Tuy vậy chưa có một tài liệu nào nói thật rõ “ vai trò của Thiên Chúa giáo đối với đời sống chính trị xã hội Tây Âu trung đại” một cách trọn vẹn và hệ thống, mặc dù không ít người đã đề
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài:
Năm 33, Giê su Cơ rit bị hành hình, đóng đinh trên thánh giá chữ thập tại Giê ru da lem Bấy giờ tăng lữ Do thái giáo và quan quân La Mã khép tội ông là
kẻ tà đạo, gieo rắc mê tín dị đoan và làm phương hại đến đế quốc Rô ma
Sinh thời, ông truyền đạo ở vùng quê hương mình Tín đồ theo ông chủ yếu là phụ nữ và tầng lớp nô lệ nghèo khổ Nhưng cái chết thê thảm của ông như một lời hiệu triệu Giờ đây, không chỉ có những người nghèo mà nhiều tầng lớp khác cũng theo đạo của ông rất đông đảo, thậm chí nó còn lan truyền ra khắp
cả đế quốc Giai cấp thống trị La Mã buổi đầu tìm cách đàn áp, nhưng rất lạ lùng
là càng đàn áp, đạo của ông lại càng phát triển Thì ra, tôn giáo này có sức sống mãnh liệt, phải tìm cách lợi dụng nó để phục vụ cho lợi ích giai cấp quý tộc chủ
nô
Kết cục, bọn chủ nô La Mã cũng như bọn lãnh chúa phong kiến ở Tây Âu sau đó đã biến Thiên Chúa giáo thành “ vòng hào quang thiêng liêng” phủ lên bầu trời xã hội phong kiến Tây Âu một lớp mây mù Thiên Chúa giáo
Từ sự kiện lịch sử ấy, đã dẫn đến hai cách nhìn trái ngược nhau của các sử gia hiện nay, thậm chí cả những kẻ đứng đầu nhà nước phong kiến ở Phương Đông hay Phương Tây thời đó
Thứ nhất, phủ nhận hoàn toàn vai trò tích cực của Thiên Chúa giáo Ngay
cả Gia Long, mặc dầu dựa vào giám mục Bá Đa Lộc để đặt quan hệ với Pháp dựa vào sự giúp đỡ về quân sự của Pháp để cũng cố lực lượng, đánh lại Tây Sơn Nhưng trước khi chết cũng dặn con phải cẩn thận với Thiên Chúa giáo Nhiều người dân Việt Nam đã ít mấy ai có ấn tượng tốt đẹp với Thiên Chúa giáo Vì họ
Trang 2nhìn Thiên Chúa giáo gắn liền với sự xâm lược của chủ nghĩa thực dân Phương Tây
Thứ hai, là tô hồng quá mức vai trò to lớn của Thiên Chúa giáo Coi Thiên Chúa giáo như một yếu tố tinh thần không thể thiếu được của con người, có ý nghĩa quyết định trên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội trên phạm vi hành tinh chúng ta
Những ý kiến trái ngược nhau nói trên, chúng tôi cho rằng chưa thật thuyết phục
Theo chúng tôi phải dựa trên quan điểm duy vật lịch sử và quan điểm phát triển để nhìn nhận, đánh giá đúng sự thật lịch sử của chúng Đặc biệt, cần tìm hiểu một cách thấu đáo về sự ra đời của Thiên Chúa giáo trong bối cảnh như thế nào, xuất phát từ những tiền đề gì? Nhất là vai trò của nó đối với chính trị và xã hội Tây Âu thời phong kiến Nếu làm rõ được vấn đề này, theo chúng tôi là điều cực kỳ quan trọng Chúng không chỉ giúp ta hiểu thêm được bản chất và vai trò của Thiên Chúa giáo, mà còn góp phần nâng cao sự hiểu biết của mình một cách sâu hơn về xã hội Phong kiến ở Tây Âu Cũng đồng thời qua đây, chúng ta hiểu
và tin tưởng vào chính sách tôn giáo, chính sách tự do tín ngưỡng của Đảng và nhà nước ta Coi đó là những chính sách hết sức đúng đắn và mang tính thực tiển cao
Đó là lý do mà chúng tôi chọn “ Vai trò của Thiên Chúa giáo đối với đời sống chính trị xã hội Tây Âu trung đại” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp
Nhân đây chúng tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo Dương Văn Ninh và các thầy cô giáo trong khoa sử đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp chúng tôi hoàn thành khoá luận này
2 Lịch sử vấn đề:
Trang 3Lịch sử trung đại Tây Âu, được bắt đầu từ năm 476 khi đế quốc Tây bộ La
Mã sụp đỗ và kết thúc bằng sự bùng nổ cuộc cách mạng tư sản đầu tiên ở Châu Âu- Cách mạng tư sản Nêđeclan (1566) Những tài liệu ghi chép về lịch sữ Tây
Âu trung đại có nhiều Tuy vậy chưa có một tài liệu nào nói thật rõ “ vai trò của Thiên Chúa giáo đối với đời sống chính trị xã hội Tây Âu trung đại” một cách trọn vẹn và hệ thống, mặc dù không ít người đã đề cập đến những góc độ khác nhau :
Giáo sư Bùi Đức Sinh với tác phẩm “ Lịch sử giáo hội Công giáo ” ( xuất bản
lần thứ 6 năm 1999), nghiên cứu về sự phát triển của giáo hội Thiên Chúa ở Tây
Âu từ khi thành lập cho đến đầu thời cận đại Trong đó , có nói đến vai trò của giáo hội Thiên Chúa đối với đời sống chính trị Tây Âu trung đại, nhưng chưa đầy đủ lắm
Cuốn “ Ba tôn giáo ” của Lương Thị Thoa ( NXB chính trị quốc gia Hà Nội
1999), chủ yếu phân tích các tông phái và các giai đoạn phát triển
Các tác phẩm “ Văn minh Phương Tây” của Brintion (NXB văn hoá thông tin Hà Nội 1994), “ Lịch sử văn minh thế giới” của Vũ Dương Ninh (NXB giáo dục
1999), đã nghiên cứu ở bình diện văn hoá , văn minh nên về tư tưởng tôn giáo mới trình bày ở dạng khái quát
“ Tìm hiểu nét đẹp văn hoá Thiên Chúa giáo” của tác giả Hà Văn Tú (NXB
thông tin khoa học xã hội 2002) đã đề cập đến những đóng góp tích cực của Thiên Chúa giáo trên lĩnh vực văn hoá xã hội, nhưng chủ yếu là ở giai đoạn hiện nay
Tác giả Paulpoupard viết tác phẩm “ Các tôn giáo” (NXB thế giới Hà Nội 2001)
chủ yếu nói về nguồn gốc ra đời và nội dung cơ bản về giáo lý của đạo Thiên Chúa chứ không nói đến vai trò của nó
Trang 4Tạp chí nghiên cứu tôn giáo của viện nghiên cứu tôn giáo có một số bài nghiên cứu về đạo Thiên Chúa, chủ yếu tập trung về các vấn đề trong hiện tại
Ngoài ra còn có các tác phẩm thông sử như “ Lịch sử thế giới trung đại” của Nguyễn Gia Phu, Nguyễn Văn Anh… (NXB 1998); “ Lịch sử thế gới trung đại” , của trường đại học tổng hợp (Xuất bản 1970); “ Lịch sử thế giới trung cổ” quyển 1 “ Chế độ Phong kiến sơ kỳ” của trường đại học sư phạm (NXB giáo dục
Hà Nội 1962)…, trong các tác phẩm này rải rác có đề cập đến ảnh hưởng của Thiên Chúa giáo đối với đời sống chính trị xã hội Tây Âu nhưng ở góc độ thông
sử
Trong lịch sử trung đai Tây Âu, Thiên Chúa giáo vừa có vai trò tích cực lẫn tiêu cực đối với đời sống chính trị xã hội Thế nhưng các tác giã đề cập đến vấn đề này một cách rất chung
Do vậy chọn “ Vai trò của Thiên Chúa giáo đối với đời sống chính trị
xã hội Tây Âu trung đại” làm đề tài nghiên cứu , hy vọng của chúng tôi là góp
phần làm sáng tỏ vấn đề trên một cách khoa học, đồng thời góp phần nắm vững lịch sử Tây Âu
3 Phạm vi - nhiệm vụ đề tài:
Phạm vi:
Thời gian : Lịch sử trung đại (thế kỷ V – thế kỷ XVI) Không gian: Vai trò của Thiên Chúa giáo ở Tây Âu Nhiệm vụ: Với đề tài này chúng tôi tập trung vào các vấn đề sau:
Tìm hiểu vài nét về Thiên Chúa giáo (sự ra đời, nội dung cơ bản )
Tìm hiểu quá trình tiếp nhận Thiên Chúa giáo ở Tây Âu
Tập trung nghiên cứu vai trò của Thiên Chúa giáo trong lịch sử Tây Âu Trung đại trên các mặt: chính trị , xã hội
Trang 54 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu:
Với nguồn tài liệu phong phú : Tài liệu về Thiên Chúa giáo, tài liệu về thông sử Tây Âu, về văn hoá Tây Âu và cả những tài liệu phần nào có đề cập đến
đề tài Để làm đề tài này, chúng tôi tiến hành sưu tầm, đọc tài liệu có liên quan đến Thiên Chúa giáo , cũng như ảnh hưởng của Thiên Chúa giáo đối với lịch sử Tây Âu trung đại Tiến hành so sánh đối chiếu, xữ lý các nguồn tài liệu Sau đó kết hợp các phương pháp chuyên ngành, logíc, đánh giá , phân tích , từ đó rút ra kết luận cụ thể đối với lịch sử
Bước đầu tập dượt nghiên cứu, đề tài này của chúng tôi chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót , rất mong được sự góp ý, phê bình của bạn đọc
