Giáo dục lòng yêu nước, tự hào về một dân tộc cho học sinh ngay từ những buổi đầu đến trường – giai đoạn đầu của việc hình thành quá trình nhận thức, thái độ, hành vi, nhân cách của học
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Trong quá trình tìm hiểu thực tiễn, nghiên cứu đề tài “giáo dục lòng yêu
nước, lòng tự hào dân tộc cho học sinh tiểu học thông qua giảng day truyền
thuyết trong chương trình Văn học – Tiếng Việt ở tiểu học” tôi đã gặp không ít
khó khăn Song với sự nổ lực cố gắng của bản thân và sự hướng dẫn chu đáo
nhiệt tình và khoa học của thầy giáo Hoàng Trung Chiến, cùng các thầy cô trong
khoa GDCT, và với sự động viên khích lệ của bạn bè tôi đã hoàn thành đề tài
đúng như kế hoạch đã đặt ra
Do trình độ bản thân còn hạn chế cả về chuyên môn và kinh nghiệm nên
những thiếu sót sẽ là điều không thể tránh khỏi
Tôi rất mong được sự động viên, góp ý từ thầy cô giáo và các bạn
Qua đây tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến thầy Hoàng
Trung Chiến – người đã trực tiếp hướng dẫn tôi làm đề tài này, xin gửi lời cảm
ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo trong khoa cùng các thầy cô giáo và các em học
sinh trường tiểu học Lê Lợi – Thành Phố Vinh – Nghệ An đã giúp đỡ tôi trong
quá trình nghiên cứu đề tài
Trang 2
VIII.Điều kiện và khả năng nghiên cứu thực nghiệm 10
PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 11
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 11
II.Bản chất của khái niệm lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc 14
và đặc điểm của chủ nghĩa yêu nước XHCN
1 Các giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam 14
2.Khái niệm về lòng yêu nước, tự hào dân tộc 15
3.Đặc điểm của lòng yêu nước XHCN 17
4.Vai trò của giá trị truyền thống yêu nước, tự hào dân tộc 19
trong sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ
Trang 35.Bàn về mối quan hệ giữa dạy học và giáo dục trong giảng dạy 19
Văn Học – Tiếng Việt ở tiểu học
III.Vị trí, vai trò của truyền thuyết trong việc giáo dục lòng yêu nước,
20
lòng tự hào dân tộc cho học sinh tiểu học
1.Vị trí, vai trò của phân môn kể chuyện trong chương trình
20
Văn Học – Tiếng Việt ở tiểu học 20
b.Vai trò
2.Đặc điểm của phân môn kể chuyện 21
3.Vị trí, vai trò đặc điểm, nội dung của các truyền thuyết trong phân 22
3.1.Truyền thuyết là gì
3.2.Đặc điểm của truyền thuyết 23
a.Thời điểm xuất hiện, chức năng và nhân vật 23
b.Nguồn gốc và quá trình phát triển của truyền thuyết 23
3.3.Nội dung của truyền thuyết 24
4.Khả năng giáo dục lòng yêu nước, tự hào dân tộc cho học sinh tiểu học 27
của truyền thuyết
4.1 Truyền thuyết dân gian bồi dưỡng trẻ thơ lòng yêu nước, lòng tự hào dân
a.Niềm tự hào lớn lao về dòng dõi con Lạc cháu Hồng 27
b.Niềm tự hào về các anh hùng chống giặc ngoại xâm 28
c.Niềm tự hào về các anh hùng, các danh nhân văn hoá dân tộc 28
tính chất lãng mạn hào hùng
Trang 4CHƯƠNG II CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 30
VI.Cách tiến hành và kết quả điều tra, kết luận 31
CHƯƠNG III ĐỀ XUẤT MỘT XỐ PHƯƠNG PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG 41
GIÁO DỤC LÒNG YÊU NƯỚC, LÒNG TỰ HÀO DÂN TỘC CHO HỌC SINH
41
1.Mục tiêu của giáo dục tiểu học
2.Vị trí mục tiêu của phân môn kể chuyện và truyền thuyết trong chương trình41
Trang 5Văn Học – Tiếng Việt
3.Đặc điểm tâm sinh lý và đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học 42
1.Phân tích nội dung 1 số truyền thuyết để khai thác bản năng giáo dục 45
lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc qua các truyền thuyết đó
2.Các phương pháp hình thành xúc cảm, tính cách cho học sinh nhằm 48
giúp học sinh lĩnh hội được giá trị của lòng yêu nướ, lòng tự hào dân tộc
3.Một số phương pháp tác động lên nhận thức của học sinh 49
4.Các phương pháp rèn luyện hành vi 49
CHƯƠNG IV THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM VÀ KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM 50
1.Đối vơi truyền thuyết “An Dương Vương” 59
2.Đối với truyền thuyết “ Con Rồng, cháu Tiên” 59
Trang 6I.Những kết luận chung 60
Trang 7Như chúng ta đã biết chính sách của đảng và nhà nước ta hiện nay: Mở cửa
để hội nhập và giao lưu đón nhận những nền văn minh của nhân loại, những tư
tưởng tiến bộ thành tựu khoa học, kinh tế…trên toàn cầu
Song bất cứ một vấn đề gì đều có tính hai mặt của nó, cuốn theo những tinh
hoa văn hoá của nhân loại là những vấn đề mang tính đối lập đó chính là luồng tư
tưởng phản động nhằm chống lại những gì mà nhân dân ta, nhà nước ta, Đảng
cộng sản Việt Nam đang xây dưng theo con đường XHCN – tiến lên CNCS Mà
người tiếp cận cả hai một cách nhanh nhạy nhất, ảnh hưởng sâu sắc nhất và cũng
có vai trò quyết định nhất đó chính là thế hệ trẻ – tương lai của đất nước, chủ
nhân của đất nước này Vậy thì câu hỏi lớn đặt ra ở đây là:
Bây giờ nhân dân ta, dân tộc ta đang được sống trong hoà bình độc lập ấm
no hạnh phúc, nhưng liệu rồi cái hoà bình đó, độc lập đó liệu có trường tồn mãi
mãi được không ? Nếu luôn bị các thù địch, chống phá, dòm ngó, chúng luôn tìm
sơ hở, cơ hội để thanh toán, nhảy vào cướp nước ta
Chính vì vậy giáo dục lòng yên nước, tự hào về một dân tộc con LạaL, cháu
Rồng cho thế hệ trẻ nói chung và học sinh tiểu học nói riêng là một việc làm vô
cùng cần thiết
Thực tế đã chứng minh: Chỉ có lòng yêu nước, yêu đồng loại mới là động
lực thôi thúc, động lực để đấu tranh dành những chiến thắng vang dội của quân
và dân ta trong các cuộc chiến tranh của dân tộc
Giáo dục lòng yêu nước, tự hào về một dân tộc cho học sinh ngay từ những buổi
đầu đến trường – giai đoạn đầu của việc hình thành quá trình nhận thức, thái độ,
hành vi, nhân cách của học sinh, các em sẽ được cũng cố “chất đề kháng” với
nhữngảnh hưởng xấu của thời cuộc, khơi dậy được ý chí quật cường, truyền
thống yêu nước mà mỗi con người Việt Nam vốn có trong dòng máu của mình
Giáo dục lòng yêu nước tự hào dân tộc cho học sinh tiểu học cũng chính là giáo
dục một phần quan trọng trong giáo dục đạo đức cho học sinh – bộ phận của quá
Trang 8trình giáo dục tổng thể nhằm hình thành ở học sinh những tình cảm tốt đẹp đối
với quê hương, đất nước, từ đó hình thành những hành vi, việc làm cụ thể chứng
toả lòng yêu nước, tự hào về một dân tộc ngàn năm văn hiến, trăm năm văn vật
Một trong ba nhiệm vụ cơ bản của dạy học là giáo dục tức là thông qua
“dạy chữ để dạy người” Suy cho cùng thì mục đích cuối cùng của dạy học và
giáo dục là “đào tạo ra những con người đa năng, toà diện, có đủ tiêu chuẩn về tri
thức, về đạo đức…” giàu lòng nhân ái, yêu nước, yêu CNXH, sống lành mạnh,
đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước những năm 90 và chuẩn bị cho tương
lai…Như Bác Hồ kính yêu của chúng ta thường nói “ Non sông việt nam có trở
nên tươi đẹp được hay không? Dân tộc việt nam có sánh vai được với các cường
quốc năm châu được hay không đó chính nhờ vào công học tập của các em”
Chính vì thế giáo dục với vai trò chủ đạo trong quá trình hình thành và phát triển
nhân các của học sinh phải đảm nhiệm được chức năng trội của mình là bồi
dưỡng những tư tưởng tình cảm, thói quen, hành vi, nhận thức do đó dạy học
phải mang tính giáo dục Mặt khác đào tạo ra những con người Việt Nam đi theo
lý tưởng của Bác Hồ vĩ đại, phải phát huy được truyền yêu nước có trong mỗi
con người Việt Nam, dần dần phát triển thành chủ nghiã yêu nước ;tự hào dân tộc
cho học sinh là việc làm vô cùng quan trọng vô cùng cần thiết vì “trẻ em hôn
nay, thế giới ngày mai” hay “Trẻ em là tương lai của đất nước” Song câu hỏi đặt
ra là : “ Giáo dục bằng cách nào? giáo dục ở đâu và như thế nào?” để đat được
hiệu quả giáo dục cao nhất Có rất nhiều hình thức giáo dục khác nhau đều nhằm
