Trải qua 2500 năm lịch sử, với biết bao thăng trầm, bao sự chuyển đổi về kinh tế, chính trị, có những lúc tưởng như đã biến mất hẳn trên bản địa, song đạo Phật vẫn tồn tại và phát triển
Trang 1A Dẫn luận
1 Lí do chọn đề tài
Cùng với đạo Hồi, đạo Cơ Đốc, đạo Phật được xem là những tôn giáo lớn trên thế giới Đạo phật xuất hiện khá sớm, vào thế kỷ VI TCN, từ chiếc nôi thành CàTỳLaVệ (thuộc Ấn Độ bây giờ) Trải qua 2500 năm lịch sử, với biết bao thăng trầm, bao sự chuyển đổi về kinh tế, chính trị, có những lúc tưởng như đã biến mất hẳn trên bản địa, song đạo Phật vẫn tồn tại và phát triển rộng rãi khắp năm châu, chiếm giữ một vai trò qua trọng trong đời sống văn hoá, tinh thần của nhiều quốc gia như Triều Tiên, Nhật Bản, Thái Lan, Lào, kể cả Viêt Nam v.v Vậy tại sao đạo Phật lại có sức sống mãnh liệt đến như vậy? Đây là một trong những câu hỏi thu hút nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới cũng như ở Đông Nam Á
Ra đời trên mảnh đất Ấn Độ, song đạo Phật không phải là tôn giáo riêng, hay tồn tại độc lập trong khuôn khổ một dân tộc, nơi sản sinh ra nó Đạo Phật cùng với thời gian, quá trình lớn mạnh, phát triển đã có mặt ở nhiều nước, khu vực trên thế giới trong đó có Đông Nam Á Cho tới ngày nay đã có một số nhà nghiên cứu, nhà tu hành nghiên cứu và giới thiệu về đạo Phật Họ tập trung đi sâu vào tìm hiểu quá trình ra đời, giáo lý, giới luật, sự phát triển của đạo Phật ở Ấn Độ qua các thời kỳ, sự lan toả của nó đến các khu vực khác nhau trên thế giới (trong đó có Đông Nam Á), nghiên cứu vai trò của đạo Phật trong các phong trào giải phóng dân tộc xưa và nay v.v
Trên cơ sở các công trình nghiên cứu của những người đi trước, thông qua đề tài này mong muốn của chúng tôi là tập hợp lại một cách có hệ thống
về sự lan toả của đạo Phật đến các khu vực khác nhau trên thế giới Đồng thời thử phân tích đánh giá những đặc trưng, đặc điểm chung của đạo Phật ở Đông Nam Á (trong đó có Việt Nam ), một điều mà các công trình nghiên cứu đó đề cập còn rất ít
Mặt khác, hiện nay với sự phát triển của nền kinh tế đất nước, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, văn hoá, tư tưởng trở thành nhu cầu
Trang 2bức thiết Đáp ứng những nhu cầu đó Đảng và nhà nước ta luôn chú ý, coi trọng việc xây dựng phát triển văn hoá tư tưởng đậm đà bản sắc dân tộc, chú ý tới các tôn giáo nói chung trong đó có đạo Phật Sở dĩ chiếm được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta bởi đạo Phật là một trong những tôn giáo có ảnh hưởng lâu dài nhất, sâu sắc nhất, gắn bó và hoà quyện vào văn hoá chung của dân tộc Việt Nam Tìm hiểu và nghiên cứu tôn giáo nói chung và đạo Phật nói riêng nó sẽ có ý nghĩa thực sự trong việc xây dựng nền văn hoá tư tưởng đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc
Xuất phát từ những yêu cầu, mong muốn trên chúng tôi mạnh dạn chọn
tiểu luận tốt nghiệp của mình là “Quá trình lan toả của đạo phật và đặc điểm
của nó ở khu vực Đông Nam Á” Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Bùi
Văn Hào đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành khoá luận này
2 Lịch sử vấn đề
Đạo Phật luôn là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, chú ý, trở thành đề tài của rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học Chính vì vậy, đạo Phật đã trở nên khá quen thuộc đối với chúng ta Các tác giả trong và ngoài nước, từ các góc độ khác nhau đã đề cập tương đối toàn diện, chi tiết về sự ra đời, giáo lý đạo Phật, giới luật đạo Phật v.v
Nhưng cho đến nay, bức tranh chung về sự lan toả của đạo Phật đến các khu vực khác nhau trên thế giới cũng như tình hình đạo Phật ở Đông Nam Á chưa có một tài liệu đề cập một cách trọn vẹn và có hệ thống, mặc dù có không ít công trình nghiên cứu đề cập đến từ những góc độ khác nhau
Cuốn sách, “Mười tôn giáo lớn trên thế giới” của tác giả Hoàng Tâm
Xuyên đã làm rõ hoàn cảnh ra đời của đạo Phật; Sự xác lập và phát triển giáo lý
cơ bản; Sự truyền bá đạo Phật ra các nơi trên thế giới và tình hình phát triển đạo Phật ngày nay; Đặc biệt tác giả đi sâu vào nghiên cứu Phật giáo ở Trung Quốc