5 Bố cục đề tài:
Gồm những phần sau:
Phần mở đầu : 1.Lý do chọn đề tài
2.Lịch sử vấn đề
3.Phạm vi – nhiệm vụ đề tài
4.Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
Phần nội dung:
Chương 1: Sự ra đời, nội dung cơ bản về giáo lý, các giáo phái chính của Thiên
Chúa giáo ở Tây Âu thời cổ trung đại
1.1.Sự ra đời của Thiên Chúa giáo
1.2.Nội dung cơ bản về giáo lý của Thiên Chúa giáo
1.3.Các giáo phái chính của Thiên Chúa giáo
Trang 6Chương 2: Vai trò của Thiên Chúa giáo đối với đời sống chính trị Tây Âu trung
Trang 7PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: SỰ RA ĐỜI, NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ GIÁO LÝ, CÁC GIÁO PHÁI CHÍNH CỦA THIÊN CHÚA GIÁO Ở TÂY ÂU THỜI CỔ TRUNG
ĐẠI
1.1 Sự ra đời của đạo Thiên chúa
Thiên Chúa giáo xuất hiện đầu công nguyên, với tư cách là một tôn giáo của những người nô lệ, những người được phóng thích, thuộc các dân tộc bị đế chế La Mã chinh phục Đó là một chế độ chiếm hửu nô lệ tàn bạo, hùng mạnh, nhưng đang lung lay vì những cuộc nổi dậy, là một đế chế quân sự Đế quốc La
Mã dựa chủ yếu trên sức lao động nô lệ, lấy chiến tranh làm nền chủ yếu tạo ra sức lao động
Cuộc nổi dậy của anh hùng Spáctaquýt vào năm 74 trước công nguyên là thiên lịch sử bi hùng của La Mã Tâm lý mỏi mệt tuyệt vọng của quần chúng và những người sống sót sau cuộc thảm sát, khiến con người càng hướng tới vị thần Mêxia, theo truyền thuyết sẽ lập ra một vương quốc của sự công bằng Nhà sử
Trang 8học Pháp CharlesEnsel đã có lý khi nhận xét rằng “ Chúa Ky Tô đã thắng Spáctaquýt đã thất bại”
Đạo Thiên Chúa cứ lặng lẽ xuất hiện trong khối hổn hợp giữa thần học tổng hợp của Phương Đông, đặc biệt là thần học Do Thái và triết học duy lý Hy Lạp, nhất là chủ nghĩa khắc kỷ, như Mác đánh giá Sênek “người bác của Cơ đốc giáo” Nhà triết học khắc kỷ Hy Lạp cho rằng: “thể xác là gánh nặng của tinh thần, cuộc sống trần tục là sự chuẩn bị cho cuộc sống vĩnh cửu ở thế giới bên kia
và Chúa là trung gian giữa thế giới và tinh thần”
Văn hoá Rô Ma cổ đại, đã tạo lý thuyết chủ yếu cho sự ra đời của một tôn giáo thế giới và sau này việc truyền giáo cũng là một đặc điểm của RôMa cổ đại
Và cũng như mọi tôn giáo khác, sự ghi chép về bản tiểu sử của chúa Giê
Su mang đượm màu sắc huyền thoại: Chúa Giê Su quê ở vùng Palestin - người sáng lập đạo này vốn là người bình dân Ông kêu gọi tình thương con người, sự hoà thuận giữa con người với con người Ông chủ trương giải phóng con người trước hết về tinh thần, từ đó sẽ có công bằng xã hội Đó là sự đáp ứng đúng nhu cầu tâm lý của những nô lệ đang sống nghẹt thở trong áp bức, lại quá đau đớn, thất vọng trước uy quyền trần thế Một hình ảnh về chúa Giê Su chịu nạn , một
hệ thống về chúa ba ngôi (Cha, con và thánh thần) quả thực hấp dẩn
Lúc đầu các hiệp hội Thiên Chúa xuất hiện ở tiểu Á và Ai Cập trong dòng người Do Thái lang thang, rất tự do Buổi đầu bọn chủ nô Rô Ma tìm cách ngăn cản rồi sát hại những ngừơi truyền đạo, theo đạo, vì sẽ họ gây rối loạn xã hội Khai thác lời khuyên nhẫn nhục của Thiên Chúa giáo với tín đồ, các hoàng đế La
Mã lợi dụng nó Từ thế kỷ IV, Hoàng đế Rô Ma hạ lệnh cấm sát hại tín đồ Thiên Chúa giáo, xác nhận vị trí hợp pháp của nó và tới triều đại của ông hoàng Têcđờwxơ thì Thiên Chúa giáo đã trở thành quốc giáo của La Mã
Trang 9Đạo Thiên Chúa nẫy sinh từ vùng đất Palestin Đây là một xứ bé nhỏ, năm tiếp giáp ba châu Á-Phi-Âu, giao điểm của nhiều nền văn minh
Giê Su sinh ra tại thành Bethtéem, thuộc chủng tộc Isarael Mẹ ông đức trinh nữ Maria, cưu mang ông thật kỳ diệu Sau Giê Su tới sống ở thành Nazareth
Tới tuổi 30, Giê Su bắt đầu giảng thuyết cho người đồng hương Ngay từ đầu ông đã đem đến cho mọi người tin mừng vĩ đại Thượng đế sai mọi người nhập cuộc sống hiệp thông cùng ngài, tìm hạnh phúc trọn vẹn
Cuộc sống của chúa Giê Su thật cực nhọc và bấp bênh vì những kẻ dị giáo, một cuộc sống đầy biến động hoang dã Ông đã cứu giúp cho bao kẻ mù loà thấy lại ánh sáng, kẻ bị bệnh hiểm nghèo trở lại bình thường Hơn nữa Giê Su đã đưa
ra một tôn giáo mới tranh giành với Do Thái giáo, trong đó ông đã tuyên truyền hoà bình và tuyên bố đế quốc La Mã sẽ sụp đổ Những việc làm đó, dẫn đến các thủ lĩnh tôn giáo khác rất khó chịu Họ tìm cách thủ tiêu ông nên ông phải trốn tránh Nhưng rồi Giê Su vẫn bị bắt , một người trong nhóm 12 tông đồ tên là Giu
đa đã bắt Giê Su và nộp cho viên trấn thủ La Mã là Phăng xi cô pi ta tô, và viên trấn thủ đã ra lệnh đóng đinh câu rút trên thập giá Nhưng chính hắn cũng phải thốt lên rằng sau khi hành quyết Giê Su “ Qủa thực ông này là con thượng đế”
Sau khi Giê Su chết, các tông đồ đã ghi lại những lời giảng của Giê Su thành Kinh Thánh và họ lại đưa Kinh Thánh đi rao giảng khắp nơi “Hội thánh” được thành lập cho những ai nhận lễ rữa tội Thoạt đầu các tín đồ chỉ thu nạp những người theo đạo Do Thái vùng Palestin , sau đó từ địa bàn ngã ba ấy , đao Thiên Chúa đã thu nạp mở rộng ra khắp ba châu lục Ắ-Âu-Phi không phân biệt chủng tộc giàu nghèo
Các tông đồ Pao lô, Gio an, Tô ma, Phê rô đi rao giảng tin mừng khắp các vùng tiểu Á, Hy Lạp , Rô Ma , Tây Á…
Trang 10Lúc đầu người La Mã theo đạo thần giáo Trên lãnh thổ này chưa có tôn giáo nào chiếm địa vi độc tôn Thiên Chúa giáo chủ trương bình đẳng giữa các tìn đồ, không phân biệt chủng tộc, địa vị, lên án giàu sang … cho nên được quần chúng lao khổ và các dân tộc bị áp bức trên lãnh thổ La Mã chấp nhận Điều đó
đã làm cho giai cấp thống trị La Mã bất bình, họ đổ tội cho các tín đồ Thiên Chúa giáo là kẻ thù gây ra phiến loạn
Dưới thời hoàng đế Nê rôn, năm 64 ông đã tiên hành tàn sát các tín đồ Thiên Chúa có quy mô Vu tội cho họ gây ra hoả hoạn ở La Mã, Nê rôn lấy cớ giết họ Sử gia La Mã Ta xít viết trong biên niên sử La Mã: “ Họ bị đóng đinh trên giá chử thập , hoặc bị ném chết thiêu trong đống lữa Nê rôn tự tay giết nhiều tín đồ Thiên Chúa trong vườn nhà mình” Tuy nhiên, cuộc đời đau khổ và
sự đàn áp của chính quyền như đổ thêm dầu vào lữa, làm đạo Thiên Chúa truyền
bá nhanh hơn Người dân lao khổ càng thấy đạo Thiên Chúa mới là con đường giải thoát cho họ Từ thế kỷ III trở đi tình hình đổi khác, sự khủng hoảng của chế
độ chiếm hữu nô lệ
tác động vào tầng lớp bên trong của xã hội, gây cho họ tâm lý bi quan Vì thế, ngày càng có nhiều người thuộc tầng lớp trên theo đạo thiên Chúa Sự thay đổi thành phần xã hội trong công xã Thiên Chúa dẫn tới sự thay đổi trong tư tưởng
và tổ chức của nó Quan điểm bình đẳng, thân ái giữa các tín đồ được thay bằng
sự nhẫn nhục, chọn con đường chịu áp bức, bóc lột, phục tùng chính quyền, nô lệ phải vâng theo lời chủ: “Không chỉ là chủ tốt mà ngay cả chủ xấu nghiệt ngã nữa”
Những kẻ giàu sang cũng có thể lên thiên đàng bằng cách bố thí của cải của mình chứ không phải tự bỏ của cải Nghi thức lễ bái ngày càng phức tạp, tài sản công xã Thiên Chúa ngày càng nhiều từ đó xuất hiện tầng lớp trên, riêng biệt đứng trên các tín đồ khác
Trang 11So với các tôn giáo khác trong đế quốc La Mã, đạo Thiên Chúa sớm chiếm được ưu thế, phát triển và lan truyền nhanh chóng Đến thế kỷ III, trải qua hơn
