Người ta đã dùng vi tảo như là một biện pháp sinh học chống ô nhiễm môi trường nước, bởi lẽ chúng có khả năng làm tăng hàm lượng ôxi trong nước đồng thời sử dụng các chất gây ô nhiễm để
Trang 1Luận văn tốt nghiệp Sinh học
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình hoàn thành đề tài này, ngoài sự học tập và nổ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy giáo : TS Nguyễn Đình San, thầy đã tận tình giúp đỡ tôi tận tình trong suốt thời gian qua
Ngoài ra tôi còn nhận được sự giúp đỡ của thầy giáo Th.S Mai Văn Chung, các thầy giáo , cô giáo,cán bộ , kỹ thuật viên phòng thí nghiệm bộ môn sinh lý-sinh hoá và phòng thí nghiệm thực vật
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó
Tác giả
Trang 2Luận văn tốt nghiệp Sinh học
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1- Tình hình nghiên cứu tảo silic trên thế giới và ở Việt Nam
1.2- Vai trò của các yếu tố sinh thái, ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của tảo
CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1- Đối tượng và địa điểm nghiên cứu
2.2- Phương pháp nghiên cứu
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1- Một vài đặc điểm về địa điểm nghiên cứu
3.2- Kết quả phân tích một số chỉ tiêu thuỷ lý- thuỷ hoá của đầm 3.3- Thành phần loài và số lượng tảo silic trong mối quan hệ với môi trường sống
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 3Luận văn tốt nghiệp Sinh học
MỞ ĐẦU
Vi tảo ( micro – algae ) là những cơ thể thuộc các tế bào tự dưỡng,
đã từ lâu có ý nghĩa lớn trong nền kinh tế quốc dân, vì thế đã thu hút được
sự quan tâm của nhiều nhà khoa học Người ta đã dùng vi tảo như là một biện pháp sinh học chống ô nhiễm môi trường nước, bởi lẽ chúng có khả năng làm tăng hàm lượng ôxi trong nước đồng thời sử dụng các chất gây ô nhiễm để dinh dưỡng hoặc tiết ra các chất hạn chế sự phát triển của các loài
vi sinh vật gây bệnh trong nước Ngoài ra vi tảo cùng với các sản phẩm có hoạt tính sinh học của chúng đã được sử dụng rộng rãi trong các nghành y học, chăn nuôi và trồng trọt……
Tảo Silic ( Bacillariophyta ) là một nghành thực vật bậc thấp, cơ thể
có cấu trúc đơn bào có khả năng quang hợp, chúng sống đơn độc hoặc sống thành tập đoàn thành phần loài tảo Silic rất phong phú, trên thế giới có khoảng 10.000 loài hiện sống, thuộc 300 chi Chúng phân bố khắp nơi, gặp trong đất, đá ẩm, băng tuyết, trong các loại hình thuỷ vực, từ vùng khí hậu hàn đới đến khí hậu nhiệt đới
Tảo Silic phù du là thành phần chính của thực vật phù du nước, nhất
là ở biển Là mắt xích đầu tiên của mạng lưới dinh dưỡng, chúng là một trong những sinh vật sản xuất quan trọng bậc nhất trong hệ sinh thái nước Nhiều loài động vật phù du, ấu trùng, động vật thân mềm ăn lọc, các loài cá bột và ở nhiều loài cá trưởng thành đã sử dụng trực tiếp hay gián tiếp tảo Silic phù du như là một nguồn thưc ăn cần thiết, không thể thay thế
Tảo sillic không những chiếm ưu thế về thành phần loài trong thực vật phù du ở biển mà còn đứng đầu về số lượng và sinh vật lượng, thường khoảng 60 – 70 % đặc biệt ở vùng ven bờ tảo Silic luôn chiếm vị trí tuyệt đối ( có nơi tới 84% về số loài, 99% về sinh vật lượng ) [1] Tảo Silic
Trang 4Luận văn tốt nghiệp Sinh học