Báo cáo khoa học của Minh Chi có đề cập đến một vài đặc điểm của Phật
Trang 3Vai trò lớn của đoàn thể người tu hành; Tính chất tượng trương đơn giản của
lễ nghi đạo Phật Đông Nam Á Song chưa đi sâu vào phân tích, mới dừng lại
ở việc khái quát, sơ lược những ý chính
Cuốn “Lịch sử nhà Phật”, tác giả Đoàn Trung Còn cũng đã đề cập tới sự
truyền bá của đạo Phật ra một số nước bên ngoài như Xây Lan, Tây Tạng, Trung Quốc, Nhật Bản, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Cămpuchia, Việt Nam Tuy nhiên tác giả mới đề cập một cách chung chung về quá trình truyền bá, sự ảnh hưởng của đạo phật ở những nước này
Ngoài các tác phẩm, công trình ngiên cứu trên, còn có rất nhiều các bài báo viết trên các tạp chí nghiên cứu về đạo Phật ở Đông Nam Á
Từ những tài liệu đã được tiếp cận, chúng tôi mạnh dạn chọn, đi sâu vào
tìm hiểu, nghiên cứu “Quá trình lan toả của đạo Phật và đặc điểm của nó ở
khu vực Đông Nam Á” Hy vọng, trong tương lai vấn đề này sẽ được nhiều
Phạm vi nghiên cứu được giới hạn bởi việc tìm hiểu “Quá trình lan toả
và đặc điểm của nó ở khu vực Đông Nam Á” Tuy nhiên để độc giả hiểu thêm
về đạo Phật cũng như nhằm trình bày một cách có hệ thống hơn chúng tôi có
đi vào khái quát quá trình ra đời của đạo Phật Nội dung giáo lý và phát triển bước đầu của nó
Như vậy, đề tài được xác định, giới hạn trong khoảng thời gian từ thế kỷ
VI TCN cho đến trước thế kỷ XIX Không gian nghiên cứu của đề tài chủ yếu
là Ấn Độ, khu vực Đông Nam Á và một số nước khác trên thế giới như Trung Quốc, Nhật Bản v.v
Trang 4Việc giới hạn đề tài trong phạm vi như vậy sẽ giúp chúng tôi có điều kiện tập trung nghiên cứu sâu hơn, nhằm mang đến cho người đọc những hiểu biết
về quá trình lan toả cũng như đặc điểm của đạo Phật ở khu vực Đông Nam Á
Đó cũng là mục đích cuối cùng đề tài cần đạt được
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong số những đề tài nghiên cứu khoa học như: kinh tế, chính trị, giáo dục, tôn giáo, tư tưởng v.v., thì tôn giáo nói chung và đạo Phật nói riêng là một vấn đề khá trừu tượng, phức tạp Vì vậy thực hiện đề tài này chúng tôi chủ yếu sử dụng phương pháp lôgic lịch sử Ngoài ra trong quá trình nghiên cứu chúng tôi kết hợp sử dụng một số phương pháp khác như: phưng pháp so sán, thống kê v.v.,
5 Nội dung nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu của đề tài bao gồm hai nội dung chính:
Nội dung thứ nhất: Quá trình lan toả của đạo Phật
Nội dung thứ hai: Đặc điểm của đạo Phật ở Đông Nam Á
6 Bố cục của đề tài
A Dẫn luận
B Nội dung
Chương 1 Vài nét khái quát về đạo Phật
1.1 Sự ra đời của đạo Phật
1.2 Giáo lý cơ bản của đạo Phật
1.3 Sự phát triển bước đầu
Chương 2 Quá trình lan toả của đạo Phật đến khu vực Đông Nam Á
3.1 Khu vực chịu ảnh hưởng của đạo Phật Tiểu thừa (khu vực Nam truyền) 3.2 Khu vực chịu ảnh hưởng của đạo Phật Bắc thừa (khu vực Bắc truyền)
Chương 3 Đặc điểm của đạo Phật ở Đông Nam Á
3.1 Đặc điểm1: Các tông phái chính của đạo Phật ở Đông Nam Á trong
Trang 53.2 Đặc điểm 2 Vai trò lớn của đoàn thể người tu hành
3.3 Đặc điểm 3.Tính chất đơn giản, tượng trơng của lễ nghi đạo Phật Đông Nam Á
C Kết luận
Tài liệu tham khảo
B Nội Dung
CHƯƠNG 1
VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ ĐẠO PHẬT
1.1 Sự ra đời của đạo Phật
Như đã trình bày, đạo Phật là một trong các tôn giáo lớn trên thế giới, ra đời ở Ấn Độ cổ đại vào thế VI - TCN Từ khi ra đời cho tới sau này, trải qua biết bao thăng trầm lịch sử, gặp không ít khó khăn do thay đổi kinh tế, chính trị, xã hội lẫn sự tiến bộ của khoa học kỷ thuật v.v Tất cả những gì thuộc về đời sống tâm linh, những tư tưởng mang tính phi lý, lạc hậu, phản khoa học phải tự đào thải, u mờ trước thay đổi lịch sử, sự văn minh của loài người Tuy nhiên với tuổi đời gần 2500 năm, đạo Phật vẫn tồn tại sừng sững như một cây
cổ thụ, thu hút trên vài trăm triệu người tin theo và có mặt ở nhiều quốc gia trên khắp các châu lục Mỗi một người dân Ấn Độ họ đều rất đỗi tự hào vì đã sản sinh ra đạo Phật Vậy đạo Phật ra đời như thế nào ?
