Vì thế, khoá luận này như một bước tập dượt với hy vọng thể hiện sự hiểu biết của em trước tài nghệ sử dụng ngôn từ của Nguyễn Du, chỉ đi vào khảo sát hoạt động của các nhóm phụ từ đứng
Trang 1Lời nói đầu
“Truyện Kiều" như ngọn núi Thái Sơn hùng vĩ Có bao người đã nghiên cứu, phẩm bình tác phẩm bất hủ này từ nhiều góc độ và mức
độ khác nhau Vì thế, khoá luận này như một bước tập dượt với hy vọng thể hiện sự hiểu biết của em trước tài nghệ sử dụng ngôn từ của Nguyễn Du, chỉ đi vào khảo sát hoạt động của các nhóm phụ từ đứng trước động từ trong Truyện Kiều, một hướng nghiên cứu lâu nay còn ít được để ý
Do trình độ có hạn, do thời gian eo hẹp, nên chắc chắn khoá luận này còn những khiếm khuyết và thiếu sót Em rất mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý của các thầy, cô giáo và các bạn
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn nghiêm khắc và nhiệt tình của thầy giáo - TS Trần Văn Minh để em có thể hoàn thành được khoá luận này
Vinh, tháng 4 năm 2004
Lê Thị Thu Hiền
MỤC LỤC
Trang 2MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài trang3
đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu trang3
lịch sử vấn để trang4
phương pháp nghiên cứu trang5
dự kiến đóng góp của đề tài trang5
CHƯƠNG1:MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 1.tiểu dẫn về truyện kiều trang7
1.truyện kiều
2.ngôn ngữ truyện kiều trang9
2.tiểu dẫn về từ loại phụ từ trong tiếng Việt trang
1.một số quan niệm về từ loại phụ từtrang14
2.từ loại phụ từ tiếng việt
3.tiểu kết chương 1
4.phương pháp nghiên cứu
5.dự kiến đóng góp của đề tài
chương2.các nhóm phụ từ đứng trước động từ trong truyện kiều
1kết quả thống kê và phân loại
1.nhóm phó từ thời gian
2.nhóm phó từ tiếp diễn
3.nhóm phó từ tiếp diễn
4.nhóm phó từ cầu khiến
5.nhóm phó từ chỉ diễn biến bất ngờ của hành động
2.vai trò tác dụng của các phó từ đứng trước động từ trong truyện kiều
Trang 3MỞ ĐẦU
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Nguyễn Du là đại thi hào dân tộc Việt Nam và là danh nhân văn hoá thế giới Ông đã để lại cho đời một sự nghiệp văn chương vĩ đại,
đồ sộ, đặc biệt là kiệt tác bất hủ "Truyện Kiều”
Một tác phẩm lớn như vậy không chỉ là đối tượng nghiên cứu của lý luận phê bình văn học mà còn là mối quan tâm của ngôn ngữ học
Nghiên cứu ngôn ngữ Truyện Kiều tuy không phải là đề tài mới
mẻ nhưng luôn là một đề tài lớn Nhiều nhà nghiên cứu vẫn đang đi sâu khám phá để có một cách nhìn toàn diện hơn, sâu sắc hơn về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm nay
Mặc dù đã được nghiên cứu trên nhiều khía cạnh về ngôn ngữ, nhưng việc đi sâu tìm hiểu hoạt động của các từ loại trong Truyện Kiều, đặc biệt là từ loại phụ từ đến nay còn rất ít người thực hiện, cho
dù số lượng phụ từ trong tác phẩm này là rất đáng kể
Vì vậy, ở phạm vi đề tài khoá luận này, chúng tôi muốn đi sâu khảo sát về hoạt động từ loại phụ từ trong Truyện Kiều, song chỉ hạn chế ở các nhóm phụ từ đứng trước động từ trong tác phẩm này Khoá luận vận dụng kiến thức về từ loại phụ từ trong ngữ pháp Tiếng Việt hiện đại để khảo sát một cách hệ thống về hoạt động ngữ pháp của các tiểu nhóm phụ từ này, qua đó góp phần nghiên cứu về ngôn ngữ
Truyện Kiều
II.ĐỐI TƢỢNG VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1 Đối tƣợng nghiên cứu:
Trang 4Đề tài này khảo sát toàn bộ “Truyện Kiều "của Nguyên Du, từ đó tìm ra các phụ từ đứng trước động từ để miêu tả, phân tích, nhận xét
về chúng
2.Nhiệm vụ nghiên cứu:
2.1 Thống kê và phân loại các tiểu nhóm phụ từ đứng trước động từ
trong Truyện Kiều
2.2 Miêu tả vai trò của ngữ pháp của các phụ từ trong câu thơ Truyện
Kiều
2.3 Nhận xét về việc dùng phụ từ trong thơ cổ điển Việt Nam (qua sự
đối sánh với thơ hiện đại)
Mục đích của khoá luận là góp thêm một cách tiếp cận về cách cảm thụ ngôn ngữ Truyện Kiều ở góc nhìn từ loại, tạo điều kiện tiếp thu giá trị Truyện Kiều sâu sắc hơn, thấu đáo hơn
III.LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Kiệt tác bất hủ”Truyện Kiều” từ lúc ra đời đến nay cùng với dòng chảy của thời gian đã có gần 200 năm tuổi, nhưng vẫn giữ được sức sống trường tồn Tập “ Đại thành văn học” này trở thành đề tài nghiên cứu của nhiều nhà phê bình, nghiên cứu về cả nội dung lẫn hình thức nghệ thuật
