1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng quy trình sử dụng phương pháp dạy học tích cực trong dạy học giải quyết vấn đề trong dạy học phần mô hình kỹ thuật cơ khí và kỹ thuật điện

65 47 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 644,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó việc nghiên cứu quy trình sử dụng phương pháp giải quyết vấn đề trong dạy học phần mô hình kỹ thuật cơ khí và kỹ thuật điện để phát huy tính tích cực sáng tạo của học sinh, để thực

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Với tư cách là một sinh viên thực tập làm nghiên cứu khoa học, tôi đã thực hiện đề tài “Xây dựng quy trình sử dụng phương pháp giải quyết vấn đề trong dạy học phần kỹ thuật cơ khí và kỹ thuật điện “ trong một thời gian không dài, điều kiện không ít khó khăn Để hoàn thành công trình nghiên cứu này, chúng tôi đã khẩn trương thu thập, xử lý và chọn lọc các tài liệu, thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra Những kết quả mà tôi đạt được ngoài

sự cố gắng của bản thân, còn được sự tận tình giúp đỡ của các thầy cô giáo trong khoa giáo dục tiểu học và sự động viên, khích lệ của bạn bè

Qua đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo Thái Văn Thành, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện đề tài này tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa giáo dục tiểu học trường Đại học Vinh đã cho tôi những ý kiến đóng góp quý báu Cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các cô giáo, các em học sinh trường tiểu học Cửa Nam 1- thành phố Vinh đã tạo điều kiện để cho tôi hoàn thành đề tài này

Đây là công trình tập dượt đầu tiên nên chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy tôi rất mong nhận được sự góp ý, những lời chỉ bảo, nhận xét của các thầy cô giáo và các bạn

Tác giả: Trịnh Thị Thu

Trang 2

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài 7

1.4 Thực trạng sử dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề

trong dạy học ở bậc tiểu học

18

1.5 Cấu trúc chương trình môn kỹ thuật trong phần mô hình kỹ

thuật cơ khí và kỹ thuật điện

19

1.6 Thực trạng nhận thức và giải quyết vấn đề trong dạy học phần

mô hình kỹ thuật cơ khí và kỹ thuật điện

20

Chương 2: Quy trình sử dụng phương pháp dạy học giải

quyết vấn đề trong dạy học phần mô hình kỹ thuật cơ khí và kỹ

thuật điện

28

2.1 Khái niệm về quy trình

Trang 3

2.4 Thiết kế bài dạy theo quy trình sử dụng phương pháp dạy học giải

quyết vấn đề trong dạy học phần mô hình kỹ thuật cơ khí và kỹ thuật điện

31

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Ngay nay, nước ta đang tiến hành thời kỳ CNH-HĐH, đòi hỏi ngành giáo dục phải đào tạo những con người đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội Để đạt được mục đích đó, đòi hỏi nhà trường phải đổi mới mạnh mẽ nội dung và phương pháp đào tạo, như nghị quyết TW lần thứ II của Đảng đã nhấn mạnh: “ Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục-đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy- sáng tạo của người học, từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào qúa trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh”[22, trang 41]

Từ năm học 2002-2003, Bộ giáo dục và đào tạo đã triển khai thực hiện chương trình Tiểu học mới Một trong những phương pháp dạy học phát huy được tính tích cực, sáng tạo của học sinh đồng thời thực hiện tốt chương trình Tiểu học đó là phương pháp giải quyết vấn đề

Một số tác giả đã nghiên cứu việc sử dụng phương pháp giải quyết vấn

đề trong dạy học Song việc nghiên cứu của họ chỉ dừng lại ở một số môn học như: Vật lý, Sinh học, Lịch Sử ở bậc Trung học Việc sử dụng phương pháp giải quyết vấn đề trong dạy học phần mô hình kỹ thuật cơ khí và kỹ thuật điện

đã thực hiện ở mức độ nhất định Song việc sử dụng phương pháp này của giáo viên còn lúng túng chưa có cơ khoa học, do đó chất lượng đạt được chưa cao Do đó việc nghiên cứu quy trình sử dụng phương pháp giải quyết vấn đề trong dạy học phần mô hình kỹ thuật cơ khí và kỹ thuật điện để phát huy tính tích cực sáng tạo của học sinh, để thực hiện tốt chương trình Tiểu học mới là một việc làm cần thiết và quan trọng Chính vì lẽ đó mà chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu này

Trang 5

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Mục đích nghiên cứu của đề tài là nhằm nâng cao chất lượng của quá trình dạy học môn kỹ thuật ở bậc Tiểu học

3 KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Quy trình sử dụng phương pháp giải quyết vấn đề dạy học phần mô hình kỹ thuật cơ khí và kỹ thuật điện trong môn kỹ thuật ở bậc Tiểu học

3.2 Khách thể nghiên cứu

Quá trình dạy học môn kỹ thuật ở bậc Tiểu học

4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

Nếu chúng ta xây dựng được một quy trình sử dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề trong dạy học phần mô hình kỹ thuật cơ khí và kỹ thuật điện ở bậc Tiểu học theo các giai đoạn, các bước một cách hợp lí thì sẽ nâng cao được chất lượng của quá trình dạy học này

5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU.

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về việc sử dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề trong dạy học phần mô hình kỹ thuật cơ khí và kỹ thuật điện

5.2 Đề xuất quy trình sử dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề trong dạy học phần mô hình kỹ thuật cơ khí và kỹ thuật điện

5.3 Thực nghiệm sư phạm

Nhằm kiểm tra quy trình sử dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn

đề trong dạy học phần mô hình kỹ thuật cơ khí và kỹ thuật điện trong môn kỹ thuật ở bậc Tiểu học

6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

6.1 Nghiên cứu lý luận

6.2 Phương pháp quan sát

Trang 6

6.3 Phương pháp điều tra

Điều tra thông qua toạ đàm với giáo viên về vai trò của phương pháp giải quyết vấn đề và việc sử dụng phương pháp này trong dạy học phần mô hình kỹ thuật cơ khí và kỹ thuật điện trong môn kỹ thuật ở bậc Tiểu học

6.4 Thực nghiệm sư phạm

Nhằm kiểm tra tính hiệu quả của quy trình sử dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề trong dạy học phần mô hình kỹ thuật cơ khí và kỹ thuật điện

6.5 Phương pháp toán học thống kê

Trang 7

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

1.1 PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

Trước hết chúng ta tìm hiểu khái niệm phương pháp

Phương pháp được hiểu như một hệ thống các nguyên tắc, hệ thống các thao tác có thể nhằm đi từ những điều kiện nhất định ban đầu tới một mục đích xác định

Dấu hiệu bản chất của phương pháp là tính hướng đính, phạm trù phương pháp có chức năng, phương tiện và đặc trưng kết thúc

Về bản chất, phương pháp gắn bó tương hợp với đối tượng Do đó mà nội dung nó quyết định phương pháp hay yêu cầu nhất thiết phải có về sự phù hợp của phương pháp với logic sự vật Theo Hegel: “ Phương pháp là ý thức

về hình thức của sự tự vận động bên trong của nội dung”[17, trang 22]

