mạnh và tập trung khai thác

Bên cạnh đó, sự phát triển của nền kinh tế làm cho đời sống của conngười không ngừng được cải thiện, thu nhập của người dân tăng lên Nếu nhưtrước đây đời sống khó khăn nhu cầu của con người chỉ dừng lại ở những mặthàng thiết yếu phục vụ cho cuộc sống, thì ngày nay nhu cầu đó được nâng lênthành những mặt hàng tiêu dùng xa xỉ hơn: Mua ô tô, mua nhà, du lịch…Đâychính là cơ hội cho các ngân hàng phát triển hình thức tín dụng tiêu dùng, bởi

vì không phải lúc nào nguồn tài chính của con người cũng đủ để họ thoả mãnnhững nhu cầu tiêu dùng trên Thu nhập của người dân ổn định và khôngngừng được cải thiện đã làm cho tín dụng tiêu dùng không còn là “khu vựcnguy hiểm”, chứa đựng nhiều rủi ro cho các ngân hàng như trước đây nữa, vìthu nhập của người vay chính là nguồn trả nợ chính cho các khoản vay tiêudùng

Thực tế hiện nay trên thế giới, cho vay tiêu dùng đã trở thành hình thứctín dụng quan trọng vào bậc nhất và mang lại nguồn lợi nhuận khổng lồ chocác ngân hàng Các cường quốc lớn như: Mỹ, Trung Quốc, Nga, Đức… hiệncho vay tiêu dùng thường chiếm từ 40-60% tổng dư nợ của các ngân hàng

Trang 16

Tại Việt Nam, cho vay tiêu dùng mới chỉ xuất hiện cách đây khoảng 15năm và vẫn là hình thức tín dụng khá mới mẻ với các ngân hàng thương mại.Tuy vậy với dân số hơn 80 triệu người và sự phát triển không ngừng của nềnkinh tế, đã hứa hẹn Việt Nam sẽ là thị trường “màu mỡ” cho các ngân hàngphát triển hình thức tín dụng tiêu dùng.

2.2.2 Định nghĩa cho vay tiêu dùng

Cho vay tiêu dùng là hình thức cho vay của ngân hàng thương mạinhằm tài trợ cho nhu cầu tiêu dùng của khách hàng

Trong hai thập kỷ vừa qua cho vay tiêu dùng có xu hướng tăng lên, dovậy có thể so sánh nó với các khoản vay có mục đích sản xuất hoặc cácnghiệp vụ tài sản có khác của một ngân hàng

Cho vay tiêu dùng là hình thức tài trợ khá phổ biến của ngân hàng, đây

là hình thức tài trợ mang lại lợi nhuận khá lớn cho ngân hàng Tuy vậy khôngphải ngân hàng nào cũng tích cực mở rộng hình thức cho vay này, điều nàyđược lý giải thông qua các đặc điểm của hình thức cho vay tiêu dùng

2.2.3 Đặc điểm cho vay tiêu dùng

Ta có thể tóm tắt những đặc điểm của cho vay tiêu dùng thành 4 đặcđiểm như sau:

2.2.3.1 Cho vay tiêu dùng là hình thức cho vay có độ rủi ro cao

Như đã nói ở trên cho vay tiêu dùng là hình thức tài trợ của ngân hàngnhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của khách hàng Do vậy khả năng thu hồi lại

nợ vay của ngân hàng phụ thuộc rất lớn vào khả năng tài chính, sức khoẻ…của người vay Nếu người vay bị chết, bị ốm hay bị mất việc thì ngân hàng sẽrất kho thu hồi được món vay

Trang 17

2.2.3.2 Cho vay tiêu dùng là hình thức cho vay có mức lãi suất cao trong khung lãi suất của NHTM

Chính vì độ rủi ro tiềm ẩn rất cao, ảnh hưởng tới sự an toàn của hoạtđộng của ngân hàng, mà khách hàng muốn nhận tài trợ theo hình thức cho vaytiêu dùng phải chịu mức lãi suất khá cao Mức lãi suất này giúp đảm bảo chongân hàng có thể hạn chế được rủi ro và đảm bảo thu nhập trong nhữngtrường hợp có sự cố ngoài ý muốn xảy ra

2.2.3.3 Các khoản cho vay tiêu dùng thường có giá trị nhỏ nhưng số lượng các khoản vay nhiều

Do cho vay tiêu dùng là hình thức tài trợ cho hoạt động tiêu dùng củakhách hàng nên giá trị thường nhỏ, vụn vặt Tuy nhiên do nhu cầu tiêu dùngcủa người dân ngày càng tăng do nền kinh tế không ngừng phát triến, nên nhucầu về các khoản vay tiêu dùng là rất lớn Chính điều này cũng làm cho ngânhàng phải bỏ ra một khoản chi phí không phải là nhỏ khi tiến hành hoạt độngcho vay tiêu dùng

2.2.3.4 Các khoản cho vay tiêu dùng mang lại lợi nhuận khá lớn cho các ngân hàng

Như đã nói ở trên, cho vay tiêu dùng là hình thức cho vay có mức lãisuất cao trong khung lãi suất cho vay của ngân hàng, mặt khác số lượngkhách hàng của hình thức cho vay này lại nhiều nên đây là hình thức tài trợmang lại nguồn lợi nhuận cao cho ngân hàng

2.2.4 Cơ sở cho vay tiêu dùng

Vào thời kì đầu đa phần các ngân hàng đều không dám cho vay tiêudùng vì mức độ rủi ro tiềm ẩn và phức tạp của hình thức tín dụng này Ngàynay cùng với sự phát triển nhanh chóng của kinh tế và công nghệ thì cho vaytiêu dùng trở thành hình thức cho vay phổ biến được các ngân hàng áp dụng

Trang 18

Vậy cơ sở của hình thức này là thế nào mà các ngân hàng thay vì hạn chế đã

mở rộng hình thức cho vay này?

2.2.4.1 Do nhu cầu về hàng tiêu dùng tăng nhanh

Sự phát triển của kinh tế và công nghệ dẫn đến đời sống của congngười được cải thiện đáng kể Con người hiện nay có nhu cầu rất lớn về hàngtiêu dùng: nhu cầu về nhà ở, nhu cầu về phương tiện vận tải, nhu cầu về maymặc…Những nhu cầu này con người không thể đủ khả năng tài chính ở hiệntại để thoả mãn và yêu cầu phải có một nguồn tài chính đủ lớn để đáp ứngnhững nhu cầu kia của con người Việt Nam- một nước có nền kinh tế đangphát triển, là một thị trường đầy tiềm năng của hoạt động cho vay tiêu dùng.Tốc độ tăng trưởng hàng năm luôn dẫn đầu các nước trong khu vực ĐôngNam Á và cao thứ hai Châu Á (Chỉ sau Trung Quốc) làm cho thu nhập bìnhquan đầu người của Việt Nam không ngừng được cải thiện và nâng cao

Bảng1.1: Tỷ lệ tăng trưởng GDP và thu nhập bình quân trên đầu người của Việt Nam giai đoạn 2001-2006

2.2.4.2 Do lợi nhuận của các khoản cho vay tiêu dùng

Trước đây khi công nghệ chưa phát triển, qui mô nguồn vốn còn hạnchế, những biện pháp phòng ngừa rủi ro chưa được hoàn thiện, các ngân hàngkhông chú ý đến cho vay tiêu dùng Ngày nay cùng với sự cạnh tranh trên thịtrường tài chính, các ngân hàng đã chú trọng đến cho vay tiêu dùng hơn Cho

Trang 19

vay tiêu dùng mang lại cho ngân hàng một khoản lợi nhuận lớn nên càngkhuyến khích các ngân hàng mở rộng hơn nữa hình thức cho vay này.