Các công trình nghiên cứu về nội dung Truyện Kiều đã có rất nhiều, nhưng những bài viết về phương diện nghệ thuật, đặc biệt là ngôn ngữ Truyện Kiều thì còn đang ít Vậy, ở đây chúng tôi chỉ điểm qua một số công trình nghiên cứu về ngôn ngữ Truyện Kiều tiêu biểu
để một lần nữa khẳng định rằng: Nguyễn Du đã đặt một cột mốc chói lọi cho ngôn ngữ Tiếng Việt hiện đại qua “ Truyện Kiều”
1 Một vài bài nghiên cứu tiêu biểu ngôn ngữ Truyện Kiều:
Trang 5a Đào Thản:”đi tìm một vài đặc điểm của ngôn ngữ Truyện
Kiều”(sách kỷ niệm 200 năm sinh Nguyễn Du Hà nội 1967)
b Nguyễn Lộc:” Về ngôn ngữ nhân vật trong Truyện Kiều” (sách:
Kỷ niệm 200 năm sinh Nguyễn Du.Hà Nội 1967)
c Trong cuốn” Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện
Kiều”, Phan Ngọc có đề cập đến khá nhiều vấn đề của Truyện Kiều, nhưng cũng chưa đi sâu việc nghiên cứu về từ loại phụ từ trong tác phẩm này
d Cuốn”Từ điển Truyện Kiều” của Đào Duy Anh ( NXB KHXH,
1974 )đã hiệu đính, chú giải đầy đủ rõ ràng, tỉ mỉ về ngữ vựng Truyện Kiều Ông đã có đóng góp lớn trong việc đánh giá văn bản Truyện Kiều
Mặc dù đã liệt kê vốn từ được sử dụng trong Truyện Kiều, nhưng
do mục đích làm từ điển nên tác giả không phân tích và miêu tả vai trò của các phụ từ
Tuy có nhiều công trình nghiên cứu về ngôn ngữ Truyện Kiều nhưng hầu như chưa có một công trình, bài viết nào đi sâu vào việc tìm hiểu về từ loại phụ từ trong “Truyện Kiều” Mặc dù, đây là một từ loại được sử dụng khá dày đặc trong thi phẩm này
2 Từ loại phụ từ trong Tiếng Việt:
Đã có nhiều ý kiến khác nhau của các nhà Việt ngữ học về từ loại phụ từ Gần đây đã có một vài công trình nghiên cứu về từ loại phụ từ ở phạm vi một bài viết như:
“Từ đã trong Tiếng Việt” PGS_TS Đỗ Thị Kim Liên_ĐH Vinh Hoặc của tác giả:Trần Thị Hảo nghiên cứu về “ngữ nghĩa của phụ từ
đi với động từ và tính từ trong thơ Việt Nam hiện đại”_Luận văn thạc
Trang 6Dựa trên những nghiên cứu của các tác giả đi trước, chúng tôi hi vọng rằng với đề tài này có thể đi sâu hơn phần nào trong việc tìm hiểu các phụ từ, đặc biệt là các phụ từ đi trước động từ trong Truyện Kiều, nhằm giúp cho việc tiếp cận và hiểu Truyện Kiều cũng như tài năng của Nguyễn Du một cách sâu hơn trên bình diện ngôn ngữ
IV.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để tìm ra các phụ từ trong Truyện Kiều, chúng tôi sử dụng
phương pháp thống kê, phân loại các tiểu nhóm phụ từ cụ thể
Phương pháp phân tích, miêu tả được dùng trong chương II trong khi miêu tả vai trò và tác dụng của các phụ từ đứng trước động từ trong tác phẩm Cuối mỗi ý phương pháp quy nạp được dùng để nêu lên kết luận, nhận xét đánh giá Để nhận xét bước đầu việc dùng phụ
từ trong ngôn ngữ thơ cổ điển (qua Truyện Kiều) thì phải đặt nó trong tương quan so sánh, đối chiếu với thơ hiện đại
V.DỰ KIẾN ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI:
Đề tài này cung cấp danh sách các phụ từ được dùng trong Truyện Kiều với sự phân tích vai trò ngữ pháp của chúng để góp phần vào việc nghiên cứu hư từ trong ngôn ngữ Truyện Kiều
Trang 7CHƯƠNG I- MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG I.TIỂU DẪN VỀ TRUYỆN KIỀU VÀ NGÔN NGỮ TRUYỆN KIỀU
1 Truyện Kiều - áng thơ ca bất hủ của Nguyễn Du được ra mắt từ
đầu thế kỷ XIX Ngay từ khi ra đời thì nó đã khẳng định đượcgiá trị của một kiệt tác văn chương cả ở nội dung tư tưởng lẫn hình thức nghệ thuật Khi nói đến văn học cổ điển Việt Nam, tác phẩm đầu tiên phải nghĩ tới là Truyện Kiều Đó chính là những lời thơ tiêu biểu nhất, vẻ vang nhất, nó là một tác phẩm có giá trị muôn đời
Truyện Kiều được đón nhận một cách nhiệt thành trong mọi tầng lớp nhân dân Ít có một tác phẩm nào ngay từ khi ra đời cho đến mãi
về sau vẫn được nhân dân cả nước yêu chuộng, ham thích như Truyện Kiều Đó không chỉ là sự yêu thích mà còn là niềm tin, khẳng định sức mạnh của ngôn ngữ và văn hoá dân tộc Nhưng hơn hết, đó là niềm tin lớn lao về tình yêu và cuộc sống: “Truyện Kiều là một bài ca tình yêu
và là một cuốn sách đời”( Vũ Ngọc Phan) Còn một điều kỳ lạ và diệu
kỳ hơn nữa, đó chính là niềm tin về một niềm cảm thông dự báo Ai