Phương pháp gắn liền với tính kế hoạch và tính liên tục của các thao tác Nói cách khác, bất kỳ phương pháp nào cũng gắn với xây dựng hành động

và các dạng của nó, theo một trình tự nhất định với những phương tiện tương ứng để đạt được mục đích dự kiến

I.Ia lecne cho rằng: “ Phương pháp dạy học là một hệ thống những hành động có mục đích của giáo viên nhằm tổ chức hoạt động nhận thức, thực hành của học sinh, đảm bảo cho các em lĩnh hội nội dung học vấn” [20, trang 46]

Trang 8

Theo Nguyễn Ngọc Quang: “ Phương pháp dạy học là cách thức làm việc của thầy và trò trong sự phối hợp thống nhất dưới sự chỉ đạo của thầy, nhằm làm cho trò tự giác, tích cực, tự lực đạt tới mục đích dạy học” [17, trang 23]

Mặc dù chưa có sự thống nhất về khái niệm phương pháp dạy học, song các tác giả đều thống nhất chung một quan niệm là:

Phương pháp dạy học có những dấu hiệu đặc trưng sau đây:

- Phản ánh sự vận động của nội dung học vấn đã được nhà trường quy định

- Phản ánh sự vận động của quá trìng nhận thức của học sinh nhằm đạt được mục đích đặt ra

- Phản ánh cách thức trao đổi thông tin giữa thầy và trò

- Phản ánh cách thức điều khiển hoạt động nhận thức, kích thích và xây dựng động cơ, tổ chức hoạt động nhận thức và kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động

Qua phân tích các khái niệm, phương pháp dạy học và tính đến việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng quy trình hoá về việc tiến hành dạy học nhằm tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh, chúng tôi cho rằng: Phương pháp dạy học là một hệ thống tác động liên tục của giáo viên để tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh nhằm làm cho học sinh tự giác, tích cực, tự học đạt tới mục đích dạy học

Các phương pháp dạy học chung được phân loại như sau:

-Phương pháp tiếp nhận thông tin

- Phương pháp tái hiện

- Phương pháp trình bày nêu vấn đề

- Phương pháp tìm tòi từng phần

- Phương pháp nghiên cứu

Trang 9

Ba phương pháp sau có ý nghĩa đặc biệt trong việc hình thành và phát triển hoạt động sáng tạo, đó là hoạt động không thể mô tả như một hệ thống các hành động được điều khiển hay quy định một cách nghiêm ngặt

1.2 PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1.2.1 Khái niệm phương pháp dạy học giải quyết vấn đề

Giải quyết vấn đề là một ý tưởng xuất hiện trong giáo dục hiện đại một cách khá phổ biến và có tính hấp dẫn trong vòng hơn thập kỷ nay Hướng lấy

“vấn đề”, “chủ đề”, “tình huống có vấn đề” là một hướng đổi mới phương pháp dạy học, lấy bồi dưỡng năng lực giải quyết vấn đề là một yêu cầu mới của giáo dục

Có nhiều quan điểm khác nhau về thuật ngữ “dạy học nêu vấn đề”.Có người cho rằng đây là một kiểu dạy học hoặc là một hình thức tổ chức dạy học, có người lại xem đó là một phương pháp dạy học

Theo I.IA Lecne: “Dạy học nêu vấn đề là một phương pháp dạy học trong đó học sinh tham gia một cách có hệ thống vào quá trình giải quyết vấn

đề và các bài toán có vấn đề được xây dựng theo nội dung tài liệu học trong chương trình [13] Trên quan điểm chung nhất, dạy học nêu vấn đề là phương pháp giáo viên dùng câu hỏi đưa học sinh vào tình huống có vấn đề, tạo những điều kiện cần thiết để học sinh giải quyết được nhưng vấn đề nêu ra

Như vậy vấn đề là gì? Và thế nào là tình huống có vấn đề?

Vấn đề chỉ xuất hiện khi nào đã hình thành những điều kiện để giải quyết chúng, hay nói cách khác vấn đề là câu hỏi đặt ra cho học sinh mà chưa biết lời giải từ trước, phải có trình độ tư duy, tìm tòi sáng tạo để tìm ra lời giải, nhưng học sinh đã có sẵn một số phương tiện ban đầu để bổ dụng thích hợp vào việc tìm tòi đó [19]

Theo M.L macmutốp: “Tình huống có vấn đề là trở ngại về trí tuệ của con người, xuất hiện khi người ta chưa biết cách giải thích hiện tượng, sự kiện, khi chưa đạt tới mục đích bằng cách thức hành động quen thuộc Tình huống

Trang 10

này kích thích con người tìm tòi cách giải thích và hành động mới Tình huống

có vấn đề là quy luật hoạt động nhận thức, sáng tạo có hiệu quả, nó quy định bởi sự khởi đầu của tư duy, hành động tư duy tích cực sẽ diễn ra trong quá trình nêu và giải quyết vấn đề [18]

Theo thuyết thông tin: “Tình huống có vấn đề là trạng thái của chủ thể

có một độ bất định nào đó trước việc lựa chọn một giải pháp tình huống có vấn đề trong nhiều khả năng có thể có mà chưa cái nào trong số đó xuất hiện”

Như vậy tình huống có vấn đề là trạng thái tâm lý độc đáo của chướng ngại nhận thức xuất hiện mâu thuẫn nội tâm, có nhu cầu giải quyết mâu thuẫn

đó không phải bằng tái hiện hay bắt chước mà bằng tìm tòi sáng tạo tích cực đầy hưng phấn Khi tới đích thì lĩnh hội được cả kiến thức, phương pháp dành kiến thức và cả niềm vui sướng của sự phát hiện [18]

Như vậy tình huống có vấn đề là một khó khăn được chủ thể ý thức rõ ràng, mà muốn khắc phục thì phải tìm tòi những tri thức mới, phương thức hành động mới

Tình huống có vấn đề đặc trưng cho thái độ của chủ thể đối với trở ngại nảy sinh ra trong lĩnh vực hoạt động thực hành hay trí óc, nhưng đó là thái độ

mà trong đó chủ thể chưa biết cách khắc phục trở ngại và phải tìm tòi cách khắc phục Nếu không ý thức được khó khăn thì không nảy sinh ra nhu cầu tìm tòi và không có nhu cầu tìm tòi thì không có tư duy sáng tạo Một đứa trẻ chưa ý thức được sự nguy hiểm của các hố giữa đường sẽ vấp ngã, đối với đứa trẻ đó tình huống có vấn đề chưa sảy ra Đối với một thiếu niên đã biết gắp hố thì nhảy qua hoặc tránh đi mà không cần suy nghĩ gì về tình huống cả thì tình huống này cũng không phải là tình huống có vấn đề C.L Rubin stein nhấn mạnh rằng tư duy thường bắt đầu từ một vấn đề hay một câu hỏi, từ sự ngạc nhiên hay sự thắc mắc, từ sự mâu thuẫn Tình huống có vấn đề như thế có tác dung lôi cuốn cá nhân vào quá trình tư duy [19]

