Xác định thành phần hoá học của tinh dầu thân rễ cây Nghệ đen ở Đô Lương Nghệ An.. Xác định thành phần hoá học của tinh dầu thân rễ cây Nghệ đen ở Hương Sơn - Hà Tĩnh.. Ở Việt Nam đã có
Trang 1MỤC LỤC
Mục lục
Mở đầu 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
Phần I Tổng quan 3
1.1 Vài nét về đặc điểm thực vật các cây họ gừng
3 1.2 Thực vật học và hoá học chi Curcuma
4 1.2.1 Đặc điểm thực vật và phân loại
4 1.2.2 Thành phần hoá học 5
1.3 Cây Nghệ đen 10
1.3.1 Nghiên cứu về thực vật học 10
1.3.1.1 Hình thái phân bố 10
1.3.1.2 Tác dụng sinh học 11
1.3.2 Nghiên cứu về thành phần hoá học
11 1.4 Các phương pháp tách tinh dầu
17 1.4.1 Yêu cầu 17
1.4.2 Phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước
17 1.4.3 Phương pháp ép
Trang 21.4.4 Phương pháp dùng dung môi để hoà tan
18 1.4.5 Phương pháp ướp 18
1.4.6 Phương pháp lên men
19 1.4.7 Bảo quản tinh dầu 19
1.5 Các phương pháp xác định thành phần hoá học của tinh dầu
19 1.5.1 Phương pháp sắc ký khí 19
1.5.1.1 Bản chất của phương pháp sắc ký khí
19 1.5.1.2 Ưu điểm của phương pháp
21 1.5.2 Phương pháp khối phổ 21
1.5.2.1 Bản chất của phương pháp
21 1.6 Phương pháp thực nghiệm 24
1.6.1 Phương pháp thu hái và bảo quản mẫu cây 24
1.6.2 Phương pháp định lượng tinh dầu
24 1.6.3 Phương pháp xác định thành phần hoá học của tinh dầu 25
Phần II 26
2.1 Hoá chất, dụng cụ, thiết bị máy móc 26
2.1.1 Hoá chất 26
2.1.2 Dụng cụ thiết bị máy móc 26
2.2 Lấy mẫu và bảo quản mẫu cây 26
2.2.1 Cách chọn mẫu và bảo quản 26
Trang 32.3 Thí nghiệm tách tinh dầu 27
2.4 Xác định thành phần hoá học của tinh dầu 28
Phần III 29
Kết quả và thảo luận
29 3.1 Xác định thành phần hoá học của tinh dầu thân rễ cây Nghệ đen ở Đô Lương Nghệ An 29
3.1.1 Nguyên liệu thực vật
29 3.1.2 Xác định thành phần hoá học 29
3.2 Xác định thành phần hoá học của tinh dầu thân rễ cây Nghệ đen
ở Hương Sơn - Hà Tĩnh
33 3.2.1 Nguyên liệu thực vật
33 3.2.2 Xác định thành phần hoá học 33
Kết luận 41
Ý kiến đề xuất 42
Tài liệu tham khảo 43
MỞ ĐẦU 1 Đặt vấn đề Phát triển và khai thác các loài thực vật có giá trị là một trong những vấn đề góp phần xây dựng nền kinh tế nước ta Vì thế các loài cây được sử dụng làm thuốc cũng như loài cây cho tinh dầu đều là những nguồn tài nguyên đang được chú ý vì những ứng dụng vô cùng quý giá của nó trong các lĩnh vực y học, nông nghiệp, công nghiệp
Trang 4Nước Việt Nam chúng ta, với khí hậu nhiệt đới gió mùa, với nhiều vùng địa
lý khác nhau Do vậy mà có hệ thực vật đa dạng và phong phú, có nhiều điều kiện
thuận lợi cho việc phát triển của cây thuốc, cây tinh dầu và một số loại cây công
nghiệp có giá trị khác
Với sự phát triển của khoa học - công nghệ, đời sống con người ngày càng
được nâng cao Nhu cầu đối với tinh dầu để sử dụng cho các nghành công nghiệp
hoá chất, hương liệu, dược phẩm, mỹ phẩm ngày một tăng lên
Theo các công trình nghiên cứu điều tra của các nhà khoa học thì ở Việt Nam
số cây dùng làm thuốc lên tới 1850 loài, phân bố trong 244 họ thực vật, trong đó có
gần 600 loài cây cho tinh dầu 1 Có thể nói rằng phần lớn các cây tinh dầu đã biết
trên thế giới đều có thể tìm thấy ở Việt Nam
Họ gừng (Zingiberaceae) là một trong những họ lớn của thực vật Theo thống
kê thì ở nước ta và các nước Đông Dương họ Zingiberaceae có 24 chi với hơn 115
loài khác nhau, riêng chi Curcuma có 19 loài 4, 5, 27, 28 Tuy nhiên việc
nghiên cứu cơ bản và có tính hệ thống các cây họ gừng ở nước ta hiện nay vẫn còn
rải rác và thiếu tính tập trung Ở Việt Nam đã có 12 loài Curcuma được nghiên cứu
về thành phần hoá học của tinh dầu thân rễ 6, 7, 8, 9, 10, 12, 13, 14,
15, 16, 17, 18, 19, 20, 21
Cây Nghệ đen : Curcuma Zedoaria Rosc thuộc họ gừng (Zingiberaceae)
mọc và trồng khá phổ biến ở nước ta và nhiều nước trên thế giới
Ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về thành phần hoá học của
tinh dầu thân rễ 7, 10 nhưng còn có sự khác nhau nhiều về thành phần và hàm
lượng các chất và việc nghiên cứu còn chưa triệt để
Ở Nghệ An và Hà Tĩnh cây Nghệ đen mọc hoang ở vùng miền núi gần bờ
suối, bãi hoang và cũng được trồng nhiều ở ruộng vườn Nhân dân ta đã biết sử
dụng chúng làm hương liệu gia vị và làm thuốc chữa bệnh, nhưng sự hiểu biết về
thành phần hoá học của cây Nghệ đen ở Nghệ An và Hà Tĩnh thì rất hạn chế Liệu
Trang 5tinh dầu của nó có chứa nhiều zerumbon như ở Bắc Bộ hay chứa nhiều curzeren,
germacron, campho như ở Quảng Bình ?