mà tính hết được cho đến nay đã có bao nhiêu người một lần tìm đến bói Kiều? Bói như thế có linh nghiệm không? Trong kho tàng văn học thế giới, đã có mấy tác phẩm được dùng làm phương tiện dự báo như vậy? Truyện Kiều là một tác phẩm có giá trị như một thông điệp cho con người giao cảm với thế giới vô hình, dạt dào xúc động, mơ mà như thực, huyền ảo mà minh bạch lạ lùng Đó cũng là một bản tổng kết cuộc đời, tổng kết nhưng là cáo trạng, cáo trạng về cuộc đời có bao
Trang 8nhiêu nỗi đau đớn thương tâm của nhân vật được tái hiện qua con mắt luôn đau đáu nhìn đời của thi hào Nguyễn Du:
“ Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”
Truyện Kiều (gồm3254 câu thơ) là một chuỗi thời gian dài đằng đẵng của Vương Thuý Kiều gắn liền với những sự kiện của cuộc đời nàng: gặp gỡ, tai biến, đoàn tụ Một tài hoa nhi nữ đến bậc thiên tạo cũng phải ghen tỵ:
“Tài tình chi lắm cho trời đất ghen”
Cả một đời Kiềuđược gói gọn trong bốn chữ” tạo vật đồ tài” khi thì lai láng tình thơ, người tựa án khen tài châu ngọc; khi thì nỉ non tiếng nguyệt, khách đến thắm khúc tiêu tao; khi duyên ưa, kim cải, non bể thể hồi; khi chìm nổi ba đào, cửa nhà tan tác; khi lầu xanh, khi rừng tía, cõi đi về nghĩ cũng chồn chân; khi kinh kệ, khi can qua mùi từng trải nghĩ mà tê lưỡi Vui, buồn , tan, hợp mười mấy năm trời, Truỵên Kiều đã tả, vẽ ra tất cả, không khác gì một bức tranh sống động ( Theo bài tựa của Tiên Phong Mộng Liên Đường chủ nhân trong
“Nguyễn Du toàn tập.NXB văn học.1996”)
Qua đó ta thấy được cái tài, cái tâm của Nguyễn Du Tố Như dụng tâm đã khổ, tự sự đã khéo, tả cảnh đã hệt, đàm tình đã thiết, nếu không phải có con mắt trông thấy cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời, thì tài nào có được cái bút lực ấy
Mấy trăm năm đã trôi qua mà tiếng kêu thê thiết đến đứt ruột ấy vẫn còn ám ảnh trong tâm can của mỗi con người Bản cáo trạng đanh thép tố cáo xã hội bất công chà đạp lên quyền sống, quyền làm người cùng với một tấm lòng nhân đạo thiết tha cao cả, một sự đồng cảm xót thương cho nhân vật còn vọng mãi đến muôn đời
Trang 9Thành công của tác phẩm thể hiện bút lực của Nguyễn Du còn nằm ngay ở hình thức nghệ thuật tuyệt tác
Theo Hoài Thanh thì “văn chương Truyện Kiều chính là nội dung Truyện Kiều, vì nó là phần cốt yếu và vĩnh viễn Phần ấy thiếu đi Truyện Kiều sẽ chỉ là một cái xác chết”
2 Xét về phương diện nghệ thuật của tác phẩm, ngôn ngữ
Truyện Kiều là yếu tố nghệ thuật quan trọng vào loại bậc nhất để chuyển tải nội dung Về mặt ngôn ngữ, Truyện Kiều được các nhà nho hay chữ thán phục, Nguyễn Du đã được khẳng định là bậc thầy của ngôn ngữ dân tộc, là tập đại thành về ngôn ngữ của thời đại, là người nâng ngôn ngữ dân tộc lên một đỉnh cao chói lọi
Truyện Kiều là một khúc „‟Nam âm tuyệt xướng‟‟(Đào Nguyên Phổ- Tựa “đoạn trường tân thanh”) Ông Nguyễn Khánh Toàn so sánh đóng góp của Nguyễn Du về phương diện phát triển ngôn ngữ dân tộc với công của “Mặt trời thi ca Nga” - Puskin trong sự phát triển ngôn ngữ văn học Nga
Lê Trí Viễn ( trong “giáo trình lịch sử văn học Việt Nam”, tập III Nxb-GD.1962) cho rằng :
Nói về Truyện Kiều thì chủ yếu nói về „‟Trình độ lời thơ được phổ cập đến mọi người, nghĩa là nói về ngôn ngữ”
Thành công của Nguyễn Du về phương diện ngôn ngữ có một ý nghĩa hết sức to lớn đối với lịch sử Cùng với Nguyễn Trãi trước kia,
Hồ Xuân Hương- bà chúa thơ Nôm, Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Công Trứ…, Nguyễn Du đã khẳng định đầy thuyết phục sự phong phú và khả năng to lớn của ngôn ngữ dân tộc trong sáng tác văn học Truyện Kiều đã đem lại niền tự hào và niền tin cho mọi người về khả năng
Trang 10nhiều nhà văn , nhà thơ đời sau noi theo trong việc sử dụng ngôn ngữ trong sáng tác văn chương
Cũng giống như tất cả các tác phẩm văn học đương thời, Truyện Kiều nằm trong quỹ đạo chung là việc sử dụng ngôn ngữ cả ở lớp từ Thuần Việt lẫn lớp từ Hán Việt Việc dùng chữ Hán Việt một cách phổ biến trong sáng tác văn học trong giai đoạn này là một phong cách có tính chất thời đại Nguyễn Du đã tiếp thu, áp dụng một cách sáng tạo trong tác phẩm của mình làm nên thành công chung của Truyện Kiều Theo thống kê của tổ tư liệu viện ngôn ngữ thì trong số 3412 từ của Truyện Kiều có 1310 từ Hán Việt, chiếm tỷ lệ 35% trong tổng số từ của tác phẩm ( Đào Thản “ một vài đặc điểm của ngôn ngữ Truyện Kiều”)