mục đích “giáo dục lòng yêu nước, tự hào dân tộc” song mỗi một hình thức, một
đề tài đều khai thác khả năng giáo dục đó ở nhiều lĩnh vực khác nhau và đều thu
được những kết quả nhất định Do đó cần phải xác định xem hình thức giáo dục
nào là trọng tâm và hiệu quả nhất
Theo ngiên cứu của giáo dục học, lôgíc học và tâm lý học lứa tuổi tiểu học thì trẻ
em sẽ dễ dàng tiếp nhận những vấn đề mang tính cụ thể, phù hợp gần gủi với đời
Trang 9sống thực tế, đời sống tình cảm của học sinh cho nên những gì tác động lên
những điều này trẻ sẽ dễ dàng tiếp nhận
Trong các môn trẻ được học ở trường tiểu học thì phân môn kể chuyện thuôc
môn Văn- Tiếng Việt có một vài trò quan trọng trong vấn đề giáo dục lòng yêu
nước, tự hào dân tộc cho học sinh Môn kể chuyện với những đặc trưng riêng của
nó với nội dung và hình ảnh sinh động lồng ghép vào nhau tạo nên một thế giới li
kì hấp dẫn, kích thích sự ham tìm hiểu, tính tò mò của trẻ mà đặc biệt với các
truyền thuyết kì diệu như những huyền thoại, giai thoại về các Bà Trưng, Bà
Triệu, các vua Hùng…đã dựng nước và giữ nước ra sao, những chiến công lẫy
lừng với một lòng yêu nước nồng nàn…Do đó giáo dục lòng yêu nước tự hào dân
tộc cho học sinh tiểu học thông qua giảng dạy phần truyền thuyết chắc chắn sẽ
mang lại hiệu quả giáo dục tối ưu
Song thực tiễn giảng dạy ở các trường tiểu học hiện nay chưa làm rõ được, chưa
nhận thức được mối quan hệ giữa dạy học và giáo dục, nghĩa là dạy học chưa
mang tính giáo dục Tuy rằng một số giáo viên đã biết khai thác khả năng giáo
dục của dạy học nhưng đang ở mức sơ sài chưa chú trọng thực sự Mà như tôi đã
trình bày ở trên khả năng giáo dục học sinh qua các giờ dạy là rất lớn, cụ thể như
giảng dạy các truyền thuyết giáo viên chưa khai thác đúng mức tác dụng của các
truyền thuyết đối việc giáo dục lòng yêu nước, tự hào dân tộc cho học sinh mà
mỗi truyền thuyết đều có tác dụng rất lớn
Từ những thực trạng trên, vấn đề đặt ra vô cùng cấp thiết hiện nay là phải gắn
liền giáo dục và dạy học, phải khai thác hết khả năng giáo dục của các môn học
để giúp cho quá trình giáo dục đạt hiệu quả cao nhất Đồng thời phải giáo dục
lòng yêu nước, tự hào dân tộc cho học sinh thông qua nhiều hình thức, nhiều môn
học khác nhau, trong đó cần chú trọng đúng mức khả năng giáo dục của các
truyền thuyết trong quá trình giảng dạy kể chuyện đối với việc giáo dục lòng yêu
nước cho học sinh tiểu học Lòng yêu nước, tự hào về dân tộc chính là “động
Trang 10lực” để các em phấn đấu rèn luyện và học tập tch, để sau này xây dựng đất nước
giàu mạnh như Bác Hồ hằng mong mỏi và đặt niềm tin nơi các em
Ở trường tiểu học, ngoài các hoạt động: sao, đội, hoạt động ngoài giờ, học sinh
được học đủ 9 môn: Toán, tự nhiên xã hội, đạo đức, thể dục, hát nhạc, văn,
hoạ…trong đó môn Văn – Tiếng Việt được chia ra nhiều phân môn khác nhau
(tập đọc, chính tả, từ ngữ, ngữ pháp, tập viết, kể truyện, tập làm văn)
Trong các phân môn này thì phân môn nào cũng có khả năng giáo dục học sinh ở
một góc độ nào đó như rèn luyện tính cẩn thận tỉ mĩ(tập viết), rèn luyện tính độc
lập ( tập làm văn) …Song giáo dục lòng yêu nước, yêu nhân loại…chỉ có thể là
môn kể chuyện, mà cụ thể là thông qua các truyền thuyết là hoạt động giáo dục
lòng yêu nước tự hào dân tộc cho học sinh một cách nhẹ nhàng, sinh động và hấp
dẫn rất phù hợp với đặc điểm nhận thức và tâm lí của học sinh tiểu học, sẽ đạt
được hiệu quả cao theo đặc trưng riêng của các truyền thuyết
Vì một xã hội phát triển hưng thịnh thái bình lâu dài của đất nước của dân tộc, vì
một nhà nước XHCN, vì lý tưởng cộng sản, để góp một phần nhỏ vào công tác
giáo dục lòng yêu nước tự hào cho thế hệ trẻ, và do thực trạng dạy học và giáo
dục hiện nay nên tôi đã chọn đề tài “giáo dục lòng yêu nước và tự hào dân tộc
cho học sinh tiểu học thông qua giảng dạy các truyện truyền thuyết trong
chương trình Văn - Tiếng Việt ở tiểu học”
II.MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng trong công tác giáo dục lòng yêu
nước, tự hào dân tộc cho học sinh tiểu học
III.KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG
1.Khách thể nghiên cứu
Khả năng giáo dục lòng yêu nước, tự hào dân tộc của của truyền thuyết trong
chương trình Văn – Tiếng Việt tiểu học
Trang 112.Đối tượng nghiên cứu
Những hình thức và biện pháp giáo dục lòng yêu nước, tự hào dân tộc cho học
sinh thông qua giảng dạy truyền thuyết ở tiểu học
IV.GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu biết khai thác khả năng giáo dục lòng yêu nước, tự hào dân tộc của truyền
thuyết thì truyền thuyết có tác dụng rất lớn trong việc giáo dục lòng yêu nước, tự
hào dân tộc cho học sinh tiểu học
V.NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
1.Bản chất của khái niệm “dạy học có tính giáo dục” và việc qua hệ của mối quan
hệ giữa việc giảng dạy truyền thuyết với việc giáo dục lòng yêu nước, tự hào dân
tộc cho học sinh tiểu học
2.Thực trạng của việc kết hợp giữa dạy học và giáo dục trong việc giảng dạy ở
phân môn kể chuyện
3.Xây dựng hệ thống, cách thức,biện pháp, giáo dục lòng yêu nước, tự hào dân
tộc cho học sinh tiểu học khi giảng dạy phần truyền thuyết
4.Tổ chức thực nghiệm sư phạm
5 Đề xuất những biện pháp ứng dụng sư phạm để nâng cao hiệu quả giáo dục
lòng yêu nước, tự hào dân tộc cho học sinh tiểu hoc
VI CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
1.Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết
2.Phương pháp điều tra giáo dục
3.Phương pháp phân loại lý thuyết
4.Phương pháp thực nghiệm sư phạm
5.Phương pháp text
6.Phương pháp thống kê
VII KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU
1 Từ tháng 10/2003 đến nhận đề tài
Trang 122 Từ tháng 11/1003 – 12/2003 chính xác hoá đề tài, xây dựng đề cương nghiên
cứu
3 Từ tháng 1/2004 – 2/2004 xây dựng đề cương chi tiết
4 Từ tháng 3/2004 – 4/2004 soạn ct thực nghiệm và tiến hành thực nghiệm sp
5 Từ tháng 5/2004 – 6/2004 hoàn thành đề tài và bảo vệ
VIII.ĐIỀU KIỆN VÀ KHẢ NĂGN NGHIÊN CỨU THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
Do nghiên cứu và thực hiện đề tài trong thời gian không nhiều, bắt đầu nhận
đề tài (10/2003) đến khi hoàn tất đề tài(5/2004) chỉ trong vòng 8 tháng, nên thời
gian nghiên cứu đề tài quá eo hẹp, thêm vào khó khăn nữa là vừa thực tập sư
phạm vừa nghiên cứu đề tài Do đó chất lượng hiệu quả có bị ảnh hưởng phần
nào Mặt khác số truyền thuyết trong chương trình Văn học- Tiếng Việt ở tiểu
học rất hạn chế nên việc thực hiện cũng gặp nhiều khó khăn Hơn nữa khi tiến
hành nghiên cứu đề tài, tác giả phải nghiên cứu trong điều kiện thiếu thốn về cơ
sở vật chất, phương tiện và tài liệu do đó một số chương trình thực nghiệm cũng
bị gây trở ngại
Tuy nhiên cho dù khó khăn như vậy song đề tài đã được thực hiện đúng kế hoạch
và yêu cầu chất lượng của một luận văn tốt nghiệp bằng sự khắc phục khó khăn
kể trên với sự giúp đỡ của bạn bè, thầy cô giáo trong khoa GDTH và trường tiểu
học Lê Lợi
IX.ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài của tôi có những đóng góp sau:
- Làm sáng toả một số luận điểm, một số vấn đề, lý luận về phương pháp
“giáo dục lòng yêu nước, tự hào dân tộc cho học sinh thông qua giảng dạy
các truyện truyền thuyết trong chương trình Văn học- Tiếng Việt ở tiểu học”
Trang 13- Đã đề ra một số cách thức phương pháp giáo dục lòng yêu nước, tự hào
dân tộc khi giảng dạy truyền thuyết và tiến hành thử nghiệm dạy theo phương
pháp đó ở một số truyền thuyết cụ thể có trong chương trình Văn học- Tiếng Việt
ở tiểu học Đồng thời thiết kế một số giáo án theo phương pháp đã đề ra để dạy
truyền thuyết
PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
Trang 14I.LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.