Trang 11

Muốn tình huống có vấn đề hoàn thành được chức năng của nó là kích thích tư duy thì nó phải được chủ thể tiếp nhận để giải quyết Tình huống này

sẽ xảy ra nếu chủ thể sẵn có tri thức ban đầu nào đấy đáp ứng được nội dung

cụ thể của tình huống, sẵn có những phương tiện của trí óc để sử xự với nội dung cụ thể đó Trong trường hợp này tình huống có vấn đề trở thành một vấn

1.2.2 Đặc trưng của phương pháp dạy học giải quyết vấn đề

1.2.2.1 Đặc trưng cơ bản của phương pháp dạy học giải quyết vấn

đề là tình huống có vấn đề

C.L Rubin stein nhấn mạnh rằng tư duy chỉ bắt đầu ở nơi suất hiện tình huống có vấn đề Nói cách khác là ở đâu không có vấn đề thì ở đó không có tư duy Tình huống có vấn đề luôn chứa đựng một nội dung cần xác định, một nhiệm vụ cần giải quyết, một vướng mắc cần tháo gỡ Và do vậy, kết quả của việc nghiên cứu và giải quyết tình huống có vấn đề sẽ là tri thức mới, nhận thức mới hoặc phương pháp hành động mới đối với chủ thể, ý tưởng học thuộc

và ghi nhớ được thay thế bằng ý tưởng hoạt động và thể nghiệm của học sinh

Trang 12

trong những tình huống giáo dục, được mô tả càng chi tiết càng tốt trong khuôn khổ của nội dung chương trình giảng dạy Hoạt động là một mặt quan trọng của việc triển khai chương trình, ở đó chương trình được dùng trực tiếp như là một công cụ giảng dạy, chỗ nào trong chương trình mà chưa bao gồm hoạt động thì hoạt động cần được chỉ rõ trong tài liệu hướng dẫn dùng cho giáo viên

Hoạt động học tập được tiến hành trong những tình huống giáo dục học tập, cần được kế hoạch hoá trong chương trình, những thành phần chủ yếu của một tình huống học tập gồm:

- Nội dung của môn học hoặc chủ đề

- Tình huống khởi đầu

- Hoạt động trí lực của học sinh trong việc trả lời câu hỏi hoặc giải quyết vấn đề

- Kết quả hoặc sản phẩm của hoạt động

- Đánh giá kết quả

1.2.2.2 Quá trình dạy học theo phương pháp dạy học giải quyết vấn

đề được chia thành những bước, những giai đoạn có tính mục đích chuyên biệt

Có nhiều cách chia bước, chia giai đoạn để giải quyết:

+ John Dewey đề nghị 5 bước để giải quyết vấn đề [19]

- Tìm hiểu vấn đề;

- Xác định vấn đề;

- Đưa ra những giả thuyết khác nhau để giải quyết vấn đề;

- Xem xét hệ quả của từng giả thuyết dưới ánh sáng của những kinh nghiệm trước đây;

- Thử nghiệm giải pháp thích hợp nhất

+ Kudriasev chia bốn giai đoạn:

- Sự xuất hiện của chính vấn đề và những kích thích đầu tiên thúc đẩy chủ thể giải quyết vấn đề;

Trang 13

- Chủ thể nhận thức sâu sắc và chấp nhận vấn đề cần giải quyết;

- Quá trình tìm kiếm lời giải cho vấn đề đã được chấp nhận giải quyết, lý giải, chứng minh kiểm tra;

- Tìm được kết quả cuối cùng và đánh giá toàn diện các kết quả tìm được

Như vậy học tập theo phương pháp dạy học giải quyết vấn đề là hình thức dạy học ở đó chúng ta tổ chức được tình huống có vấn đề, giúp người học nhận thức nó, chấp nhận giải quyết và tìm tòi lời giải trong quá trình “ hoạt động hợp tác” giữa giáo viên và học sinh, phát huy tối đa tính độc lập của học sinh kết hợp với sự hướng dẫn của giáo viên

Đặc trưng độc đáo của dạy học giải quyết vấn đề là sự tiếp thu tri thức trong hoạt động tư duy sáng tạo

Mỗi loại bài toán có những nguyên tắc giải chung, đó là Algorit tổng quát, mỗi một loại bài toán lại có Algorit cụ thể Sự phát hiện ra hệ thống nguyên tắc chung có thể được tiến hành nhờ việc tiếp thu tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của học sinh Quá trình xây dựng và củng cố phải được tiến hành trong khi giải bài toán cụ thể

1.2.2.3 Quá trình dạy học theo phương pháp dạy học giải quyết vấn đề bao gồm nhiều hình thức tổ chức đa dạng

Quá trình dạy học có thể diễn ra dưới những cách tổ chức đa dạng lôi cuốn người học tham gia cùng tập thể, động não, tranh luận dưới sự dẫn dắt gợi mở, cố vấn của thầy, như :

Trang 14

- Những chiến lược ra quyết định

- Báo cáo và trình bày

1.2.3 Cơ sở xuất phát của phương pháp dạy học giải quyết vấn đề

1.2.3.1 Cơ sở triết học

Theo triết học duy vật biên chứng, mâu thuẫn là động lực thúc đẩy quá trình mâu thuẫn Một vấn đề được gợi ra cho học sinh học tập chính là một mâu thuẫn giữa yêu cầu nhiệm vụ nhận thức với tri thức và kinh nghiệm sẵn

có Tình huống này phản ánh một cách logic và biện chứng quan hệ bên trong giữa tri thức cũ, kỹ năng cũ và kinh nghiệm cũ đối với yêu cầu giải thích sự kiện mới hoặc đổi mới tình thế

1.2.3.2 Cơ sở tâm lý học

Theo các nhà tâm lý học, con người chỉ bắt đầu tư duy tích cực khi nảy sinh nhu cầu tư duy, tức là khi đứng trước một khó khăn về nhận thức cần phải khắc phục, một tình huống gợi vấn đề “tư duy sáng tạo luôn luôn bắt đầu bằng một tình huống gợi vấn đề”[19]

Theo tâm lý học kiến tạo, học tập chủ yếu là một quá trình trong đó người học xây dựng tri thức cho mình bằng cách liên hệ những cảm nghiệm mới với những tri thức đã có Dạy học giải quyết vấn đề phù hợp với quan điểm này

1.2.3.3 Cơ sở giáo dục học

Dạy học giải quyết vấn đề phù hợp với nguyên tắc tính tự giác và tích cực, vì nó khêu gợi được hoạt động học tập mà chủ thể được hướng đích, gợi động cơ trong quá trình phát hiện và giải quyết vấn đề

Dạy học giải quyết vấn đề cũng biểu hiện sự thống nhất giữa kiến tạo tri thức, phát triển năng lực trí tuệ và bồi dưỡng phẩm chất đạo đức của học sinh Những tri thức mới được hình thành nhờ quá trình phát hiện và giải quyết vấn đề Tác dụng phát triển năng lực trí tuệ của phương pháp dạy học