Tuy rằng với một tỷ lệ không phải là cao so với thứ văn chương thuộc dòng bác học, nhưng điều quan trọng không phải là tỷ lệ cao hay thấp của số lượng từ Hán Việt mà là phải sử dụng như thế nào cho hiệu quả
Thời đại của Nguyễn Du chưa có những lý thuyết về tiếp thu ngôn ngữ nước ngoài, nhưng với sự hiểu biết sâu sắc về ngôn ngữ dân tộc
và sự nhạy cảm có tính chất ngôn ngữ học, thực tiễn sử dụng tư Hán Việt của Nguyễn Du trong truyện Kiều đã chứng tỏ nhà thơ đi đúng hướng Điều đó cũng lý giải tại sao Truyện Kiều được truyền bá rộng rãi trong quần chúng, cũng như chứng tỏ được sức sống của ngôn ngữ Truyện Kiều
Phải thừa nhận rằng ngôn ngữ Truyện Kiều không phải là hoàn toàn dễ hiểu Trong số 35% từ Hán Việt của truyện không tránh khỏi những từ, những điển cố cầu kỳ khó hiểu
“Truyện Kiều anh đã thuộc lòng
Trang 11Đố anh kể được một dòng chữ nho”
Nhưng nhìn chung, từ Hán Việt trong truyện vẫn không hoàn toàn
xa lạ đối với mọi người Đó hầu hết là những từ đã phổ biến rộng rãi trong thời đại lúc bấy giờ, chúng đã đi vào vốn từ vựng chung của ngôn ngữ dân tộc Nguyễn Du đã cố gắng Việt hoá bằng cách dựa vào
từ Hán để tạo ra từ mới cho Tiếng Việt Chẳng hạn: ” bạch nhật”(ngày bạc),”hoàng tuyền”(suối vàng),”thiên nhai hai giác”(chân trời góc bể)…
Bên cạnh đó, việc kết hợp sử dụng điển cố lấy từ văn học cổ Trung Quốc (như: Nàng Ban ã Tạ, Tống Ngọc…) chứng tỏ nhà thơ đã biết chọn một chỗ đứng để có thể phát triển phong cách ấy, không làm cho nó trở thành bảo thủ, khô cứng
Ngoài những phương diện nói trên, Nguyễn Du còn sử dụng song song từ Hán Việt với từ Thuần Việt cùng một ý nghĩa Điều đó chứng minh được sắc thái thẩm mỹ khách quan của từ Thuần Việt hay từ Hán Việt và tài năng của nhà văn khi sử dụng chúng trong những ngữ cảch khác nhau Ông đã biết lựa chọn, trong trường hợp cần nhấn mạnh đến tính thực tại của sự vật, ông dùng từ Thuần Việt, còn trong trường hợp cần nhấn mạnh đến những sắc thái khác, như trang trọng, mơ hồ…ông lại sử dụng vốn từ Hán Việt Chẳng hạn: ”bố mẹ”- song thân ,hai thân, hai đường; “Mặt trăng”- vành trăng, cung trăng, cung Quảng
Đó chính là sự phong phú trong ngôn ngữ Nguyễn Du, và nó có ý nghĩa quan trọng trong sáng tác nói chung, đặc biệt là sáng tác thơ Với việc sử dụng linh hoạt những từ đồng nghĩa, Nguyễn Du đã tránh được bệnh trùng lặp đơn điệu nhờ thế có thể gieo vần một cách uyển
Trang 12Ví dụ các từ trong các câu dưới đây:
.Đau đớn thay phận đàn bà Gái tơ mà đã ngứa nghề sớm sao Hồng quân với khách hồng quần Rằng:”Hồng nhan tự thưở xưa”
đều chỉ chung một khái niệm “phụ nữ”
Tóm lại, Nguyễn Du đã tạo nên một cách sinh động về khả năng vận dụng sáng tạo từ ngoại lai để làm phong phú cho ngôn ngữ nước nhà mà vẫn giữ được sự trong sáng, vừa hình dị, vưa gần gũi thân quen
Bộ phận từ Thuần Việt trong Truyện Kiều thường xuất phát từ 2 nguồn: một nguồn từ ca dao tục ngữ- một thứ ngôn ngữ được trau chuốt, đúc kết, là ngôn ngữ của quần chúng, và một nguồn lấy trực tiếp từ lời ăn tiếng nói hàng ngày của họ Nguyễn Du đã có những đóng góp mới mẻ và hết sức độc đáo ở lĩnh vực này
Truyện Kiều đánh dấu một bước phát triển về chất, có ý nghĩa đặc biệt trong việc học tập thơ ca dân gian và ngôn ngữ quần chúng của nhà thơ để đưa vào tác phẩm văn học của mình
Hai câu thơ: “ Vầng trăng ai xẻ làm đôi
Nữa in gối chiếc nữa soi dặm đường”
được rút ra từ những câu ca dao:
“Vầng trăng ai xẻ làm đôi Đường trần ai vẽ ngược xuôi hỡi chàng”
hay:
“ Tiễn đưa một chén rượu nồng Vầng trăng xẻ nửa tơ lòng dứt đôi "
Trang 13Ca dao trong Truyện Kiều được nhà thơ sử dụng như một thứ chất liệu nghệ thuật, ông đã nhào nặn, cấu tạo lại cho phù hợp với phong cách chung của nhà thơ trong tác phẩm Nhà thơ đã “ đồng hoá” ca dao, có những câu thơ không thấy dấu vết cụ thể của ca dao, mà ai cũng nhận ra ảnh hưởng của nó
Bên cạnh đó ông còn sử dụng nhiều thành ngữ, tục ngữ Và công lao của Nguyễn Du là ở phương diện này
Do đặc điểm của ngôn ngữ Tiếng Việt, không chỉ ca dao mà cả tục ngữ, thành ngữ đều là những sản phẩm ngôn ngữ chặt chẽ, thường
có vần, có nhịp
Việc học tập và đưa chúng vào thơ ở một chừng mực nào đó có những thuận lợi, nhưng cái khó hơn là đưa lời ăn tiếng nói hàng ngày của quần chúng vào tác phẩm