sống con người, nhưng nếu thiếu chúng sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới sự sinh trưởng, phát triển của nguồn lợi hải sản Trong môi trường nước, các yếu tố của môi trường sống ảnh hưởng sâu sắc tới sự biến động thành phần loài cũng như sự phân bố của chúng
Tảo Silic có ý nghĩa lớn đối với nghề nuôi trồng thuỷ sản đặc biệt là nuôi tôm.Tuy vậy các công trình nghiên cứu về tảo Silic ở nước ta chưa được quan tâm nhiều, đặc biệt trong các đầm nuôi tôm thì càng ít ỏi Để có thể tìm hiểu về tảo Sillic và ảnh hưởng của điều kiện môi trường lên sự phân bố của chúng trong các đầm nuôi tôm, chúng tôi đã tiến hành đề tài:
“ Tìm hiểu chất lượng nước và tảo Silic ( Bacillariophyta ) tại một số đầm nuôi tôm ở Xã Hưng Hoà - Thành Phố Vinh – Tỉnh Nghệ An ”
Đề tài nhằm mục đích điều tra thành phần loài tảo Silic và mối quan
hệ với chất lượng nước trong đầm nuôi tôm qua đó góp thêm dẫn luận về tảo siic và bước đầu làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học
Nội dung của đề tài bao gồm:
- Xác định một số chỉ tiêu thuỷ lý thuỷ hoá trong đầm nuôi tôm ở Xã Hưng Hoà
- Điều tra thành phần loài và số lượng tảo silic tại điểm nuôi tôm
- Xác định mối quan hệ giữa chất lượng nước với thành phần loài và số lượng tảo silic
Trang 5Luận văn tốt nghiệp Sinh học
CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tình hình nghiên cứu tảo Silic trên thế giới và ở Việt Nam
Thực vật phù du nói chung và tảo Silic nói riêng là mồi ăn của động vật phù du, các loại ấu trùng các loại thân mềm ăn lọc, các loài cá bột và một số loài cá trưởng thành Chúng là mắt xích rất quan trọng trong chuỗi thức ăn của động vật thuỷ sinh Vì vậy năng suất sinh học của quần xã sinh vật thuỷ sinh phụ thuộc vào mức độ phát triển của chúng
Trong thực vật phù du, tảo Silic thường chiếm khoảng 60% - 70% về
số lượng loài cũng như sinh vật lượng, nhất là ở vùng ven bờ chúng luôn chiếm ưu thế tuyệt đối, có nơi tới 84% về số loài và 99% về sinh vật lượng Tình hình phân bố của tảo Silic thường phản ánh khá đầy đủ xu thế chung của toàn bộ thực vật phù du và chính là do chúng chi phối Những đỉnh cao
về sinh vật lượng trong biến đổi theo mùa của thực vật phù du cũng như những vùng có mức độ tập trung cao hoặc có hiện tượng “ nở hoa ” hầu hết đều do các loài tảo Silic sinh sản mạnh tạo nên, do đó tảo Silic có vai trò hết sức quan trọng trong thực vật phù du
Việc nghiên cứu vi tảo nói chung, tảo Silic nói riêng đã có từ lâu, gắn liền với sự ra đời của kính hiển vi quang học cũng như việc nhà tự nhiên học người Anh R Hooke tìm thấy tế bào năm 1665 Tuỳ thuộc vào mức độ hoàn chỉnh của các thiết bị nghiên cứu, việc nghiên cứu vi tảo được thực hiện theo nhiều hướng khác nhau Trước hết là điều tra phân loại và tìm hiểu quy luật phân bố của chúng; sau đó đi sâu nghiên cứu bản chất của các quá trình trao đổi chất trong cơ thể tảo và cuối cùng là những nghiên cứu ứng dụng nhằm phục vụ lợi ích con người
Nghiên cứu phân loại tảo Silic được tiến hành rất sớm, từ những thập
Trang 6Luận văn tốt nghiệp Sinh học
Agardh C.A năm 1824 Sau đó, Ehrenberg C G., Kutzing F T., Smith W., Ralfs J đã công bố nhiều hệ thống phân loại tảo Silic Cơ sở phân loại của các tác giả còn đơn giản, chỉ mới dựa vào số lượng thể sắc tố và có rãnh dài hay không để làm căn cứ để phân loại [12] Sau đó, hệ thống phân loại tảo Silic được Kastern G (1928), Kokubo S (1955), Kim Đức Tường (1965)… bổ sung ngày càng hoàn chỉnh, hợp lý và mang tính tự nhiên cao Riêng Ingran N (1964) đã trình bày một hệ thống khác hẳn với quan điểm của nhiều tác giả nghiên cứu trước đó (Trương Ngọc An – 1993, [1])