2.2.4.3 Do rủi ro của hoạt động cho vay tiêu dùng đã được hạn chế

Một cản trở làm cho các ngân hàng không muốn mở rộng hình thứccho vay tiêu dùng là mức độ rủi ro của nó Có thể nói cho vay tiêu dùng làhình thức cho vay có mức độ rủi ro cao nhất trong các hình thức cho vay củangân hàng Mức độ rủi ro của nó làm cho các ngân hàng rất ngần ngại trongkhi nhu cầu tiêu dùng của khách hàng thì không ngừng gia tăng Nhưng ngàynay với sự phát triển nhanh chóng của kinh tế, thu nhập của con người cũngtăng lên và khá ổn định Vì thu nhập của khách hàng chính là cơ sở để trả nợcác khoản vay tiêu dùng nên hiện nay các khoản cho vay tiêu dùng của ngânhàng, do vậy rủi ro của các khoản vay này cũng được hạn chế Mặt khác hiệnnay các ngân hàng đều áp dụng những công nghệ hiện đại trong việc quản lícác khoản cho vay ngay từ khâu thấm định hồ sơ vay vốn của khách hàng nên

đã hạn chế được tối đa rủi ro của các khoản cho vay tiêu dùng

2.2.4.4 Do sự canh tranh ngày càng gay gắt giữa các ngân hàng

Sự ra đời nhanh chóng và lớn mạnh của rất nhiều ngân hàng mới làmcho hệ thống ngân hàng thương mại được mở rộng Trước đây khi chỉ có một

số ít ngân hàng thì sự cạnh tranh giữa các ngân hàng không diễn ra mạnh mẽ

và khốc liệt như hiện nay Đặc biệt trong xu thế hội nhập, toàn cầu hoá, quốc

tế hoá diễn ra mạnh mẽ như hiện nay, các ngân hàng thương mại cần phải cónhững chính sách mở rộng thị trường, tăng sức cạnh tranh Để đảm bảo sự tồntại và phát triển cho ngân hàng mình, các ông chủ ngân hàng đã không ngầnngại đầu tư vào các lĩnh vức mà trước khi bị coi là “khu vực nguy hiểm” vớimức độ rủi ro cao như cho vay tiêu dùng

Trang 20

2.2.5 Các hình thức cho vay tiêu dùng

Tuỳ theo các cách chia mà cho vay tiêu dùng có thể chia thành các hìnhthức khác nhau

2.2.5.1.Chia theo tài sản đảm bảo

Nếu theo tài sản đảm bảo có thể chia cho vay tiêu dùng ra làm hai loạisau:

 Cho vay tiêu dùng có tài sản đảm bảo

 Cho vay tiêu dùng không có tài sản đảm bảo

2.2.5.2 Chia theo hình thức tài trợ của ngân hàng

Nếu chia theo phương thức này có thể chia cho vay tiêu dùng thành hailoại sau:

 Cho vay trực tiếp cho khách hàng

Hình thức cho vay tiêu dùng này bao gồm có những phương thức sau:

 Tín dụng trả theo định kỳ

Là phương thức, trong đó khách hàng vay và trả trực tiếp ngân hàngvới mức trả và thời hạn trả mỗi lần được qui định khi cho vay Nếu được cấptiền vay , toàn bộ số tiền vay được ghi nợ tài khoản cho vay và ghi có tàikhoản tiền gửi cá nhân hoặc giao tiền mặt cho khách hàng

 Thẻ tín dụng

Là nghiệp vụ tín dụng, trong đó ngân hàng phát hành thẻ cho những

Trang 21

người có tài khoản ở ngân hàng đủ điều kiện cấp thẻ và ấn định mức giới hạntín dụng tối đa mà người có thẻ được phép sử dụng.

 Cho vay gián tiếp được hiểu là việc ngân hàng mua các phiếu bánhàng từ những người bán lẻ hàng hoá và do vậy nó chính là hình thức tài trợbán trả góp của các NHTM

Tín dụng trả góp của ngân hàng được thực hiện bằng một trong haicách sau:

Cách 1: Ngân hàng, người bán và người mua phải thoả thuận được với

nhau về số tiền vay, mức và thời hạn trả dần, sau đó ngân hàng cho người bánhàng và giữ lại quyền sở hữu tài sản cho đến khi người mua trả góp đủ

Có thể mô tả như sau:

(1)(2)

Trong đó:

(1): Người mua trả trước 20-30% giá trị của tài sản

(2): Người bán giao tài sản cho người mua, đồng thời giữ lại quyền sởhữu tài sản

(3): Người bán giao quyền sở hữu tài sản cho ngân hàng làm thế chấp

và phiếu bán hàng

(4): Ngân hàng trả phần tiền còn thiếu cho người bán (70-80%)

(5): Người mua trả góp cho ngân hàng theo mức và kỳ hạn được xácđịnh

Người mua Người bán

NHTM

Trang 22

Cách 2: Được thực hiện với thời hạn và mức trả dần tương tự như trênnhưng khác ở một số điểm: Người bán giao tài sản và giao sở hữu, người bán

và người mua thực hiện hành vi mua bán chịu tài sản nên xuất hiện kỳ phiếu,ngân hàng chiết khấu kỳ phiếu của người bán

Có thể mô tả như sau:

(1)(4)

Trong đó:

(1): Người mua mua chịu hàng hoá và có kỳ phiếu cho người bán.(2): Người mua ký quỹ 20-30% giá trị tài sản và cam kết thế chấp tàisản

(3): Ngân hàng chiết khấu kỳ phiếu từ người bán hàng

(4): Người bán giao tài sản và quyền sở hữu cho người mua

(5): Người mua tiến hành trả góp cho ngân hàng theo mức và kỳ hạnđược xác định

2.2.5.3 Chia theo mục đích vay của khách hàng

Nếu chia theo mục đích vay của khách hàng ta có thể chia cho vay tiêudùng thành các hình thức sau:

 Cho vay tiêu dùng cư trú: Hỗ trợ khách hàng về việc mua sắm, sửachữa, xây dựng nhà cửa

 Cho vay tiêu dùng phi cư trú: Hỗ trợ khách hàng về mua sắm phươngtiện vận chuyển, du lịch, du học…

NHTM

Trang 23

2.2.6 Tác động của cho vay tiêu dùng

Hiện nay cho vay tiêu dùng không những là hình thức cho vay phổ biếncủa các ngân hàng thương mại mà nó còn thể hiện rõ vai trò to lớn không chỉđối với ngân hàng mà còn đối với nền kinh tế, đối với người tiêu dung

2.2.6.1 Tác động với ngân hàng

Với những biện pháp phòng ngừa rủi ro hiệu quả được các ngân hàng

áp dụng hiện: Phân tích khách hàng, lập phòng riêng theo dõi cho vay tiêudùng…, thì cho vay tiêu dùng với lãi suất cho vay cao trở thành nguồn thuđáng kể cho ngân hàng Cho vay tiêu dùng từ chỗ bị các ngân hàng xếp vàoloại hình cho vay nguy hiểm, mức độ rủi ro cao, nay đã được các ngân hàngchú trọng và mở rộng và phát triển