Tính chính xác, súc tích và sự giàu hình ảnh, nhạc điệu chính là những biểu hiện quan trọng của phong cách ngôn ngữ Nguyễn Du trong Truyện Kiều
Nguyễn Du đã dồn hết tâm huyết và trí lực, với một ý thức rất cao ông đã hết sức trau chuốt cho ngôn từ trong tác phẩm Vấn đề đặt ra là làm thế nào trong khi vẫn giữ được tính chất mộc mạc của thể thơ lục bát mà đồng thời lại hoán cải được nó, biến nó thành phong phú, đa dạng hơn? Dưới ngòi bút của Nguyễn Du, thể lục bát trong Truyện Kiều thiên biến vạn hoá Ngôn ngữ vừa tao nhã lại không được quá cầu kỳ, trau chuốt; sâu sắc nhưng lại dể hiểu; công phu nhưng vẫn phải hồn nhiên Do đó, câu thơ Truyện Kiều dường như chỗ nào cũng óng ánh Nó vừa thoã mãn được tình cảm, vừa thoã mãn được trí tuệ, lại vừa thoã mãn được mỹ cảm của người đọc
Trang 14Việc kết hợp được từ Hán Việt và từ Thuần Việt vừa nâng cao tính
đa dạng, tính tao nhã, sâu sắc của thơ Nhưng Nguyễn Du không lạm dụng để làm sai lạc mất cái vẻ đẹp dân dã cần thiết làm nền cho câu thơ Ông đã phải sử dụng những biện pháp hoán cải các yếu tố từ chương học ấy sao cho chúng trở thành từ của dân tộc; đồng thời tận dụng được những khả năng sẵn có của ngôn ngữ dân gian vào trong tác phẩm
Với sự tìm tòi, khám phá và tâm huyết của một nhà thơ lớn, Nguyễn Du đã thâu tóm được trong tác phẩm của mình cả tinh hoa của ngôn ngữ bác học lẫn tinh hoa ngôn ngữ bình dân
Ngôn ngữ Truyện Kiều là một cái mốc chói lọi cho ngôn ngữ văn học dân tộc Việt Nam Công lao và sức đóng góp của Nguyễn Du về phương diện ngôn ngữ được khẳng định là vô tiền khoáng hậu trong lịch sử văn học Việt Nam
II TIỂU DẪN VỀ TỪ LOẠI PHỤ TỪ TRONG TIẾNG VIỆT
1 Một số quan niệm về từ loại phụ từ :
Phụ từ là nhừng từ không mang nghĩa từ vựng chân thực mà chỉ mang ý nghĩa ngữ pháp, được dùng kèm với danh từ, động từ, tính từ
để bổ sung ý nghĩa cho các từ này
Ví dụ về phụ từ: các, những, mọi, rất, sẽ, đang, hơi, quá, vẫn, còn, không, chưa, chẳng
Phụ từ còn thường đi kèm với danh từ, động tự, tính từ để cấu tạo cụm từ Nó không làm được thành phần chính của câu
Về khái niệm phụ từ, đến nay còn những ý kiến chưa thống nhất
a Tác giả Nguyễn Kim Thản gọi phụ từ là phó động từ
Ông viết: “phó động từ là những động từ đã chuyển hoá về ý nghĩa
từ vựng và đặc điểm ngữ pháp, và được dùng làm hình thức biểu thị
Trang 15những phạm trù ngữ pháp nhất định của động từ: không chịu được, chạy mất, chạy đi, nói thẳng thừng ra cho, ngoảnh cổ lại ”(sách”ngữ pháp Tiếng Việt ”.1995 )
b Nguyễn Hữu Quỳnh gọi phụ từ là phó từ:”phó từ là những từ
chuyên đi kèm với những từ khác để bổ sung ý nghĩa cho những từ đó”(Tiếng Việt hiện đại NXB - GD.1998 )
c Tác giả Diệp Quang Ban ( Sách ngữ pháp Tiềng Việt ) xem phụ từ
gồm phó từ và định từ Cùng với ý kiến này còn có tác giả Lê Biên,
Đỗ Thị Kim Liên
Khi khảo sát hoạt động của phụ từ trong Truyện Kiều, chúng tôi
đi theo hướng ý kiến của tác giả Đỗ Thị Kim Liên về từ loại phụ từ ( gồm phó từ và định từ )
2 Từ loại phụ từ trong tiếng Việt theo quan niệm của tác giả Đỗ Thị Kim Liên( sđd, trang 60 )
Phụ từ thuộc nhóm hư từ không mang ý nghĩa từ vựng chân thực
mà chỉ mang ý nghĩa ngữ pháp, kết hợp với danh, động, tính từ để bổ sung ý nghĩa cho các từ này Nó không làm thành phần chính của câu
a Định từ “ cái “ chỉ xuất : thường đứng trước danh từ chỉ loại, hoặc
đồng thời đứng trước cả danh từ thực và danh từ chỉ loại
Ví dụ: Cái thứ rau này
Trang 16“Cái” chỉ xuất có thể đứng trước danh từ trừu tượng vá danh từ chỉ chất liệu
Ví dụ:
“ Cái tự do kiểu Mĩ ấy
Cái thịt này không ngon “
b Định từ chỉ lượng: mỗi,từng, mọi, mấy
Thường đứng trước danh từ chỉ ý nghĩa phân phối về lượng
2.1.2 Phó từ
Phó từ là những từ chuyên đi kèm phía trước và sau động từ, tính
từ Chúng có khoảng 65 phó từ, có những phó từ đứng trước hay chuyên đứng sau động từ, tính từ nhưng cũng có những phó từ vừa có khả năng đứng trước vừa có khả năng đứng sau động tính từ
Trang 17Máu anh phun theo lửa đạn cầu vồng
a2 Nhóm phó từ chỉ sự tiếp diễn của hành động: đều, cũng, cần, cứ,
còn, lại, luôn, dần, thỉnh thoảng,
Hôm qua, anh ấy không ăn cơm
a4 Nhóm phó từ chỉ sự cầu khiến: hãy, đừng, chớ
“Hãy” dùng khi người nói muốn đối tượng thực hiện hành động
Ví dụ:
Hãy giữ gìn danh dự lúc còn trẻ !