Xuất phát từ tình hình thực tế trên chúng tôi chọn đề tài " Nghiên cứu thành
phần hoá học tinh dầu cây Nghệ đen (C zedoaria Rosc.) ở Nghệ An và Hà Tĩnh "
2 Mục đích nghiên cứu
- Xác định hàm lượng tinh dầu từ bộ phận thân rễ của cây Nghệ đen
- Xác định thành phần hoá học của tinh dầu Nghệ đen ở những vùng khác
nhau với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng khác nhau Từ đó góp phần tìm kiếm và
phát hiện những hợp chất có giá trị để giới thiệu chúng với tư cách là nguồn nguyên
liệu cho y học, thực phẩm
PHẦN I : TỔNG QUAN 1.1 Vài nét về đặc điểm thực vật các cây họ gừng
Họ Gừng (Zingiberaceae) có nhiều chi và gồm nhiều loài khác nhau phân bố
ở các nước vùng Đông Nam Á, Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản và ở một số nước
thuộc Châu Phi
Ở Việt Nam họ Gừng (Zingiberaceae): theo Lê Khả Kế, Vũ Văn Chuyên và
các cộng sự 11 thì họ Gừng có 8 chi gồm 25 loài khác nhau phân bố rải rác từ Bắc
Trang 6Phạm Hoàng Hộ 4, 5 ; H.lecomte 27 và Pételot 28 có 13 chi với hơn 118 loài
phân bố rải rác ở các nước Đông Dương Trong luận văn này sử dụng chủ yếu vào
tài liệu của Phạm Hoàng Hộ 4, 5 ; H.Lecomte 27 và Pételot 28 vì cách phân
loại mô tả các loài thuộc chi Curcuma đều thống nhất với nhau và tương đối đầy đủ
hơn
Tuy các tài liệu chưa có sự thống nhất với nhau về cách phân loại nhưng về
đặc điểm thực vật các cây họ Gừng, các tài liệu phân loại thực vật đều mô tả thống
nhất như sau :
Các cây họ Gừng thuộc loại thân thảo, sống nhiều năm Thân rễ khoẻ, nạc,
nằm ngang hoặc có đốt ngắn, rễ có khi phình lên thành củ Lá chẻ theo một đường
dọc đối diện với phiến có lưới bẹ hoặc hoàn toàn hình ống hoặc chia thuỳ có hình
lưỡi quay về phía phiến lá Cuống lá ngắn, hình ống con, bao giờ cũng tròn và có
độ vững chắc hơn phần trên Cụm hoa ở ngọn hoặc mọc từ gốc mang trên một trục
không có lá, có khi gần như không có cán Bông hình chuỳ dày đặc hoặc thưa Hoa
thường có mùi và có màu sắc, có khi lớn và đẹp Đài hình ống có khía răng sâu ít
hoặc nhiều, có khi chẻ thành tai Tràng hoa hình ống có 3 thuỳ, thuỳ lưng thường
lớn hơn Bao phấn duy nhất nằm dưới thuỳ sau của tràng hoa Trung đới rất nổi
bật, không có phần phụ hoặc với một cái mào ở đỉnh, có cựa ở gốc, có khi dạng
cánh hoa tương tự như một bản mỏng trên đó gắn các ô phấn Nhị lép 2, bầu hạ 3 ô,
có 3
giá noãn bên hoặc 1 ô có giá noãn bên, vòi độc nhất hình sợi đi giữa các ô của bao
phấn đầu nhụy hình phễu Quả nang hoặc quả nạc có khi không mở 11
Hầu hết các cây họ gừng đều chứa tinh dầu, gần đây số chi họ Zingiberaceae
ở Việt Nam đã được nghiên cứu nhiều như Amomum, Zingiber, Alpinia, Curcuma,
Kaempferia
1.2 Thực vật học và hoá học chi Curcuma
1.2.1 Đặc điểm thực vật và phân loại
Trang 7Theo các tài liệu 4, 5, 11, 26, 27, 28 thì ở Việt Nam và các nước
Đông Dương, chi Curcuma ( Nghệ ) có các loài sau:
1 Curcuma aeruginosa Roxb (Nghệ xanh ở Bắc Bộ)
Trong y học dân gian, thân rễ C aeruginosa Roxb dùng để chữa đau bụng
tả, đau dạ dày, phụ nữ sau khi sinh nở
2 Curcuma alismatifolia Gagnep (Nghệ lá từ cô)
3 Curcuma angustifolia Roxb (Nghệ lá hẹp)
4 Curcuma aromatica Salisb (Nghệ trắng)
Trong dân gian, thân rễ C aromatica Salisb được dùng phối hợp với các loại
Nghệ khác làm thuốc điều kinh, chữa tê thấp Thường được ngâm trong rượu cùng
với một số loại Nghệ khác để xoa bóp chữa thấp khớp
5 Curcuma cochinchinenis Gagnep (Nghệ Nam bộ)
6 Curcuma domestica Valet (Curcuma Longa Linn., Nghệ nhà)