2.2.6.2 Tác động với người tiêu dùng

Cuộc sống con người không ngừng được nâng cao làm cho nhu cầu củacon người về hàng hoá tiêu dùng không dừng lại ở những mặt hàng giản đơn.Ngày nay nhu cầu của con người về những hàng hoá tiêu dùng xa xỉ như ô tô,nhà cửa…tăng mạnh Điều này đặt ra cho con người yêu cầu về một nguồn tàichính đủ lớn để đáp ứng được tất cả các nhu cầu trên Có thể nói chỉ có nguồntài trợ của ngân hàng cho người tiêu dùng thông qua cho vay tiêu dùng mớiđáp ứng được những nhu cầu trên của người tiêu dùng Mặt khác hình thức tíndụng này còn làm tăng sự cạnh tranh giữa những người sản xuất với nhau,làm cho họ phải chú trọng hơn tới chủng loại hàng hoá, mẫu mã hàng hoá,chất lượng và giá cả hàng hoá Tất cả những điều trên đều mang lại những lợiích cho người tiêu dùng

2.2.6.3 Tác động với các doanh nghiệp

Các doanh nghiệp sản xuất luôn muốn tối đa hoá lợi nhuận thu được,

do vậy họ luôn tìm mọi cách để tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ sản xuất ra Điềunày hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng tiêu thụ của khách hàng Hiện nay nhu

Trang 24

cầu về hàng hoá, dịch vụ của người tiêu dùng không ngừng tăng, nhưng nó lạikhông thể được thỏa mãn bằng nguồn tài chính hiện có của khách hàng Hànghoá không thể xếp vào kho chờ khi khách hàng có đủ điều kiện về tài chínhđược Và nguồn tài chính từ ngân hàng tài trợ là một giải pháp tối ưu Nhưvậy cho vay tiêu dùng của ngân hàng giải quyết được sự ùn tắc trong việc tiêuthu hàng hoá Nguồn tín dụng này cũng giúp cho các doanh nghiệp có điềukiện tăng cường sản xuất, mở rộng qui mô, mở rộng thị trường.

2.2.6.4 Tác động với nền kinh tế

Nhu cầu về hàng tiêu dùng của khách hàng tăng nhanh kéo theo nềnsản xuất hàng hoá, dịch vụ được đẩy mạnh, lưu thông hàng hoá cũng đượctăng cường Những nhà sản xuất luôn muốn tiêu thụ nhanh chóng hàng hoá,dịch vụ của mình nên luôn khuyến khích người tiêu dùng sử dụng những sảnphẩm của mình dưới mọi hình thức Như đã nói ở trên nếu chỉ đơn thuần chỉdựa vào nguồn tài chính của khách hàng thì không thể nào đáp ứng được nhucầu tiêu dùng của họ,và giải pháp tối ưu nhất là sử dụng nguồn tài trợ củangân hàng Vậy là nhờ nguồn vốn của ngân hàng thông qua hình thức cho vaytiêu dùng mà sự lưu thông hàng hoá được đẩy mạnh, góp phần thúc đẩy sựphát triển chung của nền kinh tế

2.2.7 Kinh nghiệm cho vay tiêu dùng tại một số NHTM trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

2.2.7.1 Thực trạng cho vay tiêu dùng tại một số NHTM trên thế giới

Theo tạp chí Stephen Timewell đã đưa nhận định “Xu hướng ngày naycho thấy, ngân hàng nào nắm bắt được cơ hội mở rộng việc cung cấp dịch vụngân hàng bán lẻ cho một số lượng khổng lồ dân cư “đói” các dịch vụ tàichính tại các nước có nền kinh tế mới nổi, sẽ trở thành gã khổng lồ toàn cầutrong tương lai” Phải khẳng định rằng cho vay tiêu dùng là một dịch vụ ngânhàng bán lẻ vô cùng quan trọng của ngân hàng Hiện nay tại các nước lớn trên

Trang 25

thế giới, các ngân hàng thương mại đang ra sức nâng cao tỷ trọng cho vay tiêudùng trong tổng dư nợ của mình Ta bắt đầu đi từ nước Mỹ- một cường quốccủa thế giới Hiện nay tại các ngân hàng thương mại của Mỹ, những khoảncho vay tiêu dùng thường chiếm khoảng 30-40% tổng dư nợ cho vay của hệthống ngân hàng Các khoản tín dụng thường được tài trợ cho những nhu cầumua nhà, mua xe hơi, du lịch…Nhưng hiện nay các ngân hàng thương mạicủa Mỹ đã có một tầm nhìn chiến lược đó là phát triển hình thức cho vay tiêudùng tại các thị trường ngoài nước Mỹ Citigroup- Ngân hàng lớn nhất thếgiới là một điển hình, không chỉ chú trọng khai thác thị trường về nhu cầu tiêudùng tại nước Mỹ, ngân hàng này còn mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùngtại các nước có nền kinh tế đang phát triển như Trung Quốc, Brazin, Ấn Độ…Trong chiến lược kinh doanh của mình các năm tới Citigroup đã đưa ra kếhoạch nâng thu nhập ròng của hoạt động kinh doanh quốc tế từ 38% lên 50%trong tương lai Nhiều chuyên gia tại Mỹ đã khẳng định phát triển các dịch

vụ ngân hàng bán lẻ trong đó có cho vay tiêu dùng chính là tương lai của cácngân hàng

Theo một công bố gần đây của Standard –Poor’s (S&P), trong các nướcđược gọi là BRIC ( bao gồm Brazin, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc), các khoảnvay cá nhân cho việc mua nhà, xe và các chi tiêu cá nhân khác đã tăng lên 3lần trong giai đoạn 2001- 2005 (từ 145 tỷ USD lên 477 tỷ USD) Tuy nhiêncon số này vẫn còn rất thấp so với Đức, nơi tổng các khoản vay lên tới 1700

tỷ USD năm 2005 S&P cũng cho biết, tại nhóm BRIC, dịch vụ cung cấp cáckhoản vay tiêu dùng nhỏ lẻ khác có tốc độc gia tăng trung bình 30% giai đoạn2001- 2005 và có thể đạt con số 1800 tỷ USD vào năm 2009 với tỷ lệ tăngtrưởng trung bình 20- 30%

Cũng theo S&P, tại các thị trường mới nổi, sự tăng trưởng trong việccung cấp các khoản vay tiêu dùng là rất lớn trong tương lai Các khoản cho

Trang 26

mua nhà, mua hàng lâu bền hay mua ô tô , trong đó đặc biệt là các khoản chovay mua nhà, sẽ có mức tăng mạnh trong các năm tới.