Chị ơi đừng đi đâu
Em nghe như đằng sau
Có tiếng người như đang bước
“Đừng” dùng khi muốn người nghe không thực hiện một hành động
gì đó, hoặc chấm dứt một hành động đã được bắt đầu
“Chớ” dùng khi người nói muốn đưa ra một lời khuyên răn, một lời
đề nghị hướng đến người nghe
Ví du:
Chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo ( Tục ngữ )
Trang 18a5 Nhóm phó từ chỉ mức độ thường đi với tính từ hoặc nhóm động
từ tình thái, động từ trạng thái: quá, rất, hơi, cực kỳ, vô cùng, khá, khí,
Ví dụ: Hỡi em rất gần, rất xa, rất yêu
a6 Nhóm phó từ chỉ sự diễn biến bất ngờ của hành động : bỗng,
bỗng nhiên, bỗng dưng, bỗng đâu, bỗng không
Ví dụ: Mùa này bỗng rực lên
Những sắc màu đẹp nhất Ngực lép bốn nghìn năm, trưa nay cơn gió dậy Thổi bùng lên, tim bỗng hoá mặt trời
.Cô ta tự vẽ lấy chân dung của mình
.Bão bùng thân bọc lấy thân
.Tự mình làm lấy mọi việc
b3 Nhóm phó từ kết quả hành động:được, mất, xa, nỗi
Ví dụ:
Vườn cây xanh và chiếc nón kia Không dấu nỗi tình yêu cô rực cháy
b4 Nhóm phó từ chỉ hướng của hành động dời chỗ : ra, vào, lên,
xuống, sang, qua, về, lai, tới, lui
Ví dụ:
Trang 19.Mặt anh buồn như đá,
Ai vần ra giữa đường
.Chi em thơ thẫn dan tay ra về
b5 Phó từ chỉ sự tiếp tục:nữa, mãi, hoài, luôn
.Thương nhau tre không ở riêng
.Cùng nhau kể lể sau xưa
c) Các phó từ vừa có khả năng đứng trước, vừa có khả năng đứng
sau: mãi, vô cùng, tuyệt, cực kỳ, luôn luôn, mãi mãi, quá, dần, liền
Ví dụ: Tôi chỉ sống để hoài hoài tưởng niệm
Mãi mãi yêu, nhưng dấu diếm luôn luôn Anh luôn luôn nói dối làm mọi người mất tin
III Tiểu kết chương I
1 Truyện Kiều là một tác phẩm thành công về nội dung lẫn nghệ
thuật, là một kiệt tác” Vô tiền khoáng hậu” Tác phẩm đã phản ánh được những vấn đề lớn lao của thời đại với một thái độ lên án xã hội thối nát chà đạp lên quyền sống của con người, qua đó thể hiện được chủ nghĩa nhân đạo của truyện
Ngôn ngữ Truyện Kiều đạt đến trình độ cao, vừa mang tính bác học vừa giàu chất dân dã, mộc mạc, bình dị Ngôn ngữ Truyện Kiều đã đánh dấu một cột mốc chói lọi cho sự phát triển của ngôn ngữ dân tộc nói chung và ngôn ngữ văn chương nói riêng
Trang 20“Giá trị của Truyện Kiều, ngoài chủ nghĩa nhân đạo của nó, còn ở những lời thơ rất đẹp, rất dân tộc, nhẹ nhàng mà ý nghĩa sâu xa”(báo Nhân dân.1955)
2 Từ loại phụ từ trong tiếng Việt gồm những từ không mang ý
nghĩa từ vựng chân thực mà chỉ mang ý nghĩa ngữ pháp, dùng kèm với danh từ, động từ, tính từ để bổ sung ý nghĩa cho các từ này trong cụm từ và trong câu
Từ loại phụ từ có tất cả 12 tiểu nhóm, trong đó có 5 tiểu nhóm có thể đứng trước các động từ, đó là: phó từ thời gian, phó từ tiếp diễn, phó từ phủ định/ khẳng định, phó từ cầu khiến, phó từ chỉ diển biến bất ngờ của hành động
Trong chương II, khoá luận sẽ đi vào thống kê, phân loại, miêu tả
và nêu nhận xét về 5 nhóm phụ từ đi trước động từ trong Truyện Kiều
CHƯƠNG II: CÁC NHÓM PHỤ TỪ ĐỨNG TRƯỚC ĐỘNG TỪ
TRONG TRUYỆN KIỀU
I Kết quả thống kê và phân loại
Do phạm vi kiến thức của một đề tài khoá luận, chúng tôi chỉ khảo sát các tiểu nhóm của từ loại phụ từ đứng trước động từ trong Truyện Kiều Qua đó, chúng tôi đã phân ra làm 5 tiểu loại phụ từ đứng trước động từ trong tác phẩm
1 Nhóm phó từ thời gian
Trong Truyện Kiều, có các phụ từ thời gian sau đây :
Đã : chỉ thời gian quá khứ gồm tất cả 300 lần dùng, trong đó đã (265 lần) và đà ( 35 lần )
Ví dụ:
Trang 21Ta từ thoắt đã dời chân cõi ngoài (câu 2418) Giác duyên vộiđã gởi lời từ quy (câu 2398)
Hay:
Người đà lên ngựa khách còn nghé theo (câu 268)
Thoắt nghe chàng đã rụng rời xiết bao (câu 2764)
Cuối tường dường có nẻo thông mới rào (câu 390)
.Đang(đương): trong khi(9 lần)
Ví dụ:
Rằng: lòng đương thổn thức đầy ( câu 719)
Có những phụ từ chỉ thời gian như: ”vừa mới”,”sắp”,”sẽ” không được sử dụng lần nào Nó đều có ý nghĩa đối với tác phẩm mà cụ thể
là cuộc đời của nhân vật chính - Thuý Kiều Ở phần sau chúng ta sẽ tìm hiểu kỹ hơn để thấy được dụng ý nghệ thuật của tác giả
2 Nhóm phó từ tiếp diễn:
Trong Truyện Kiều, có các phụ từ tiếp diễn sau:
Còn: chưa hết, chưa xong, chưa đến(69 lần)
Ví dụ:
Nỗi riêng còn mắc mối tình chi đây (câu 718) Hay:
Trang 22.Cũng: tỏ ý tương tự, để lặp lại một ý đã tỏ ở trên(53 lần)
Ví dụ:
Vì nàng nghĩ cũng thương thầm xót vay (câu 610)
Hở môi ra cũng thẹn thùng (câu 721) Cứ: tiếp theo việc khác ( 3 lần)
Trong Truyện Kiều, có các phụ từ phủ định sau:
Không: trái với có(23 lần)
Ví dụ:
Đã không biết sống là vui (câu 2613)
.Chưa: trái với “đã”,”rồi” hoặc “chửa”(biến âm) (58 lần)
Ví dụ:
Vài tuần chưa cạn chén khuyên (câu 893) Thề hoa chưa ráo chén vàng ( câu 701) Chẳng: không, ý dứt khoát hơn (107 lần)
Ví dụ:
Ai lay chẳng chuyển ai rung chẳng rời (câu2522) Sâu rêu chẳng vẽ dấu giày (câu 2233) Mới hay tiền định chẳng nhầm (câu2409)
4 Nhóm phó từ cầu khiến
Trong Truyện Kiều có các phụ từ cầu khiến sau:
.Đừng: không thôi, không nên, chớ nên(5 lần)
Trang 23Hãy về tạm phó giam ngoài (câu613)
5 Nhóm phó từ chỉ diễn biến bất ngờ của hành động :
Trong Truyện Kiều, có các phụ từ chỉ sự bất ngờ của hành động sau:
Trang 24Vậy số lần xuất hiện của các phụ từ đứng trước động từ trên
chiếm tỉ lệ như thế nào trên một câu thơ Truyện Kiều?