Thân rễ C domestica Valet được dân gian sử dụng để chữa lành vết sẹo,
giúp đâm da non, bổ huyết cho phụ nữ sau khi sinh nở, chữa đau dạ dày
7 Curcuma elata Roxb (Mì tinh rừng)
8 Curcuma gracillima Gagnep (Nghệ mảnh)
9 Curcuma harmandii Gagnep
10 Curcuma parviflora Wall (Nghệ hoa nhỏ)
11 Curcuma pierreana Gagnep (Bình tinh chét, mì tinh Tàu)
12 Curcuma rubens Roxb (Ngải tía)
13 Curcuma singularis Gagnep
14 Curcuma sparganifolia Gagnep
Loại cây này là một vị thuốc chống lạnh đột ngột Đun với một nửa nước và
một nửa rượu và dùng như một thức uống
15 Curcuma stenochila Gagnep
Trang 818 Curcuma xanthorhiza Roxb (Nghệ rễ vàng)
19 Curcuma zedoaria Roxb (Tam nại, Nga truật, Nghệ đen)
Các cây của chi Nghệ thuộc loại cỏ không cao mấy, ít khi đến 2 m, thân rễ
khoẻ, nạc, phân nhánh thịt thường có màu, các củ treo ở đầu ngọn rễ, đôi khi thân
yếu không có củ phồng ở đầu Lá hình dải, hình mũi mác hay hình trái xoan mọc
đồng thời với hoa hoặc sau hoa Cán hoa có lá ở gốc hoặc riêng biệt với thân mang
lá; bông thường hình trụ với một cái chỏm có màu đôi khi thưa; hoặc hình trứng,
không chỏm; các lá bắc ít, hơi xanh lục hoặc có màu, ít khi dính liền nhau thành
những cái túi; hoa mau tàn; màu vàng hay màu hồng, nhiều khi tụt vào trong các lá
bắc Đài hình ống có răng Tràng có ống ngắn; các thuỳ gần bằng nhau, thuỳ lưng
rộng hơn Bao phấn có ô song song đôi khi nhọn ở gốc, chung đới có mào nhỏ,có
phần phụ ở gốc hình của nhủ màng, ít khi không có, chỉ nhị ngắn và rộng gần hình
cánh hoa Nhị lép hình cánh hoa to gần bằng cánh môi nhiều khi liền nhau ở gốc
chỉ nhị Cánh môi thường rộng và ngắn Bầu 3 ô Noãn trên nhiều dãy đính ở góc
các ô; nhuỵ lép 2 cái hình trụ hay hình dùi hiếm hoặc không có; vòi nhụy hình sợi
chỉ, núm nhụy hình nón Quả nang có vỏ quả mỏng; nhiều hạt có áo hạt Chi khó và
ít được biết trong các phòng mẫu cây khô; nhiều khi các hoa không được mô tả đầy
đủ 4, 5, 11,27, 28
1.2.2 Thành phần hoá học
Ở nước ta hiện nay có 12 loài Nghệ được nghiên cứu về thành phần hoá học
tinh dầu thân rễ đó là: C aeruginosa Roxb.; C aromatica Salisb.; C elata Roxb.;
C.pierreana Gagnep.; C domestica Valet.; C harmandi Gagnep.; C trichosantha
Gagnep.; C aff Rubens Roxb.; C angustifolia Roxb.; C cochinchinensis Gagnep.;
C zedoaria Rosc.; C sp
Thành phần hoá học tinh dầu thân rễ Nghệ xanh (C aeuginosa Roxb.) ở Việt
Nam được phân tích kết hợp GC và GC/MS với kết quả hơn 24 chất đã xác định
gồm : -pinen; 1,8-xineol, campho, -elemen, -zingiberen Tinh dầu thân rễ
Trang 9Nghệ xanh ở Inđônêsia được xác định có chứa các hợp chất chính sau:
isocurcumenol (8,5%), -eudesmol (6,5%), curdion (3,6%), curcumenol (9,9%),
curcumanolid A và B (11,4%), dehydro-curdion (9,4%) và curcumol (1,9%) 26
C amada Roxb còn gọi là gừng xoài hoặc Amalhadi theo tiếng Hindi Là một loài
cây mọc hoang và cũng được trồng ở Ấn Độ Thân rễ có mùi thơm như xoài non,
được dùng để làm gia vị, chữa trị đầy hơi, kích thích tiêu hoá, ngoài ra còn được
dùng để chữa các vết bầm tím bong gân
Năm 1989, phân tích kết hợp GC/MS, Alpatile Srinivasa Rao, Bandaru
Rajanikanth và Ramachandran Seshadri đã khảo sát lại thành phần bay hơi của tinh
dầu thân rễ C amada Roxb., kết quả cho thấy tinh dầu này gồm 68 hợp chất Ngoài
những chất đã biết như cis-oximen 1,85%, trans-oximen 0,64%, linalol và
curcumen Một số sesquiterpen chính đã được tìm thấy trong tinh dầu này như :
-và -elemen; - và -curcumen; -selinen ; - copaen; bisabolen; -zingiberen;