Các ngân hàng Châu Âu là một điển hình tiếp theo về sự nhạy béntrong việc phát triển hình thức cho vay tiêu dùng Tín dụng tiêu dùng , có thểnói là ra đời khá muộn màng so với các hình thức tín dụng khác tại Châu Âu.Tuy nhiên hiện nay, cho vay tiêu dùng không còn là hình thức tín dụng mới

mẻ với những người dân Châu Âu nữa Cho vay tiêu dùng tại Châu Âu hoạtđộng theo Nghị Định 87/102/CEF ra đời vào năm 1986 Từ năm 1986 tới nayNGhị định đã hai lần được sửa đổi, đó là vào năm 1990 với Nghị định 90/08/CEE và năm 1998 với Nghị định 98/7/CEE Tại Châu Âu, có thể nói đốitượng được nhận tín dụng tiêu dùng đa dạng và phong phú nhất, tất cả nhứngx

ai có đủ năng lực hành vi đều được cấp tín dụng tiêu dùng Các ngân hàngthương mại tại các nước Châu Âu không ngừng đa dạng hoá các hình thức tíndụng tiêu dùng Các hình thức tín dụng tiêu dùng chủ yếu của các ngân hàngthương mại này là: Cho vay mua xe hơi, mua nhà, sửa chữa bếp, nhà tắm, bểbơi, trang trí nhà cửa… Các ngân hàng hoạt động theo nguyên tắc an toàn nêncác khoản vay tiêu dùng cũng có những nguyên tắc nhất định, ví dụ các ngânhàng thương mại Châu Âu có nhưng qui định khác nhau về đối tượng vay:Nghề nghiệp, độ tuổi…, hay qui định về giá trị tối thiểu của các khoản vay.Nhìn chung các ngân hàng thương mại đều tiến hành hoạt động tín dụng tiêudùng dựa theo 2 nguyên tắc là an toàn của ngân hàng kết hợp với bảo vệquyền lợi của người tiêu dùng.Bên cạnh việc phát triển thị trường tín dụngtiêu dùng trong nước, các ngân hàng thương mại Châu Âu còn hết sức chú ýtới các thị trường khác ngoài lãnh thổ của mình Vùng Trung và Đông Âu(CEE) là một thị trường đầy tiềm năng cho các ngân hàng thương mại Châu

Âu khai thác loại hình cho vay mua nhà Việc các ngân hàng Châu Âu thâm

Trang 27

nhập vào thị trường này khiến cho các khoản cho vay mua nhà tăng lên vớitốc độ chóng mặt từ một nền tảng hầu như là con số không trước đây

Bảng 1.2: cho vay tiêu dùng với các hộ gia đình bằng đồng nội tệ( tỷ)(1)

(2): Số liệu năm 2001 được ước lượng từ số liệu năm 2000, số liệu nàykhông bao gồm các khoản vay của các hiệp hội tín dụng

(3): Số liệu không bao gồm các khoản cho vay của các tổ chức tín dụnghợp tác

(4): Chưa có số liệu

Qua bảng số liệu trên ta có thể thấy tại các thị trường phát triển hơnnhư: Hungary hay cộng hoà Séc, sự tăng trưởng của các khoản cho vay tiêudùng vốn đã rất mạnh mẽ sẽ tiếp tục diễn ra trong tương lai cùng với sự lớnmạnh của nền kinh tế

Trung Quốc - Một nền kinh tế với sức phát triển nóng của thế giới, hìnhthức tín dụng tiêu dùng cũng được các ngân hàng thương mại hết sức chý ý.Ngân hàng kiến thiết Trung Quốc( CCB) là một trong những ngân hàng đi

Trang 28

đầu về việc cấp tín dụng tiêu dùng cho khách hàng Ngay từ cuối những năm

90 CCB đã biết hướng hoạt động của mình vào khu vực tiêu dùng, năm 1999CCB áp dụng hình thức cho vay tiêu dùng có thế chấp với thời hạn vay đượckéo dài và giá trị các khoản vay được nâng cao (lên tới 70-80% giá trị thếchấp Bên cạnh CCB, tại Trung Quốc phát triển hình thức tín dụng tiêu dùngcòn phải kể tới ngân hàng phát triển Thượng Hải - Phú Đông Ngân hàng nàyvới hình thức cấp tín dụng mua nhà ,các khoản vay đi du lịch, vay đi du học…Các hình thức tín dụng tiêu dùng này được ngân hàng Thượng Hải –PhúĐông tập trung mọi nguồn lực để thực hiện Trung Quốc với dân số lớn nhấtthế giới, nền kinh tế không ngừng phát triển, là một thị trường đầy tiềm năng

để các ngân hàng thương mại không chỉ của Trung Quốc mà của cả nướcngoài khai thác Hiện nay các ngân hàng thương mại Trung Quốc đang cốgắng hết sức để mở rộng hơn nữa thị phần của mình trên khu vực tín dụngtiêu dùng trong nước, nhưng vì thực chất các khoản cho vay tiêu dùng vẫncòn khá mới mẻ với không chỉ các ngân hàng mà cả với chính người tiêudùng Sự thâm nhập thị trường của các ngân hàng khổng lồ nướcngoài :HSBC, Citibank,… buộc các ngân hàng thương mại của Trung Quốccần có những sách lược rõ ràng và đúng đắn để không bị đánh bại ngay trênsân nhà

2.2.7.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Là một nước có dân số đông ,nền kinh tế những năm gần đây có nhữngbước phát triển, thu nhập của người dân không ngừng được cải thiện, ViệtNam hứa hện một thi trường đầy tiềm năng cho các ngân hàng thương mạiphát triển hoạt động tín dụng tiêu dùng

Là một nước đi sau nên Việt Nam có cơ hội học hỏi kinh nghiệmcủa các nước đi trước.Qua phân tích ở trên, có thể thấy phát triển tín dụng tiêu

Trang 29

dùng không chỉ là xu thế tất yếu của các ngân hàng trên thế giới, mà nó còn là

“tương lai” của các ngân hàng

Có thể rút ra một vài bài học cho sự phát triển hoạt động cho vay tiêudùng tại Việt Nam như sau:

 Xác định cho vay tiêu dùng là một bộ phận trong hoạt động tíndụng của các ngân hàng, việc phát triển tín dụng tiêu dùng phải được đặttrong chiến lược phát triển chung của ngân hàng Mở rộng cho vay tiêu dùngphải được xem là xu hướng phát triển tất yếu trong thời đại ngày nay Muốnvậy các ngân hàng cần có những chiến lược quản lý rủi ro của các khoản vaytiêu dùng một cách hiệu quả

 Hoạt động Marketing nhằm quảng bá hình ảnh và hoạt động chovay tiêu dùng của các ngân hàng cần được chú trọng Người dân chỉ thực sựmuốn sử dụng dịch vụ của ngân hàng khi họ hiểu về những sản phẩm đó Đặcbiệt tại Việt Nam, hình thức tín dụng ra đời mới được hơn chục năm, nó cònhết sức mới mẻ với người tiêu dùng nên hoạt động tuyên truyền, quảng bá vềhoạt động này càng phải được chú trọng

 Các nước đang phát triển chính là thị trường mà các nước phát triểnhướng tới, Việt Nam cũng vậy Cùng với việc gia nhập WTO, Việt Nam đangđứng trước những thử thách về việc hội nhập Người dân Việt Nam hiện nay,với thu nhập được nâng lên không ngừng chính là cơ hội cho các ngân hàngthương mại xúc tiến hoạt động tín dụng của mình Tuy vậy nếu các ngân hàngthương mại Việt Nam không có những kế hoạch hành động hợp lý thì khi cácngân hàng nước ngoài thâm nhập vào với kinh nghiệm và qui mô hơn hẳn sẽchiếm lĩnh ngay thị phần của các ngân hàng thương mại trong nước

 Có thể khẳng định việc các ngân hàng do dự trước quyết định mởrộng cho vay tiêu dùng chính là vì mức độ rủi ro tiềm ẩn của các khoản vaynày rất cao Như vậy muốn mở rộng cho vay tiêu dùng các ngân hàng không

Trang 30

còn cách nào khác là phải tăng cường hoạt động giám sát và quản lí các khoảnvay này.