Do sự phát triển chung của khoa học, nên cũng như các nghành tảo khác, những tri thức về tảo Silic ngày càng phong phú Chúng đã được nghiên cứu theo nhiều hướng sinh thái khác nhau: Tảo nước ngọt, tảo biển, tảo đất, tảo bì sinh, tảo sống trên băng tuyết…… Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu theo các hướng trên, đặc biệt là sự ra đời của một số công trình phục vụ cho việc điều tra phân loại của Zabelina M M và cộng sự (1951), Topashevski và cộng sự (1960)
Theo hướng nghiên cứu về tảo phù du biển, Cupp E E (1943) điều tra nghiên cứu thành phần loài tảo Silic ven bờ khu vực Bắc Mỹ; Crossby
và Cassie (1959) nghiên cứu tảo Silic ở Oxtraylia và Niu Di Lân hay Sournia A (1968) khảo sát tảo Silic phù du ở vùng ven bờ Mô - Zăm – Bic (Theo Simonsen R – 1974,[21]) Đáng chú ý hơn cả là những công trình điều tra, khảo sát tảo Silic trên các vùng biển thuộc Ân Độ Dương mà Kastern G là người đầu tiên thực hiện vào năm 1907 Về sau, vào những năm 1964- 1965 một số nhà khoa học đã nghiên cứu đối tượng này tại 103 điểm , trong đó có 1 khu vực mà Kastern G đã quan tâm 60 năm trước Kết quả được Reimer Simonsen (1974) tổng hợp trong “ The Diatoms plankton
of The India Ocean ”[21] mô tả 247 taxon loài và dưới loài thuộc 80 chi, trong đó có 15 loài, 1 thứ và 3 chi được coi là mới đối với khoa học
Trang 7Luận văn tốt nghiệp Sinh học
Cùng thời gian đó, Hasle G R (1965) đã nghiên cứu sâu về mô tả và
so sánh chi tiết 15 taxon loài và dưới loài tảo Silic phù du thuộc chi Nitzschia từ những mẫu thu vớt được trong khu vực Bắc Đại Tây Dương [22] Đây là một trong những công trình có giá trị khảo cứu về hình thái -
so sánh
Tảo Silic phù du ở những vùng biển gần với biển Đông như biển Nhật Bản, Philippin, Indonexia… đều được nghiên cứu kỹ từ khá sớm Allen W E., Cupp E.E (1935) đã khảo sát, đánh giá nguồn lợi tảo Silic phù
du biển Java (Indonexia), KuKubo A (1955) đã mô tả trong cuốn “Tảo Silic phù du” 370 taxon loài và dưới loài tảo Silic trong biển, ao hồ Nhật Bản Năm 1965, Kim Đức Tường và cộng sự xuất bản cuốn “Trung Quốc hải dương phù du Khuê tảo học”, giới thiệu 228 taxon loài và dưới loài tảo Silic trong vùng lãnh hải Trung Hoa (Theo Trương Ngọc An- 1993 [1])
Ơ?
Việt Nam, năm 1904, 38 loài tảo Silic phù du lần đầu tiên được Bois M D và Petit D giới thiệu trong báo cáo kết quả điều tra sinh vật nổi trong một số ao hồ ở Sài Gòn [1]
Bên cạnh những công trình còn mang tính điều tra cơ bản đó trong những năm gần đõy việc nghiên cưú ứng dụng vi tảo vào thực tiễn sản xuất
và đời sống đang được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học Năm 1991, cố GS- TS Nguyễn Hữu Thước cùng tập thể cán bộ trung tâm nghiên cứu quang hợp và cố định đạm đã nghiên cứu sử dụng tảo Spirulina platensis phục vụ dinh dưỡng, đồng thời thăm dò tác dụng của tảo đối với tia phóng
xạ [23]
Ở miền Nam Việt Nam, Hoàng Quốc Trương (1962 – 1963 ) đã phát hiện 154 taxon tảo Silic ở Vịnh Nha Trang, Shirota A (1966) đã khảo sát 21 vực nước từ Huế đến Rạch Giá và phát hiện được 388 loài và dưói loài,
Trang 8Luận văn tốt nghiệp Sinh học
cùng với Nguyễn Thị Ngon cho ra đời cuốn sách: “Thực vật đảo Phú Quốc” trong đó mô tả 70 loài và dưới loài, gồm có 15 loài tảo Silic
Ơ?