200 năm truyền bá thế lực Thiên Chúa giáo đã bành trướng khắp La Mã Mặc dầu tỷ lệ tín đồ trong cư dân chưa nhiều:ở Đông bộ là 1/18, ở Tây bộ là 1/15, song với 1800 giáo đường được dựng lên Thiên Chúa giáo có sức mạnh, không
có tôn giáo nào địch được với nó Có đoàn thể mạnh , lai tập trung ở nơi thành thị đô hội, hội thánh đã lập được ba khu vực văn hoá Thiên Chúa giáo lớn : La tinh ở phía Tây, Hy lạp ở giữa và Xi ri ở phía Đông Thiên Chúa giáo tiếp thu thêm cái thực dụng của La Mã, cái duy lý của Hy Lạp và cái khổ hạnh của Xi ri
Do sức mạnh và khuynh hướng thoả hiệp với chính quyền đế quốc La Mã nảy sinh trong giáo hội, mặt khác lại thấy không thể đàn áp được nên bọn thống trị La Mã liền liên minh với tôn giáo mới này Nếu như cuối thế kỷ IV, hoàng đế
Đi ôc lê xi xieng (248-305) còn đàn áp tín đồ, phá nhà thờ lấy của cải giáo hội thì Côngstantin (306-337) khôn khéo sử dụng Thiên Chúa giáo, ban chế dụ tha đạo, dùng Thiên Chúa giáo phục vụ cho sự thống trị của mình
Năm 313 với luật Milăngcơ, Thiên Chúa giáo được nhà nước bảo vệ- chính hoàng đế Côngstantin cũng trở thành tín đồ Thiên Chúa giáo-đó là hoàng
đế đầu tiên của La Mã theo đạo Thiên Chúa Trước lúc chết ông chịu phép rửa tội Người kế vị ông nói: “Cái gì ta ra lệnh là giáo điều”, chứng tỏ Thiên Chúa giáo là công cụ thống tri của nhà cầm quyền Đến thời hoàng đế Tê ô đô (cuối thế kỷ IV) Thiên Chúa giáo chính thức trở thành quốc giáo Khi đã có địa vị hợp pháp, tín đồ đạo này tăng lên nhanh chóng
Bản thân đạo Thiên Chúa có sự biến động Nếu như trước thế kỷ IV nhà thờ , gian nan lắm mới đánh gục được phái Arinh (Linh mục Alêcxandiri) vì ông này không tin vào Chúa ba ngôi, thì thế kỷ V lai rất vất vã để dẹp phong trào đối lập do Ne tôrint (giám mục Côngstantidpop), Bsitác (Hy Lạp) nghi ngờ bản thân
Trang 12chúa Giê Su Nội bộ tạm yên, Thiên chúa giáo tiếp tục phát triển sâu vào châu
Âu đặc biệt là Tây Âu trung kỳ và kể từ đây, đạo Thiên Chúa đã có tác động to lớn đối với đời sống chính trị, xã hội phong kiến Tây Âu trên nhiều lĩnh vực
1.2.Nội dung cơ bản về giáo lý của Thiên Chúa giáo
1.2.1.Giáo lý
Kinh thánh:
Giáo lý đạo Thiên Chúa được chứa đựng trong kinh thánh, bao gồm kinh cứu ước và kinh tân ước
Kinh Cựu ước: Là bộ giả sử của dân tộc Do Thái và là kinh thánh của đạo
Do Thái bao gồm 46 quyển, chia làm 3 loại:
Sách lich sử: Chủ yếu viết về việc Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ và con người,
về những sự tích của dân Do Thái, cùng những luật lệ, phong tục tập quán và truyền thống văn hoá của dân tộc Do Thái Về các vua và cuộc sống của người
Do Thái sau khi lập quốc và tan rả
Sách văn thơ: Bao gồm những áng văn thơ ca vịnh dân Do Thái, nói về sự truyền đạo và sự vinh quang của chúa trời
Sách tiên tri(Sấm ký): Của các thánh tiên tri như : Esai, Gherêmi, Êxêchiên, Đanhiên,Ôxê tiên đoán tương lai vương quốc của chúa, sự phát triển của đạo, tương lai của đế quốc La Mã
Kinh Tân ước: Gồm 27 quyển, kể về cuộc đời và sự nghiệp của chúa Giê
Su, hoạt động của các thánh tông đồ, những lời dạy, chỉ bảo của chúa Giê Su và các thánh tông đồ đối với con người Sách kinh Tân ước được chia làm 4 loại: Sách tin mừng(hay sách phúc âm): được ghi lại bởi 4 thánh tông đồ: Lu ca,
Ma cô(Max), Mathiêu và Gio ăng
Trang 13Sach công vụ sứ đồ: Kể về những hoạt động của các thánh tông đồ (những học trò của Giê Su) do thánh Lu ca chép
Sách thánh thư: Gồm các thư của các thánh tông đồ gửi cho các giáo đoàn Sách khải huyền: Của thánh Gioăng tiên đoán về tương lai của đạo Thiên Chúa, của nước Do Thái trong mối quan hệ với đế chế Rô ma
Đối với những người theo Thiên Chúa giáo thì kinh thánh là những lời mặc khải của Thiên Chúa đối với loài người Là mẫu mực tối cao của đức tin, do đó phải được tôn sùng, đề cao như Thánh thể chúa Theo họ, hội thánh được chúa Giê Su giao cho nhiệm vụ truyền giảng kinh thánh Vì vậy, truyền đạo là một nhiệm vụ thiêng liêng mang ý nghĩa thánh truyền
Nội dung giáo lý của đạo Thiên Chúa có thể khái quát ở những điểm chủ yếu sau:
Quan niệm về thế giới:
Tín điều cơ bản đầu tiên của thiên chúa giáo là niềm tin vào Thiên Chúa
và sự mầu nhiệm của Thiên Chúa Kinh thánh Thiên Chúa giáo cho rằng : Thiên Chúa (tức thượng đế) có trước cả trời đất, có trước cả không gian và thời gian Thiên Chúa có 3 ngôi : Ngôi thứ nhất là đức chúa cha; ngôi thứ hai là đức chúa con; ngôi thứ ba là đức chúa thánh thần Tuy là ba ngôi nhưng cùng một bản thể-Thiên Chúa Ngôi hai do ngôi một sinh ra, còn ngôi ba do ngôi một và ngôi hai sinh ra Ba ngôi “ đồng đẳng , đồng vinh, đồng quyền”, nhưng mỗi ngôi có một chức năng riêng đối với loài người: Ngôi thứ nhất- đức chúa cha tạo dựng(tạo ra
vũ trụ và loài người), ngôi thứ hai-đức chúa con(cứu chuộc) và ngôi thứ ba làm nhiệm vụ thánh hoá(lập hội thánh và truyền sức mạnh, lòng can đảm cho các môn đệ của chúa Giê Su đi truyền đạo)
Trang 14Kinh thánh Thiên Chúa cho rằng Thiên Chúa sáng tạo ra trời đất và muôn loài từ hư không Kinh Cựu ước kể lại rằng Thiên Chúa tạo dựng trời và đất , muôn loài trong sáu ngày:
Ngày thứ nhất: Tạo nên sự sáng và tối, đặt tên sự sáng là ngày sự tối là đêm
Ngày thứ hai: Sáng tạo ra không gian(bầu trời)
Ngày thứ ba: Sáng tạo ra đất, nước, cỏ, cây và biển cả
Ngày thứ tư: Tạo ra các tinh tú trên trời làm cơ sở phân ngày đêm, năm tháng , thời tiết Trong đó có hai vị tinh tú lớn là : Mặt trời cai trị ban ngày , mặt trăng cai trị ban đêm
Ngày thứ năm:Tạo nên muôn vật chim trên trời , cá dưới nước
Ngày thứ sáu: Dùng cát bụi tạo nên con người
Ngày thứ bảy: Sau khi hoàn thành công việc sáng tạo của mình, Thiên Chúa nghĩ (chủ nhật)
Thiên Chúa là đấng thiêng liêng, sáng láng là chúa tể của đất và muôn loài,có quyền phép vạn năng, sắp xếp vận hành trật tự trong vũ trụ Nói cách khác , là tất cả mọi sự tồn tại, biến đổi trong vũ trụ đều do Thiên Chúa tiền định một cách hợp lý tuyệt đối
Quan niệm về con người:
Theo quan niệm của đạo Thiên Chúa, thì con người là do Thiên Chúa tạo nên theo hình ảnh của Thiên Chúa , bằng một hành động tự nguyện của Thiên Chúa Chính vì điều đó, mà con người có nhiệm vụ thờ phụng Thiên Chúa và tiếp tục công việc kiến tạo trái đất của Thiên Chúa Kinh Cựu ước kể lại rằng: Con người đầu tiên được Thiên Chúa tạo nên bằng cách lấy bụi trần (có tài liệu nói rằng,
Trang 15bằng đất sét) nặn ra hình một người đàn ông và thổi linh hồn vào người đó Người đó bắt đầu chuyển động-một sinh vật có sự sống Người đàn ông đó được Thiên Chúa đặt tên là Ađam(tiếng Hy Lạp có nghĩa là “người đầu tiên”) Sau đó Thiên Chúa bẻ một đoạn xương sườn của Ađam và lấy cành cây, bụi trần đắp vào tạo thành người đàn bà , đặt tên là Eva (Eva theo tiếng Hy Lạp có nghĩa là
“Mẹ của sự sống”) Lúc đầu hai người sống với nhau trên vườn Địa Đàng, nhưng giữa họ không có tình yêu Từ khi hai người bị con rắn thần lừa ăn táo cấm, họ bắt đầu chung sống với nhau, Ađam cùng Eva đã sinh ra biết bao con trai, con gái và xã hội loài người cũng hình thành
Đạo Thiên Chúa cho rằng trong các công trình sáng tạo của Thiên Chúa thì con người là sản phẩm hoàn hảo và tuỵêt mĩ Con người có trí khôn , có tư duy và đạo đức, nên làm chủ thế giới và muôn loài Con người có mối liên hệ trực tiếp với Thiên Chúa và được Thiên Chúa yêu thương hơn tất cả Sau này , khi con người sa vào vòng tội lỗi, mối quan hệ trực tiếp không còn nữa mà phải thông qua đấng cứu chuộc là chúa Giê Su