ar- turmeron; curzerenon và epi- curzerenon Đây cũng chính là những cấu tử trong
tinh dầu nghệ C zedoaria Rosc., thành phần chính của tinh dầu thân rễ C amada
Roxb gồm cis-dihydrooximen 14,22%; myrxen 14,90%; trans-dihydrooximen
15,94%; linalol 13,37%; nonan- 2- on 5,38% và -terpineol 1,48% Như vậy mùi
của C amada Roxb là do hỗn hợp các mùi thơm đặc trưng của xoài non và nghệ
Nghệ trắng (C aromatica Salisb.) còn gọi là Nghệ hoang Ở Ấn Độ được
trồng làm thuốc nhuộm, mỹ phẩm và cũng được dùng làm thuốc bổ Ở Việt Nam
thân rễ Nghệ trắng được phối hợp với các loại Nghệ khác để chữa tê thấp, thuốc
điều kinh Ở Nhật Bản được dùng làm thuốc sắc để tăng sự tiết mật và kích thích
tiêu hoá Từ tinh dầu thân rễ nghệ trắng đã xác định được một số cấu tử chính như :
d-camphen (0,8%), d-campho (2,5%), sesquiterpen ancol (22,0%), axit
p-metoxy-xinnamic
Theo Phan Tống Sơn và các cộng sự thì ở Việt Nam thành phần chính của
Trang 10humulen , - elemen đặc biệt là curzerenon (38,78%) và germa - 1(10), 4,7(11) -
trien-8-on (11,22%) 14 Cũng theo Phan Tống Sơn thì dịch chiết ete dầu hoả từ
C aromatica Salisb có khả năng kháng 2 loại khuẩn Samonella typhi và Candida
albicans , trong khi dịch chiết từ etyl axetat có khả năng kháng nhiều loại vi khuẩn
và nấm như Bacillus cereus, Bacillus pumillus, Proteus mirabilis, Staphylococcus
aueus, Samonella typhi và Candida albicans 9
Tinh dầu bay hơi của C cochinchinensis Gagnep thu được bằng chưng cất
và được phân tích thành phần bằng GC/MS đã xác định được hơn 45 chất trong tinh
dầu lá với thành phần chính là curdion (33,9%) và 1,8-xineol (26,3%) 19
Tinh dầu bay hơi của C harmandi Gagnep thu được bằng chưng chất và
được xác định bởi HRGC và GC/MS có thành phần chính trong tinh dầu thân rễ là
1,8-xineol (4,5%); germacron (20,5%); isocurcumol (13,4%) Thành phần chính
trong tinh dầu hoa là curdion (27,0%) 20
Nghệ nhà ( C longa Linn ) đã được nghiên cứu rất sớm, vì đây là một loại
gia vị quen thuộc đối với các dân tộc ở châu Á nói chung và Ấn Độ nói riêng
C longa Linn còn được dùng làm thuốc chữa dạ dày, bổ máu, chống nhiễm khuẩn
Một số thành phần được dùng làm mỹ phẫm, điều chế các thuốc tránh nhiễm trùng
da, màu vàng của thân rễ được dùng làm chất màu trong thực phẩm và dược phẩm
Tinh dầu thân rễ C longa Linn ở Ấn Độ gồm các chất chính sau: xineol,
zingiberen, bisabolen, -phelandren, ar-turmeron và turmeron
Tinh dầu thân rễ C longa Linn ở Việt Nam gồm các chất tương tự
zingiberen, -sesquiphelladren, arcurcumen, curzerenon, đăc biệt các chất có tỷ lệ
lớn là -turmeron (30%), -turmeron (10%) và ar-turmeron (40%)
Năm 1992, Golding và Pombo-Villar đã khảo sát cấu trúc của - và -
turmeron bằng phổ 1H-NMR và đã chứng minh cấu trúc của chúng:
* - turmeron = ( 1' R,6S )-2-metyl-6-(4-metylxyclohexa-2,4-dienyl ) hept-
2- en- 4- on
Trang 11Curcuma wenyujin là loài Nghệ được trồng làm thuốc ở Trung Quốc, tinh
dầu thân rễ loài Nghệ này được phối hợp để chữa ung thư tử cung 22 Từ thân rễ
khô C wenyujin đã phân lập được hai hợp chất là curdion và sesquiterpen
Trang 12Theo Nguyễn Thị Bích Tuyết và các cộng sự thì thành phần hoá học tinh dầu
thân rễ Nghệ hoang ở Đắc Lắc (Curcuma sp.) gồm: 1,8-xineol (16,88%);
curzerenon (13,44%); germacron (6,01%); curdion (32,05%) 10 Đây là loài Nghệ
được tìm thấy lần đầu tiên ở Việt Nam
Qua một số tư liệu thu thập được, có thể nhận xét rằng một số hợp chất
thường gặp phổ biến trong các loài Nghệ với tỷ lệ thành phần thay đổi tuỳ theo