miền Bắc, trong lĩnh vực nghiên cứu tảo nước ngọt phải nói rằng Nguyễn Văn Tuyên là người có đóng góp tích cực năm 1980 với công trình nghiên cứu khu hệ tảo nước ngọt ở miền Bắc, ông đã công bố 979 loài và dưới loài, trong đó có 260 loài tảo Silic[26] Tiếp đó công trình của Dương Đức Tiến (1982) nghiên cứu về khu hệ tảo các thuỷ vực nội địa Việt Nam tác giả đã công bố 1402 loài và dưới loài trong đó có 388 loài tảo Silic[27]
Công trình của Dương Đức Tiến (1983) đã nghiên cứu khu hệ tảo thuỷ vực nước ngọt ở Việt Nam một cách khá đầy đủ, với 1403 loài vi tảo
đã được xác định, trong đó có 387 loài tảo Silic [16] cũng theo hướng này ở Miền Trung, Võ Hành (1983) nghiên cứu khu hệ thực vât nổi Hồ Kẻ Gỗ (Hà Tĩnh) đã công bố 191 loài vi tảo trong đó có 66 loài tảo Silic [5]
Dựa vào nguồn tài liệu trước đó rất phong phú, có GS- PTS Trương Ngọc An đã mô tả 225 loài tảo Silic phu du gặp ở biển Việt Nam, chúng thuộc 2 bộ, 18 họ và 60 chi [1]
Những công trình nghiên cứu với những kết quả có giá trị đó là nguồn động lực để mở rộng các hướng nghiên cứu mới nhằm khai thác lợi ích của tảo đồng thời góp phần đề ra phương hướng phát triển mới cho công tác nghiên cứu tảo ở nước ta, đưa sinh học thực nghiệm ngày càng đi sâu vào thực tiễn và đời sống
1.2.Vai trò của một số yếu tố sinh thái ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của tảo
Trong quá trình sinh trưởng, phát triển cũng như mọi cơ thể sinh vật khác, vi tảo có mối quan hệ chặt chẽ với các yếu tố môi trường như: Nhiệt
độ, ánh sáng, độ pH, độ mặn(S%0), lượng ôxy hoà tan, các muối dinh dưỡng (NO3-
, PO4 3-…) hàm lượng SiO32-
, Fe2+, Fe3+…
Trang 9Luận văn tốt nghiệp Sinh học
Trong môi trường nước tự nhiên hàm lượng N và P có dạng vết (NH4
+
-N xấp xỉ bằng 0,05 mg/l, PO4
< 0,01 mg/l) Theo Sawyer (1917) nồng độ P trên 0,015 mg/l và nồng độ N trên 0,3 mg/l là đủ gây hiện tượng
nở hoa của tảo
So với đất trồng trên cạn, nước thường chứa lượng muối dinh dưỡng thấp hơn nhiều và vì thế không thể đảm bảo cho vi tảo tồn tại trong thời gian dài Tuy nhiên các muối dinh dưỡng thường được bổ sung do sự chết
và phân huỷ cuả sinh vật nước Theo HS Konstantinop (1967) sau khi vi tảo chết, chúng bị phân huỷ và 20 – 25% phốtpho dạng vô cơ, 30 – 40% dạng hữu cơ được gia nhập vào nước [20 ]
Vi tảo có sự biến động về số lượng Sự biến đổi tuần tự của chế độ ánh sáng, chế độ nhiệt gây nên tính chu kỳ của sự biến động Mùa Xuân được đặc trưng bởi sự phát triển mạnh mẽ của tảo tạo nên đỉnh sinh vật lượng Trong thời kỳ này, tảo có yêu cầu cao về hàm lượng muối dinh dưỡng Do gặp điều kiện thuận lợi mà một số loài vi tảo sinh sản nhanh vượt bậc, gây nên hiện tượng nở hoa (Waterbloom) của nước Mỗi loài vi tảo tạo nên một màu khác nhau của hoa nước Tảo lục màu xanh, tảo mắt tạo màu nâu đỏ, tảo Silic tạo màu vàng nhạt… Sang mùa Hạ, độ chiếu sáng cực đại, nhiệt độ nước tăng, hàm lượng muối dinh dưỡng giảm làm cho nhu cầu đinh dưỡng của tảo giảm đi sinh trưởng và phát triển chậm lại Khi nhiệt độ nước ở mức cao nhất giảm xuống, cường độ bức xạ giảm, lượng muối dinh dưỡng bắt đầu tăng lên là đặc điểm của thuỷvực khi chuyển sang mùa Thu đặc điểm đó phù hợp cho các loài tảo rộng nhiệt, hàm lượng muối hoà tan tăng cao đưa tảo vào trạng thái nghỉ ngơi hoặc phát triển yếu (Trần Văn Vỹ, 1995)[20]