Cũng như mọi tôn giáo khác, Thiên Chúa giáo cũng quan niệm rằng con người gồm có hai phần : thể xác và linh hồn Thể xác, chỉ là cái võ bọc ngoài, tạm thời , là nơi trú ngụ của linh hồn, nên sau con người chết thể xác do sinh ra
từ cát bụi thì nay lại trở về với cát bụi, còn linh hồn là phần sinh khí do Thiên Chúa truyền vào nên tồn tại mãi mãi, ngay cả khi con người đã chết(tức là khi thể xác đã tan rữa ra)
Con người là sản phẩm tuyệt vời trong công cuộc sáng tạo của Thiên Chúa Tuy vậy con người có tính phàm tục nên mắc nhiều tội lỗi Bản chất tội lỗi của con người là tính tự do , tính kiêu ngạo Kinh Cựu ước kể lai rằng : Thiên Chúa rất yêu thương con người, nên sau khi tạo ra Ađam và Eva, Thiên Chúa cho họ sống trong cảnh thanh nhàn, sung sướng, cho họ ăn mọi thứ của ngon vật
Trang 16lạ, hoa thơm , quả ngọt, chỉ trừ một loại quả là quả “ trí thức” là Thiên Chúa cấm không cho ăn Song vì không nghe lời Thiên Chúa , lại bị quỷ dữ (có tài liệu cho
là rắn thần) thỉnh gạt, Ađam và Eva đã vi phạm đến điều cấm của chúa và bị Thiên Chúa trừng phạt, bị mất dần đi phần ân huệ mà thiên chúa đã ban cho Cũng theo lời nguyền của thiên chúa, từ đó về sau loài người mang tội do vợ chồng Ađam gây ra là tội tổ tông(hay tội tông truyền)
Bên cạnh những tín điều cơ bản nói trên, giáo lý thiên chúa giáo còn nói nhiều về sự ra đời bằng phép màu huyền diệu của đức chúa Giê Su, về công cuộc cứu chuộc của ông, về thuyết thiên đường, địa ngục, về cái chết của đấng cứu thế
Ví như, giáo lý đạo Thiên Chúa cho rằng : Đến một ngày nào đó trên thế giới sẽ bị huỷ diệt Con người cũng như mọi sinh vật trên trái đất do Thiên Chúa tạo ra sẽ bị tiêu diệt hết – ngày đó gọi là ngày “tận thế” Sau đó, từ trong tro bụi, tất cả con người của các thế hệ được sống lại Bấy giờ, Chúa Giê Su một lần nữa lại xuống trần để thực hiện lời phán xét cuối cùng, gọi là ngày phán xét chung Nếu ai không có tội sẽ được lên thiên đường hưởng cuộc sống hết sức sung sướng Còn những người mắc nhiều tội lỗi phải đẩy xuống địa ngục…
Về cái chết của chúa Giê Su, giáo lý Thiên Chúa nói đó là một hành động
tự nguyện của đấng cứu thế, là một cái chết hợp với ý của đức chúa trời(tức đức chúa cha) Chúa Giê Su chịu nạn, chịu tra tấn cực hình và chịu chết là hành động cao cả nhất trong công cuộc cứu chuộc của người Chúa Giê Su chết đi để cho thế gian được sống, “chết cho tất cả mọi người” Đó chính là hành động thể hiện lòng thương yêu vô bờ bến không chỉ của chúa Giê Su mà cả của Thiên Chúa (thượng đế) đối với tất cả sinh vật trên trái đất do Thiên Chúa tạo ra
Với hệ thống giáo lý kể trên,trong đạo Thiên Chúa còn có một hệ thống các luật lệ , lễ nghi rất chi tiết để thực hiện giáo lý đó
Trang 171.2.2 Luật lệ-lễ nghi
Những luật lệ cơ bản của Thiên Chúa giáo :
Tóm tắt trong 10 điều răn của Thiên Chúa Mười điều răn này khi xưa Thiên Chúa đã khắc vào bia đá ban cho Mai sen ( Tổ phụ dân Do Thái)
-Phải thờ kính Thiên Chúa trên hết , mọi sự
-Không được lấy danh Thiên Chúa để làm những việc tầm thường,trần tục
- Dành ngày chủ nhật để thờ phụng Thiên Chúa
- Chớ ham muốn vợ(hoặc chồng) người khác
- Không được ham muốn của cải trái lẽ
Mười điều răn nói trên được quy lại hai điều , được coi là tôn chỉ của đạo là Kính Chúa và yêu người
Ngoài những luật lệ cơ bản trên còn có 6 điều răn của giáo hội
- Dự lễ ngày chúa nhật và các ngày lễ buộc
- Kiêng việc xác ngày chủ nhật
- Xưng tội mỗi năm một lần
- Chịu lễ mùa phục sinh
- Dữ chay những ngày quy định
- Kiêng ăn thịt những ngày quy định
Trang 18Đây là những điều quy định của giáo hội về nghĩa vụ của tín đồ trong các quan
hệ đối với linh hồn, đối với đồng loài và đối với bản thân mình
Lễ nghi đạo Thiên Chúa chủ yếu ở việc thực hịên bảy phép bí tích và một
Bí tích thêm sức:
Bí tích này giúp cho tín đồ được ơn Chúa Thánh thần mà liên kết chặt chẻ với giáo hội, vững lòng tin để đi sâu vào đời sống tín ngưỡng, như trước đây sau khi chúa Giê Su về trời, các thánh tông đồ bơ vơ, chúa thánh thần hiện xuống an ủi
và ban sức mạnh cho họ Bí tích chỉ thực hiện đối với những người đã chịu phép rửa tội Nghi lễ được tiến hành bằng việc bôi dầu (thảo mộc) đã lạm phép lên trán của người chịu bí tích và đọc lời kinh nguyện như quy định của giáo hội
Giám mục thưc hiện nó trong nhà thờ vào dip cử hành thánh lễ Mi Sa , linh mục có thể làm thay(nếu được sự uỷ quyền của giám mục)
Trang 19Bí tích thánh thể Mi Sa :
Người ta làm bánh để thờ, sau đó cho mọi người ăn Ăn bánh tượng trưng cho
ăn thịt chúa , uống rượu tượng trưng cho uống máu chúa Thể hiện chúa hi sinh máu thịt cho mọi con chiên để họ tăng thêm sức mạnh và can đảm
Phép xức dầu thánh :
Dành cho những người bị bệnh , nhờ các thánh trong nhà thờ chữa bằng cách xức dầu thảo mộc lên trán
Phép hôn phối:
Làm lễ cho hai người kết nghĩa và đi đến cưới nhau
Những lễ nghi cơ bản của Thiên Chúa giáo
Có rất nhiều ngày lễ quy định , sau đây là những ngày lễ cơ bản:
Ngày 25/12 là ngày Thiên Chúa giáng sinh (Nô en) Ngày phục sinh, là ngày chúa sống lại thường tổ chức vào tháng tư dương lịch và chọn ngày đẹp nhất trong tháng để tổ chức
Ngày chúa lên trời, được tổ chức sau ngày phục sinh 40 ngày
Ngày Thánh xuống trần, tổ chức sau ngày chúa lên trời 10 ngày
Trang 20Ngày 15/8 , ngày Maria thăng thiên
Ngày 8/12, ngày Maria vô nhiễm nguyên tội
Ngày 29/6, ngày Thánh tông đồ kỷ niệm các đệ tử của Giê Su là Phao lô và Phê sô hai người có công đầu tiên truyền đạo ra bên ngoài vùng
Palestin
Ngày 2/11, là ngày lễ cầu nguyện cho các linh hồn nơi luyện ngục Mọi người chết không được lên thiên đường ngay, những ngày chờ đó là những ngày phải luyện ngục, đến ngày 2/11 cầu cho linh hồn được siêu thoát
1.3 Các giáo phái chính của Thiên Chúa giáo :
“Đạo Ky Tô, nói chính xác hơn phải gọi là : Các đạo Ky Tô, bao gồm các đạo cùng thờ một đấng thượng đế tên là Ky Tô Người sáng lập ra tôn giáo này , một con người mang tên bố mẹ đặt cho là Christô, phiên âm Hán –Việt là cơ đốc, phiên âm thẳng từ nguyên gốc là Kyrisxittô, sau thấy dài khó đọc nên gọi tắt là
Ky tô, gọi là Ky Tô giáo hay đạo Ky tô là gọi bao trùm” [ 22,21]
Ngoài tên gọi là đạo Ky tô, tôn giáo do Giê Su Chrixtô sáng lập còn có các tên gọi khác như : đạo Cơ đốc, đạo Đức Chúa Lời,đạo Crixt, đạo Chúa, đạo Tây Dương, đạo Thiên Chúa, đạo Tin Lành…
Nếu kể tới những giáo phái chính thì Thiên Chúa giáo bao gồm ba giáo phái chính sau:
Công giáo: Từ khi đạo Thiên Chúa được thừa nhận là quốc giáo trong
toàn đế quốc Rô Ma (thế kỷ IV) thì “tự coi mình là đạo phổ quát, đạo chung cho mọi người, mang danh xưng gốc từ Hy Lạp Catholicos nghĩa là phổ thông, phổ cập (do đó cấu tạo thành Catholicism trong ngôn từ hiện đại), dịch những âm đầu qua Hán-Việt thành Gia Tô , biến thành tên đạo Gia Tô hoặc Gia Tô giáo , dịch
ra nghĩa là Công giáo” [6,44-45]
Trang 21Như vậy đạo Gia Tô , đạo Giê Su , giáo hội Rô Ma , giáo hôi Vatican…đây là một loại đạo Thiên Chúa tuân phục uy quyền của Giáo hoàng, người nối nghiệp chính thống của thánh Pie, trụ sở tại Rô Ma (Italia)
Đạo Công giáo chủ yếu được truyền bá ở các nước Tây Âu như: Anh, Pháp,Đức, Italia, Bồđàonha, Áo, Bĩ, Ba lan , Hung ga ri, Hà Lan…
Chính thống giáo:
Đến giữa thế kỷ XI, cụ thể là vào 1054, từ đạo Thiên Chúa gốc ở vùng Đông của
đế quốc Rô Ma “ tách ra một tôn giáo mới tự coi mình là người chân chính theo chúa Ky Tô, cho nên đặt tên tôn giáo mình theo tiếng Hy Lạp là Orthodox dịch nghĩa Hán-Việt là đạo chính thống” [8,76] Đó là loại đạo Thiên Chúa ở Đông
Âu tách khỏi uy quyền của Rô Ma Giáo phái này được truyền chủ yếu vào : Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập , Nga, Rumani, Bungari , Hy Lạp…
Giữa chính thống giáo Phương Đông và Thiên Chúa giáo Phương Tây mặc dầu có chung một đức tin (thờ chúa trời) song giữa hai giáo phái đó vẫn còn nhiều điểm khác nhau
Chẳng hạn về giáo lý : Giáo hội Phương Tây cho rằng chúa Giê Su đã chọn thánh Phê Rô làm giáo chủ đầu tiên, nay giám mục Rô Ma (tức Giáo hoàng) là người kế nhiệm đương nhiên Vì thế Giáo hoàng không chỉ là người cầm đầu giáo hội Phương Tây mà phải có toàn quyền trên Giáo hội toàn cầu Trong khi đó Giáo hội Phương Đông không thừa nhận quyền tối thượng của Giáo hoàng bởi vì hoàng đế mới là người cầm đầu tối cao của giáo hội
Giáo hội Phương Tây cho rằng những lời nói , chỉ dụ của Giáo hoàng là tuyệt đối đúng đắn, không hề mắc sai lầm Còn Giáo hội phương Đông cho rằng Giáo hoàng vẫn có thể mắc sai lầm
Giáo hội Phương Đông vẫn kính tin đức mẹ Maria nhưng không tin mẹ Maria là vô nhiểm nguyên tội , sự bất đồng giữa Chính thống giáo và Thiên
Trang 22Chúa giáo còn thể hiện trong quan niệm khác nhau về tìn điều “ Tam vị nhất thế” (Chúa ba ngôi) Giáo hội Phương Đông xác định rằng đức Chúa Thánh Thần chỉ
do đức Chúa Cha sinh ra Còn giáo hội Phương Tây lại cho rằng cả đức Chúa Cha và đức Chúa Con sinh ra
Ngoài việc khác nhau về giáo lý , giữa giáo hội Chính thống và giáo hội Thiên Chúa còn có một số khác bịêt trong nghi lễ cũng như giáo luật Chẳng hạn: Giáo hội Phương Đông cho rằng người lớn được rước lễ hai hình (bánh và rượu), linh mục được làm phép thêm sức, hôn nhân được ly dị … nhưng đó là những điều mà giáo hội Phương Tây hết sức cấm đoán Giáo hội Phương Tây bắt buộc giám mục, linh mục không được lấy vợ, làm lễ phải bằng tiếng La Tinh trong khi
đó giáo hội Phương Đông cho phép gíao sĩ được lấy vợ và hành lễ được phép làm bằng tiếng dân tộc mình
Mặc dù chỉ có một số khác biệt không lớn lắm trong giáo lý cũng như trong nghi thức lể thánh…nhưng sự tồn tại của giáo hội Thiên Chúa Phương Tây
và Chính Thống Phương Đông, trở thành hai khuynh hướng, hai tổ chức hoàn toàn đối lập nhau, thậm chí thù địch nhau
Tin lành giáo
Xuất hiện ở Châu Âu hồi giữa thế kỷ XVI, gắn liền với phong trào cải cách tôn giáo Từ đạo Thiên Chúa (Tức Công Giáo) ở Tây đế quốc Rô Ma cũ lại xuất hiện một mảng tôn giáo mới với nhiều tên gọi khác nhau như : Anh giáo, đạo Cải Cách, đạo Tin Lành
Nếu so sánh một cách đại cương nhất giữa đạo Tin Lành với Thiên Chúa giáo chúng ta thấy:
Về giáo lý: Tin lành vẫn lấy kinh thánh làm nền tảng, nhưng về kinh Cựu ước, Tin lành chỉ công nhận có 36 cuốn chứ không phải 46 cuốn như ở Công giáo
Trang 23Trên cơ sở các tín điều cụ thể của đạo Thiên Chúa,Tin Lành sữa đổi và lược bỏ nhiều điều , Tin lành không xem thiên đường địa ngục như là nơi khuyến thưởng hoặc răn đe trừng phạt con người Không tin có luyện ngục là nơi tạm giam các linh hồn mắc tôi nhẹ chờ được cứu vớt như giáo lý của đạo Thiên Chúa Trong bảy phép bí tích, Tin lành chỉ giữ lại hai, đó là phép rữa tội và phép thánh thể Ngay cả với những bí tích được gĩư lại , đạo Tin lành cũng tiến hành khác với đạo Thiên Chúa Chẳng hạn: Tin lành chỉ làm phép rữa tội cho người
đủ trí khôn để nhận biết , chứ không rữa tội cho trẻ mới sinh và rữa tôi theo cách thức thánh Gio An xưa đã rửa tội cho chúa Ky Tô trên sông Gióoc đan, bằng cách dìm cả người xuống nước chứ không chỉ dội một ít nước lên đầu tượng trưng như đạo Công giáo
Nếu ở Công giáo, Lễ Thánh thể được tổ chức rườm rà , phức tạp tín đồ chỉ được ăn bánh thánh , còn rượu thánh tín đồ không được uống mà dành cho các giáo sĩ thì ở đạo Tin Lành làm nghi lễ Thánh thể được tiến hành đơn giản hơn Tất cả các tín đồ và giáo sĩ cùng được uống “ rượu thánh” và ăn “bánh thánh”
Đạo Tin Lành cũng tin có Thiên sứ , có Thánh tông đồ, các Thánh tử đạo…nhưng không sùng bái và thờ lạy họ, không thờ ảnh tượng, bảo vật, kể cả
gổ thánh, giá chúa, không tôn sùng và hành hương đến các Thánh địa , kể cả Giê rudalem, núi xinai,đến thánh Phê rô và Phao lô Đạo Tin Lành chỉ dùng ảnh, tượng Thánh trong sinh hoạt tôn giáo với ý nghĩa là tài liệu , để giảng giải truyền thụ đạo
Về tổ chức: Đạo Tin Lành không phụ thuộc vào giáo hội Vatican, cũng không
có hệ thống toàn cầu, mà chỉ có Giáo hội theo từng địa phương riêng bịêt và bình đẳng đối với nhau Sự liên hiệp giữa các Giáo hội hoặc các tổ chức có tính cách quốc tế của Tin Lành đều dựa trên nguyên tắc tự nguyện và bình đẳng , vừa hoạt động tôn giáo , vừa hoạt động xã hội
Trang 24Nhìn chung, đạo Tin Lành về giáo thuyết, luật lệ, cách thức hành đạo cũng như tổ chức Giáo hội chịu ảnh hưởng khá đậm nét tư tưởng dân chủ tư sản và khuynh hướng tự do cá nhân Với tư cách là một tôn giáo mới-đại diện cho hệ tư tưởng của giai cấp tư sản mới ở Châu Âu, Đạo Tin Lành trở thành một tôn giáo
có màu sắc mới mẽ , hấp dẫn với các tầng lớp tư sản, trí thức , công chức và thị dân nói chung trong xã hội hiện đại
CHƯƠNG 2 VAI TRÒ CỦA THIÊN CHÚA GIÁO ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG
CHÍNH TRỊ TÂY ÂU TRUNG ĐẠI
Theo quan niệm gần đây nhất của các nhà sử học nước ta thì lịch sử Trung đại Tây Âu được bắt đầu bằng sự sụp đổ của đế quốc Tây bộ Rô Ma (476), khi hoàng đế cuối cùng của đế quốc Tây bộ Rô ma là Rômulútô guxtulơ bị thủ lĩnh quân sự của người Giéc Man là Ôđô ác rơ lật đổ, và được kết thúc bằng sự bùng
nổ cuộc cách mạng tư sản đầu tiên ở Châu Âu- cách mạng tư sản Nêđéc lan(1566) Vì thế lịch sử Thiên Chúa giáo thời trung đại gắn liền với một giai đoạn lịch sử đầy biến động ở Châu Âu Thiên Chúa giáo đã có vai trò hết sức to lớn đố với đời sống chính trị trong thời kỳ lịch sử này.Tuỳ vào những giai đoạn lịch sử cụ thể khác nhau mà vai trò của nó khác nhau
Chúng ta có thể chia ra mấy giai đoạn nhỏ sau đây
2.1.Vai trò của Thiên Chúa giáo đối với đời sống chính trị Tây Âu thời sơ kỳ Trung đại(thế kỷ V-thế kỷ X)
Cuối thế kỷ III, đạo Thiên Chúa đã trở thành một lực lượng xã hội tương đối nổi bật , cho dù quần chúng cơ bản của giáo hội phần đông thuộc về tầng lớp
Trang 25bình dân hạng trung, hạng dưới và nô lệ Thành phần của những thành viên lãnh đạo trái lại dần dần trở thành tầng lớp trên Sau mấy lần bức hại đạo quy mô , giai cấp thống trị đế quốc nhận thấy đạo Thiên Chúa không những không bị tiêu diệt, ngược lại càng lớn mạnh hơn Do đó, đã bắt đầu thay đổi thủ pháp đối với Thiên Chúa giáo, tiến hành vỗ về xoa dịu, mục đích đương nhiên vẫn là để cũng
cố ách thống trị đang bị chao đão có nguy cơ bị đổ vỡ
Tháng 2 năm 313, Constantinus hoàng đế của Tây bộ đế quốc La Mã ra sắc chỉ Mi lan, kết thúc sự bức hại đối với Thiên Chúa giáo Từ đó, Thiên Chúa giáo trở thành tôn giáo hợp pháp được nhà nước thừa nhận Constantinus chiến thắng Lixini đã tăng cường nâng đỡ và lợi dụng Thiên Chúa giáo với hy vọng có thể cứu nguy cho sự sụp đổ của đế quốc Việc làm đó cũng chỉ có tính chất như một liều thuốc trợ lực , kéo dài thêm chút ít cơn hấp hối của con bệnh mà thôi