từng loại Nghệ Ví dụ curzeron, curdion, curcumol, curlon, turmeron, curcumen,
elemen, furanodien, furanodienon, curzeren, caryophylen Ngoài ra có một số
cấu tử riêng đặc trưng cho thành phần hoá học tinh dầu thân rễ từng loài Nghệ
C amada Roxb đặc trưng bởi dihydro-oximen và myrxen
C aromatica Salisb đặc trưng bởi curzerenon
C cochinchinensis Gagnep đặc trưng bởi -elemon, germacron và curdion
C harmandi Gagnep đặc trưng bởi germacron và isocurmenol
C longa Linn đặc trưng bởi ar-turmeron
C trichosantha Gagnep đặc trưng bởi curdion
C wenyujin đặc trưng bởi curdion
Tuy nhiên tinh dầu thân rễ Nghệ đen ( C zedoaria Rosc.) lại thay đổi nhiều
theo điều kiện địa lý Đặc trưng cho tinh dầu thân rễ C zedoaria Rosc ở Trung
Quốc là furanogermenon, C zedoaria Rosc ở Đài Loan đặc trưng bởi curcumenol
và ở tinh dầu thân rễ C zedoaria Rosc ở Nhật Bản, cấu tử chính là
dehydrocurdion Riêng ở Việt Nam thì ở Bắc Bộ cấu tử đặc trưng là zerumbon, ở
Quảng Bình thì cấu tử chính là curzeren, campho, germacron
Nhìn chung tinh dầu các loài Curcuma ( Nghệ ) đều có chứa ít nhiều các
monoterpen tương tự như trong tinh dầu các loài thuộc họ Gừng (Zingiberaceae)
nói chung chẳng hạn 1,8-xineol, isoborneol, campho cũng như một số
sesquiterpen như elemen, humulen, farnesen Nhưng có thể nói thành phần đặc
trưng cho tinh dầu các loài Nghệ là các secquitecpen như curzeren, germacron,
Trang 13curdion hoặc một số cấu tử chứa bộ khung bisabolan như curcumol, curcumenol,
-turmeron, -turmeron và ar-urmeron
1.3 Cây Nghệ đen
Cây Nghệ đen còn được gọi là ngải tím, tam nại, bồng truật, nga truật Nga
truật (Rhizma zedoaria) là thân rễ phơi khô của cây ngải tím Curcuma zedoaria
Nghệ đen là một loài cỏ cao 1- 1,5 m, có thân rễ hình nón, củ toả ra theo hình
chân vịt Dọc theo gân chính lá có bớt hẹp màu đỏ tím, khi lá già màu đỏ tím phai
dần Ra hoa vào tháng 5 - 6, xuất hiện trước khi ra lá Các lá hoa dưới màu xanh
lục, chót màu hồng tía, các lá hoa trên màu hồng tía tạo thành bờm Cánh hoa màu
vàng, cánh môi vàng đầu chẻ
Trang 14Hình 1 Ảnh cây Nghệ đen
Cây Nghệ đen mọc hoang và được trồng ở Việt Nam để làm thuốc Ngoài ra
còn có ở Trung Quốc (đặc biệt là các tỉnh nằm gần Việt Nam), Xrilanca và những
nước nhiệt đới khác
1.3.1.2 Tác dụng sinh học
Bộ phận dùng để chữa bệnh là thân rễ (củ) tươi hay khô
Củ có vỏ ngoài màu vàng nâu trong xanh sẫm Thu hái vào tháng 11, 12 loại
bỏ thân cây và lá, phơi khô hoặc sấy khô sau đó đem sử dụng
Tác dụng của cây Nghệ đen trong y học dân tộc là làm thuốc giúp tiêu hoá,
điều kinh, chữa đau bụng, ăn uống không tiêu hoá, ho, bế kinh, kinh nguyệt không
đều, chữa bệnh ngoài da và khích dục
1.3.2 Nghiên cứu về thành phần hoá học
Theo Đỗ Tất Lợi thân rễ C zedoaria Rosc chứa tinh dầu gồm - pinen,
d- camphen, xineol, d- campho, d- borneol, secquiterpen ancol zingiberen Tinh dầu
màu vàng, xanh nhạt, sáng, tỷ trọng 0,982, mùi gần như mùi long não Ngoài tinh
dầu còn chứa chất nhầy, chất nhựa
Kết quả nghiên cứu tinh dầu thân rễ khô C zedoaria Rosc ở Ấn Độ cho thấy
thành phần chính là: -pinen (1,5%), d- camphen (3,5%), cineol (9,6%), d- campho
(4,2%); d- borneol (1,5%), secquitecpen (10%), secquitecpen ancol ( 48% )
Trang 15Hikino đã có nhiều nghiên cứu sâu về loài Nghệ này
Năm 1966, Hikino đã tách được từ thân rễ C zedoaria Rosc một
secquitecpenoit xeto - dioxit mới C15H18O3 gọi là zederon 23
O
O O
Me Me
CH3
Curcolon