 Phải có mô hình cho điểm tín dụng tiêu dùng Hầu hết các nướcphát triển dịch vụ tín dụng tiêu dùng, các ngân hàng thương mại đều xây dựngcho mình mô hình cho điểm đối với loại hình tín dụng này Mô hình này ápdụng cho cá nhân, dựa vào hồ sơ tín dụng, tuổi đời, trạng thái tài sản, sở hữunhà, thu nhập, thời gian công tác…để cho điểm từ đó hình thành khung chínhsách tín dụng

Bảng 1.3 Mô hình cho điểm tín dụng tiêu dùng

( Nguồn: Risk Management in Banking, 2001- Joel Bessis)

2.2.8 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay tiêu dùng của các NHTM

Nếu như trước đây các ngân hàng thương mại chỉ để cho vay tiêu dùngchiếm một tỷ lệ khá khiêm tốn trong tổng dư nợ cho vay của mình, thì ngàynày hầu hếtcác ngân hàng thương mại đều coi cho vay tiêu dùng là một lĩnhvực quan trọng, là yếu tố cạnh tranh của ngân hàng so với các tổ chức tàichính phi ngân hàng khác Ngày nay nguồn cho vay tiêu dùng không chỉ xuấtphát từ các ngân hàng thương mại mà còn xuất phát từ rất nhiều nguồn khácnhư: Công ty tài chính, công ty bảo hiểm, hợp tác xã, ngân hàng tiết kiệm bưuđiện, hợp tác xã, các doanh nghịêp sản xuất, kinh doanh hay các nguồn khác

Trang 31

nữa Tuy nhiên ngân hàng thương mại vẫn là lựa chọn được ưu tiên củanhững người muốn vay vốn phục vụ nhu cầu tiêu dùng Ở các nước có nềnkinh tế phát triển, cho vay tiêu dùng hiện là một hình thức tài sản phổ biến và

có khả năng sinh lời cao cho ngân hàng Đa dạng hoá các hình thức cho vaytiêu dùng là một yêu cầu luôn đặt ra cho các ngân hàng, nhằm đáp ứng mọinhu cầu tiêu dùng của khách hàng

Cho vay tiêu dùng là một hình thức cho vay của ngân hàng thương mại,hoạt động của nó chịu tác động của rất nhiều yếu tố Các ngân hàng luôn luônphải xem xét các yếu tố đó một cách thân trọng nhằm phát huy những yếu tốtích cực đến cho vay tiêu dùng, cũng như hạn chế tới mức tối đa các yếu tốklàm hạn chế hoạt động cho vay tiêu dùng

Có thể chia những yếu tố tác động tới hoạt động cho vay tiêu dùngthành hai nhóm: Nhóm yếu tố chủ quan và nhơm yếu tố khách quan

2.2.8.1 Nhóm yếu tố chủ quan

Đây là nhóm yếu tố xuất phát từ phía bản thân các ngân hàng Đây cóthể coi là nhóm yếu tố quyết định hoạt động cho vay tiêu dùng Tuỳ theo địnhhướng phát triển của mỗi ngân hàng thương mại mà ta thấy tỷ trọng cho vaytiêu dùng trong tổng dư nợ cho vay của mỗi ngân hàng là khác nhau Cónhững ngân hàng coi cho vay tiêu dùng là một hoạt động quan trọng, chiếm vịtrí đặc biệt quan trọng trong hoạt động của nó, nhưng cũng có ngân hàngkhông coi cho vay tiêu dùng là hoạt động chiến lược mà tập trung nguồn lực

mở rộng và phát triển các hoạt động khác Như vậy chiến lược phát triển vànội lực của mỗi ngân hàng là yếu tố tiên đối với sự phát triển của hoạt độngcho vay tiêu dùng

 Chất lượng nguồn nhân lực của ngân hàng thương mại

Đây là yếu tố kiến tạo lên sức mạnh của các ngân hàng Nhân viênngân hàng là người trực tiếp thực hiện các chiến lược kinh doanh của ngân

Trang 32

hàng thương mại Quá trình giao dịch trực tiếp với khách hàn, nhân viên ngânhàng chính là hiện hữu chủ yếu của dịch vụ, chính vì vậy mà kiến thức vàchuyên môn của của nhân viên ngân hàng tăng thêm giá trị của các sản phẩmdịch vụ của ngân hàng Kiến thức và chuyên môn của nhân viên ngân hàngcũng có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc thẩm định các khoản vay Chovay tiêu dùng là một loại hình cho vay có mức độ rủi ro tiềm ẩn rất lơn, nênngay từ khâu thẩm định các khoản vay nếu cán bộ thẩm định không làm tốt cóthể gây ra tổn hại rất lớn cho ngân hàng Ngoài ra đạo đức nghề nghiệp củacán bộ ngân hàng cũng là một yếu tố rất quan trọng trong việc cho vay Nếumột cán bộ ngân hàng không có đạo đức nghề nghiệp thì nguy cơ xảy ra rủi rocho ngân hàng cũng không phải là nhỏ.

 Qui mô nguồn vốn của ngân hàng

Nguồn vốn của ngân hàng bao gồm vốn ngân hàng huy động được vànguồn vốn chủ sở hữu của ngân hàng Trong đó nguồn vốn chủ sở hữu đóngvai trò sống còn trong việc duy trì các hoạt động thường nhật và đảm bảo chongân hàng khả năng phát triển lâu dài trong tương lai Ngoài ra, nguồn vốnchủ sở hữu còn là tấm lá chắn cho ngân hàng, nhằm chống lại các rủi ro có thểxảy ra Hiện nay, qui mô nguồn vốn lớn là một yếu tố kích thích khách hàngđến với ngân hàng Qui mô nguồn vốn lớn giúp cho ngân hàng có điều kiệnđầu tư nâng cao cơ sở hạ tầng, máy móc, thiết bị, công nghệ ngân hàng…Tất

cả những yếu tố trên tạo cho ngân hàng sức cạnh tranh nhằm mở rộng hơnnữa các dịch vụ ngân hàng nói chung và cho vay tiêu dùng nói riêng

 Qui trình và thủ tục cho vay của ngân hàng

Có thể nói không một khách hàng nào muốn giao dịch tại một ngânhàng có qui trình và thủ tục cho vay rườm rà, phức tạp Hiện nay các ngânhàng đều tìm cách rút ngắn qui trình và thủ tục cho vay nhằm thu hút kháchhàng Nhưng khi tiến hành cho vay các ngân hàng đều phải chú trọng đến qui

Trang 33

trình thẩm định Đây là bước quyết định đến chất lượng tín dụng của ngânhàng Như vậy khi tiến hành hoạt động cho vay nói chung và cho vay tiêudùng nói riêng, các ngân hàng cần có một hệ thống các thủ tục và qui trìnhcho vay hợ lý, khoa học, đặc biệt là khâu thẩm định phải được thực hiện mộtcách nghiêm chỉnh và chính xác.