Vã lại, chính những nâng đỡ ấy cũng không thể nào cưỡng lại cái xu thế phát triển của lịch sử lúc bấy giờ
Từ thế kỷ III trở đi, khắp đế quốc hầu như nơi nào cũng có khởi nghĩa Chính cuộc đấu tranh của các tầng lớp nhân dân bị áp bức đã làm cho quân hệ sản xuất chiếm hữu nô lệ và nền kinh tế của đế quốc La Mã bị suy sụp Nhà nước
La Mã bị suy yếu, kiệt quệ, khiến nó không còn đủ sức ngăn chặn các cuộc tấn công ồ ạt từ ngoài vào Cuối cùng, đế quốc La Mã đã phải sụp đổ trước những dòng thác lũ di cư của người Giéc Manh
Vào thời kỳ chinh phục đế quốc La Mã, người Giéc Manh đang ở vào giai đoạn quá độ từ chế độ công xã nguyên thuỷ lên một chế độ xã hội có giai cấp và nhà nước Trong lòng xã hội ấy, đang hình thành và phát triển những yếu tố phá hoại nó Thắng lợi của cuộc chinh phục đã có tác dụng thúc đẩy mạnh mẽ bước quá độ ấy Người ta không thể nào kết nạp những người La Mã vào các tập đoàn thi tộc của người Giéc Manh Hoặc không thể dùng những tổ chức của xã hội thị
Trang 26tộc-một xã hội chưa có áp bức và nhà nước để thống trị dân bị chinh phục Nhưng , những người chiến thắng lại phải bảo vệ thành quả của cuộc chinh phục Nghĩa là phải có một cơ quan quyền lực thay thế cho nhà nước La Mã Nhu cầu cần thiết lập một nhà nước , đối với người Giéc Manh đã trở thành cấp thiết và không thể tránh khỏi
Con đường thiết lập nhà nước của người Giéc Manh đòi hỏi phải có một tư tưởng thống trị Người Giéc Manh không thể lấy tư tưởng đa thần của mình để chi phối tư tưởng nhất thần của người La Mã được Chính vì thế, buộc họ phải lấy tư tưởng nhất thần của kẻ bị xâm lược-đó là tư tưởng Thiên Chúa giáo làm công cụ thống trị của mình
Các lãnh tụ của người Giéc Manh đã lôi kéo cư dân đi theo đạo Thiên Chúa Đông thời, đưa tăng lữ và giáo hội Thiên Chúa giáo vào bộ máy thống trị làm chỗ dựa cho mình Với những việc làm đó đến cuối thế kỷ V trên sự tan rã của đế quốc La Mã già cỗi, một số vương quốc mới đầy sức sống của người Giéc Manh đã được thành lập Một trong những quốc gia sớm hình thành và có quá trình phong kiến hoá điển hình đó là vương quốc Phờ răng ở miền Bắc xứ Gô lơ
Người đứng đầu vương quốc Phờ răng là Clôvít (481-511), đã tập hợp các
tù trưởng và thủ lỉnh quân sự của các thị tộc người Phờ răng lại , tập trung quân đội đi xâm lược các nước xung quanh Nhưng trong số các quốc gia thành lập ở
xứ Gô lơ, quốc gia Phờ răng lại yếu nhất Clôvít phải tìm mọi cách lôi kéo dân chúng La Mã, Gô lơ theo đạo Thiên Chúa Ông đã huy động lực lượng giáo hội truyền bá tư tưởng Thiên Chúa giáo vào trong các bộ tộc của người Giéc Manh
và bản thân ông chịu phép rữa tội vào năm 498 để cho nhân dân noi theo Ông đã mời một giám mục làm cố vấn cho mình Bộ tộc Phờ răng là bộ tộc đầu tiên của người Giéc Manh theo đạo Thiên Chúa Còn những bộ tộc khác hoặc vẫn dữ đạo nguyên thuỷ của mình là đạo Aria hoặc theo đạo Thiên Chúa ở Phương Đông gọi
Trang 27là Thiên Chúa giáo Ari út Nhờ sự giúp đỡ của nhà thờ Thiên Chúa giáo mà đặc biệt là tầng lớp tăng lữ và giáo hội cùng với sự ủng hộ của nhân dân La Mã, Gô
Lơ, Clôvít đã liên tiếp đánh thắng người Alơmanni, người Buốcgunđionni và người Tây gốt, thống nhất hầu khắp xứ Gô lơ (trừ giải đất từ hạ lưu sông Rôn tới biên giới Tây Ban Nha giáp Địa trung hải vẫn thuộc người Tây Gốt )
Sau khi thắng lợi, Clôvít tìm cách phá hoại nền dân chủ thị tộc, sát hại các
tù trưởng và thủ lỉnh quân sự các thị tộc chống lại sự chuyên quyền của mình, thực hiện nền quân chủ quyền hành tập trung trong tay một nhà vua độc nhất Clôvít đã lập ra triều Mêrôvanhgiên(vì Clôvít là con Mêrôvê nên lấy tên đó)
Khi lên ngôi vua ,Clôvít đã ban thưởng cho những người thân thích của ông, cho các quý tộc quân sự và binh sĩ có công lao phục vụ trung thành với mình ruộng đất và lệ nông
Còn đối với giai cấp tăng lữ và giáo hội, vì đã có công lớn trong việc mở rộng lãnh thổ vương quốc, nên ông đã trả tài sản lại cho giáo hội Hàng giáo sĩ , tăng lữ được mời tham gia vào việc kiến thiết quốc gia Như vậy giai cấp thống trị của nhà nước Phờ răng ngoài quý tộc Giéc Manh còn có tăng lữ và giáo hội Thiên Chúa giáo Clôvít đã ban tặng một số ruộng đất rất lớn cho giáo hội Thiên Chúa với hy vọng sẽ giúp được ông trong việc cũng cố nhà nước Cũng kể từ đây mối quan hệ giữa giáo hội và Clôvít càng bền chỗt Từ giờ phút này các giám mục Phờ răng không nghĩ đến việc cầu cứu Byzantin nữa Các ông cũng như giáo dân nhìn vào Clôvít và các người kế nghiệp ông như những người bạn
Sau khi Clôvít chết, quốc vương Phờ răng đã bị chia ra thành 4 phần cho 4 người con của ông Sau đó có thời kỳ đã được thống nhất lại, nhưng chẳng bao lâu lại bị chia rẻ Từ cuối thế kỷ VI đến đầu thế kỷ VII trở đi nội chiến và mưu sát giữa các anh em luôn luôn diễn ra, khiến cho quyền lực của vua ngày càng suy yếu Cùng với sự suy yếu bên trong, thì đế quốc A rập đe doạ tấn công từ
Trang 28bên ngoài Đến đầu thế kỷ VIII thừa tướng xứ Oxtơrađi là Sắc lơmácten 741),đã dùng vũ lực khôi phục lại trật tự cũ trong toàn vương quốc Để xây dựng những đội kỵ binh, nhà vua đã phải dựa vào tầng lớp khá giả để có khả năng mua sắm ngựa và quân trang, vủ khí Muốn khuyến khích và tạo điều kiện vật chất thuận lợi cho tầng lớp này, nhà vua cần phải ban cấp đất đai cho họ Nhưng nhà vua lúc này đã khánh kiệt ruộng đất, nên Sắclơmácten đã phải lấy đất của giáo hội dùng vào việc đó Lối phong cấp này khác với thời trước đó vì có kèm theo một số điều kiện Trước hết người được phân phong phải trung thành với nhà vua, phải gánh vác một số nghĩa vụ đối với nhà vua, trong đó quan trọng nhất là nghĩa vụ quân dịch Người được phong đất chỉ được sử dụng trong một đời thôi
(715-Kể từ đây, đất phong không còn mang tính chất là những sở hửu hoàn toàn như trước nữa Mặt khác, lối phân phong này đã tạo nên mối quan hệ lệ thuộc của người dưới đối với người trên, quan hệ giữa thân thuộc với tôn chủ
Như vậy, nhờ có số ruộng của giáo hội Thiên Chúa mà Sắclơ mácten đã xây dựng được một lực lượng quân đội vững mạnh và trên cơ sở đó đã nâng cao
uy thế của Sắclơmácten và dòng họ Carô của ông ngày một lớn hơn Sau đó, ông
đã đập tan cuộc phản công của quân A rập
Khoảng giữa thế kỷ VIII, trong nội địa Phờ răng không còn đất đai để chiếm đoạt, bọn quý tộc Phờ răng muốn bành trướng ra bên ngoài để chiếm đoạt thêm đất đai và nông nô mới, chúng đã ủng hộ Pê Panh lùn (con của Sắclơmác ten), lật đổ ngôi vua của dòng họ Môrôvanhgiêng lập nên triều đại mới của dòng
họ Carôlanhgiêng Để tránh tiếng cướp ngôi, Pê Panh lùn đã cấu kết với Giáo hoàng La Mã làm lễ lên ngôi cho y Như vậy, Pê Panh lùn nhờ có Giáo hoàng mà
đã hợp lý hoá việc lên ngôi của mình, tạo lòng tin trong nhân dân, bởi vì sự lên ngôi đó đã được Chúa, Thánh đồng ý Khi người Lông Ba xâm nhập bán đão Ý
và đe doạ lãnh địa của Giáo hoàng La Mã , Giáo hoàng sợ hãi phải cầu cứu vua
Trang 29Phờ răng Để trả ơn việc Giáo hoàng đã phong vương cho mình, Pê Panh lùn đã dùng áp lực quân sự ngăn chặn được âm mưu của ngưòi Lông Ba Đông thời Pê panh lùn còn cướp đoạt vùng trung Ý từ tay người Lông Ba nhường cho Giáo hoàng để lập ra khu Giáo hoàng Từ đây sự cấu kết giữa giáo hội Thiên Chúa do Giáo hoàng đại biểu và nhà vua ngày càng chặt chẻ hai thế lực đã hộ trở lẫn nhau để cùng thống trị xã hội