Trong xã hội hiện nay với sự phát triển chóng mặt của khoa học kỹ
thuật và sự hội nhập quốc tế trong những điều kiện mới với những ảnh hưởng
theo nhiều hướng khác nhau (tích cực và tiêu cực), vấn đề bảo tồn và phát huy
tinh hoa văn hoá của dân tộc mà trong đó truyền thống yêu nước, tự hào dân tộc
là tinh hoa quý giá nhất, nó tạo nên sức mạnh để chiến thắng bất kỳ kẻ thù cường
bạo nào, dập tắt mọi ý đồ bạo lực đen tối của bọn thực dân, đế quốc và phong
Đó là phẩm chất mang tính truyền thống mà không phải dân tộc nào cũng có
được mà nó phải được hun đúc và rèn luyện nhiều qua năm tháng qua từng thời
kỳ, qua giai đoạn của lịch sử Song để bảo tồn được những nét văn hoá quý báu
đó là vấn đề không phải dễ nhất là trong tình hình xã hội hiện nay – xã hội theo
cơ chế thị trường với sự chi phối ghê gớm của đồng tiền và những ảnh hưởng xấu
của các luồng tư tưởng phản động Vì thế mà những tinh hoa văn hoá của dân tộc
đang ngày bị mai mụt và cũng vì những ảnh hưởng nói trên mà đạo đức nhân
cách con người đang bị xuống cấp một cách trầm trọng, tới mức nguy hiểm đến
vận mệnh dân tộc tương lai của đất nước
Mặt khác trong nhà trường tiểu học đang diễn ra sự mất cân bằng giữa giáo dục
và dạy học, chú trọng dạy kiến thức của các môn học mà chưa khai thác được khả
năng giáo dục con người của các môn học, chưa chú ý một cách sâu sắc tới việc
thông qua “dạy chữ để dạy người”
Trang 15Chính vì những lẽ đó mà để góp phần phát huy những truyền thống quý báu của
dân tộc, “đề phòng, đề kháng” với những tư tưởng tiêu cực phản động chống phá
công cuộc xây dựng CNXH mà nhân dân ta, đất nước ta đang tiến hành thì phải
giáo dục lòng yêu nước cho học sinh ngay từ khi mới bước vào ngưỡng cửa
trường tiểu học – bậc học nền tảng là rất quan trọng và cần thiết nhiệm vụ này
thuộc về nhà trường, các cấp và toàn xã hội
Trong đó nhà trường tiểu học là cơ sở đặt nền móng đầu tiên trong việc bồi
dưỡng và phát triển toàn diện nhân cách con người Việt Nam – XHCN
Để góp phần vào phát huy truyền thống, tinh hoa văn hoá của dân tộc, góp
phần vào mục tiêu đào tạo của nhà trường tiểu học “ đào tạo ra những con người
phát triển một cách toàn diện” thì điều tất yếu là phải giáo dục lòng yêu nước, tự
hào dân tộc cho học sinh tiểu học, như tôi đã nói ở phần lý do tôi chọn đề tài này
vì “lòng yêu nước, tự hào dân tộc” là động lực thúc đẩy các em phấn đấu rèn
luyện và học tập, đó là mục đích cuối cùng của cả một quá trình học tập và rèn
luyện của mỗi con người “góp phần để xây dựng một đất nước hoà bình - độc lập
– ấm no – hạnh phúc” Trách nhiệm giáo dục này không thuộc về riêng ai, không
thuộc về một tổ chức nào mà là trách nhiệm của toàn xã hội, của tất cả mọi người
Việt Nam yêu nước muốn xây dựng đất nước Hơn nữa thời gian học tập rèn
luyện của học sinh không chỉ ở trường mà còn ở cả gia đình và ngoài môi trường
xã hội, gia đình – nhà trường – xã hội là 3 mắt xích trong quá trình giáo dục, có
mối quan hệ mật thiết, không thể tách bạch, nếu ta xem nhẹ một yếu tố nào đó
chắc chắn sản phẩm giáo dục sẽ không toàn diện Trong nghiên cứu về giáo dục
tiểu học, người ta đã kết luận: Bản chất của giáo dục tiểu học là quá trình tác
động có mục đích có kế hoạch có nội dung và phương pháp của chủ thể giáo dục
đến đối tượng giáo dục nhằm thực hiện các nhiệm vụ giáo dục của nhà trường
tiểu học Quá trình đó không chỉ diễn ra trong phạm vi nhà trường, với các loại
hình giáo dục cơ bản (học tập, lao động vui chơi sinh hoạt tập thể, hoạt động xã
Trang 16hội), mà còn diễn ra trong cuộc sống hàng ngày với những mối quan hệ đa dạng
của trẻ theo đúng chuẩn mực đạo đức Cuộc sống đó bao gồm các hoạt động giáo
dục tổ chức một cách có mục đích, có kế hoạch, cùng với sự tham gia tích cực,
chủ động của trẻ
Sự thống nhất biện chứng giữa tác động sư phạm của nhà giáo dục và hoạt động
tự giác tích cực của người được giáo dục phản ánh một trong những nét bản chất
của quá trình giáo dục tiểu học giáo dục bao giờ cũng giữ vai trò chủ đạo
Ở đề tài của tôi, cần xét đến mối quan hệ “ dạy học và giáo dục” Vấn đề
“dạy học có tính giáo dục” hay mối liên hệ giữa chúng đã được đề cập đến từ lâu
trong lịch sử nhà trường và lịch sử giáo dục, đặc biệt là nhà trường XHCN và
giáo dục macxit
Như Khổng Tử đã từng nói “nhân bất học bất tri lý”, không học thì không biết
đạo lý làm người Cổ nhân Trung Hoa cũng đã dạy “văn dĩ tải đạo” văn theo
nghĩa hẹp là “chữ viết” nghĩa rộng là kiến thức, kiến thức tri thức phải phục vụ
con người, chở đạo làm người – học kiến thức là phải học đạo làm người
Quan điểm cho rằng thông qua “dạy chữ” để “dạy người” ra đời từ đó dần
nguyên tắc này đã phát triển trong lịch sử giáo dục
Còn J.Acômenxk – thế kỷ XVI đã công nhận vai trò to lớn của dạy học, trong tác
phẩm của mình Ông không phân biệt hai phạm trù dạy học và giáo dục “Lý luận
dạy vĩ đại” là lý luận dạy học thanh niên
Cách nhìn nhận và giải quyết “mối tương quan giữa dạy học và giáo dục”
ở mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn phát triển của giáo dục lại mang tính riêng biệt
Ông RutXô(1712 – 1778) cho rằng “giáo dục tự nhiên” là quan trọng nhất và
ông khẳng định rằng không phải dạy cho trẻ những cái có sẵn, theo Ông sự giáo
dục ban đầu phải có tính thuần tuý “ phòng ngừa”, nó không phải dạy những kiến
thức, sự thật điều tốt, không phải dạy về nguồn gốc của dân tộc Nhiệm vụ của nó
là làm cho trái tim của trẻ tránh được tội lỗi và trí tuệ của trẻ khỏi sai lầm Chỉ
Trang 17đến khi trưởng thành thì người học sinh trong quá trình “cuộc sống tự nhiên” của
mình, tiếp thu những kiến thức kỹ năng cần thiết cho cuộc sống bản thân Như
vậy theo RutXô sự dạy học hoà tan trong quá trình giáo dục “ tự nhiên” Trong
điều kiện thống trị của dạy học giáo điều và giáo dục quý tộc, thì lý thuyết của
RutXô có ý nghĩa rất lớn
Trong quá trình dạy học hiện đại thì việc thực hiện chức năng giáo dục của
dạy học được các nhà sư phạm rất chú trọng Việc dạy học không chỉ thuần tuý
cung cấp hệ thống tri thức, kỹ năng kỹ xảo, phát triển các năng lực nhận thức mà
thông qua quá trình dạy học phải bồi dưỡng cho học sinh những cơ sở của thế
giới quan khoa học, nhân sinh quan lý tưởng niềm tin, thái độ cho học sinh, giúp
các em hình thành những giá trị đạo đức và nhân văn Dạy học là phương tiện để
thực hiện chức năng giáo dục Vì thế nhiều công trình khoa học giáo dục đã
nghiên cứu vấn đề mối tương qua giữa dạy học và giáo dục trong khi giảng dạy
các môn học Đặc biệt là khai thác khả năng giáo dục của các môn học và tìm
cách chuyển tải các giá trị đạo đức vào tâm hồn trẻ Như công trình “giáo dục đạo
đức cho học sinh thông qua giảng dạy truyện cổ tích trong chương trình văn -
tiếng việt ở tiểu học”(luận văn tốt nghiệp của Lê Thị Thuỷ – K40)
II.BẢN CHẤT CỦA KHÁI NIỆM LÒNG YÊU NƯỚC, LÒNG TỰ HÀO DÂN TỘC VÀ
ĐẶC ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
1.Các giá trị truyền thống của dân tộc Việt nam
Dân tộc Việt Nam có một bề dày lịch sử, hơn 4 nghìn năm dựng nước và
giữ nước những giá trị truyền thống tốt đẹp cũng được hun đúc theo dòng lịch sử
đó - đó là truyền thống yêu nước, ý chí xây dựng và bảo vệ đất nước, những
truyền thống nhân văn cao đẹp, với các đức tính tuyệt vời của con người Việt
Nam như “ cần cù trong lao động, thương yêu đùm bọc lẫn nhau, dũng cảm và
Trang 18gan dạ trong chiến đấu …” Những truyền thống quý báu đó đã tạo nên sức
mạnh của mọi thời đại, chiến thắng bao kẻ thù hung tàn
Như Bác Hồ kính yêu đã từng nói “Dân có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là
một truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ Quốc bị xâm lăng
rhì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, nó lướt
qua mọi sự nguy hiểm khó khăn, nó nhấn chìm tất cả bè lủ bán nước và cướp
nước”
(Lòng yêu nước của nhân dân ta – Hồ Chí Minh – TV3 – T2 )
Vấn đề đặt ra là làm thế nào để bảo tồn và phát huy được các giá trị truyền thống