 Chiến lược khách hàng

Trong nền kinh tế thị trường, khách hàng chính là người quyết định sựtồn tại hay không tồn tại của một công ty, một tổ chức, một cá nhân tiến hànhkinh doanh,cung cấp các sản phẩm dịch vụ trên thị trường Khách hàng làngười lựa chọn sản phẩm, hãng kinh doanh trên thị trường phù hợp với nhucầu của mình Nếu doanh nghiệp sản xuất ra những sản phẩm không phù hợpvới nhu cầu của khách hàng thì dù sản phẩm đó có tốt đến đâu thì cũng khôngđược khách hàng đón nhận Trong kinh doanh ngân hàng cũng vậy, sự thànhcông hay thất bại của ngân hàng đều liên quan đền khách hàng Cho vay tiêudùng hiện nay không phải là độc quyền của bất kì ngân hàng nào Sự ra đờicủa rất nhiều ngân hàng thương mại mới buộc các ngân hàng muốn mở rộnghoạt động cho vay tiêu dùng cần có một chính sách khách hàng hấp dẫn

 Hệ thống thông tin và công nghệ ngân hàng

Thời đại ngày nay thông tin trở thành vấn đề thiết yếu, không thể thiếutrong hoạt động của ngân hàng Công nghệ ngân hàng đóng vai trò sống cònđối với các ngân hàng Trong xu thế ngày nay không nào thể tồn tại một ngânhàng với công nghệ lạc hậu Công nghệ hiện đại là cơ sở để các ngân hàng

mở rộng hoạt động trong đó co hoạt động cho vay tiêu dùng

2.2.8.2 Nhóm yếu tố khách quan

Bên cạnh những yếu tố chủ quan trên, cho vay tiêu dùng còn chịu tácđộng của các yếu tố khách quan khác nữa Có thể có những nhân tố kháchquan ảnh hưởng tới hoạt động cho vay tiêu dùng như: Môi trường kinh tế, môi

Trang 34

trường văn hoá xã hội, môi truờng pháp lý, chính sách kinh tế và đinh huớngphát triển của Nhà nước, những nhân tố khách quan từ phía khách hàng.

 Môi trường văn hoá- xã hội

Môi trường văn hoá- xã hội bao gồm các yếu tố như trình độ dân trí,thói quen chi tiêu của người dân, nhu cầu của người dân…Các yếu tố này đềuảnh hưởng tới hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng Nếu ở một xã hộithói quen chi tiêu của người dân chỉ dừng ở mức độ là các mặt hàng thiết yếuthì tại đó ngân hàng không thể phát triển hình thức tín dụng tiêu dùng được.Hay tại một xã hội mà người dân có thói quen tiết kiệm, tỷ lệ tiết kiệm trêntổng thu nhập cao thì ngân hàng cũng không có cơ hội mở rộng hoạt động chovay tiêu dùng Trình độ dân trí cao là một cơ hội để mở rộng các dịch vụngân hàng trong đó có cho vay tiêu dùng

 Môi trường kinh tế

Có thể nói sự biến động cho vay tiêu dùng gắn bó chặt chẽ với sự biếnđộng của môi trường kinh tế Nếu một nước có nền kinh tế phát triển, thunhập của người dân ổn định, nhu cầu tiêu dùng của họ sẽ tăng lên, lúc ấy ngânhàng có cơ hội mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng của mình Còn nếu nhưmột đất nước có nền kinh tế đình trệ, suy thoái, không ổn định thì người dân

sẽ không muốn đi vay tiền để thoả mãn những nhu cầu chi tiêu của mình, họchỉ duy trì cuộc sống ở mức bình thường

 Môi trường pháp lý

Hiện nay không riêng hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng phảinằm trong khuôn khổ luật pháp mà mọi hoạt động khác của ngân hàng đềuphải tuân thủ những qui định của Nhà nước, của pháp luật Môi trường pháp

lý bao gồm những văn bản pháp luật của Nhà nước là một nhân tố ảnh hưởngtới hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng Nếu một xã hội có môi trườngpháp lý chặt chẽ, đồng bộ sẽ tạo cơ hội phát triển cho hoạt động cho vay tiêu

Trang 35

dùng, nhưng nếu một xã hội tồn tại một hệ thống các văn bản pháp luật chằngchịt, không rõ ràng, đầy đủ thì sẽ cản trở không chỉ hoạt động cho vay tiêudùng và còn cản trở tất cả các hoạt động kinh tê-xã hội khác.

 Định hướng phát triển và chính sách kinh tế của Nhà nước

Các chính sách kinh tế hay định hướng phát triển của Nhà nước đều cóảnh hưởng tới hoạt động cho vay tiêu dùng Nếu định hướng phát triển vàchính sách kinh tế của Nhà nước kích thích sự phát triển kinh tế trong nướccũng như thu hút đầu tư nước ngoài sẽ giúp cho nền kinh tế đất nước đượcphát triển, GDP tăng lên, thu nhập của người dân được cải thiện Nhu cầu củangười dân về hàng tiêu dùng tăng lên, các ngân hàng có cơ hội mở rộng hoạtđộng cho vay tiêu dùng của mình Bên cạnh đó những chính sách của Nhànước như: Xoá đói giảm nghèo, chỉ định các ngân hàng áp dụng những chínhsách ưu đãi khi cho vay với những đối tượng chính sách, hộ nghèo…Nhữngchính sách này góp phần vào việc thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa cáctầng lớp trong xã hội, làm tăng lượng khách hàng với hình thức tín dụng tiêudùng của ngân hàng Những chính sách hợp lý và định hướng kinh tế đúngđắn của Nhà nước còn có thể kích thích nhu cầu tiêu dùng trong dân cư, tạođiều kiện cho các ngân hàng mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng

 Các yếu tố thuộc về bản thân khách hàng

Các yếu tố xuất phát từ bản thân khách hàng của ngân hàng khi thựchiện hoạt động cho vay tiêu dùng có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong hoạtđộng cho vay tiêu dùng.Cho vay tiêu dùng là hình thức cho vay tiềm ẩn rủi rorất cao, những rủi ro này thường xuất phát từ phía khách hàng Các nhân tốthuộc về bản thân ngân hàng bao gồm có: Khả năng tài chính của khách hàng,đạo đức khách hàng, tài sản đảm bảo của khách hàng…

 Khả năng tài chính của khách hàng

Trang 36

Khả năng tài chính của khách hàng chính là nguồn trả nợ cho các khoảnvay của ngân hàng Thu nhập của người vay là nguồn trả nợ chủ yếu của cáckhoản vay tiêu dùng Nếu một khách hàng có thu nhập thường xuyên và ổnđịnh sẽ luôn được chào đón sử dụng các dịch vụ của ngân hàng trong đó códịch vụ cho vay tiêu dùng Như vậy khả năng tài chính của khách hàng là một

sự đảm bảo cho ngân hàng khi cung cấp tín dụng tiêu dùng, nó đảm bảo chongân hàng sự an toàn, tránh rủi ro

 Đạo đức khách hàng

Đạo đức khách hàng bao gốm các yếu tố liên quan đến uy tín của kháchhàng, năng lực pháp lý của khách hàng…Các yếu tố này có ý nghĩa vô cùngquan trọng khi ngân hàng tiến hành xem xét các khoản vay nói chung và cáckhoản vay tiêu dùng nói tiêng Nếu một khách hàng có khả năng tài chính dồidào, nguồn tài chính dùng trả nợ cho ngân hàng được đảm bảo, nhưng đạođức của khách hàng này không được đảm bảo thì khả năng trả nợ của kháchhàng này là rất thấp Ngân hàng sẽ không muốn cấp tín dụng cho nhữngkhách hàng như vậy Đạo đức khách hàng cón thể hiện ở việc cung cấp chongân hàng những thông tin cá nhân đầy đủ và chính xác, sự thiện chí muốn trả

nợ cho ngân hàng và sự trung thực trong việc thực hiện hợp đồng tín dụng kíkết với ngân hàng