Ngoài ra cũng tách được một sesquiterpen khác là furanodien
Trang 16Năm 1968, tiếp tục công trình của mình Hikino và cộng sự đã tách được 3
secquitecpen mới có chứa nhân furan là curzerenon, epicurzerenon và
izofuragermacren, ông cũng nghiên cứu qúa trình chuyển hoá của curzerenon Tất
cả các cấu trúc này được xác định bằng UV, IR và các dữ kiện hoá học
Năm 1974, thân rễ khô C zedoaria Rosc được H.Hikino chiết với metanol
Phần hoà tan trong ete dầu hoả được sắc ký trên bản nhôm và rửa giải trên
* Tiếp tục rửa giải với dung môi trên và kết tinh lại trong ete dầu hoả cho
izofuranodienon và sau đó cho furanodienon
Hikino đã phân tích cấu trúc, cấu hình, cấu dạng và chuyển hoá của 5
sesquiterpenoid có trong C zedoaria Rosc gồm: furadenon, izofuradienon,
curzerenon, epicurzerenon và pyrocurzerenon 25
Curzerenon và epicurzerenon có cấu trúc tương tự nhau
+ Curzerenon: 6,7-dihydro-5-izopropenyl-3,6 -dimetyl-6-
+ Epicurzerenon: 6, 7- dihydro- 5 - izopropenyl- 3,6 - dimetyl- 6-
vinylbenzofuran- 4(5H)- on
Trang 17Dựa trên những dữ kiện thực nghiệm đã kết luận được rằng izofuranodienon
có cấu tạo (1E,4Z)- 8,12 - epoxygermacran- 1(10), 4, 7, 11- tetraen- 6- on 25
O
O
Me Me Me
Iso furanodienon
Một số hợp chất khác cũng được tìm thấy trong thân rễ C.zedoaria Rosc là :
furanodien, curzeren, curcumol, curdion
Me
MeO
CH3
CH3O
Curdion
H
OH O
Me
CH2
Curcum ol
Trang 18Curcumol cũng là một trong hai thành phần chính của tinh dầu Nghệ C
wenyujin ở Trung Quốc, được Harimaya khảo sát về hoá lập thể cũng như xác định
cấu trúc bởi tia X Curdiol cũng có trong C aromatica Salisb và cũng là thành
phần chính của tinh dầu C wenyujin ở Trung Quốc
Năm 1986, Hirotaka-Shibuya đã phân tích thành phần tinh dầu C zedoaria
Rosc ở Trung Quốc, Đài Loan và Nhật Bản bởi phương pháp GC và GC/MS bằng
cách sử dụng 9 secquitecpen làm chất chuẩn Tinh dầu thu được từ bột khô và được
chiết bằng dung môi Thành phàn chính các secquitecpen ở mỗi tinh dầu được xác
định bằng phương pháp phân tích định lượng cho thấy thành phần chính trong thân
rễ C zedoaria Rosc ở Trung Quốc là furanogermenon, trong thân rễ C zedoaria
Rosc ở Đài Loan là curcumenol và trong thân rễ C zedoaria Rosc ở Nhật Bản là
dehydrocurdion
Năm 1987, Hirotaka tiếp tục công trình về C zedoaria Rosc ông đã khảo sát
lại cấu trúc của zederon, một secquitecpen loại furanogermacren được phân lập từ
C zedoaria Rosc trước đây đã công bố cấu trúc trên cơ sở phổ NOE khi nghiên
cứu phổ 1
H - NMR ở 500 MHz và cấu hình tuyệt đối được xác định bởi phân tích
tia X
Năm 1993 theo công bố của Zhu Liangfeng, Li Yonghua và cộng sự cho thấy
thành phần hoá học của tinh dầu thân rễ C zedoaria Rosc ở Trung Quốc gồm các
cấu tử chính sau: 1,8-xineol (5,83%); campho (10,6%); izoborneol (4,54%);
borneol (2,53%); -caryophylen (2,84%); curzerenon (2,79%); curcumenol
(5,94%) và germacron (8,33%)
Ở Việt Nam năm 1997, theo các tác giả Phan Tống Sơn, Phan Minh Giang,
Văn Ngọc Hướng, thành phần chính trong tinh dầu thân rễ Nghệ đen - C zedoaria
Rosc thu được tại Sóc Sơn - Hà Nội là zerumbon với hàm lượng tới (79,08%) 6
Năm 1998 các tác giả trên đã tiếp tục công bố kết quả nghiên cứu thành phần hoá
học phần dịch chiết của thân rễ Nghệ đen (C zedoaria Rosc.) gồm một số
Trang 19secquitecpen: furanodien, furanodienon, curzerenon, (E,E)-germacron, curcumenon
và zederon được xác định bằng các phương pháp MS và NMR 8
Năm 2001, theo Nguyễn Thị Bích Tuyết hàm lượng tinh dầu thân rễ Nghệ