*Tiểu nhóm phụ từ thời gian (có 5 từ)
Trang 25Từ Chợt Bỗng Bỗng đâu Bỗng
không
Bỗng dưng
từ ( đứng trước động từ ) trong Truyện Kiều :
Trong nhóm phụ từ thời gian có những từ như : sắp, sẽ, bỗng, còn
Hiện nay đã có dùng mà thời Nguyễn Du, trong Truyện Kiều chưa dùng
Trong nhóm phụ từ tiếp diễn có những từ : đều, lại, luôn, dần, thỉnh thoảng, trong Truyện Kiều cũng chưa được dùng
Trong nhóm phụ từ chỉ sự bất ngờ của hành động thì có từ bỗng nhiên hiện nay có dùng mà thời Nguyễn Du, trong Truyện Kiều chưa được dùng
6 Tiểu kết
Qua bảng thống kê tỷ lệ lượt dùng các phụ từ đứng trước động từ trong Truyện Kiều, ta thấy Nguyễn Du sử dụng các từ không giống nhau Có những từ tần số xuất hiện rất cao như: đã (0.009 lượt/1 câu), chẳng (0.033 lượt/1 câu),còn (0.021 lượt/1 câu); nhưng có những từ được dùng với tần số thấp, thậm chí có từ chỉ được dùng 1 hoặc dùng
2 lần trong toàn bộ Truyện Kiều: từng (0.0006 lượt/1 câu), bỗng dưng (0.0003 lượt/1 câu), bỗng đâu (0.0006 lượt/1 câu), cứ (0.0009 lượt/ 1câu) những phụ từ này đều phục vụ cho ý đồ nghệ thuật của tác giả,
Trang 26nội dung của tác phẩm khi đứng trước các tiểu nhóm động từ khác nhau
II VAI TRÕ, TÁC DỤNG CỦA CÁC PHÓ TỪ ĐỨNG TRƯỚC ĐỘNG TỪ TRONG TRUYỆN KIỀU
Phụ từ đứng trước động từ trong Truyện Kiều có vai trò quan trọng trong việc bổ sung ý nghĩa phụ cho động từ Nói một cách khác, động
từ Tiếng Việt có một loại hư từ đặc biệt Những hư từ này không những có tác dụng hình thức hoá động từ, phân biệt động từ với các từ loại khác mà còn có tác dụng biểu thị những ý nghĩa ngữ pháp phụ theo động từ, trong đó có động từ
Động từ có số lượng khá lớn trong vốn từ vựng và có vai trò hoạt động ngữ pháp hết sức quan trọng trong việc tổ chức cấu tạo câu Tiếng Việt
Về đặc điểm ý nghĩa: động từ biểu thị quá trình cũng tức là biểu thị hoạt động, trạng thái của sự vật trong quá trình
Về đặc điểm ngữ pháp: động từ làm thành tố trung tâm của ngữ động từ khi làm trung tâm, động từ có khả năng kết hợp với các thành
tố phụ, đứng trước hoặc đứng sau
Trong Truyện Kiều, thành tố phụ trong cum động từ là các phụ từ có
ý nghĩa ngữ pháp gì và tác dụng như thế nào khi đứng trước động từ ?
1.Vai trò,tác dụng của nhóm phó từ thời gian
Sự cảm nhận thời gian trên thực tế là những thay đổi,biến cố diễn ra theo tự nhiên,trong cuộc đời của con người thời gian trong Truyện Kiều là những biến cố thăng trầm trong cuộc đời của các nhân vật, trước hết là của Thuý Kiều trong đoạn đời khổ ải, đắng cay suốt 15 năm lưu lạc Thời gian trong tác phẩm ngoài việc được Nguyễn Du sử dụng bằng các danh từ thời gian thì không thể phủ định được vai trò
Trang 27của nhóm phó từ thời gian, đó là:đã, từng,vừa, mới, đang Những phụ
từ nàyđứng trước động từ với ý nghĩa khái quát là chỉ thời gian của hành động, đó có thể là những sự kiện đã hoặc đang, hoặc vừa mới xảy ra Phó từ thời gian còn có vai rò khi nhà thơ thể hiện nỗi lòng, tâm trạng của nhân vật trong chuổi thời gian nghệ thuật
a Trong nhóm phó từ thời gian thì từ ”đã” chiếm tần số sử dụng lớn
nhất (300 lần) với tỉ lệ trung bình số lượt dùng/1 câu thơ là 0.09 lần Phụ từ “đã” xuất hiện với ý nghĩa chỉ thời gian quá khứ, sự qua rồi của một hành động ( ở đây chúng tôi chỉ xét đến những phụ từ đứng trước động từ biểu thị hành động chứ không xét đến những lần từ ”đã” xuất hiện trong câu mang ý nghĩa tình thái kiểu “ăn cho đã”)
Bằng sự phong phú, đa dạng trong cách dùng từ ”đã”mà Nguyễn Du diễn tả được nhiều hành động cũng như cảm xúc, tâm trạng của nhân vật Chẳng hạn “đã” chỉ một hành động, cảm xúc của Thuý Kiều khi xúc động trước cuộc đời của Đạm Tiên:
Thoắt nghe Kiều đã đầm đầm châu sa (câu 82)
Có nhiều khi, biểu thị hành động chấp nhận mọi việc đã rồi:
Hoa trôi bèo dạt đã đành ( câu 219)
Đó còn có thể là một nỗi mong ước đã ấp ủ, chờ trông từ trước
Ngẫm cơ hội ngộ đã dành hôm nay (câu 376) Chỉ sự luân chảy của thời gian như một lẽ thường của tạo hoá
Bóng chiều đã ngả dặm chiều còn xa (câu 114) Bóng trăng lại xế hoa lê lại gần (câu 438)
Hoặc đó là một sự kết thúc của một hành động để tiếp tục một hành động khác:
Khách đà xuống ngựa đến nơi tự tình (câu 442)