cao đẹp đó nhất là trong thời kỳ có biết bao nhiêu tác động không tốt của nhiều
biến cố lịch sử Đây thuộc về trách nhiệm của các thế hệ nói chung và từng cá
nhân nói riêng “các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng
nhau giữ nước”(Hồ Chí Minh) Phải khơi dậy lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc
ở mỗi con người mà nhất là ở lứa tuổi học sinh tiểu học Trong bậc học tiểu học,
học sinh được giáo dục lòng yêu nước ở nhiều khía cạnh, lĩnh vực khác nhau
nhưng thông qua giờ kể chuyện, học sinh sẽ dần hình thành khái niệm về lòng
yêu nước qua các truyền thuyết
Nội dung của các truyền thuyết phản ánh một cách rõ nét truyền thống yêu nước
chống giặc ngoại xâm, bảo vệ và xây dựng đất nước Những truyền thống đó
được hình thành từ những buổi đầu sơ khai và được giữ gìn và phát huy từ đời
này sang đời khác lịch sử dựng nước và giữ nước đã minh chứng hùng hồn truyền
thống quý hoá đó
Đối với mỗi học sinh tiểu học, thì truyền thống này phải được hiểu cụ thể,
bằng những câu truyện cụ thể Lòng yêu nước đối với học sinh tiểu học đó là :
yêu quê hương, yêu gia đình, yêu nước là phải gắn với yêu đồng bào “yêu tổ
quốc, yêu đồng bào” trước hết là yêu ông bà, yêu cha mẹ, thầy cô anh chị em ruột
Trang 19thịt yêu bạn yêu bè, biết yêu quý các gia đình thương binh liệt sỹ, các bà mẹ Việt
Nam anh hùng … mà khái quát lên thành tình yêu bao la – tình yêu nhân loại
2.Khái niệm về lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc
a.Lòng yêu nước
Lòng yêu nước là một giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam được hun
đúc qua 4 nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước Từ khi có Đảng và Bác Hồ
lãnh đạo cách mạng thì lòng yêu nước của nhân dân ta được phát triển trong điều
kiện lịch sử mới của CMVN
Lòng yêu nước là những tư tưởng, tình cảm đặc biệt đối với đất nước, dân tộc
mình, một thứ tình cảm thiêng liêng cao đẹp, nó thấm trong từng giọt máu của
mỗi người, xuyên qua mọi thử thách của thời gian phát triển và nâng lên thành
chủ nghĩa yêu nước, biểu hiện của lòng yêu nước là việc góp phần xây dựng và
bảo vệ tổ quốc, làm cho đất nước hoà bình độc lập phát triển giàu mạnh
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước ngàn năm của dân tộc ta đã chứng
minh được lòng yêu nước từ các Vua Hùng, các bậc tiền bối cho đến mỗi con
người thời đại Lịch sử là một tấm gương chiếu hậu, là sự thật của quá khứ mà
con người nhận thức được Dân tộc ta dường như sinh ra là để chống chọi với
mọi thử thách khắc nghiệt, bởi đất nước ta từ thuở sơ khai đã phải chống chọi với
lực lượng siêu nhiên ( những thử thách khắc nghiệt của thiên nhiên) rồi đến giặc
ngoại xâm
Nhưng điều khó khăn ác liệt nhất cũng bị đẩy lùi mà thay thế vào đó là cảnh nước
nhà được độc lập, tự do, nhân dân ấm no hạnh phúc Đó chính là nhờ vào lòng
yêu nước - động lự của sự đấu tranh, sức mạnh trường tồn xuyên qua mọi thời
đại
Sử sách đã ghi lại những tấm gương yêu nước, tất cả vì dân tộc từ trước tới nay
như: Thánh Gióng, các Vua Hùng, hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Bí, Mai Thúc
Trang 20Loan, Ngô Quyền, Lê Lợi, Quang Trung … Mỗi giai đoạn lịch sử lại có những
tấm gương sáng về lòng yêu nước Đến TK XX một loạt các sỹ phu yêu nước đã
ra đi tìm đường cứu nước như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh…nhưng đều thất
bại, chỉ đến khi Chủ Tịch Hồ Chí Minh mới tìm ra con đường cứu nước đúng đắn
đó là con đường cac CMVS
Truyền thống yêu nước Việt Nam đúc kết thành chủ nghĩa yêu nước được soi
sáng bởi chủ nghĩa Mác – LêNin và tư tưởng Hồ Chi Minh, chủ nghĩa yêu nước
xã hội chủ nghĩa Việt Nam lại phát triển rực rỡ trong thời đại ngày nay là nhân tố
quan trọng đưa cược cách mạng của nhân dân ta đi đến thắng lợi đúc kết thành
chân lý độc lập tự do, tạo nên sức sống bất diệt của dân tộc Việt Nam
Qua đây có thể kết luận rằng truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam luôn
được phát huy ở mọi thời đại Lòng yêu nước của nhân dân ta không bao giờ lu
mờ, tinh thần “vì nước quên thân, vì dân phục vụ” không bao giờ vơi Chủ nghĩa
Mác- LêNin và tư tưởng Hồ Chí Minh luôn là bó đuốc soi đường chân lý sống và
làm việc của mỗi con người Việt Nam yêu nước
b Lòng tự hào dân tộc
Lòng tự hào hiểu một cách khái quát nhất là sự hãnh diện, vui sướng một
cách chính đáng Lòng tự hào dân tộc là lòng tự hào về dân tộc đã sinh ra mình tự
hào về nguồn gốc tổ tiên Không vui sướng sao được khi chúng ta có một nguồn
gốc,dòng dõi cao quý: Bố rồng, mẹ tiên Không tự hào sao được khi dân tộc ta đã
sản sinh ra bao nhiêu anh hùng bất tử, ta có quyền tự hào về bản sắc văn hoá, bề
dày của lịch sử, tự hào về dân tộc tuy bé nhỏ nhưng sẵn sàng đứng lên đấu tranh
dành lại hoà bình, luôn đoàn kết yêu thương đùm bọc lẫn nhau, chúng ta thật vinh
dự khi là một công dân của một dân tộc như vậy- một đất nước có non sông gấm
vóc tuyệt vời Tự hào về đất nước giàu đẹp, tự hào về nhân dân Việt Nam anh
hùng, tự hào về một dân tộc kiên cường bất khuất đã đấu tranh hàng ngàn năm để
tồn tại và phát triển
Trang 213.Đặc điểm của chủ nghĩa yêu nước XHCN Việt Nam
Theo định hướng phát triển của CMVN đã được khẳng định ngay từ những
năm 20 của TK XX khi Nguyễn Ái Quốc tìm thấy con đường giải phóng dân tộc
theo CMVS Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là mục tiêu của CMVN đồng
thời cũng là cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh Vì vậy, sau thắng lợi của cách
mạng giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước theo con đường CNXH là lôgic phát
triển tất yếu của CMVN
CNXH ở Việt Nam có nguồn gốc sâu xa từ chủ nghĩa yêu nước truyền
thống nhân ái và tinh thần cộng đồng làng xã Việt Nam, được hình thành lâu đời
từ lịch sử dựng nước và giữ nước
Theo chủ nghĩa Mác – LêNin : CNXH là chủ nghĩa nhân đạo cao đẹp trong đó
các Ông xây dựng từng bước luận điểm cơ bản về CNXH, chỉ ra những phương
hướng phát triển chủ yếu và những đặc điểm cơ bản của nó mà đặc trưng cơ bản
nhất là xoá bỏ về chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, giải phóng cho con người
thoát khỏi tình trạng bị áp bức bóc lột về kinh tế, nô dịch về văn hoá chính trị,
tinh thần Tạo điều kiện cho mọi người có điều kiện tận lực để phát triển mọi
mặt, mọi khả năng của mình
Còn đến Hồ Chí Minh, Người đã tiếp cận CNXH khoa học trên quan điểm
duy vật lịch sử Từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác– LêNin, Hồ Chí
Minh tiếp cận CNXH từ chủ nghĩa yêu nước và truyền thống văn hoá dân tộc
(theo viện nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh) Chính vì vậy mà CNXH ở Việt
Nam có bản chất và mục tiêu riêng :
- CNXH là yêu nước và khát vọng giải phóng dân tộc
- CNXH là xã hội đạo đức cao, nhân văn cao
- CNXH gắn với những truyền thống văn hoá người Việt Nam
Trang 22Việt Nam không trải qua thời kỳ chiếm hữu nô lệ, nhưng từ ngày lập quốc gia
luôn phải chống giặc ngoại xâm, hơn nữa Việt Nam là một nước nông nghiệp, lấy
đất và nước làm nền tảng Chế độ công điền và công cuộc trị thuỷ sớm gắn kết
con người Việt Nam lại với nhau là những nhân tố quan trọng hình thành nên tinh
thần đoàn kết cộng đồng của dân tộc – một nhân tố thuận lợi để đi vào xây dựng
CNXH
Văn hoá Việt Nam lấy nhân nghĩa làm gốc, lấy truyền thống trọng dân, khoan
dung hoà mục để hoà đồng là văn hoá trọng trí thức hiền tài Con người Việt
Nam có tâm hồn trong sáng, giàu lòng vị tha yêu thương đồng loại, kết hợp được
cái chung với cái riêng, gia đình với tổ quốc, dân tộc và nhân loại…Chính những
truyền thống tốt đẹp về văn hoá và con người Việt Nam là cơ sở dẫn dắt Hồ Chí
Minh hướng con tàu CMVN đến với CNXH – CNCS
Tóm lại, quan niệm của Hồ Chí Minh về CNXH là sự thống nhất biện
chứng giữa các nhân tố kinh tế, chính trị, xã hội và nhân tố văn hoá, đạo đức,
nhân văn
Chính vì vậy trong quá trình giảng dạy và giáo dục học sinh ngay từ bậc học đầu