 Tài sản đảm bảo của khách hàng

Tài sản đảm bảo chính là nguồn trả nợ thứ hai sau nguồn trả nợ thúnhất là thu nhập của người vay trong tín dụng tiêu dùng Do tài sản có sự đảmbảo của những cơ sở pháp lý nên nó tăng tính an toàn cho các khoản vay.Trong trường hợp có rủi ro xảy ra, tài sản đảm bảo chính là tấm đệm cho cácngân hàng Ngân hàng có thể giảm thiểu rủi ro cho mình khi người vay khôngtrả được nợ bằng cách phát mại tài sản đảm bảo của người vay Mặc dù vậykhi ngân hàng tiến hành phát mại tài sản cũng gặp một số vấn đề như: Chi phí

Trang 37

phát mại, thời gian phát mại…, những nhân tố đó làm giảm thu nhập của ngânhàng Trong cho vay tiêu dùng nguy cơ xảy ra rủi ro rất cao do người vay cóthể gặp rất nhiều rủi ro: Ốm đau, mất việc…ảnh hưởng thu nhập là nguồn trả

nợ chính của khách hàng Do vậy trong cho vay tiêu dùng, ngân hàng phảihết sức chú ý đến tài sản đảm bảo, tuy nhiên tài sản đảm bảo không phải làyếu tố quyết định để ngân hàng quyết định cấp tín dụng cho người vay Nếucác khoản vay tiêu dùng có giá trị nhỏ cùng với sự đảm bảo của người vay thìngân hàng có thể không yêu cầu tài sản đảm bảo

2.2.9 Giảm rủi ro hoạt động cho vay tiêu dùng bằng mô hình công ty thông tin tín dụng tiêu dùng

2.2.9.1 Sự cần thiết của công ty thông tin tín dụng tiêu dùng

Trong các năm trở lại đây, tín dụng tiêu dùng tại Việt Nam phát triểnkhá sôi động, tỷ lệ cho vay tiêu dùng trong tổng dư nợ của các ngân hàngthương mại có xu huớng ngày càng tăng Tuy nhiên, thực tế cho thấy, đay làhoạt đông tiềm ẩn rủi ro rất lớn có thể ảnh hưởng tới sự an toàn trong hoạtđộng của hệ thống ngân hàng Đây là một nhân tố làm các ngân hàng thươngmại rất e ngại khi thực hiện hoạt động cho vay tiêu dùng Xu thế trên thế giớihiện nay, hoạt động cho vay tiêu dùng ngày càng được mở rộng và phát triển

và chiếm tỷ trọng cao trong tổng dư nợ của các ngân hàng Việt Nam là mộtnước có nền kinh tế đang phát triển, thu nhập của người dân đang ngày càngđược cải thiện, có thể nói đây là thị trường đầy hứa hẹn đối với các ngân hàng

để phát triển dịch vụ cho vay tiêu dùng Nhưng thời gian vừa qua đã chứngkiến không ít những vụ lừa đảo, chiếm đoạt tài sản liên quan đến cho vay tiêudùng Rủi ro trong hoạt động cho vay tiêu dùng thường do các ngân hàngthương mại không có đầy đủ và chính xác thông tin về khách hàng của mình.Một yêu cầu được đặt ra là phải có một tổ chức cung cấp những thông tin về

Trang 38

khách hàng tiêu dùng nhằm hỗ trợ ngân hàng hạn chế những rủi ro xảy racũng như đảm bảo sự phát triển an toàn và bền vững của ngân hàng.

Trên thế giới hiện đã tồn tại một hình thức công ty thông tin tín dụngtiêu dùng (Credit Bureau-Viết tắt là CB) CB có chức năng thu thập nhữngthông tin về khách hàng vay thông qua các tổ chức tín dụng, thông qua các cơquan thuế, cơ quan công cộng, toà án…Sau đó họ lập những hồ sơ về từngkhách hàng Các tổ chức tín dụng cung cấp thông tin cá nhân về khách hàng,thông tin một cách chính xác, kịp thời CB hoạt động theo nguyên tắc haichiều, xây dựng trên nguyên tắc ký kết hợ đồng cung cấp và khai thác thôngtin tín dụng giữa CB và các tổ chức tín dụng

CB có nhiều sản phẩm, phụ thuộc vào những thông tin thu thập được vàcác loại hình tín dụng như tín dụng tiêu dùng, tín dụng thương mại, cho vaythế chấp…Những thông tin tín dụng có thể là những thông tin đơn giản như

nợ xấu, vỡ nợ…của khách hàng hay những thông tin chi tiết về tài sản, nguồnvốn,cấu trúc kỳ hạn nợ, phương thức thanh toán, lịch sử của khách hàng.Những thông tin này có ý nghĩa vô cùng quan trọng, nó giúp ngân hàngthương mại có cái nhìn chính xác nhất về khách hàng mà mình sẽ cấp tíndụng

Công tác thu thập, xử lý, cung cấp thông tin ra đối với cá nhân của CBcũng giống như với thông tin tín dụng doanh nghiệp đang được thực hiện tạiCIC, nhưng ở phạm vi và mức độ thấp hơn Những dữ liệu được thu thập từnhiều nguồn thông tin tin cậy khác nhau, thông qua các kỹ thuật xử lý thôngtin hiện đại, công ty thông tin tín dụng tiêu dùng sẽ cung cấp cho ngân hàngthương mại những thông tin có ý nghĩa quyết định đến chất lượng tín dụng.Hiện nay ở các nước có nền kinh tế phát triển luôn tồn tại các công ty thôngtin tín dụng tiêu dùng bên cạnh các ngân hàng thương mại Đặc điểm kháchhàng tiêu dùng của các ngân hàng là qui mô của các khoản vay nhỏ, số lượng

Trang 39

khách hàng lớn, kỹ thuật thu thập, xử lý thông tin phức tạp, mức độ ảnhhưởng, tác động khi có rủi ro xảy ra đến an toàn hệ thống ngân hàng thấp hơnđối với cho vay doanh nghiệp Do vậy tại các nước công ty thông tin tín dụngtiêu dùng thường tồn tại dưới hình thức công ty cổ phần.