Trang 28Biểu thị nỗi niềm mong ngóng, chờ đợi, hồi hộp nhìn theo bóng người thương trong một tâm trạng nối tiếc lúc biệt li:
Khách đà lên ngựa người còn nghé theo (câu 168)
Đó là một hành động vừa mới xảy ra mà chưa khuất xa tầm mắt của người quan sát
Cuộc đời củaVương Thuý Kiều từ khi bán mình chuộc cha đã phải chịu cảch dập vùi sương gió, liễu ép hoa nài với lắm nỗi gian truân, tủi nhục Khi ở lầu Ngưng Bích, chiều tàn, bóng hoàng hôn ập xuống là lúc Kiều hồi hộp, chờ “ân nhân” Sở Khanh đến giải thoát cho cuộc đời mình Mọi biến thái cảm xúc, sự khắc khoải ngóng trông của Kiều được diễn tả qua phụ từ “đã”
Rẽ song đã thấy Sở Khanh len vào (câu 1904) Nếu không dõi theo thì làm sao Kiều lại nhận thấy mọi hành động của Sở Khanh Trường hợp không có phụ từ “đã” ở câu này thì ý nghĩa diễn đạt của câu sẽ khác hẳn
Phụ từ ”đã” còn dùng để diễn tả một hành động đã được hoàn thành
Vầng đông trông đã đứng ngay nóc nhà (câu 560) Cành xuân đã bẻ cho người chuyền tay (câu 1262) Chỉ hành động bây giờ mới bắt đầu(thời điểm phát ngôn)
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây (câu 756)
Đó còn là một suy nghĩ định làm:
Cầm dao nàng đã toan bài quyên sinh (câu 858)
Sự mất mát một cái gì đó đã diễn ra trong quákhứ,mà hiện tại vẫn còn nhận biết được và thấm thía về sự mất mát đó
Thiếp như hoa dã lìa cành (câu 1325)
Trang 29Mọi sự việc diễn ra trong quá khứ làm cho Kiều dường như mất đi sức phản kháng, cho nên có những lúc sự buông xuôi, cam chịu là giải thoát cuộc đời
Thôi đà mắc lận thì thôi (câu 1157) Định mệnh đã an bài, cho nên thời gian quá khứ này cũng như hiện tại luôn trong đau đớn, ê chề, nó cứ lặp đi lặp lại trong chuỗi ngày đằng đẵng của Kiều
Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng (câu 1268) Cuộc đời định sẵn, cái”nhân duyên tiền định ” chính là cái nợ đoạn trường mà Kiều phải trải qua
Đã cho lấy chữ hồng nhan (câu 1271)
Đã đày vào kiếp phong trần (câu 1273) Trong mỗi ngữ cảnh, đòi hỏi sự khác biệt ở cách diễn đạt để khả năng biểu nghĩa của từ phong phú, đa dạng hơn.”đã” còn có tác dụng đánh dấu mốc thời gian chuyển biến, một bước rẽ ngoặt mới trong cuộc đời
Gót tiên phút đã thoát vòng trần ai (câu 1380) Một lời đã trót thâm giao (câu 3085) Cái nợ mà Kiều phải trả vẫn còn chưa hết thì nàng vẫn tiếp tục cuộc sống trầm luân, nếm đủ mùi cay đắng xót xa
Còn nhiều nợ lắm sao đà thác cho (câu 1694) Trời kia đã bắt làm người có thân (câu 3242)
Đã mang lấy nghiệp vào thân (câu 3249) Không những diển tả những sự việc, hành động diễn ra ở thời quá khứ, sự vận động của thời gian trong cảm nhận của nhân vật, phó từ
”đã” còn diễn tả một số nét nghĩa khác Ta cảm thấy thời gian có thể
Trang 30quay ngược lại (quá khứ trong tương lai hay hiện tại), trước những thử thách của thời gian, ”Truyện Kiều”, mỗi khi con người đứng trước một
sự đổi thay thì hiện tại thường gợi nhớ quá khứ, so sánh hiện tại với quá khứ rồi”giật mình” tỉnh giấc đau đớn trước hiện tại cuộc đời mình Chính điều đó làm cho “đã” tuy sử dụng nhiều nhưng không gây nhàm chán người đọc cảm nhận được ý nghĩa của từng câu thơ, đó cũng chính là thành công của Nguễn Du khi phát huy tối đa tác dụng của phụ từ “đã‟ đem đến cho câu chữ tinh vi hơn, phong phú hơn Việc sử dụng phó từ ”đã”với tần số cao như vậy không phải là mới lạ trong Tiếng Việt, trong “Quốc âm thi tập” của Nguyễn Trãi (thể
kỷ XV), từ “đã” xuất hiện 81 lần, còn từ “sẽ “ thì không có Điều này
có thể lý giải bằng một giả thiết là cái mà nhân dân chú ý nhiều nhất là
sự hoàn thành _ quá khứ và sự tiến hành của tiến trình
Bằng tài năng của mình, Nguyễn Du đã khai thác thành công và làm cho từ “đã” khi đi vào mỗi câu thơ có khả năng tiến hoá khôn lường
Trong cuộc đời bị quăng quật, nếm trải vị đắng của cuộc đời, khi nhìn lại quãng thời gian đã qua, Kiều mới chiêm nghiệm và nhìn được cuộc đời thực tại Nàng mới có cảm giác lánh xa thực tại, cõi đời trần tục, cho nên một loạt từ ”đã” được sử dụng
Khát khao đã thoả tấm lòng bấy nay! (câu3040)
Đã đem mình bỏ am mây (câu 3041) Mùi thiền đà bén muối dưa (câu3043) Mùi thiền ăn mặc đà ưa nâu sồng (câu3044)
Đã tu, tu trót qua thì, thì thôi (câu 3048)