Nhiệt độ không những là nguyên nhân chủ yếu gây ra biến động số
Trang 10Luận văn tốt nghiệp Sinh học
chúng Sự ảnh hưởng trực tiếp của nhiệt độ lên quá trình sinh trưởng, phát triển của tảo hình thành nên các loài rộng nhiệt - hẹp nhiệt, loài cao nhiệt – thấp nhiệt
Ánh sáng cũng là một yếu tố sinh thái quan trọng đối với vi tảo sự tăng về thời lượng chiếu sáng thích hợp làm tăng số lượng vi tảo
Cùng với ánh sáng , CO2 có tác dụng quyết định đến hoạt động quang hợp, còn O2 trong thuỷ vực liên quan đến quá trình trao đổi chất và quyết định sự phân bố của vi tảo Ngoài ra, toàn bộ quá trình sinh trưởng, phát triển, tử vong của vi tảo cũng bị ảnh hưởng rõ rệt bởi sự biến động của hàm lượng muối dinh dưỡng hoà tan trong nước (N, P, Si…) Cũng như độ
pH, độ trong, sự chuyển động của dòng nước
Theo Fogg (1952), tảo hấp thụ NH4+ nhanh hơn so với NO3- vì vậy, nếu trong môi trường cùng một lúc có NH4+
và N3O- thì NH4+ sẽ được vi tảo hấp thụ trước tiên Kết quả nghiên cứu Guxeva (1952), cho thấy nhu cầu N lớn nhất là tảo lục, thứ đến là tảo lam, sau cùng là tảo Silic (Fogg G.E, 1952)[28,29]
Với P, việc nghiên cứu mức độ ảnh hưỏng của nó lên sự sinh trưởng, phát triển của vi tảo trong điều kiện tự nhiên rất khó khăn vì hầu như quanh năm, hàm lượng của nguyên tố này trong thuỷ vực có giá trị số rất nhỏ (theo Radin, 1950; Gesner 1959) Điều này, theo các tác giả có lẽ liên quan đến sự hấp thụ của tảo đối với nguyên tố này là rất nhanh Trong các thuỷ vực nước ngọt vùng trung Á hàm lượng P tổng số giao động từ 0,02 đến 0,58 mg/l trong lúc đó đạm tổng số đạt tới 6,2 mg/l (Ergashev A A 1981)[30] Vai trò sinh lý của Fe đối với tảo rất lớn, đặc biệt là tảo lam cố định đạm bởi Fe 2+
và Fe 3+ là thành phần của Xitocrom, của Feredoxin cần cho quá trình quang hợp và cố định Nitơ khí quyển Cũng như đối với P, việc xem xét độ ảnh hưởng của Fe lên tảo gặp nhiều khó khăn, phức tạp bởi
Trang 11Luận văn tốt nghiệp Sinh học
nguyên tố này thường xuyên thay đổi hoá trị và tham gia vào các phức chất với các chất hữu cơ có trong môi trường nước Hàm lượng Fe tổng số ở thuỷ vực dao động từ 0,44 đến 2,5 mg/l (Nguyễn Đình Chất) [2 ]
Đáng chú ý là để tồn tại và phát triển, tảo Silic không thể thiếu vắng SiO32-, vì trên 80% trọng lượng của vỏ tảo được hình thành từ SiO2 Điều lý thú là hàm lượng SiO32-
trong nước trên phạm vi toàn cầu chênh lệch nhau không nhiều Ví dụ: ở Nhật Bản hàm lượng SiO3
2- tối đa là 10,9 mg/l ở Trung Á là 10,3 mg/l[30] ở Hồ Kẻ Gỗ (Hà Tĩnh) tối đa là 11,7 mg/l [2 ] theo Guxeva (1975) và Ergashev (1981) thì sự phát triển của tảo Silic có mối quan hệ chặt chẽ, tỉ lệ thuận với hàm lượng SiO32-