tiên, nhà giáo dục phải ý thức được vai trò và giá trị giáo dục của truyền thống
dân tộc trong việc giáo dục nhân cách, quan điểm sống, tư tưởng cho học sinh,
giáo dục lòng yêu nước, tự hào về một dân tộc đoàn kết trong mọi hoàn cảnh,
một dân tộc có nền văn hiến lâu đời, một dân tộc nhân văn cao đẹp…Tất cả
những điều đó sẽ tạo ra sức mạnh thời đại là một loại “ kháng thể” để chống lại
những ảnh hưởng xấu mà các thế lực chống phá đang có âm mưu gieo dắc trên
đất nước ta với những thủ đoạn tinh vi nhất như “diễn biến hoà bình”…
4.Vai trò của giá trị truyền thống yêu nước, tự hào dân tộc trong sự nghiệp
giáo dục thế hệ trẻ
Từ những phân tích trên về những đặc điểm của CNXH ta phải khẳng định
rằng : Cái gốc để nhà nước ta đi theo con đường CNXH là bắt nguồn từ những
Trang 23truyền thống yêu nước lòng tự hào dân tộc với các nhân tố nhân văn đạo đức và
văn hoá cao đẹp – mục tiêu và là yêu cầu của một nước CNXH, CNCS cần phải
có
Những giá trị truyền thống đó với những bằng chứng để lại là những chiến
thắng lẫy lừng qua các cuộc chiến đấu bảo vệ tổ quốc, chống giặc ngoại xâm của
các Vua Hùng các vị thần như Thánh Gióng, các anh hùng mang tính thần kỳ như
Bà Trưng, Bà Triệu…rồi tiếp đến là trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ và
gian khổ “ kháng chiến chống Pháp” (1858 – 1954), “kháng chiến chống
Mỹ”(1954- 1975) có giá trị rất lớn đối với giáo dục thế hệ trẻ hiện nay
Những giá trị truyền thống này là những chuẩn mực, là tấm gương sáng cho thế
hệ trẻ soi mình vào đó, để thấy được việc gì mình cần làm, việc gì không nên
làm, góp một phần sức lực bé nhỏ để xây dựng đất nước phồn vinh, giàu mạnh,
sánh vai cùng với năm châu bốn bể, trách nhiệm này không ai khác ngoài thế hệ
trẻ – tương lai của đất nước
Do đó nhiệm vụ của giáo dục là phải làm sao cho thế hệ trẻ thấy được cái
giá trị, thấy được sức mạnh của sự đoàn kết, của lòng yêu nước, coi đó như động
lực để xây dựng cho mình một lối sống lành mạnh, mục đích phấn đấu vì tương
lai đất nước, vì vận mệnh của dân tộc, cuối cùng là vận dụng những giá trị đó
trong thực tế như thế nào ? Nó giống như quy trình giáo dục một bài đạo đức cho
học sinh, nhưng ở đây ta xem xét vấn đề ở tầm cao hơn đó là giáo dục ý thức hệ
tư tưởng vô sản, tư tưởng cộng sản cho cả một thế hệ trẻ
5.Mối quan hệ giữa dạy học và giáo dục trong giảng dạy Văn – Tiếng Việt ở
Tiểu Học
Trong giáo dục học hiện đại người ta đã định nghĩa quá trình giáo dục bao
hàm : giáo dục theo nghĩa hẹp và qua trình dạy học, trong đó quá trình dạy học
lại bao hàm quá trình dạy học và quá trình giáo dục Chính vì vậy mà quá trình
Trang 24giáo dục và quá trình dạy học có mối quan hệ mật thiết chi phối lẫn nhau, tác
động qua lại thúc đẩy nhau cùng phát triển
Người ta xem tính giáo dục của dạy học vừa là một nguyên tắc vừa là một quy
luật của quá trình dạy học Đồng thời mối quan hệ trong dạy học và giáo dục là
mối quan hệ giữa mục đích và phương tiện Dạy học là phương tiện cơ bản để
hình thành nhân cách cho học sinh, nghĩa là thông qua dạy chữ để dạy người,
ngược lại nhờ quá trình giáo dục mà học sinh xây dựng được thái độ, động cơ
học tập đúng đắn Những kết quả giáo dục này lại thúc đẩy hoạt động học tập nói
riêng và quá trình dạy học nói chung vận động và phát triển
Cũng như bất kỳ một môn học nào, môn Văn – Tiếng Việt ở tiểu học,
trong quá trình giảng dạy đều phải qua tâm chú ý đến mối quan hệ giữa hai yếu
tố: quá trình dạy học và quá trình giáo dục, phải biết khai thác khả năng giáo dục
qua mỗi giờ học, tuỳ theo nội dung của mỗi bài học để rút ra những vấn đề cần
phải giáo dục
II VỊ TRÍ VAI TRÒ CỦA TRUYỀN THUYẾT TRONG VIỆC GIÁO DỤC LÒNG
YÊU NƯỚC, LÒNG TỰ HÀO DÂN TỘC CHO HỌC SINH TIỂU HỌC
1 Vị trí vai trò của phân môn kể chuyện trong chương trình Văn – Tiếng
Việt ở Tiểu Học
a Vị trí
Phân môn kể chuyện có một vị trí quan trọng được xếp liền sau phân môn tập
đọc, học thuộc lòng của bộ môn Văn- Tiếng Việt Do ranh giới nằm giữa tiếng và
văn nên kể chuyện vừa thuộc phạm trù ngôn ngữ tiếng việt vừa thuộc phạm trù
nghệ thuật văn chương Theo quy định của chương trình Tiểu Học mỗi tuần có
một tiết kể chuyện (35phút
– 40phút) Về nội dung chương trình của từng lớp đều có xác định rõ yêu cầu về rèn luyện kỹ năng Ví dụ chương trình lớp 1 chọn các
Trang 25truyện đơn giản dể hiểu, có giá trị thẩm mỹ và tác dụng giáo dục rõ rệt ( truyện
cổ tích, thần thoại truyền thuyết, truyện các danh nhân, truyện người tốt việc
tốt…) Sau khi nghe giáo viên kể học sinh tập kể từng đoạn ngắn câu chuyện đã
được nghe và trả lời một số câu hỏi dễ, tập phát biểu cảm nghĩ của mình đối với
các nhân vật trong truyện ( yêu nhân vật nào, ghét nhân vật nào? tại sao?)
Khi học sinh tập kể lại, giáo viên chú ý tập cách diễn đạt cho học sinh (như phát
âm tốt, lời gọn gàng, dùng từ chính xác) Với vị trí mới, phân môn kể chuyện đã
có chỗ đứng xứng đáng trong chương trình Văn- Tiếng Việt ở Tiểu Học và đông
đảo học sinh, giáo viên
b.Vai trò
Nhiệm vụ cơ bản của phân môn kể chuyện là bồi dưỡng tâm hồn, đem lại
niềm vui, trau dồi vốn sống và vốn văn học, phát triển ngôn ngữ và tư duy cho
trẻ Xuất phát từ truyện là những sáng tác mang tính dân gian văn học nên tác
dụng của truyện cũng mang tính văn học nói chung Hơn bất kỳ loại hình nào
khác, truyện có khả năng bồi dưỡng đời sống tâm hồn trẻ Đó là bồi dưỡng tâm
hồn con người nói chung Mặt khác qua các câu truyện còn giáo dục về đạo đức
nhân cách, tư tưởng tình cảm cho trẻ Tâm hồn trẻ sẽ nghèo đi mất bao nhiêu nếu
trẻ không được tiếp xúc với truyện, đặc biệt là kho tàng truyện cổ dân gian trong
sáng và sinh động, trẻ sẽ không hình dung được về cõi xưa cha ông ta đã dựng
nước và giữ nước như thế nào, ta có nguồn gốc từ đâu
Suốt những năm học Tiểu Học, nếu các em được học đầy đủ, nghe nhiều truyện,
chuyện kể sẽ góp phần làm cho tâm hồn trẻ dầu có thêm bằng những câu chuyện
bổ ích và lý thú Và những hình tượng quen thuộc của truyện sẽ trở thành vốn
văn học tích lũy đầu tiên và sau này khi có điều kiện gặp lại qua bộ môn văn học
các lớp ở trung học cơ sở và trung học phổ thông Đó cũng là những khuôn mẫu
đầu tiên giúp các em phát triển tư duy
Trang 26Như vậy nhiệm vụ giáo dục, giáo dưỡng của phân môn kể chuyện lại trở nên vô
cùng đa dạng và phong phú và rất quan trọng Nhưng trong đề tài nghiên cứu về
khả năng giáo dục lòng yêu nước, tự hào dân tộc cho học sinh Tiểu Học thông
qua các truyền thuyết thì tôi chủ yếu đi sâu vào khai thác khả năng giáo dục của
các câu truyện truyền thuyết
2.Đặc điểm của phân môn kể chuyện
Kể chuyện là một phân môn dạy học lý thú, hấp dẫn ở các lớp trong
trường Tiểu Học Tiết kể chuyện thường được các em học sinh chờ đón và tiếp
thu bằng một tâm trạng hào hứng, vui thích Khác hẳn với những tiết tập đọc, học
thuộc lòng, từ ngữ, ngữ pháp…ở những tiết kể chuyện giáo viên và các em học
sinh hầu như thoát li hẳn sách vở mà giao hoà tình cảm một cách hồn nhiên thông
qua nội dung của những câu chuyện được kể, thông qua lời kể của giáo viên và
lời kể lại của học sinh Mọi người được sống trong những phút hồi hộp, xúc cảm
ngoài quy chế thông thường của một tiết lên lớp, bởi không có những hiện tượng
truy bài, hỏi bài căng thẳng, quay cóp sao chép Gần như một mối quan hệ thầy
trò mới được xác lập giữa một không khí mới, không khí của thần thoại, truyền
thuyết, cổ tích, không khí hào hùng của dân tộc, không khí của sự khích lệ, không
khí của lòng vị tha rất đỗi thanh tao Rõ ràng xác nhận phân môn kể chuyện là
một phân môn lý thú hấp dẫn ở trường Tiểu Học là có cơ sở của nó Thông qua
không khí nhẹ nhàng đó học sinh sẽ lĩnh hội được những gì tốt đẹp nhất của tinh
hoa văn hoá dân tộc ( qua các truyền thuyết) được giáo dục cao về mặt đạo đức
thông qua (truyện cổ tích) …
3.Vị trí, vai trò đặc điểm, nội dung của các truyền thuyết trong phân môn
kể chuyện
3.1.Truyền thuyết là gì?