Vương quốc Phờ răng cực thịnh dưới thời con của Pê Panh là Sắclơman tức là Săclơ ma nhơ sau này(768-814) Dựa vào vũ lực Sắc lơ man đã tiến hành một loạt các cuộc chiến tranh xâm lược để mở rộng phạm vi lãnh thổ của nhà vua Năm 773 ông đem quân sang Ý đánh người Lông Ba biến đại bộ phận bán đảo này thành một miền phụ thuộc vào vương quốc Phờ răng và tuyên bố là vua của người Lông Ba Sau đó tiến hành xâm lược người Dắc Xen Kết quả của những cuộc viễn chinh là lập ra một đế quốc rộng lớn chạy dài từ sông Ê pơ rơ(Tây ban nha) đến sông En bơ(Đức), từ Địa trung hải đến Bắc hải bao gồm hầu hết đất đai Tây bộ La Mã trước kia Sở dĩ thu được những thắng lợi to lớn như vậy là nhờ vai trò to lớn của Thiên Chúa giáo Săc lơ đã lấy giáo hội Thiên Chúa làm công cụ áp bức tinh thần Sắc lơ đã ban bố những luật hà khắc, buộc binh sĩ
và nhân dân phải theo Trong đó, có điều khoản quy định nếu không đến nhà thờ phải phạt tử hình , có lúc giết tới 4500 tù binh Dắc xen Sắc lơ đã sử dụng các giám mục ,các tăng lữ cao cấp Thiên Chúa giáo vào làm những chức vụ trọng đại của đế chính Đây là những người đã giảng Kinh Thánh và đạo lý Thánh vào các tầng lớp nhân dân và hợp lý hoá các cuộc xâm chiếm của nhà vua Như vậy, Thiên Chúa giáo đã có vai trò to lớn trong việc thành lập quốc gia của người Giéc manh rộng lớn
Sau khi đã hình thành quốc gia rồi, ông đã lập ra một triều đình với một bộ máy cai trị rập khuôn theo tổ chức của đế quốc La Mã xưa kia Đứng đầu nhà
Trang 30nước là vua năm giữ và điều hành tất cả , luật đạo , luật đời đối với ông chỉ là hai hình thức của một quyền tối thượng Tất cả mọi tài sản đều được xếp chung dưới quyền tối cao của một người Để tạo điều kiện trong việc cai trị , ông đã lấy Thiên Chúa giáo làm hệ tư tưởng thống trị của mình Muốn vậy , ông đã đề ra các pháp lệnh về sự tồn tại trong lề luật giáo hội và các huấn lệnh khuyến khích hoặc bắt buộc phải chịu các phép bí tích, tham dự các lễ nghi phụng vụ, nộp thuế thập phân, dành đất đai cho nhiều toà giám mục
Hành động ấy của Sắc lơ ma nhơ, người ta nhận thấy “ thầm ý của ông là
để cho các công dân ngoan đạo dễ bề trung thành với đế chế Các Đan viên được ông làm giàu cho sẽ là nơi đào tạo những nhà truyền giáo , đồng thời là những chuyên viên khai hoá mở mang quyền lực đế quốc Sau hết , các giám mục được ông trọng kính ưu đãi , trong nhiều trường hợp sẽ là những viên chức cao cấp của chế độ Một vị giám mục có thể bất thần bị triệu hồi về triều đình ,cũng như một Đan viên phụ có thể được trao cho nhiệm vụ tự túc chiến đấu với địch quân” [19,262]
Để hợp pháp hoá quyền lực của mình, năm 800 Sắc lơ kéo quân sang La
Mã nhờ Giáo hoàng làm lễ đặt vương miện Đúng vào lễ giáng sinh năm đó đức thánh cha Lê ô III trong phẩm phục Giáo hoàng tự tay đội miện bằng vàng lên đầu Sắc lơ ma nhơ Đây là dấu ấn lịch sử có ý nghĩa vô cùng quan trọng, trước hết là để ghi ơn và tương thưởng Sắc lơ ma nhơ vị ân nhân của giáo hội La Mã, người chiến sĩ anh dũng Công giáo , bách chiến bách thắng đã thống nhất các quốc gia Man di-Tây phương thành một khối
Việc được phong vương miện có ý nghĩa rất lớn đối với Sắc lơ ma nhơ, kể
từ đây, quốc dân đã nhìn nhận sự hợp pháp của một ông vua tức vị, uy tín của ông ngày một cao hơn Tạo điều kiện tốt cho việc xây dựng một quốc gia thống nhất phát triển hùng cường
Trang 31Để đổi lại những ân huệ và sự ủng hộ mà giáo hội đã dành cho mình, Săc
lơ ma nhơ ngoài việc để cho giáo hội chiếm dữ một khối lượng rất lớn đất đai còn giúp cho giáo hội gom nhiều của cải từ mọi nguồn khác nhau:tiền dâng của các tín đồ , thuế thập phân, của cải mà chính quyền hoàng đế ban cho …có thể nói dưới thời cầm quyền của Sắc lơ ma nhơ giáo hội Thiên Chúa giáo giàu lên nhanh chóng Về vật chất và uy tín của Giáo hoàng , giáo sĩ được đề cao Trong mối quan hệ “mật thiết” và “có đi có lại” này giữa giáo hội và chính quyền hoàng đế , Sắc lơ ma nhơ đã biết sử dụng một cách khéo léo quyền hành của mình với giáo hội Ông buộc các Giáo hoàng khi lên ngôi phải tuyên thề trung thành với mình Cũng kể từ đây sự đấu tranh giữa Giáo hoàng, giáo hội với thế lực nhà vua cán cân đã nghiêng về chính quyền nhà vua
Bên cạnh sự đóng góp to lớn của Thiên Chúa giáo đối với đời sống chính trị như đã trình bày ở trên , thì trong giai đoạn sơ kỳ này Thiên Chúa giáo cũng thể hiện vai trò tiêu cực của nó
Trong khi các ông vua như Clôvít, Sắclơ ma nhơ đang ra sức xây dựng một quốc gia phong kiến tập quyền để dễ dàng lãnh đạo và phát triển đất nước, các nhà vua đã ban cấp ruộng đất cho bọn quý tộc lãnh chúa và họ phải làm lể trung thành với nhà vua Đế quốc tồn tại dựa trên sự ủng hộ của lãnh chúa quý tộc Thế nhưng thế lực Giáo hoàng và giáo hội nhà thờ Thiên Chúa giáo không muốn có các quốc gia tập quyền để dễ bề thao túng Chính vì thế, thế lực nhà thờ
đã ủng hộ sự cát cứ của các lãnh chúa phong kiến.Khi các lãnh chúa đánh nhau thắng trận chiếm được nhiều chiến lợi phẩm và tịch thu ruộng đất tài sản của đối phương ban cấp cho nhà thờ nhiều bổng lộc Lợi dung lúc các vua suy yếu , bọn quý tộc lãnh chúa phong kiến xây dựng quyền lực địa phương tự trị Như vậy, Thiên Chúa giáo đã cản trở việc xây dựng các quốc gia phong kiến tập quyền
Trang 32Giáo hội có công rất lớn trong việc giúp các ông vua và các lãnh chúa phong kiến tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lược, cho nên sau khi dành được thắng lợi họ đã ban tặng cho nhà thờ rất nhiều ruộng đất bổng lộc Số ruộng đất của nhà thờ chiếm tới 1/3 ruộng đất Tây Âu Hơn thế nữa trong thời kỳ chiến tranh loạn lạc tài sản của nhà thờ vẩn được bảo vệ Nhiều người nông dân tự do không thể kinh doanh trong hoàn cảnh loạn lạc xin giao ruộng đất cho nhà thờ bảo hộ và nhận cống nộp tô cho nhà thờ Với số ruộng đất lớn như vậy, nhà thờ
đã sư dụng hàng vạn nông nô để cày cấy Họ bị bóc lột thậm tệ, kể cả nông dân
tự do cũng bị bóc lột Họ phải nộp thuế thập phân và bị quyên góp cúng lễ liên miên Họ không những bị bóc lột về kinh tế mà còn bị áp bức về chính trị Những ai phạm tội sẽ bị xét xữ trước toà án của giáo hội Do áp bức đè nén nặng
nề nên làm cho nông nô ở buổi đầu của chế độ phong kiến, không chịu được nữa
đã vùng dậy đấu tranh
Như vây việc bóc lột con chiên của giáo hội Thiên Chúa giáo, nhà thờ trở thành tầng lớp tăng lữ quý tộc trong thời sơ kỳ, là một nét tiêu cực của Thiên Chúa giáo
2.2.Vai trò của Thiên Chúa giáo đối vớ đời sống chính trị Tây Âu giai đoạn trung kỳ trung đại (thế kỷ XI đến cuối thế kỷ XV)
Trong giai đoạn lịch sử này, Thiên Chúa giáo vừa có vai trò tích cực lẫn tiêu cực đối với đời sống chính trị Tây Âu Điều này được thể hiện trong những nội dung cơ bản sau
Trước hết Thiên Chúa giáo đã cản trở sự phát triển của thành thị Tây Âu
Thế kỷ XI là một trong những niên đại quan trọng nhất của lịch sử kinh tế trung đại Phương Tây, một bước chuyển biến trong sự phát triển của các biến cố
Trang 33ở đây Trong khi ít nhiều đánh giá quá cao ý nghĩa của nó , các nhà sử học thậm chí đã nói đến một cuộc cách mạng ở thế kỷ XI