trong thuỷ vực
Trang 12Luận văn tốt nghiệp Sinh học
Chương II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và địa điểm nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: là một số chỉ tiêu thuỷ lý, thuỷ hoá
và thành phần loài thuộc nghành tảo Silic (Bacillariophyta) ở đầm nuôi tôm
xã Hưng Hoà Thành Phố Vinh Nghệ An
- Địa điểm: mẫu được thu ở 3 địa điểm tại xã Hưng Hoà- TPVinh
+ Địa điểm 1: Phía ngoài đầm -nguồn cấp nước(thu mẫu tại 1 điểm)
+ Địa điểm 2: Đầm nuôi Tôm 1(thu mẫu tại 1 điểm)
+ Địa điểm 3: Đầm nuôi Tôm 2(thu mẫu tại 2 điểm(bờ bắc-bờ nam)
- Mẫu được thu vào 2 đợt:
+ Đợt I: tháng 10 năm 2003
+ Đợt II: tháng 2 năm 2004
2.2 Phương pháp nghiên cứu:
2.2.1 Thu mẫu:
2.2.1.1 Thu mẫu tảo:
Mẫu tảo định tính, định lượng được thu theo phương pháp chuẩn thu mẫu sinh vật phù du (phytoplankton) bằng lưói vợt thực vật nổi No 75 Mẫu được cố định bằng dung dịch Phormon 4% Đối với mẫu tảo định lượng thì lấy 10 lít nước tầng mặt lọc qua lưới vợt thực vật nổi còn đối với mẫu tảo định tính thì vớt khoảng 100 lần
2.2.1.2 Thu mẫu nước :
Mẫu nước được thu vào chai nhựa P.E 1,5 lít được bảo quản 4 0
C và phân tích trong vòng 24 giờ
Trang 13Luận văn tốt nghiệp Sinh học
Số lượng mẫu thu được: 18 mẫu định tính và 8 mẫu định lượng
2.2.2 Phương pháp phân tích mẫu nước:
Để xác định chỉ tiêu thuỷ lý thuỷ hoá chúng tôi dựa vào tài liệu:
“Standar methods for examination of Water and waste water” của hội sức khoẻ Mỹ xuất bản lần thứ 16,(1985)[31] và tham khảo thêm tài liệu:
“Hướng dẫn phân tích thuỷ lý thuỷ hoá” của cục khí tượng thuỷ văn, 1979[32]
- Đo độ sâu, độ trong bằng đĩa Secchi tại hiện trường
- Đo độ pH tại hiện trường bằng máy Watertest
- Oxy hoà tan (DO –Dissolved oxygen ) được xác định bằng phương pháp Winkler (mẫu cố định tại chỗ)
- Xác định COD bằng phương pháp Bicromat
- Xác định NH4+ bằng phương pháp so màu Nesler (ở bước sóng
= 420 nm trên máy so mầu FEC-851)
2.2.3 Phương pháp phân tích mẫu tảo:
* Phương pháp phân tích định loại:
Mẫu định tính được xử lí bằng phương pháp đốt trên bếp điện 6 –7 giờ sau đó được cố định bởi Baume Canada và quan sát dưới kính hiển vi quang học có độ phóng đaị từ 400 – 1000 lần đo kích thước, vẽ hình chi tiết
Trang 14Luận văn tốt nghiệp Sinh học
Để xác định được các loài vi tảo chúng tôi sử dụng khoá định loại của N.M.Zabelina và cộng sự{34}, tài liệu tham khảo của Trương Ngọc An
để định loại{1]
* Phương pháp phân tích định lượng:
Xác định mức độ gặp nhiều theo quy ước (9 tiêu bản với mẫu thu)
m l tb
m
Trong đó: n: Số tế bào có trong 1l nước
m: Số lượng tế bào đếm được trên buồng đếm Goriarev
- Sử lí số liệu bằng phương pháp xác suất thống kê:
X =
n
1
) (
Trong đó:X :Giá trị trung bình
n
X Xi
Trang 15
Luận văn tốt nghiệp Sinh học
Chương III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN.