Trang 27Là những truyện có tính chất hoang đường kỳ diệu xuất hiện vào buổi bình
minh của lịch sử, nhằm phản ánh quá trình dựng nước và giữ nước, đồng thời
biểu dương ca ngợi sức mạnh của những anh hùng có công với đất nước
Truyền thuyết không phải là lịch sử, không hoàn toàn là “giả sử” Đúng như cố
thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói “những truyền thuyết dân gian thường có cái
lõi là sự thật lịch sử mà nhân dân qua nhiều thế hệ đã lý tưởng hoá, gửi gắm vào
đó tâm tình tha thiết của mình cùng với thơ và mộng, chắp đôi cánh của sức
tưởng tượng và nghệ thuật dân gian làm nên những tác phẩm văn hoá đời đời của
con người ưa thích” (theo Tổ Quốc ta, nhân dân ta, sự nghiệp ta và người nghệ
sỹ)
Trong ý thức của nhân dân ta, truyền thuyết xãy ra như là một sự thật lịch
sử, mọi điều kiện trong truyền thuyết là có thật Nó gắn liền với tâm lý bộc
lộ niềm tự hào kiêu hãnh về lịch sử, về con người, về nòi giống dân tộc
Truyền thuyết bao giờ cũng quan tâm đến nhân vật lịch sử và con người lịch
sử Nó thể hiện thái độ đánh giá của nhân dân ta đối với sự kiện và nhân vật
lịch sử ấy Tuy nhiên trong con mắt của người dân truyền thuyết không
hoàn toàn là con người thực nguyên mẫu của lịch sử mà bao giờ họ cũng
được kỳ ảo hoá thần thánh hoá Bởi âm điệu của truyền thuyết là âm điệu
ngợi ca Như vậy truyền thuyết tồn tại hai xu hướng tưởng chừng trái ngược
nhau, loại trừ nhau nhưng thực chất chúng bổ sung cho nhau, tôn nhau lên
khiến cho sự kiện và nhân vật truyền thuyết càng nổi bật Đó là xu hướng
lịch sử hoá và kỳ ảo hoá,hai nguyên tắc của quá trình sáng tạo truyền
thuyết Những nhân vật và sự kiện lịch sử này đều thuộc về quá khứ, trở
thành niềm tôn kính và tưởng niệm của chúng ta
3.2.Đặc điểm của truyền thuyết
Trang 28a Thời điểm xuất hiện, chức năng và nhân vật
- Truyền thuyết nảy sinh trên cơ sở của thần thoại, khi con người bước vào
ngưỡng cửa của thời đại văn minh, thời kỳ chiếm hữu nô lệ
- Chức năng
Truyền thuyết nhằm nhận thức và lý giải lịch sử nó phản ánh những
biến cố trọng đại có ý nghĩa toàn dân, phản ánh mối quan hệ giữa con người với
lịch sử
b.Nguồn gốc và quá trình phát triển của truyền thuyết
- Nguồn gốc
Truyền thuyết ra đời trên cơ sở của thần thoại và gắn với nhu cầu
nhằm nhận thức lịch sử của con người khi bước vào thời văn minh Lúc này nền
kinh tế đã phát triển Do vậy những dấu tích thần thoại vẫn phát triển ở một số
truyền thuyết cụ thể như ở một số truyền thuyết về họ Hồng Bàng, Lạc Long
Quân, Âu Cơ…có thể xem truyền thuyết bắt đầu phát triển từ thời kỳ các Vua
Hùng dựng nước Thực chất truyền thuyết về thời kỳ dựng nước đã ẩn chìm dưới
lớp thần thoại dày đặc Lâu nay hệ thống truyền thuyết này được nghiên cứu như
là tác phẩm thần thoại Điển hình là truyện kể Thánh Gióng, nhân vật này chứa
đựng nhiều yếu tố thần thoại Đứa trẻ là một cuộc phối kỳ lạ, người đàn bà quê
mùa xấu xí và vị thần khổng lồ Đứa bé sinh ra ba năm không biết nói biết cười
nhưng khi nghe tin sứ giả tìm người tài giỏi dẹp giặc cứu nước thì đã vươn vai
đứng dậy trở thành con người cao lớn kỳ lạ Sau khi dẹp xong giặc Ân cả người
cả ngựa bay thẳng về trời Như vậy nhân vật Gióng mang tích chất thần hơn là
tính chất người chính điều này là một trong những yếu tố hấp dẫn trẻ em Đồng
thời cũng điển hình cho sự nhập nhằng giữa thần thoại và truyền thuyết Riêng
việc giới thiệu truyện xảy ra vào đời đời Hùng Vương thứ VI và sự kiện lịch sử
giặc Ân sang xâm lược nước ta là có thật, chứng toả Thánh Gióng là truyền
thuyết đích thực Như vậy truyền thuyết đã kế thừa thần thoại và đổi mới cho phù
Trang 29hợp với nhu cầu nhận thức và lý giải lịch sử Đến truyền thuyết con người đã có ý
thức làm nghệ thuật
- Quá trình phát triển
Hơn bất cứ một thể loại dân gian nào khác truyền thuyết có một quá trình
phát triển rất dài Có thể nói: Đã đi cùng lịch sử dân tộc Truyền thuyết phát triển
theo tiến trình lịch sử của từng thời đại
Do ý thức về lịch sử là vấn đề luôn được đặt ra trong mọi thời đại, cho nên
thể hiện lại truyền thuyết vẫn có thể xuất hiện Truyền thuyết với ý nghĩa chân
chính của nó được thể hiện tập trung và rõ nét nhất ở thời kỳ Văn Lang, Âu Lạc
Bộ phận truyền thuyết này mang tính cổ điển mẫu mực nhất Vì vậy khi tìm hiểu
truyền thuyết dân tộc Việt Nam chủ yếu xem xét ở hai giai đoạn này
3.3.Nội dung của truyền thuyết
Thực chất truyền thuyết là sự nhìn nhận đánh giá của nhân dân đối với các
sự kiện và nhân vật lịch sử
- Truyền thuyết là tiếng vọng xưa của lịch sử về nguồn gốc dân tộc và sự hình
thành nhà nước
Họ Hồng Bàng là truyền thuyết gồm nhiều truyện xâu chuỗi, liên kết
thành, trong đó có “con Rồng, cháu Tiên”, “sự tích bọc trăm trứng”, trung tâm là
Lạc Long Quân - Âu Cơ Nó phản ánh giải thích nguồn gốc của dân tộc ta, phản
ánh sự tự hào về nguồn gốc “con Rồng, cháu Tiên”
Truyện kể rằng: Kinh Dương Vương hay còn gọi là Lộc Tục là vua phương nam
lấy con gái Thân Long là vua Hồ Đông Đinh sinh ra con trai trưởng là Sùng Lãm,
sau nối ngôi vua xưng là Lạc Long Quân, lấy con gái Đế Lai là Âu Cơ, sinh được
cái bọc có trăm trứng Trăm trứng nở ra thành trăm người con trai Một ngày Lạc
Long Quân nói với Âu Cơ rằng: Ta là giống rồng, mình là giống tiên, thuỷ hoả
khác nhau không thể ở cùng nhau được Hai người bèn chia con ra ở riêng Năm
mươi người con trai theo mẹ lên núi, năm mươi người con trai theo cha về biển,
Trang 30chia nhau trị vì các xứ Người con trai trưởng trong số các con theo mẹ lên Phong
Châu làm Hùng Vương
Truyền thuyết “con Rồng, cháu Tiên” cho thấy dân tộc ta có nguồn gốc kỳ
lạ Từ sự hôn phối bố Rồng mẹ Tiên Cách giải thích ấy tuy hoang đường nhưng
mang tính giá trị hiện thực phù hợp với nhận thức của học sinh tiểu học, học sinh
dể hiểu và dể bị cuốn hút vào nội dung của những truyền thuyết như vậy, truyền
thuyết đã phản ánh sâu sắc lòng tự hào dân tộc của người việt cổ Cũng chính nhờ
nội dung hấp dẫn đó mà giáo dục lòng tự hào dân tộc cho học sinh tiểu học về
nguồn gốc xa xưa của mình Như học giả Đinh Gia Định đã từng nói “dân tộc ta
không sinh ra bọc trăm trứng nhưng truyện bọc trăm trứng nhất thiết sinh ra từ
lịch sử dân tộc ta”
Ba mẫu truyện “Họ Hồng Bàng; Diệt ngư tinh, hồ tinh, mộc tinh”nhằm ca ngợi
chiến công của Lạc Long Quân trên ba vùng: biển, núi và đồng bằng Đây là cuộc
chiến đấu để ổn định địa bàn cư trú của nhân dân, đồng thời gắn liền với niềm tự
hào về dòng dõi dân tộc chúng ta
Lại nói đến con trai trưởng theo mẹ lên núi được phong làm vua gọi là Hùng
Vương thứ nhất, Hùng Vương đóng đô ở Phong Châu (Viêt Trì - Vĩnh Phúc)
Nhà nước Văn Lang của Vua Hùng còn sơ khai, mới hình thành nhưng đã cố kết