Ở thế kỷ XI , lực lượng sản xuất ở Tây Âu có những bước phát triển tiến lên Nông nô cần cù sản xuất , tích cực khai hoang mở rộng diện tích Ruộng đất được chăm sóc chu đáo hơn, kỷ thuật canh nông được cải tiến Họ biết luân canh đổi vụ , sử dụng cày có bánh xe, sử dụng bò ngựa làm sức kéo , biết bón phân , biết dành đất làm đồng cỏ để phát triển chăn nuôi Các nghề thủ công nghiệp hoạt động sôi nổi hơn, họ biết khai thác quặng chế biến đồ sắt
Sự phát triển tự nhiên chậm rải, từng bước phân công lao động xã hội Sự phân công đó dần dần làm tách rời thủ công nghiệp ra khỏi nông nghiệp “Như vậy sự phát triển của chế độ phong kiến và nền canh nông của nó ở sơ kỳ trung đại đã chuẩn bị cơ sở vật chất cho sự hưng khởi của thành thị Âu Châu ở thế kỷ XI” Thế nhưng sự phát triển đó không được tự do mà còn bị kim hảm Với việc lãnh chúa liên kết với nhà thờ, mà chính bản thân cha cố cũng trở thành lãnh chúa và đất đai của nhà thờ thì trở thành lãnh địa
Trong khi đó, các thành thị trung cổ đều xây dựng trên đất đai của lãnh chúa nên bị lệ thuộc vào lãnh chúa Lãnh chúa trực tiếp nắm quyền cai quản thành thị hoặc giao cho các gia thần của chúng Lãnh chúa coi các thị dân như những nông nô trong lãnh địa nên cũng bắt họ phải gánh vác các nhiệm vụ của nông nô Hơn thế nữa các lãnh chúa đã sử dụng Thiên Chúa giáo làm công cụ thống trị cho mình, đã ban ra các đạo luật , lễ nghi bắt buộc thị dân phải thực hiện Chính vì thế mà sự bóc lột đó đối với thị dân đã được hợp pháp hoá Được
sự hậu thuẩn của giáo hội, hơn nữa thành thị là nơi tập trung nhiều của cải, tiền bạc nên lãnh chúa thường tỏ ra rất tham lam trong việc bóc lột thị dân Chúng luôn quấy nhiễu hạch sách , thậm chí còn giỡ những thủ đoạn cướp bóc trắng trợn để vơ vét cho được đầy túi Mâu thuẩn giữa thị dân và lãnh chúa vì vậy đã
Trang 34phát sinh và ngày càng quyết liệt Thị dân đã phải liên hiệp lại với nhau thành tổ chức để chống ách thống trị và bóc lột của lãnh chúa Một trong những biện pháp đấu tranh của thị dân là dùng những số tiền lớn nộp cho lãnh chúa để được hưởng quyền tự trị Số tiền thu được đó lãnh chúa đã ban tặng cho giáo hội rất nhiều Vì thế, mồi quan hệ giữa họ càng bền chặt hơn trong việc áp bức bóc lột thị dân
Phong trào đấu tranh của các thành thị để được giải phóng khỏi lãnh chúa diển ra ngay từ thế kỷ XI ở những nơi mà thành thị được khôi phục sớm như : Ý , Pháp…giai đoạn sôi nổi nhất là thế kỷ XII-XIII Có rất nhiều thành thị như ở
Ý, nhờ có nền kinh tế phát triển mạnh cho nên họ không những dành được quyền độc lập tự chủ mà còn khống chế cả những vùng nông thôn lân cận, phát triển thành những nước cộng hoà thành thị độc lập Cư dân có quyền tổ chức lấy bộ máy quản lý của thành thị, có toà án riêng, có tài chính riêng, quân đội riêng.Thế nhưng quá trình thành lập các quốc gia thành thị này cũng đã bị sự cản trở hết sức quyết liệt của lãnh chúa , ngoài tiền chuộc ra , nhiều khi còn diễn ra chiến tranh đẫm máu
Tuy đã được độc lập, nhưng hàng năm cũng phải nộp một khoản địa tô nhất định và khi có chiến tranh thì thành thị phải thực hiện một số nghĩa vụ binh dịch cho lãnh chúa
“ Khi xét mối quan hệ giữa các thành thị này với lãnh chúa chúng ta thấy rằng trong hoàn cảnh mà quan hệ lệ thuộc phong kiến đã trở thành phổ biến và
dữ địa vị , có tác dụng chi phối mọi quan hệ xã hội, thì mối quan hệ thuộc loại này cũng không thể thoát khỏi sự chi phối của nó Các thành thị lúc bấy giờ sau khi đã được tự trị , có đầy đủ quyền hành như một lãnh chúa, kể cả quyền tuyên chiến hoặc ký hoà ước Nhưng đồng thời cũng phải gánh vác những nghĩa vụ
Trang 35của một thân thuộc đối với tôn chủ Vì thế các công xã thành thị này có địa vị và tính chất như những thần thuộc tập thể của lãnh chúa” [14,67]
Như vậy các lãnh chúa của giáo hội đã cản trở bước tiến của thành thị và
đã chi phối sự thành lập quốc gia thành thị
Cùng với sự phát triển của thành thị đã làm cho kinh tế hàng hoá phát triển, dẩn tới mối liên hệ giữa các địa phương ngày càng trở nên bền chặt hơn Trên cơ sở đó, các ông vua đã tiến hành rất nhiều biện pháp để thống nhất đất nước, tiến tới xây dựng nhà nước trung ương tập quyền
Thế nhưng, vì mưu đồ của Giáo hoàng là muốn duy trì tình trạng cát cứ ở các quốc gia Tây Âu, để dễ dàng thống trị toàn bộ Tây Âu Chính vì vậy mà Giáo hoàng đã ra sức tìm cách ngăn cản việc xây dựng nhà nước trung ương tập quyền ở Tây Âu Điều này được thể hiện rất rỏ ở một số quốc gia cụ thể như sau
Đối với nước Ý:
Do hậu quả của sự phát triển đặc biệt của các thành thị Ý, nhất là do sự hình thành nước Giáo hoàng, đã làm cho Ý không thể trở thành một quốc gia thống nhất toàn Ý, không có chính quyền trung ương Nước Ý bị chia làm ba phần:Bắc , Trung, Nam, phát triển theo xu hướng riêng
Sau hai lần viễn chinh sang Ý của Pê Panh lùn hồi thế kỷ IX, nước Giáo hoàng đã được thành lập ở Trung Ý , trung tâm của nước Giáo hoàng là La Mã, xung quanh còn có một số lãnh địa nữa Sự thành lập nước Giáo hoàng đã làm cho hai miền Bắc và Nam Ý bị ngăn cách với nhau Vì vậy, đối với việc thống nhất đất nước Ý Giáo hoàng là một trở ngại lớn Để thần thánh hoá quyền hành của mình trong nước Giáo hoàng, Giáo hoàng đã đưa ra những tài liệu giả dối để chứng minh rằng mình có toàn quyền thống trị trong lãnh địa
Hơn nữa Giáo hoàng đã buộc các vua và hoàng đế Tây Âu phải phục tùng mình Ở Ý , Giáo hoàng có âm mưu chiếm cả Bắc và Nam Ý Muốn có nhiều
Trang 36của cải làm giàu và ăn tiêu xa xĩ , Giáo Hoàng bóc lột các cư dân trong lãnh địa rất tàn khốc Tất cả mọi ngành hoạt động kinh tế trong thành La Mã (thủ đô của nước Giáo hoàng), phải phục vụ nhu cầu tiêu xài xa xĩ, lễ bái tốn kém của Giáo hoàng Giáo hoàng ra những sắc lệnh cấm chỉ thương nhân và thợ thủ công lập
hộ buôn bán và phường hội thủ công Thương nhân và thợ thủ công bị thuế má nặng nề, không có một chút quyền lợi chính trị nào Chính vì vậy , năm 1143 ở
La Mã đã nổ ra một cuộc khỡi nghĩa của thương nhân , thợ thủ công , tăng lữ lớp dưới Quân khởi nghĩa đã thành lập công xã , đứng đầu công xã là viện nguyên lão, lãnh đạo viện nguyên lão là thị dân Trong cuộc khởi nghĩa của thị dân La
Mã, Ác nô đơ bút- xi a đã đóng vai trò quan trọng Ông đề ra cương lĩnh chống lại Giáo hoàng và Hoàng đế Đức
Nhưng do mâu thuẩn giữa thị dân lớp trên với bình dân thành thị nên hàng ngũ quân khỡi nghĩa bị chia rẽ Tầng lớp thị dân giàu đã cấu kết với Giáo hoàng đuổi Ác nô, Ác nô phải chạy trốn Về sau Ác nô bị hoàng đế Đức bắt và xử thắt
cổ Cuộc khởi nghĩa anh dũng của nhân dân La Mã bị thế lực phong kiến phản động đứng đầu là Giáo hoàng và hoàng đế Đức trấn áp rất giã man
Đến thế kỷ XIV-XV mặc dầu ở Ý đã xuất hiện những mầm mống của quan
hệ tư bản , đã có những thành thị khá lớn, nhưng vẫn không có khả năng thống nhất về kinh tế và chính trị Do sư can thiệp của nước Giáo hoàng cho nên toàn
Ý không hình thành được một thị trường thống nhất toàn quốc, hơn nữa do mâu thuẩn giữa các quốc gia thành thị đã đưa đến những cuộc xung đột vũ trang tàn khốc
Như vậy , vì quyền lợi ích kỷ, Giáo hoàng và bọn cầm đầu các quốc gia thành thị không thiết tha đến sự nghiệp thống nhất Ý Nhưng thống nhất đất nước vẫn là nguyện vọng chung của quần chúng nhân dân Cuộc khởi nghĩa của
cư dân La Mã năm 1347 đã đề ra chủ trương thống nhất đất đai Ý , nhưng bọn