3.1 Một vài đặc điểm về địa hình nghiên cứu
Xã Hưng Hoà là một xã có sự giao lưu giữa 2 dòng nước ngọt của Sông Lam và nước mặn của Cửa Hội Hưng Hoà là một xã có địa hình, điều kiện khí hậu, thuỷ văn môi trường sinh thái thuận lợi cho sự phát triển nghề nuôi trồng thuỷ sản đặc biệt là nuôi tôm
Hiện nay xã đã có gần 100 ha đang nuôi tôm nhưng tiềm năng của có
là rất lớn có thể mở rộng để khai thác Trước đây xã Hưng hoà sống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp, đánh bắt hải sản, nhưng vài năm trở lại đây do
sự quan tâm của nhà nước mà người dân ở đây được sự quan tâm của các nhà khoa học, học hỏi kinh nghiệm và mạnh dạn vay vốn đầu tư nuôi tôm Với gần 100 ha thì ở đây mới chỉ đang nuôi một mình tôm
Các đầm ở xã Hưng Hoà là sự giao hoà giữa 2 chế độ nước ngọt và nước mặn Vào mùa hè, mùa thu mưa nhiều nước từ thượng nguồn đổ về
đã bổ sung các mùn vã hữu cơ tăng nguồn dinh dưỡng cho thuỷ vực, độ muối S0
/00 thấp Mùa đông, mùa xuân nước của đầm có độ muối cao do ảnh hưởng của nước biển lại thêm không có mưa nên nước bị mặn hoá Nước đầm có sự thay đổi độ muối, vào mùa mưa có thể xuống thấp 00
/00, vào mùa xuân độ muối lại lên rất cao 200
/00, trung bình là 8 – 100/00 Mặc dù có điều kiện thuận lợi cho sự phát triển nuôi trồng thuỷ sản nhưng do trình độ của người dân đang còn thấp, sự quy hoạch và đầu tư vào đầm đang còn đơn sơ, mạnh ai nấy làm nên thiếu sự đồng bộ, đó là nguyên nhân dẫn đến hiệu quả kinh tế ở đây chưa thật sự phát huy hết tiềm năng sẵn có của nó
Trang 16Luận văn tốt nghiệp Sinh học
3.2 Kết quả phân tích một số chỉ tiêu thuỷ lý – thuỷ hoá của đầm
Sau 2 đợt thu mẫu và phân tích các chỉ tiêu thuỷ lý, thuỷ hoá của đầm ở Hưng Hoà, chúng tôi thu được kết quả được trình bày ở bảng 1
3.2.1 : Độ pH:
Độ pH là chỉ số cho biết quá trình và chiều sinh học và hoá học xẩy
ra trong thuỷ vực nó là yếu tố giới hạn sự phân bố của các loài thuỷ sinh vật Trong đợt I: pH dao động từ 6,8 – 7,2, đợt II từ 7,1 - 7,5
Nói chung pH trong các điểm nghiên cứu dao động xung quanh khoảng trung tính và chênh lệch nhau không nhiều.Sự ổn định về pH là điều kiện thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của nhiều loài thuỷ sinh vật trong đó có tảo Silic
(Tiêu chuẩn cho phép của MTVN-TCVN.5943- 1995 là pH=6,5 – 8,5)[34]
Trong thời gian này mưa nhiều độ mặn ở sông Lam cũng xuống rất thấp
Đợt II: Độ mặn đạt đến 200
/00 vì thời gian này rất ít mưa
Độ mặn ở sông Lam cũng lên caovà nguồn cấp nước cho các đầm nuôi tôm là nước sông Lam, do ảnh hưởng của thuỷ triều nên nước biển lên
đổ vào sông Lam nên đã làm tăng độ mặn của các đầm nuôi tôm
3.2.3 Độ trong – Nhiệt độ:
Trang 17Luận văn tốt nghiệp Sinh học
Nước là môi trường truyền ánh sáng, nó liên quan đến quá trình quang hợp của tảo nước càng trong thì ánh sáng càng xuyên sâu tạo điều kiện cho tảo quang hợp