được lòng người, từ tình cảm cộng đồng dẫn đến ý thức cộng đồng Họ thấy được
sức mạnh cộng đồng và luôn đấu tranh giữ gìn đất nước
Hai truyền thuyết Thánh Gióng và Sơn Tinh Thuỷ Tinh tiêu biểu cho tinh
thần chống giặc ngoại xâm và chế ngự thiên tai lũ lụt thời Vua Hùng
Còn các truyền thuyết “Hùng Vương chọn đất đóng đô; Thành Phong Châu; Con
Voi bất nghĩa” khẳng định công lao của Vua Hùng đối với công cuộc xây dựng
đất nước Những truyền thuyết “Vua Hùng dạy dân cấy lúa; Vua Hùng trồng kê
tra lúa…” nhằm triển khai hình tượng Vua Hùng từ chỗ là người có công dựng
nước đến chỗ người biết cách trị nước giúp dân Không những thế ở thời kỳ này
Trang 31còn kèm theo một loạt các phong tục tập quán đẹp, nét văn hoá đẹp của dân tộc:
Nhân dân tỏ lòng biết ơn đến nghĩa tổ tông là cái hiếu của con cháu đời sau đối
với đời trước Tiêu biểu là câu chuyện “bánh chưng bánh dầy” Nhà nước Văn
Lang của các Vua Hùng tuy đơn giản nhưng cố kết được lòng người xuất phát từ
tình cảm cộng đồng, ý thức cộng đồng đoàn kết và truyền thuyết mãi mãi ca ngợi
công lao của họ
-Truyền thuyết phản ánh công cuộc dựng nước giữ nước đồng thời biểu dương
sức mạnh và ca ngợi những anh hùng có công với đất nước
Theo truyền thuyết An Dương Vương tên là Thục Phán cháu vua nước Thục,
một bộ tộc ở vùng Bắc Bộ Chuyện kể rằng: Vua Hùng Vương thứ 18 có người
con gái nhan sắc tên là Mỵ Nương, vua nước Thục nghe tin, sai người sang cầu
hôn nhưng Vua Hùng không bằng lòng bởi biết đây là âm mưu Thục muốn cướp
nước Văn Lang mà thôi Vua Thục giận lắm truyền cho con cháu đời sau phải
diệt nước Văn Lang của Vua Hùng Vua Hùng có tướng sĩ giỏi nhiều lần đánh bại
quân Thục nên chủ quan Một lần trong cơn say Hùng Vương đã để mất Văn
Lang vào tay Thục, Thục Phán sau thôn tính Văn Lang bèn xưng là An Dương
Vương đặt tên nước là Âu Lạc (ghép tộc người Âu Việt và Lạc Việt) đónuc đô ở
Phong Châu (Bạch hạc – Vĩnh Phúc) Sau chiến thắng vĩ đại năm mươi vạn quân
Tần, An Dương Vương bắt tay vào công cuộc dựng nước Các truyền thuyết như:
An Dương Vương xây thành Cổ Loa; An Dương Vương với nỏ thần, Mỵ Châu-
Trọng Thuỷ; An Dương Vương bãi chức tướng quân Cao Lỗ là bài ca hùng
tráng – bi tráng của lịch sử dựng nước và giữ nước của chúng ta thời kỳ này An
Dương Vương vừa là người có công vừa là người có tội đối với đất nước Chúng
ta không thể phủ nhận công lao của An Dương Vương trong công cuộc dựng
nước vĩ đại: Thành Cổ Loa – một công trình sáng tạo nhất thời bấy giờ Bên
cạnh đó An Dương Vương còn là người có tội với nhân dân, với truyền thống
dân tộc Vì lơ là cảnh giác ỉ thế vào nỏ thần, vì tin tưởng vào mối tình ngây thơ
Trang 32trong trắng của con nên cha con An Dương Vương đã làm nên nỗi “ cơ đồ đắm
biển sâu”
Tuy nhiên trong con mắt của nhân dân ta, An Dương Vương là người có công lớn
trong công cuộc xây dựng đất nước, chống giặc ngoại xâm, là người anh hùng đại
diện cho sức mạnh tập thể quần chúng nhân dân Người anh hùng không bao giờ
chết trong lòng nhân dân Nhân dân bao giờ cũng dành cho họ những lời ngợi ca
đẹp nhất, gửi vào truyền thuyết về người anh hùng cả lòng tin, ước mơ và tấm
lòng thành kính Nhân dân đã đánh giá rất công bằng truyền thuyết đã minh oan
cho Mỵ Châu, đưa An Dương Vương về cõi bất tử, An Dương Vương không chết
mà cầm sừng tê bảy tấc rẽ nước đi xuống thuỷ cung
Trãi qua các thời kỳ lịch sử, nhiều vị anh hùng đã đứng lên lãnh đạo nhân
dân chống giặc ngoại xâm, bên cạnh những sử sách, nhân dân luôn ghi nhớ công
lao của họ, truyền thuyết ca ngợi họ với những lời ca đẹp nhất, những truyền
thuyết về Bà Trưng, Bà Triệu, Lê Lợi, Quang Trung, Nam Cường, Phùng
Hưng…mãi là những trang sử dân tộc, là những tấm gương sáng, là niềm tự hào
của lớp trẻ
Trong chương trình kể chuyện ở tiểu học tất cả các nội dung trên đều được
đưa vào nhưng đang ở mức độ sơ qua, khái quát, chưa chi tiết Chính vì thế trong
quá trình giảng dạy giáo viên muốn khai thác được khả năng giáo dục từ các
truyền thuyết đó phải xây dựng hệ thống bài dạy như thế nào để cho học sinh có
thể nắm được sâu sắc cốt truyện, hiểu được ý nghĩa của các sự kiện lịch sử, từ đó
khơi dậy ở học sinh lòng ham hiểu biết học hỏi, có như vậy thì công tác giáo dục
lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc mới đạt được kết quả như mong đợi
Điều khó khăn ở đây là số lượng các truyền thuyết trong chương trình kể
chuyện ở tiểu học rất ít nên việc lồng ghép giáo dục học sinh là cả một vấn đề lớn
“ giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc” trong quá trình giảng dạy là một
nhiệm vụ nặng nề và hết sức quan trọng đối với mỗi nhà giáo dục Khi giảng dạy
Trang 33phải tập trung chú ý đặc trưng về yêu cầu giáo dục và giáo dưỡng của phân môn
kể chuyện Nội dung giáo dục và giáo dưỡng của phân môn kể chuyện đã được
trình bày hết sức cụ thể ở SGVTV1 – TV2 Vấn đề cần lưu ý là tất cả các yêu cầu
giáo dục, giáo dưỡng của tiết kể chuyện nói chung thông qua tri giác và biểu
tượng hình ảnh Người giáo viên không thể dùng lời nói khô khan mà cần dùng
cách nói nghệ thuật hình ảnh để kể mà như mô tả, như vẽ, như phác họ và dựng
lại tình tiết của truyện Chính sự tri giác những biểu tượng hình ảnh thông qua
ngôn ngữ của giáo viên có tác dụng lớn đến tư tưởng tình cảm của học sinh
4.Khả năng giáo dục lòng yêu nước, lòng thự hào dân tộc cho học sinh tiểu
học của các truyền thuyết
4.1.Truyền thuyết dân gian bồi dưỡng trẻ thơ lòng tự hào dân tộc
a.Niềm tự hào lớn lao về dòng dõi con Lạc cháu Rồng
Câu chuyện bọc trăm trứng có ý nghĩa thiêng liêng đặc biệt, điều cao quý
đáng tự hào là người Việt Nam có dòng dõi thần linh, đất nước Việt Nam là đất
nước rồng thiêng Việt Nam mặc dù có nhiều dân tộc cùng chung sống, kẻ miền
xuôi người miền ngược nhưng đều có nguồn gốc từ bọc trăm trứng mà ra Từ đó
dạy cho con cháu tinh thần đoàn kết thương yêu giúp đỡ lẫn nhau vì đều là anh
em một nhà
b.Niềm tự hào về các anh hùng chống xâm lăng
Qua truyền thuyết, các em tự hào về một dân tộc đã sản sinh ra những
người con anh dũng tuyệt vời: Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo…một đất
nước với một truyền thống vẻ vang và oai hùng Con người của dân tộc ấy với ý
chí kiên cường, với tinh thần quật khởi đã đứng lên chiến thắng giặc ngoại xâm
bảo vệ non sông gấm vóc đời đời bền vững Bà Triệu nổi dậy chống quân Đông
Hán với lời tuyên bố hùng hồn “Tôi muốn cỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ,
chém cá kình ở biển khơi, cỡi ách nô lệ chứ không chịu khom lưng, quỳ gối tỳ
thiếp cho người ta” Hai Bà Trưng khởi nghĩa trả thù cho chồng, đền nợ nước và
Trang 34cùng lên ngôi trị vì đất nước khiến quân Ngô bạt vía kinh hồn, người người đều