đen (C zedoaria Roxb ) ở Quảng Bình là (0,4%|) 10 và thành phần hoá học được
Trang 20- Phải khai thác triệt để tinh dầu trong nguyên liệu với thời gian ngắn, chi phí
đầu tư ít và hiệu quả cao
- Kỹ thuật phải thuận tiện, nhanh chóng và có tính khả thi
1.4.2 Phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước
Tuỳ thuộc vào nguyên liệu, có thể để nguyên hay cắt nhỏ vừa phải, cho vào
nồi cất Sau đó cho chạy qua nguyên liệu một luồng hơi nước hoặc cho nguyên liệu
trực tiếp vào nước rồi đun sôi, hơi nước và hơi tinh dầu được kéo sang bình làm
lạnh, đọng lại thành chất lỏng Chỉ một phần rất ít tinh dầu tan trong nước, số còn
lại thường nhẹ hơn nước nổi lên trên mặt nước ( chỉ một số tinh dầu nặng hơn nước
chìm xuống dưới nước) Để lấy hết tinh dầu người ta cho thêm vào phần cất được
một ít muối ăn để tỷ trọng của nước tăng lên làm cho tinh dầu nổi lên trên nhiều
hơn hoặc người ta có thể dùng một dung môi dễ bay hơi (ete, pentan ) để chiết
rồi bốc hơi hay cất tách dung môi
- Ưu điểm của phương pháp : Tiết kiệm, được áp dụng trong sản xuất công
nghiệp
- Nhược điểm : Không thể áp dụng được đối với tinh dầu bị sức nóng phá
huỷ hay làm thay đổi tính chất
1.4.3 Phương pháp ép
Trang 21Đối với một số vỏ quả như vỏ chanh, vỏ quýt, vỏ cam người ta hay dùng
phương pháp ép vỏ tươi Thường người ta có thể tiến hành bằng tay nhưng có thế
dùng bằng máy, tinh dầu khi mới ép bị đục dần dần sẽ trong trở lại
- Ưu điểm : Phương pháp này tương đối đơn giản, thành phần hoá học của
tinh dầu ít thay đổi do hiện tượng ete hoá, xà phòng hoá, tecpen hoá trong quá
trình cất
- Nhược điểm : Không lấy kiệt được tinh dầu, tinh dầu bị vẫn đục phải tinh
chế lại, thường tinh dầu bị lẫn nhiều chất nhầy, những mô và tạp chất khác
1.4.4 Phương pháp dùng dung môi để hoà tan
Những dung môi sử dụng là dung môi hữu cơ dễ bay hơi hoặc không bay hơi
.Dung môi bay hơi thường là ete dầu hoả, sunfuacacbon, tetracloruacacbon, cồn ;
dung môi không bay hơi là hỗn hợp mỡ bò và mỡ lợn hoặc một chất béo khác Có
thể hoà tan nóng hoặc nguội
Hoà tan nóng : Cho nguyên liệu vào chất béo ở nhiệt độ 50 - 550C quấy liên
tục trong thời gian 1 - 2 ngày đến khi tinh dầu tan hết vào chất béo Lấy nguyên
liệu cũ ra cho nguyên liệu mới vào, cứ tiếp tục làm như vậy cho đến khi chất béo no
tinh dầu thì thôi Chất béo no tinh dầu có thể đưa dùng thẳng hoặc dùng một dung
môi nữa như cồn cao độ để chiết lấy tinh dầu
Hoà tan nguội : Tiến hành ở nhiệt độ thường, cũng như trên Mùi thơm của
tinh dầu chế biến bằng phương pháp này có mùi thơm của tinh dầu thiên nhiên
1.4.5 Phương pháp ướp
Thường áp dụng với những bộ phận tế nhị của cây như hoa Trong thời gian
ướp, hoa vẫn sống tươi và tiếp tục sản xuất thêm tinh dầu vì trong hoa có một thứ
men có tác dụng phân ly các hợp chất tiền thể của tinh dầu Người ta dùng mỡ để
ướp hoa Sau đó dầu mỡ này được dùng thẳng hay chiết lại bằng cồn tuyệt đối, sau
đó cất thu hồi cồn trong chân không ở nhiệt độ 00
C
Trang 22Phương pháp này được dùng đối với các loại nguyên liệu tinh dầu bình
thường, không ở trạng thái tự do mà ở trạng thái liên kết glucozit Để tách tinh dầu
ở trạng thái kết hợp cần phải xử lý sơ bộ bằng phương pháp lên men hoặc cho loại
enzim vào, sau đó mới dùng phương pháp thông thường để lấy tinh dầu ở dạng tự
do như chưng, chiết ( với cùng một nguyên liệu nếu dùng phương pháp tinh chế
tinh dầu khác nhau sẽ thu được tinh dầu có thành phần khác nhau )