Lợi ích của các công ty thông tin tín dụng tiêu dùng đối với các ngânhàng thương mại đã được khẳng định qua thực tế tại các nước có tồn tại loạihình công ty này Một số nước trong khu vực đã phát triển mạnh CB và đã cónhiều đóng góp trong phát triển tín dụng Nó đóng vai trò rất quan trọng trongviệc đảm bảo an toàn cho hoạt động của các tổ chức tín dụng, mang lại lợi íchcho khách hàng và góp phần phát triển kinh tế Sau cuộc khủng hoảng kinh tếChâu Á năm 1997, ngân hàng thế giới (WB) và ngân hàng trung ương của cácnước trong khu vực đãchú trọng đến nghiện cứu và phát triển hệ thống thôngtin tín dụng tiêu dùng, do vậy hiện nay đa số các nước trên thế giới và cácnước trong khu vực đã xây dựng, củng cố, hoàn thiện hệ thống thôn tin tíndụng tiêu dùng Một số nước trongkhu vực đã có công ty thông tin tín dụngtiêu dụng như: Trung Quốc, Nhật Bản, Hồng Kông, Thái Lan, Singapore,Indonexia… Hiện chỉ còn 3 nước trong khu vực Đông Dương là Việt Nam,Lào, Campuchia là chưa có công ty thông tin tín dụng tiêu dùng

2.2.9.2 Việt Nam đã đến lúc cần có công ty thông tin tín dụng tiêu dùng

Tồn tại ở Việt Nam cho đến nay là 15 năm, hệ thống thông tin tín dụngngân hàng đã hoạt động tương đối có hiệu quảvà trật tự.Hệ thống có sự thamgia của 3 nhóm chính là CIC, chi nhánh ngân hàng Nhà nước và các ngânhàng thương mại Hoạt động của hệ thống thông tin tín dụng tại Việt Nam đãthực hiện được 3 nghiệp vụ là: Báo cáo thông tin tín dụng doanh nghiệp, báocáo thông tin tín dụng về cá nhân, xếp loại tín dụng của doanh nghiệp Trong

3 nghiệp vụ trên thì báo cáo thông tin tín dụng cá nhân tuy đã được thực hiệnnhưng quy trình và nội dung khá giống với báo cáo đối với doanh nghiệp,

Trang 40

không có sự tách bạch rõ ràng Điều này làm cho những thông tin tín dụng về

cá nhân thường không chính xác và đầy đủ Hoạt động tín dụng tiêu dùng tạiViệt Nam ra đời sau các nước trên thế giới và hiện nay có nhiều ngân hàngvẫn rất e dè với hình thức tín dụng này Những rủi ro tiềm ẩn của cho vay tiêudùng làm cho các ngân hàng dù muốn mở rộng nhưng vẫn hết sức lo ngại.Yêu cầu về một tổ chức có thể cung cấp cho ngân hàng nhưngc thông tin vềcác khách hàng cá nhân chính xác và đầy đủ để các ngân hàng có thể yên tâmcấp tín dụng tiêu dùng cho khách hàng của mình Việc phân ra một tổ chứcchuyên theo dõi về thông tin tín dụng cá nhân còn giúp cho CIC có điều kiện

để tập trung vào theo dõi thông tin tín dụng của doanh nghiệp, nhằm theo dõirủi ro tín dụng ở tầm ảnh hưởng lớn hơn

Như vậy theo lý luận và thực tế yêu cầu của các ngân hàng thương mại,

đã đến lúc tại Việt Nam hình thành công ty thông tin tín dụng tiêu dùng đểhạn chế những rủi ro trong hệ thống ngân hàng

 Chức năng của công ty thông tin tín dụng tiêu dùng

Thu thập, xử lý và cung cấp thông tin tín dụng tiêu dùng, tín dụng thẻcho các ngân hàng thương mại nhằm ngăn ngừa, hạn chế rủi ro tín dụng tiêudùng, tín dụng thẻ

 Nhiệm vụ

 Làm trung gian phối hợp với các ngân hàng thương mại để xây dựngkho dữ liệu về thông tin cá nhân tiêu dùng, tín dụng thẻ trên lãnh thổ ViệtNam và cùng nhau chia sẻ sử dụng hữu ích kho dữ liệu này

 Tổ chức thu thập thông tin về cá nhân tiêu dùng, tín dụng thẻ từ cácngân hàng thương mại, các thông tin khác có liên quan (như vi phạm thanhtoán, vi phạm sử dụng Sec, liên quan đến tranh chấp, kiện tụng…) từ các cơquan hợp pháp và các phương tiện thông tin đại chúng

Ngày đăng: 29/08/2012, 13:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. PETER S.ROSE. Quản trị ngân hàng thương mại Khác
2. FREDERIC S.MISHKIN. Tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính Khác
4. PGS. TS.PHAN THỊ THU HÀ. Ngân hàng thương mại Khác
5. GS.TS. LÊ VĂN TƯ. Tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính Khác
6. Tạp chí ngân hàng 7. Tạp chí tài chính8. Thời báo kinh tế Khác
9. Tạp chí ngân hàng, thị trường tiền tệ Khác
10. Trang web: www.mekongcapital.com; www.vneconomy.com.vn Khác
11. Báo cáo kết quả kinh doanh của chi nhánh Định Công năm 2004,2005, 2006 Khác
12. Kế hoạch kinh doanh năm 2007 của chi nhánh Định Công Khác
13. Một số nguồn tài liệu khác Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2: cho vay tiêu dùng với các hộ gia đình bằng đồng nội tệ( tỷ) (1) - Giải pháp mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng tại chi nhánh NHN& PTNT Đinh Công.DOC
Bảng 1.2 cho vay tiêu dùng với các hộ gia đình bằng đồng nội tệ( tỷ) (1) (Trang 27)
Bảng 1.3. Mô hình cho điểm tín dụng tiêu dùng - Giải pháp mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng tại chi nhánh NHN& PTNT Đinh Công.DOC
Bảng 1.3. Mô hình cho điểm tín dụng tiêu dùng (Trang 30)
Bảng 2.4. Tình hình huy động vốn qua các năm tại chi nhánh - Giải pháp mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng tại chi nhánh NHN& PTNT Đinh Công.DOC
Bảng 2.4. Tình hình huy động vốn qua các năm tại chi nhánh (Trang 48)
Bảng 2.5: Phân loại dư nợ theo tính chất nguồn vốn - Giải pháp mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng tại chi nhánh NHN& PTNT Đinh Công.DOC
Bảng 2.5 Phân loại dư nợ theo tính chất nguồn vốn (Trang 49)
Bảng 2.6: Phân loại dư nợ theo thành phần kinh tế - Giải pháp mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng tại chi nhánh NHN& PTNT Đinh Công.DOC
Bảng 2.6 Phân loại dư nợ theo thành phần kinh tế (Trang 50)
Bảng 2.7: Kết quả tài chính qua các năm - Giải pháp mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng tại chi nhánh NHN& PTNT Đinh Công.DOC
Bảng 2.7 Kết quả tài chính qua các năm (Trang 51)
Bảng 2.8 : Sự biến động của hoạt động cho vay tiêu dùng qua các năm - Giải pháp mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng tại chi nhánh NHN& PTNT Đinh Công.DOC
Bảng 2.8 Sự biến động của hoạt động cho vay tiêu dùng qua các năm (Trang 53)
Bảng 2.10: Doanh số cho vay tiêu dùng phân theo thời gian - Giải pháp mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng tại chi nhánh NHN& PTNT Đinh Công.DOC
Bảng 2.10 Doanh số cho vay tiêu dùng phân theo thời gian (Trang 57)
Bảng 2.11: So sánh mức tăng trưởng  GDP năm 2004 giữa các nước trong - Giải pháp mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng tại chi nhánh NHN& PTNT Đinh Công.DOC
Bảng 2.11 So sánh mức tăng trưởng GDP năm 2004 giữa các nước trong (Trang 69)
Bảng 3.12: Kế  hoạch huy động vốn năm 2007 - Giải pháp mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng tại chi nhánh NHN& PTNT Đinh Công.DOC
Bảng 3.12 Kế hoạch huy động vốn năm 2007 (Trang 73)
Bảng 3.13: Kế hoạch sử dụng vốn - Giải pháp mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng tại chi nhánh NHN& PTNT Đinh Công.DOC
Bảng 3.13 Kế hoạch sử dụng vốn (Trang 74)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w