kính phục…Các anh hùng về sau tiếp bước truyền thống đó viết tiếp trang sử vẻ
vang cho đất nước ngàn năm văn vật Từ đó tạo cho các em lòng yêu quê hương,
ý chí kiên cường, phấn đấu trong học tập tu dưỡng nhân cách xứng đáng với
truyền thống vẻ vang của dân tộc
c.Niềm tự hào về các anh hùng, các danh nhân văn hoá của dân tộc
Bên cạnh những anh hùng đánh thù trong giặc ngoài, dân tộc ta cũng đã
sản sinh ra những người tài giỏi trong lĩnh vực văn hoá xã hội Truyền thuyết dân
gian đã dành cho họ những lời ca ngợi xứng đáng
Truyền thuyết “Đầm mực” ca ngợi nhà giáo Chu Văn An và các học trò của ông
đã hết lòng vì dân vì nước Truyền thuyết về Trạng Bùng ca ngợi Phùng Khắc
Khoan đã có công dạy dân làm vó, mang các hạt ngô, đậu, ở Trung Quốc về gieo
ở nước ta Một số truyền thuyết khác như: Truyện ông trạng nồi; ông tổ nghề
thêu; ông Bùi Cầm Hổ…tập trung ca ngợi, tỏ lòng biết ơn về những người con
khai sáng văn hoá, làm rạng rỡ non sông Việt Nam Họ là những tấm gương sáng
cho các em học tập noi theo, phấn đấu để sau này lớn lên xây dựng đất nước ngày
càng giàu mạnh hơn
4.2.Khả năng giáo dục của truyền thuyết nhờ vào sự hấp dẫn trẻ bởi tính chất
lãng mạn hào hùng
Các nhân vật trong truyền thuyết là các nhân vật trong lịch sử, song họ
không phải là những con người nguyên mẫu trần tục ngoài đời mà được tác giả
dân gian xây dựng thành những nhân vật đẹp một cách phi thường và hoàn hảo
Điều hấp dẫn trẻ em chính là tính chất lãng mạn, âm điệu hào hùng của truyền
thuyết Đó chính là tính chất “thơ và mộng” là sự hư cấu nghệ thuật mang tính
lịch sử Bởi âm điệu chủ đạo trong truyền thuyết là âm điệu ngợi ca
Trang 35Những nhân vật như Lạc Long Quân, Hùng Vương, Bà Trưng, Bà Triệu, Lê Lợi,
Quang Trung…ít nhiều mang dáng dấp của nhân vật thần thoại Nghĩa là họ gần
gủi với thần hơn là người thực ngoài đời
Truyền thuyết mô tả các nhân vật với kích thước khổng lồ, chen lẫn niềm tự hào
đầy thú vị, hình ảnh Bà Triệu cỡi voi ra trận thật tuyệt vời: “Bà Triệu cỡi voi, đi
guốc ngà, chít khăn vàng, mặc áo giáp vàng, cầm gương sáng loáng Voi trắng
cùng Bà bay lên đầu quân giặc Quân Ngô trông thấy mà khiếp vía kinh hồn”
Người anh hùng không bao giờ chết trong lòng dân tộc, nhân dân ta gửi gắm
vào đó cả niềm tin và ước mong, cả tấm lòng thành kính và khâm phục Họ được
xem là lý tưởng của một thời đại, là mẫu mực của nhân dân Truyền thuyết mô tả
Thánh Gióng cỡi ngựa sắt, từ đỉnh núi Sóc Sơn bay lên trời…An Dương Vương
cầm sừng tê bảy tấc rẽ nước đi xuống thuỷ cung Bà Trưng lên núi Hùng Sơn rồi
biến mất Bà Triệu hoá thành luồng hào quang sáng rực, quện với thanh gươm
bay vụt lên trời Phùng Hưng hiện hình trong đám dân quê, nghìn xe vạn ngựa
bay trên khoảng ngọn cây nóc nhà
Với đặc điểm nhận thức và tâm lý của học sinh tiểu học, các em hết sức tin
tưởng vào những điều kỳ diệu chứa trong truyền thuyết, hết sức ngưỡng mộ và
tràn đầy tự hào về những anh hùng bất tử đã làm nên khí anh hùng trên dãy đất
Việt Nam luôn cầu mong và hy vọng vào sự phù trợ của họ đối với con cháu
muôn đời sau
Qua những phân tích ở trên ta thấy rằng truyền thuyết có khả năng giáo
dục lòng yêu nước tự hào dân tộc đối với học sinh tiểu học rất lớn, chính vì
thế nhà giáo dục phải biết khai thác khả năng này trong quá trình giảng dạy
truyền thuyết ở giờ kể chuyện bằng nhiều hình thức và phương pháp khác
nhau
Trang 36CHƯƠNG II : CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Từ giả thiết rằng nếu biết khai thác khả năng giáo dục lòng yêu nước, lòng tự
hào dân tộc cho học sinh tiểu học thông qua giảng dạy phần truyền thuyết trong
giờ kể chuyện sẽ đưa kết quả giáo dục học sinh về vấn đề này đạt kết quả cao
nhất và giả thiết cũng cho rằng trong quá trình giáo dục dạy học ở nhà trường tiểu
học chưa biết khai thác khả năng giáo dục đó của truyền thuyết Vì thế chúng tôi
tiến hành điều tra thăm dò bằng các biện pháp như: điều tra, test, thăm dò…nhằm
xác nhận và khẳng định giả thiết đưa ra ban đầu là hoàn toàn chính xác
Trước hết chúng tôi thăm dò học sinh về thái độ và hành vi thể hiện lòng yêu
nước, lòng tự hào dân tộc trong nội dung giáo dục của nhà trường tiểu học
A ĐIỀU TRA HỌC SINH
I.MỤC ĐÍCH ĐIỀU TRA
Nhằm mục đích xác nhận thái độ hành vi thể hiện lòng yêu nước lòng tự
hào dân tộc củ học sinh trong giảng dạy truyền thuyết
II.GIẢ THIẾT ĐIỀU TRA THĂM DÒ
Vì chưa khai thác được khả năng giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào dân
tộc cho học sinh tiểu học thông qua truyền thuyết nên kết quả lĩnh hội chue quá
trình giáo dục về vấn đề này chưa cao
III.NỘI DUNG ĐIỀU TRA
Đo mức độ nhận thức, thái độ hành vi của học sinh đối với vấn đề giáo
dục lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc
IV.ĐỐI TƯỢNG ĐIỀU TRA
Gồm 181 học sinh của cá lớp: 1A, 1B, 4A, 4D, trường tiểu học Lê Lợi –
Thành phố Vinh Nghệ An
Trang 37V.PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRA
1.An két
2.Test
3.Quan sát, thăm dò
4.Nghiên cứu tài liệu
VI.CÁCH TIẾN HÀNH VÀ KẾT QUẢ
Chúng tôi đã tiến hành thăm dò trên đối tượng là học sinh dựa trên hệ
thống bài tập, thông qua những giờ giảng dạy, và trò chuyện những thời gian
ngoài giờ với nội dung của phiếu bài tập liên quan đế vấn đề giáo dục lòng yêu
nước, lòng thự hào dân tộc và công tác giáo dục vấn đề này mà học sinh đã được
giáo dục qua truyền thuyết
Ngoài phiếu bài tập ra để khẳng định được chính xác thái độ và nhận thức của
học sinh về vấn đề yêu nước và tự hào dân tộc với những truyền thống lâu đời
của dân tộc ta, chúng tôi còn tiến hành dự giờ một số tiết kể chuyện mà trọng tâm
là các giờ giảng về truyền thuyết có liên quan đến các nội dung giáo dục của đề
tài
KẾT QUẢ ĐIỀU TRA NHƯ SAU
Bảng I Sự chú ý của học sinh đối với các giờ kể chuyện (giáo viên dạy bình
Trang 38Bảng II Sự chú ý của học sinh đối với các truyền thuyết có nội dung liên quan
đến giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc
Chúng tôi đã sử dụng các phiếu điều tra để biết được thái độ của học
sinh khi học các truyền thuyết có nội dung liên quan đến vấn đề giáo dục lòng
yêu nước, lòng thự hào dân tộc (có các phiếu điều tra kèm theo) chúng tôi đã tiến
hành điều tra trên 181 học sinh của 4 lớp:1A, 1B, 4A, 4D
Đối với phiếu điều tra 1
Trang 39Loại truyện Số học sinh Phần trăm(%)
Truyền thuyết về các anh hùng
sáng tạo văn hoá và lao động
Trang 40Mức độ Số học sinh Phần trăm(%)
Những việc làm thể hiện lòng yêu
nước, tự hào dân tộc
Số học sinh Phần trăm(%)
Tham gia các phong trào của đội
Hưởng ứng thi đua học tập tốt, lao
động tốt, đoàn kết tốt
Thương yêu giúp đỡ người già
Kính trọng biết ơn các anh hùng
liệt sĩ và giúp đỡ các gia đình
chính sách