Tinh dầu chế được cần được tinh chế bằng cất phân đoạn hoặc bằng phương
pháp hoá học để loại những thành phần khó chịu ( amin, furfural ), chất gây kích
ứng ( andehit .) Đôi khi người ta loại các hợp chất tecpen ( tinh dầu loại tecpen )
vì đó là những chất không no, khó bảo quản và gây kích ứng đối với da
1.4.7 Bảo quản tinh dầu
Sự biến chất của tinh dầu là do tinh dầu bị ôxy hoá thành chất nhựa, do sự
thuỷ phân các ete và do tác dụng giữa những chất khác nhau Những biến đổi này
thường xảy ra ở nhiệt cao, hơi nước, nước, ánh sáng và không khí Vì vậy tinh dầu
cần phải loại hết nước bảo quản nơi mát, tối, trong những chai, lọ, bình thuỷ tinh
vừa phải, miệng nhỏ, thuỷ tinh màu vàng
1.5 Các phương pháp xác định thành phần hoá học của tinh dầu
1.5.1 Phương pháp sắc ký khí
Phương pháp sắc ký khí là một phương pháp tách hiện đại, có hiệu lực cao đã
ứng dụng vào hầu hết các lĩnh vực nghiên cứu khoa học cũng như đời sống sản
xuất Trong hoá học hữu cơ có khoảng 80 % các hợp chất được phân tích bằng sắc
ký khí
1.5.1.1 Bản chất của phương pháp sắc ký khí
Sắc ký khí là một quá trình dựa trên cơ sở của sự chuyển dịch một lớp gián
đoạn chất dọc lớp chất hấp phụ trong một dòng pha động và liên hệ với sự lặp lại
nhiều lần các giai đoạn hấp phụ và giải hấp phụ Quá trình sắc ký xảy ra khi có sự
phân bố hấp chất giữa hai pha trong đó một pha chuyển dịch so với pha kia
Trang 23hai pha Một pha gọi là pha tĩnh có bề mặt tiếp xúc rộng, pha kia gọi là pha động là
chất khí di chuyển qua pha tĩnh
Chất thử có thể là chất khí, lỏng hoặc rắn được chuyển thành thể bay hơi và
nhờ một luồng khí trơ làm chất mang, dẫn qua pha tĩnh Nếu pha tĩnh là một chất
rắn gọi là sắc ký khí - rắn Nếu pha tĩnh là một chất lỏng gọi là sắc ký khí - lỏng
Khi đưa vào cột một hỗn hợp chất nào đó, muốn đạt được mức độ tách hoàn
toàn, trước hết bề mặt tiếp xúc giữa hai pha phải lớn, bề dày lớp tiếp xúc giữa hai
pha phải đủ nhỏ ( vì quá trình khuyếch tán chất sẽ làm giảm hiệu quả tách ) và sau
cùng là sự chuyển dịch có hướng của một pha ( pha động ) với pha kia ( pha tĩnh )
như thế nào đó để mỗi cấu tử trong hỗn hợp được phân bố giữa hai pha phù hợp với
tính chất hấp phụ hoặc hoà tan của nó
Vì pha động chuyển dịch liên tục nên ngoài nhiệm vụ đưa các chất lên bề
mặt, pha tĩnh nó cần có nhiệm vụ tiếp nhận các phân tử chất phân tích đã hấp phụ
trước đó bị giải hấp phụ tới tương tác với phần khác của bề mặt pha tĩnh Nói cách
khác đó là quá trình chuyển từ đĩa lý thuyết này tới đĩa lý thuyết khác mà ở đó tồn
tại cân bằng nhiệt
Quá trình chuyển chất lên đĩa diễn ra liên tục giữa pha tĩnh và pha động,
chuyển dịch từ đầu cột đến cuối cột dẫn tới sự phân vùng riêng biệt các chất trong
Trang 24Hình 2 Mô tả quá trình tách chất trên cột sắc ký khí
1.5.1.2 Ưu điểm của phương pháp
Phương pháp sắc ký khí dùng để tách các hợp chất có thể bay hơi ở nhiệt độ
cao mà không bị phân huỷ Kết quả phân tích sắc ký khí có thể cung cấp nhiều kết
luận bổ ích về cấu trúc của các hợp chất
Phương pháp sắc ký khí cho phép phân tích định tính và định lượng nhanh
chóng các thành phần cũng như thực hiện việc tách điều chế các hỗn hợp chất
Khả năng tách của phương pháp sắc ký khí tốt, nhanh nó có thể tách nhiều
hỗn hợp mà các kỹ thuật khác (sắc ký cột, sắc ký lớp mỏng, cất phân đoạn ) không
giải quyết được
Kỹ thuật tương đối đơn giản dễ vận hành, cho kết quả nhanh Độ nhạy của
sắc ký khí cao Các máy thông thường có thể xác định được đến 0,01% chất thử