Trang 15

thức phát hiện, tiếp cận và giải quyết vấn đề một cách khoa học Đồng thời, dạy học giải quyết vấn đề cũng góp phần bồi dưỡng cho học sinh những đức tính cần thiết của người lao động sáng tạo như: tính chủ động, tích cực, tính kiên trì vượt khó, tính kế hoạch và thói quen tự kiểm tra

Trang 16

1.2.4 Các hình thức dạy học giải quyết vấn đề

Tuỳ theo mức độ độc lập của học sinh trong quá trình dạy học giải quyết vấn đề, người ta nói tới các cấp độ khác nhau cũng đồng thời là những hình thức khác nhau của dạy học giải quyết vấn đề

1.2.4.1 Tự nghiên cứu vấn đề

Trong tự nghiên cứu vấn đề, tính độc lập của người học được phát huy cao độ Thầy giáo chỉ tạo ra tình huống có vấn đề, người học tự phát hiện và giải quyết vấn đề đó Như vậy, trong hình thức học này, người học độc lập nghiên cứu vấn đề và thực hiện tốt cả các phần cơ bản của quá trình nghiên cứu này

1.2.4.2 Vấn đáp phát hiện và giải quyết vấn đề

Trong vấn đáp phát hiện và giải quyết vấn đề, học sinh làm việc không hoàn toàn độc lập mà có sự gợi ý dẵn dắt của giáo viên khi cần thiết Phương tiện để thực hiện hình thức này là những câu hỏi của giáo viên và những câu trả lời hoặc hành động đáp lại của học sinh Như vậy, có sự đan kết, thay đổi hoạt động của giáo viên và học sinh dưới hình thức vấn đáp

Với hình thức này, ta thấy dạy học giải quyết vấn đề có phần giống với phương pháp vấn đáp Tuy nhiên, hai cách dạy học này thật ra không đồng nhất với nhau Nét quan trọng của dạy học giải quyết vấn đề không phải là những câu hỏi mà là tình huống gợi vấn đề Trong một giờ học giáo viên có thể đặt nhiều câu hỏi, nhưng nếu các câu hỏi này chỉ đòi hỏi tái hiện tri thức

đã học thì giờ học đó vẫn không phải là dạy học giải quyết vấn đề Ngược lại, trong một số trường hợp, việc phát hiện và giải quyết vấn đề của học sinh có thể diễn ra chủ yếu là nhờ tình huống gợi vấn đề chứ không phải là nhờ câu hỏi mà giáo viên đặt ra

1.2.4.3 Thuyết trình phát hiện và giải quyết vấn đề

ở hình thức này, mức độ độc lập của học sinh thấp hơn ở hai hình thức trên Giáo viên tạo ra tình huống có vấn đề và trình bày quá trình suy nghĩ giải

Trang 17

quyết Trong quá trình đó có việc tìm tòi, dự đoán, có lúc thành công, có khi thất bại, phải điều chỉnh phương hướng mới đi tới kết quả Như vậy, tri thức được trình bày không phải dưới dạng có sẵn mà là trong quá trình người ta khám phá ra chúng, quá trình này là một sự mô phỏng và rút gọn quá trình khám phá thực sự

1.3 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC

+ Về mặt nhận thức

Tri giác: Tri giác của học sinh tiểu học có đặc điểm là tươi sáng, sắc

bén Tri giác của học sinh trong những năm đầu tiểu học thường gắn với hành động, với hoạt động thức tiễn của trẻ Khi tri giác, sự phân tích có định hướng,

có tổ chức và sâu sắc của trẻ còn yếu Thường trẻ phân biệt những chi tiết ngẫu nhiên mà người lớn ít chú ý đến nhưng chưa nhìn thấy đựơc những chi tiết quan trọng và bản chất

Trong quá trình học tập, khi tri giác là một hoạt động nhằm mục đích đặc biệt, trở nên phức tạp và sâu sắc hơn trở thành một hoạt động có phân tích, phân biệt hơn thì tri giác sẽ mang tính chất của một sự quan sát có tổ chức

V.A.Krutecxki cho rằng: “Sự phát triển của tri giác không tự bản thân

nó xuất hiện được Ở đây vai trò của giáo viên rất lớn; giáo viên là người hàng ngày không chỉ dạy trẻ kỹ năng nhìn xem mà còn nhận xét, không chỉ nghe mà còn lắng nghe, đặc biệt là tổ chức cho học sinh hoạt động để tri giác những đối tượng nào đó, dạy cho trẻ vạch ra những dấu hiệu bản chất, những thuộc tính bản chất, phải chỉ dẫn cho trẻ cần chú ý đến cái gì, rèn luyện cho trẻ phân tích những đối tượng tri giác một cách có hệ thống và có kế hoạch”

Từ những đặc điểm tri giác trên cho thấy khi sử dụng phương pháp dạy học giải quýet vấn đề giáo viên cần kết hợp những câu hỏi với các phương tiện trực quan khác nhau để giúp học sinh phát hiện vấn đề và định hướng cách giải quyết

Trang 18

Trí nhớ: ở học sinh tiểu học cả ghi nhớ có chủ định và không chủ định

đều đang phát triển, ở cuối bậc tiểu học (nhất là lớp 4-5) ghi nhớ có chủ định của các em phát triển mạnh Việc ghi nhớ các tài liệu trực quan hình tượng có nhiều hiệu quả.Tuy nhiên ở lứa tuổi này hiệu quả của việc ghi nhớ các tài liệu

từ ngữ tăng rất nhanh, trong việc ghi nhớ các tài liệu từ ngữ thì ghi nhớ các tài liệu từ ngữ cụ thể vẫn có nhiều hiệu qủa hơn việc ghi nhớ các tài liệu từ ngữ trừu tượng

Tƣợng tƣợng: Tưởng tưởng của học sinh tiểu học được hình thành

trong quá trình học tập dưới tác dụng những yêu cầu của hoạt động này ở các lớp đầu bậc tiểu học, hình ảnh của tưởng tưởng còn đơn giản, chưa bền vững nhưng càng về các lớp cuối hình ảnh tưởng tưởng của các em càng bền vững

và gần thực tế hơn Đặc biệt lúc này các em đã bắt đầu có khả năng tưởng tượng dựa trên những tri giác đã có từ trước và dựa trên ngôn ngữ

Tƣ duy: Theo các nhà tâm lý học, tư duy của trẻ em ở bậc tiểu học

chuyển dần từ tính cụ thể trực quan sang tính trừu tượng, khái quát

Học sinh đầu bậc tiểu học khi tiến hành phân tích, tổng hợp, khái quát ,thường căn cứ vào những đặc điểm bề ngoài cụ thể, trực quan Học sinh lớp 4-5 đã có thể thoát khỏi ảnh hưởng chủ quan của những dấu hiệu trực tiếp và hoàn toàn dựa vào những tri thức và những khái niệm được hình thành trong quá trình học tập Khi hình thành khái niệm, học sinh hoàn toàn dựa vào những dấu hiệu phản ánh mối liên hệ và quan hệ bản chất giữa các sự vật và hiện tượng, các em đã biết xếp loại của khái niệm, phân biệt những khái niệm rộng hơn, hẹp hơn, đặc biệt mối quan hệ giữa các khái niệm về giống và loài