Trang 18Luận văn tốt nghiệp Sinh học
Bảng 1 :Một số chỉ tiêu thuỷ lý- thuỷ hoá ở các địa điểm nghiên cứu
Đợt I(10/2003) và đợt II(2/2004)
TT Chỉ tiêu Địa điểm I Địa điểm II Địa điểm III TCVN
1995(TC
5943-CP đối với NTTS)
Điểm 1 Điểm 2 Đợt
Trang 19Luận văn tốt nghiệp Sinh học
Qua kết quả phân tích chúng tôi thấy rằng, hầu hết tại tất cả các điểm nghiên cứu thì đều nhìn thấy đáy do nước cạn, chỉ có một điểm ngoài đầm
là hơi đục có độ trong là 53 cm
Nhiệt độ nước phụ thuộc trực tiếp vào điều kiện môi trường Nhiệt
độ môi trường cao thì nhiệt độ nước tăng lên và ngược lại, điều này tỷ lệ thuận với cường độ ánh sáng
Giữa hai đợt thu mẫu nhiệt độ nước chênh lệch 5,6 – 9,5oC
3.2.4 Oxy hoà tan (DO)
DO là thông số rất quan trọng để đánh giá mức độ ô nhiễm của nguồn nước Bên cạnh việc phụ thuộc vào các yếu tố nhiệt độ, ánh sáng hàm lượng các chất hoà tan trong nước, giá trị hàm lượng DO phản ánh được đời sống của thuỷ sinh vật Thông thường trong thuỷ vực DO vào buổi trưa là cao nhất (do quang hợp của thực vật) và giảm xuống vào ban đêm (do hô hấp của thuỷ sinh vật)
Trang 20Luận văn tốt nghiệp Sinh học
dinh dưỡng trong nước cũng tăng lên nên đã hạn chế sự hoà tan của Oxi
vào trong nước
3.2.5 Chỉ tiêu COD : (nhu cầu oxy hoá học)
COD cũng là một thông số đánh giá mức độ ô nhiễm hữu cơ của nguồn nước.Do tổng lượng các chất hữu cơ có trong nước khó xác định nên người ta phải sử dụng gián tiếp một chất oxy hoá mạnh (K2Cr2O7 hoặc KMnO4) để oxy hoá chúng, COD có giá trị càng cao thì mức độ nhiễm bẩn hữu cơ của nguồn nước càng nhiều
Đợt I: COD dao động trong khoảng từ 0,35 – 1,15 mg/l
Đợt II: COD dao động trong khoảng từ 1,45 – 2,85 mg/l
Tuy chỉ số COD ở đợt II có cao hơn đợt I nhưng nhìn chung lượng chất hữu cơ ở đây thấp Điều này có thể giải thích do các đầm này chịu ảnh hưỡng của nước sông Lam và giai đoạn nay chưa thả tôm giống nên chỉ số COD ở đây là thấp
Trang 21Luận văn tốt nghiệp Sinh học
Trong nước tự nhiên amoni và photphat thường có dạng vệt(NH4+
Hàm lượng PO4
ở đợt I giao động 0,18 – 0,25mg/l và đợt II là 0,32 – 0,35mg/l Như vậy chỉ tiêu này đợt II có cao hơn đợt I Có lẽ nó được bổ sung từ nguồn nước sông Lam, vì thời gian này các thuỷ vực thu mẫu thường xuyên tiếp nhận nước thuỷ triều ở cửa sông Lam Vùng cửa sông là nước giàu các muối dinh dưỡng Với hàm lượng trên trong điều kiện nhiệt
độ thuận lợi thì tảo có thể phát triển với số lượng đỉnh cực
3.2.8 Hàm lượng SiO 3
:
Đối với tảo Silic, hơn 80% trọng lượng của vỏ tảo được hình thành
từ SiO32-,chính vì vậy SiO3
là nhu cầu không thể thiếu đối với sự sinh trưởng và phát triển của tảo Silic
Kết quả phân tích ở bảng 1 ta thấy
sẽ ảnh hưởng xấu đến đời sống của tảo Hàm lượng Fe phân tích trong 2