Trên cơ sở này, các em nắm được phương pháp phân loại các đối tượng, kỹ năng xây dựng kết luận, chứng minh, hệ thống lập luận cũng được phát triển V.A.krutecxki khẳng định “Khi tổ chức một quá trình học tập khác

đi, khi thay đổi nội dung học tập phù hợp với phương pháp khác của nó thì trẻ

có thể có được đặc điểm tư duy hoàn toàn khác.Từ đặc điểm này của học sinh

Trang 19

tiểu học, ta thấy trong quá trình dạy học, giáo viên cò thể sử dụng phươnh pháp dạy học giải quyết vấn đề để phát triển năng lực trí tuệ và bồi dưỡng những phẩm chất cuả hoạt động trí tuệ cho học sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy học

+Về mặt tình cảm:

Tình cảm của học sinh tiểu học mang tính cụ thể, trực tiếp và giàu cảm xúc Tình cảm của các em không những chỉ biểu hiện ở trong quan hệ đời sống mà còn biểu hiện ngay cả trong hoạt động trí lực của chúng Các em dần dần biết chăm lo đến kết quả học tập, hài lòng khi học tập có kết quả, không hài lòng khi học kém Tình cảm trí tuệ của các em còn thể hiện ở sự tò mò tìm hiểu sự vật xung quanh để nhận thức

1 .4 PHƯƠNG PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC PHẦN MÔ HÌNH KỸ THUẬT CƠ KHÍ VÀ KỸ THUẬT ĐIỆN

Trên cơ sở hệ thống các phương pháp dạy học môn LĐ-KT ở tiểu học

mà tiến sĩ Thái Văn Thành cùng một số tác giả đã đưa ra là : Phương pháp giảng giải, phương pháp sử dụng SGK, đàm thoại, trình bày trực quan, làm mẫu, luyện tập, huấn luyện, dạy học giải quyết vấn đề thì phương pháp giải quyết vấn đề là một phương pháp phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh trong môn kỹ thuật, đặc biệt trong phần mô hình kỹ thuật cơ khí

và kỹ thuật điện

Vì vậy trong quá trình dạyphần này, giáo viên cần phải đưa ra tình huống có vấn đề cho học sinh giải quyết qua đó giúp các em tiếp cận với các công việc thường gặp trong cuộc sống sau này, giúp các em nhớ lâu cả về lý thuyết và thực hành

Như vậy, đây là phương pháp cần được sử dụng thường xuyên trong dạy phần mô hình kỹ thuật cơ khí và kỹ thuật điện

Tuy nhiên cần phải thấy rằng các phương pháp dạy học chịu sự chi phối mạnh mẽ của các đặc điểm lứa tuổi học sinh và hiệu quả của chúng phụ

Trang 20

thuộc vào khả năng vận dụng của người giáo viên trong những điều kiện cụ thể của lớp học và của từng học sinh, vì thế không có phương pháp dạy học nào được xem là vạn năng cả, điều quan trọng là ta phải xác định đâu là phương pháp cơ bản, đâu là phương pháp hỗ trợ để phối hợp các phương pháp dạy học đó một cách thích hợp nhằm phát huy hiệu quả của chúng

1.5 CẤU TRÚC CHƯƠNG TRÌNH MÔN KỸ THUẬT TRONG PHẦN

MÔ HÌNH KỸ THUẬT CƠ KHÍ VÀ KỸ THUẬT ĐIỆN

*Phần kỹ thuật cơ khí và kỹ thuật điện được trình bày chủ yếu ở lớp

4-5, nội dung chương trình cụ thể như sau:

Lớp 4: Lắp ghép mô hình kỹ thuật cơ khí gồm:

Lắp băng chuyền

Lắp xe cần cẩu

Lắp xe ben

Lắp mô hình theo đề tài tự chọn

Ôn thi khéo tay

Lớp 5: Lắp ghép mô hình kỹ thuật điện, gồm:

Làm quen với các ký hiệu và thiết bị điện đơn giản

Khái niệm về mạch điện, an toàn khi sử dụng điện

Mạch điện mắc nối tiếp

Mạch điện mắc song song

Mạch nam châm điện

*Về mục tiêu của phần mô hình kỹ thuật cơ khí và kỹ thuật điện:

- Giáo viên cần hướng dẫn, gợi mở để các em nắm bắt được cấu tạo của vật phẩm, nắm bắt được quy trình làm ra sản phẩm và hình thành những biểu tượng ban đầu về các dụng cụ kỹ thuật

- Để nắm được cấu tạo của vật phẩm, các em cần quan sát vật thật hoặc

mô hình, từ đó giáo viên đặt các câu hỏi gợi mở để các em tìm ra các chi tiết,

Trang 21

tên gọi các bộ phận của vật phẩm bằng hoạt động của chính mình hoặc qua thảo luận nhóm

- Để giúp các em nắm được quy trình làm ra vật phẩm thì giáo viên cần giúp cho học sinh xem mô hình để các em tự tìm ra cách lắp ghép để được mô hình ấy, chẳng hạn như lắp xe cần cẩu

- Để hình thành biểu tượng ban đầu về các dụng cụ kỹ thuật, giáo viên cần phát huy kinh nghiệm sẵn có của học sinh để các em nhận diện cũng như cách thức sử dụng chúng

1.6 THỰC TRẠNG NHẬN THỨC VÀ SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC PHẦN MÔ HÌNH KỸ THUẬT CƠ KHÍ

kỹ thuật cơ khí và kỹ thuật điện

- Đối tượng điều tra:

Ban giám hiệu của trường tiểu học: 3 người

Giáo viên tiểu học: 50 người

Học sinh tiểu học: 90 em

của trường tiểu học Cửa Nam 1 trên địa bàn TP Vinh

- Nội dung điều tra:

+ Nhận thức của giáo viên tiểu học về khái niệm phương pháp giải quyết vấn đề trong dạy học phần mô hình kỹ thuật cơ khí và kỹ thuật điện

Trang 22

+ Nhận thức của giáo viên về vai trò phương pháp giải quyết vấn đề trong việc phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh, nâng cao hiệu quả dạy học phần mô hình kỹ thuật cơ khí và kỹ thuật điện

+ Mức độ sử dụng phương pháp giải quyết vấn đề trong quá trình dạy học phần mô hình kỹ thuật cơ khí và kỹ thuật điện

+ Cách sử dụng phương pháp giải quyết vấn đề của giáo viên trong quá trình dạy học phần mô hình kỹ thuật cơ khí và kỹ thuật điện

+ Chất lượng học tập của học sinh phần mô hình kỹ thuật cơ khí và kỹ thuật điện

+ Giải quyết vấn đề trong dạy học phần mô hình kỹ thuật cơ khí so với trong dạy học các phần khác trong môn kỹ thuật

- Các phương pháp điều tra khảo sát:

+ Điều tra bằng anket

+ Quan sát tiến trình dạy học của giáo viên trên lớp

Là hình thức ở đó người giáo viên tổ chức được

tình huống có vấn đề giúp học sinh nhận thức

nó, chấp nhận giải quyết vấn đề và tìm hiểu lời

giải trong quá trình hoạt động hợp tác giữa thầy

và trò, phát huy tối đa tính tích cực, độc lập,

sáng tạo và năng lực tự học của người học sinh

trong hoạt động học tập

Trang 23

2 Là phương pháp cả thầy và trò cùng hoạt động 10 20

3 Là phương pháp trong đó giáo viên đưa ra hệ

thông câu hỏi để hướng dẫn học sinh suy nghĩ

và trả lời từng câu hỏi, từng bước tiến dần đến

kết luận cần thiết

Qua kết quả điều tra cho thấy:

- Ở phương pháp thứ nhất: Đây là cách hiểu đúng nhất, đầy đủ nhất “Là hình thức ở đó người giáo viên tổ chức được tình huống có vấn đề giúp học sinh nhận thức nó, chấp nhận giải quyết vấn đề và tìm kiếm lời giải trong quá trình hoạt động hợp tác giữa thầy và trò, huy tối đa tính tích cực, độc lập, sáng tạo và năng lực tự học của người học sinh trong hoạt động học tập ” nhưng số giáo viên đồng ý với ý kiến này chỉ có 14 người chiếm tỷ lệ 28%

- Ở phương án trả lời thứ hai: Số giáo viên đồng ý là 10 người, chiếm

tỷ lệ 20% Phương án này xác định vai trò của người dạy và người học ngang nhau Người học chỉ hoạt động khi người dạy cùng hoạt động Phương án này

đề cao vai trò của người dạy mà chưa chú ý dến tầm quan trọng của người học Giáo viên chưa hiểu sâu sắc bản chất của phương pháp giải quyết vấn đề trong dạy học phần mô hình kỹ thuật cơ khí và kỹ thuật điện

- Ở phương án trả lời thứ ba: Có 22 giáo viên đồng ý, chiếm 44% Điều này chứng tỏ giáo viên còn nhầm lẫn, chưa phân biệt được giữa phương pháp đàm thoại và phương pháp giải quyết vấn đề Điều này chứng tỏ về lý luận dạy học, giáo viên chưa được trang bị đầy đủ

- Ở phương án trả lời thứ tư: “Là phương pháp dạy học của giáo viên”

có 4 ý kiến chiếm 8% đồng ý với ý kiến này Những người này đều có lý do, nhìn chung họ quá nhấn mạnh đến hình thức của phương pháp mà chưa đi sâu vào bản chất của phương pháp giải quyết vấn đề

Trang 24

Như vậy, qua điều tra trên đây chúng ta thấy được phương án trả lời thứ nhất là đúng đắn nhất nhưng số giáo viên đồng ý chỉ có 14 người chiếm 28% Điều này chứng tỏ số giáo viên được điều tra chưa hiểu đúng về bản chất của phương pháp giải quyết vấn đề

(2) Nhận thức của giáo viên về vai trò của phương pháp giải quyết vấn đề trong việc phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh, nâng cao hiệu quả dạy học phần mô hình kỹ thuật cơ khí và kỹ thuật điện

Bảng 2: Các mức độ nhận thức của giáo viên tiểu học về vai trò của phương pháp giải quyết vấn đề trong dạy học phần mô hình kỹ thuật cơ khí và kỹ thuật

3 Giờ học sinh động hơn, học sinh chủ động

hơn trong việc chuẩn bị tri thức

4 Phát huy tính tích cực, độc lập nhận thức

của học sinh

5 Giờ học ồn ào, kém hiệu quả

6 Chuẩn bị công phu, mất nhiều thời gian

kỹ thuật cơ khí và kỹ thuật điện

Có tới 70% số giáo viên được hỏi cho rằng sử dụng phương pháp giải quyết vấn đề trong dạy học phần mô hình kỹ thuật cơ khí và kỹ thuật điện là

Trang 25

Theo đánh giá của giáo viên tiểu học, việc sử dụng phương pháp này trong dạy học phần mô hình kỹ thuật cơ khí và kỹ thuật điện cho phép nâng cao hiệu quả giờ daỵ chiếm 94%

Số ý kiến đồng ý cho rằng học sinh hứng thú học tập chiếm 36% Với ý kiến: Giờ học sinh đông hơn, chủ động hơn trong việc chiếm lĩnh tri thức chiếm 94%

Với ý kiến phát huy tính tích cực, độc lập của học sinh chiếm 92% Các hạn chế của việc sử dụng phương pháp giải quyết vấn đề trong dạy học phần mô hình kỹ thuật cơ khí và kỹ thuật điện như: giờ học ồn ào, kém hiệu quả, chuẩn bị công phu mất nhiều thời gian chiếm tỷ lệ nhỏ trong các ý kiến của giáo viên

Qua điều tra các ý kiến của giáo viên tiểu học về vai trò của phương pháp giải quyết vấn đề trong dạy học phần mô hình kỹ thuật cơ khí và kỹ thuật điện cho phép khẳng định: mức độ cần thiết và vai trò rất lớn của phương pháp này đối với việc nâng cao tích cực nhận thức của học sinh cũng như kết quả của giờ học

(3) Các mức độ sử dụng phương pháp giải quyết vấn đề trong dạy học phần mô hình kỹ thuật cơ khí và kỹ thuật điện của giáo viên tiểu học

Bảng 3: Các mức độ sử dụng phương pháp giải quyết vấn đề trong dạy học phần mô hình kỹ thuật cơ khí và kỹ thuật điện của giáo viên tiểu học

Như vậy, mặc dù đa số giáo viên đều đánh giá cao vai trò của việc sử dụng phương pháp giải quyết vấn đề trong dạy học phần mô hình kỹ thuật cơ khí và kỹ thuật điện song việc đưa phương pháp này vào dạy học còn ít, cụ thể

Trang 26

là: Thường xuyên sử dụng chỉ có 16 người chiếm 32%, thỉnh thoảng 27 người chiếm 54%, chưa bao giờ có 7 người chiếm 14

(4) Cách sử dụng phương pháp giải quyết vấn đề của giáo viên tiểu học trong quá trình dạy học phần mô hình kỹ thuật cơ khí và kỹ thuật điện

Qua điều tra và dự giờ của giáo viên, chúng ta nhận thấy rằng: Mặc dù giáo viên đã nhận thức đúng vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng phương pháp giải quyết vấn đề trong dạy học phần mô hình kỹ thuật cơ khí và kỹ thuật điện nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh nhưng đa số giáo viên chưa biết cách sử dụng, chưa biết cách tổ chức, vận dụng vào giờ dạy của mình

Việc sử dụng phương pháp giải quyết vấn đề trong dạy học phần mô hình kỹ thuật cơ khí và kỹ thuật điện phải bắt đầu từ việc nêu vấn đề giải quyết vấn đềkiểm tra tính hợp lý của lời giải rút ra kết luận

Tuy nhiên phần lớn giáo viên khi sử dụng phương pháp này đều tiến hành theo các bước sau:

B1: Giáo viên cho học sinh quan sát mô hình kỹ thuật điện (hoặc mô hình kỹ thuật cơ khí ) và nêu câu hỏi;

B2: Học sinh trả lời;

B3: Giáo viên cùng học sinh nhận xét và rút ra kết luận

Như vậy giáo viên tiểu học chưa nắm vững quy trình sử dụng phương pháp giải quyết vấn đề trong dạy học mô hình kỹ thuật cơ khí và kỹ thuật điện nên chất lượng của học phần mô hình kỹ thuật cơ khí và kỹ thuật điện còn chưa cao, các em chưa chú ý nhiều đến bài học Do vậy mà thực hành kém hiệu quả, không nắm vững được quy trình kỹ thuật

(5) Chất lượng học tập phần mô hình kỹ thuật cơ khí và kỹ thuật điện

so với phần mô hình vườn trường ở học sinh tiểu học

Bảng 4: Chất lượng học tập phần mô hình kỹ thuật cơ khí và kỹ thuật điện so

với phần mô hình vườn trường ở học sinh tiểu học

Trang 27

Tên bài Kết quả kiểm tra 100%

Nhìn chung, thực tế cho thấy giờ học phần này còn ồn ào, học sinh còn nói chuyện Giờ học chỉ sinh động hơn, học sinh học tập tích cực hơn khi giáo viên biết tổ chức cho học sinh lĩnh hội tri thức bài học bằng chính hành động của mình

(6) Đánh giá chung về thực trạng nhận thức và sử dụng phương pháp giải quyết vấn đề trong dạy học phần mô hình kỹ thuật cơ khí và kỹ thuật điện

Từ sự phân tích thực trạng trên với các chủ đề: nhận thức của giáo viên tiểu học về khái niệm phương pháp giải quyết vấn đề trong dạy học phần mô hình kỹ thuật cơ khí và kỹ thuật điện, nhận thức của giáo viên tiểu học về vai trò phương pháp giải quyết vấn đề trong việc phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh, nâng cao hiệu quả dạy học phần mô hình kỹ thuật cơ khí và kỹ thuật điện , tôi có một số nhận xét sau:

Phần lớn giáo viên có nhận thức đúng đắn về phương pháp dạy học giải quyết vấn đề trong dạy học phần mô hình kỹ thuật cơ khí và kỹ thuật điện, tuy nhiên vẫn còn nhầm lẫn giữa phương pháp vấn đáp với phương pháp dạy học này

Mặc dù phần lớn giáo viên đều khẳng định vai trò quan trọng của phương pháp dạy học giải quyết vấn đề trong việc phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh, nâng cao hiệu quả dạy học phần mô hình kỹ thuật

Trang 28

cơ khí và kỹ thuật điện Song họ đều ngại sử dụng phương pháp này trong dạy học, bởi vì việc chuẩn bị bài học công phu, việc xây dựng các tình huống gợi vấn đề còn khó đối với họ

Qua điều tra thực tiễn dạy học cho thấy khi học sinh học tập phần mô hình kỹ thuật cơ khí và kỹ thuật điện với phương pháp dạy học giải quyết vấn

đề thì giờ học sôi nổi hơn, tính tích cực nhận thức của họ được nâng lên rõ rệt, năng lực tư duy được phát triển hơn, hiệu quả của giờ học được nâng cao và học sinh tỏ ra thích thú với hình thức học tập này

Mặc dù việc sử dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề ở các trường tiểu học đã đạt được những kết quả nhất định, song nhìn chung, kết quả đạt được đó chưa cao, chưa đều, chưa ổn định, chưa phát huy được vai trò của phương pháp dạy học này Giáo viên sử dụng phương pháp dạy học này còn lúng túng, tuỳ tiện, tự phát chứ chưa có cơ sở khoa học hợp lý

Trang 29

Chương 2: QUY TRÌNH SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC PHẦN MÔ HÌNH KỸ THUẬT CƠ KHÍ

VÀ KỸ THUẬT ĐIỆN

2 .1 KHÁI NIỆM VỀ QUY TRÌNH

Quy trình là trình tự phải tuân theo để tiến hành một công việc nào đó Quy trình sử dụng phương pháp giải quyết vấn đề trong dạy học phần mô hình

kỹ thuật cơ khí và kỹ thuật điện là một trật tự tuyến tính các giai đoạn, các bước từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc hoạt động dạy học

2.2 CÁC NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG QUY TRÌNH SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC PHẦN MÔ HÌNH KỸ THUẬT

CƠ KHÍ VÀ KỸ THUẬT ĐIỆN

Khi xây dựng quy trình sử dụng phương pháp giải quyết vấn đề, chúng tôi dựa vào các nguyên tắc cơ bản sau:

- Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống, tính cụ thể: Quy trình sử dụng phương pháp giải quyết vấn đề trong dạy học phần mô hình kỹ thuật cơ khí và

kỹ thuật điện phải trở thành một chỉnh thể bao gồm các giai đoạn, các bước khác nhau Các giai đoạn, các bước này phải được liên kết, gắn bó, thống nhất với nhau và phải được xắp xếp theo một trật tự tuyến tính Số lượng các giai đoạn, các bước vừa đủ để thực hiện hoạt động có hiệu quả Các thành tố trong quy trình cần được phân giải và xắp xếp sao cho chúng có thể kiểm soát được

dễ dàng từng giai đoạn, từng bước, từng thao tác cho đến sản phẩm cuối cùng

- Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn

Việc xây dựng quy trình sử dụng phương pháp giải quyết vấn đề trong dạy học phần mô hình kỹ thuật cơ khí và kỹ thuật điện phải dựa trên thực tiễn dạy học ở bậc tiểu học, phải phù hợp với đặc điểm, nội dung, yêu cầu của giáo dục tiểu học, vừa có tác dụng nâng cao hiệu quả dạy học

- Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả

Trang 30

Quy trình sử dụng phương pháp giải quyết vấn đề trong dạy học phần

mô hình kỹ thuật cơ khí và kỹ thuật điện phải đảm bảo hiệu quả nhận thức, phát huy được tính tự giác, tích cực, sáng tạo của học sinh và nâng cao hiệu quả dạy học

- Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi:

Quy trình sử dụng phương pháp giải quyết vấn đề trong dạy học phần

mô hình kỹ thuật cơ khí và kỹ thuật điện phải phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh, với năng lực chuyên môn của đông đảo giáo viên tiểu học, có khả năng ứng dụng rộng rãi trong thực tiễn dạy học ở bậc tiểu học

2.3 QUY TRÌNH THỰC HIỆN CHUNG

Việc sử dụng phương pháp giải quyết vấn đề trong dạy học phần mô hình kỹ thuật cơ khí và kỹ thuật điện có thể quy trình hoá theo các giai đoạn, các bước sau:

Giai đoạn 1: Phát hiện vấn đề

Giai đoạn này được cụ thể hoá thành các sau:

Bước 1: Xác định mục đích, yêu cầu của bài học

Bước 2: Đánh giá năng lực của học sinh để đưa ra vấn đề

Giai đoạn 2: Phát biểu vấn đề

Bước 1: Chính xác hoá tình huống

Bước 2: Đặt mục đích giải quyết vấn đề

Giai đoạn 3: Giải quyết vấn đề

Bước 1: Tổ chức cho học sinh giải quyết vấn đề

Bước 2: Tổ chức cho học sinh trình bày giải pháp

Bước 3: Giúp học sinh lựa chọn giải pháp tối ưu

Giai đoạn 4: Kết luận vấn đề, hướng dẫn học sinh rút ra kết luận khoa học Các giai đoạn, các bước trên có mối liên hệ chặt chẽ với nhau và được thực hiện theo một trình tự tuyến tính

Quy trình sử dụng phương pháp giải quyết vấn đề trong dạy học phần

mô hình kỹ thuật cơ khí và kỹ thuật điện, có thể biểu diễn bằng sơ đồ sau đây:

Trang 31

Hướng dẫn học sinh rút ra

kết luận

(IV) Kết luận

Học sinh tự kiểm tra và rút ra kết

Theo dõi, bao quát lớp

Gọi nhu cầu nhận thức

Trình bày giải pháp

Lựa chọn giải pháp tối ưu

(I)

Phát hiện vấn

(II)

Phát biểu vấn

(III) Giải quyết vấn đề

Trang 32

2.4 THIẾT KẾ BÀI DẠY KỸ THUẬT THEO QUY TRÌNH SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC PHẦN MÔ HÌNH KỸ THUẬT CƠ KHÍ VÀ KỸ THUẬT ĐIỆN

2.4.1 Áp dụng vào phần kỹ thuật cơ khí

- Rèn luyện kỹ thuật lắp ghép đúng kỹ thuật

- Lắp được băng chuyền đúng kỹ thuật, hoạt động được

3 Thái độ

- Giáo dục tính kỷ luật, ngăn nắp, tỉ mỉ

II Chuẩn bị

- Giáo viên lắp hoàn chỉnh một băng chuyền

- Giáo viên chuẩn bị một bộ phận lắp ghép khác

- Học sinh mỗi em có một bộ lắp ghép mô hình

III Các hoạt động dạy học chủ yếu

1 Kiểm tra bài cũ

Vì hôm nay chúng tôi học chương mới nên cô không kiểm tra bài cũ

2 Bài mới

Khởi động

Ngày đăng: 27/07/2021, 16:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Nguyễn Đình Chỉnh: Vấn đề đặt câu hỏi của giáo viên đứng lớp, kiểm tra đánh giá việc học tập của học sinh; Bộ GD-ĐT, vụ giáo viên 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề đặt câu hỏi của giáo viên đứng lớp, kiểm tra đánh giá việc học tập của học sinh
Tác giả: Nguyễn Đình Chỉnh
Nhà XB: Bộ GD-ĐT, vụ giáo viên
Năm: 1995
4. Cơ sở tâm lý học đại cương; NXBGD, 1947 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở tâm lý học đại cương
Nhà XB: NXBGD
Năm: 1947
7. Nguyễn Hữu Mạnh: Bài soạn LĐ-KT 2,3,4,5, tài liệu chỉ đạo chuyên môn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài soạn LĐ-KT 2,3,4,5
Tác giả: Nguyễn Hữu Mạnh
Nhà XB: tài liệu chỉ đạo chuyên môn
9. I.Ia.Lecne- Dạy học nêu vấn đề; NXBGD-1977 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học nêu vấn đề
Tác giả: I.Ia.Lecne
Nhà XB: NXBGD
Năm: 1977
10. I.F.Khalamôp: Phát huy tính tích cực của học sinh như thế nào; NXBGD, 1978 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy tính tích cực của học sinh như thế nào
Tác giả: I.F.Khalamôp
Nhà XB: NXBGD
Năm: 1978
11. Nguyễn Bá Kim: Chính xác hoá một số khái niệm về dạy học giải quyết vấn đề; NCGD, số 10/1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính xác hoá một số khái niệm về dạy học giải quyết vấn đề
Tác giả: Nguyễn Bá Kim
Nhà XB: NCGD
Năm: 1991
16. Nguyễn Kỳ: Thiết kế bài học theo hướng tích cực Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài học theo hướng tích cực
Tác giả: Nguyễn Kỳ
19. SGKvà SGV, môn kỹ thuật ở các lớp 2,3,4,5, NXBGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: môn kỹ thuật ở các lớp 2,3,4,5
Tác giả: SGKvà SGV
Nhà XB: NXBGD
20. Vũ Văn Tảo –Trần Văn Hà: Dạy học giải quyết vấn đề - một hướng đổi mới trong công tác giáo dục - đào tạo, huấn luyện. Trường cán bộ QLGD và ĐT, HN 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học giải quyết vấn đề - một hướng đổi mới trong công tác giáo dục - đào tạo, huấn luyện
Tác giả: Vũ Văn Tảo, Trần Văn Hà
Nhà XB: Trường cán bộ QLGD và ĐT
Năm: 1996
21. Thái Văn Thành: phương pháp dạy học môn kỹ thuật ở tiểu học Sách, tạp chí
Tiêu đề: phương pháp dạy học môn kỹ thuật ở tiểu học
Tác giả: Thái Văn Thành
22. Thái Văn Thành: Phương pháp sử dụng phần mềm theo hướng tích cực hoá quá trình nhận thức trong dạy học ở bậc tiểu học, HN 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp sử dụng phần mềm theo hướng tích cực hoá quá trình nhận thức trong dạy học ở bậc tiểu học
Tác giả: Thái Văn Thành
Nhà XB: HN
Năm: 1999
23. Tìm hiểu thuật ngữ vấn đề; tạp chí KHGD, số 66/1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu thuật ngữ vấn đề
Nhà XB: tạp chí KHGD
Năm: 1998
24. Xây dựng tình huống có vấn đề và giải quyết vấn đề; thông tin KHGD số 70/1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng tình huống có vấn đề và giải quyết vấn đề
Nhà XB: Thông tin KHGD
Năm: 1998
1. Bộ GD-ĐT: Đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy ở tiểu học; NXBGD, 1998 Khác
2. Đoàn Chi: Tài liệu bồi dưỡng giảng viên sư phạm và cán bộ chỉ đạo cơ sở GD-ĐT về chương trình và SGK tiểu học năm 2002 môn thủ công - kỹ thuật Khác
5. Phạm Văn Đồng: PPDH phát huy tính tích cực – một phương pháp vô cùng quý báu; tạp chí NCGD, số 12/1995 Khác
6. Giáo trình tâm lý tiểu học (dành cho ngành cử nhân GDTH hệ đào tạo tại chức và từ xa ); NXBGD, 1997 Khác
8. Phạm Minh Hùng-Thái Văn Thành:Giáo dục học tiểu học Khác
12. Nguyễn Bá Kim-Vương Dương Minh-Nguyễn Sỹ Đức: Tính giải quyết vấn đề trong toàn bộ quá trình dạy học; tạp chí TTKHGD, số 66 Khác
13. Nguyễn Bá Kim-Vũ Dương Thụy: Những xu hướng dạy học không truyền thống Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w