1.1.1 Hoàn cảnh ra đời:
Trong thời kỳ lịch sử cổ trung đại Ấn Độ là một quốc gia lớn nằm ở khu vực châu Á, có lịch sử lâu đời Ấn Độ được xem là cái nôi của nền văn minh nhân loại, xứ sở của các tôn giáo, triết học Có thể nói, nơi đây đã có mặt hầu hết các tôn giáo lớn trên thế giới như đạo Hinđu (Ấn Độ giáo), đạo Ixlam (Hồi giáo), đạo Phật, đạo Thiên Chúa… Mỗi tôn giáo ra đời được đánh dấu một điều kiện lịch sử, xã hội khác nhau Tuy nhiên trong đó đạo Phật được
Trang 6xem là một trong những tôn giáo lớn và đã lan toả ra nhiều khu vực xung quanh trở thành tôn giáo chính thống của nhiều quốc gia
Đến thế kỷ III - TCN, nền kinh tế Ấn độ đã phát triển ở mức độ nhất định Nhiều thành phố đã được dựng lên như Pataliputơra, Vasali v.v., ngoài nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương mại đã tạo nên sự sung túc trong kinh tế Chính sự sung túc trong kinh tế đưa lại (dĩ nhiên không phải cho toàn
bộ xã hội) mà chỉ một số tầng lớp nào đó có điều kiện suy ngẫm tư duy
Cùng với sự phát triển kinh tế, thì trong xã hội ách áp bức bóc lột ngày càng nặng nề, đã làm cho mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt hơn bao giờ hết Cuộc sống xa hoa nhung lụa của đẳng cấp bên trên giàu có (Bàlamôn, Xatơrica) đối lập với sự nghèo khổ của các đẳng cấp bên dưới Thế giới quan truyền thống đã khủng hoảng, niềm tin vào sự vững chắc của chế độ đẳng cấp
do chính thần Brahma lập ra bị lung lay Sự ẩn cư tu hành khá phổ biến (kể cả các tầng lớp vương công, vũ sĩ), đã làm cho xã hội mất sự cân bằng, cuộc sống con người bị xáo trộn
Trước khi đạo Phật ra đời các tín ngưỡng cũ của người dân Ấn Độ đã bị suy vi, trong đân chúng có tâm trạng hoài nghi, hỗn loạn về mặt tinh thần Chủ nghĩa hưởng lạc (hay khoái lạc) đã đẻ ra cho xã hội một tầng lớp ăn không ngồi rồi Mặt khác, cũng đã xuất nhiều tư tưởng Triết học và, tôn giáo trước Phật giáo hàng thế kỷ như chủ nghĩa vô thần, duy vật đã có mặt
Cũng vào thời gian này ( khoả thế kỷ VI - TCN) một tôn giáo mới đã xuất hiện đạo Jaina (Jai na giáo) Người sáng lập là Vácđamana, vốn là một hoàng tử đã từ bỏ cuộc sống trong cung điện để tìm đường tu luyện Sau 12 năm sống khổ luyện, Ông đã đắc đạo và trở thành Đấng giác ngộ, được tôn là Mahavira (người anh hùng vĩ đại) Nguyên lý cơ bản của đạo Jaina là sự tu hành khổ luyện, không giết hại sinh linh, sống bình đẳng, không phân biệt đẳng cấp Đạo Jaina đưa ra khái niệm “Tam bảo” (ba phép quý) gồm có: Lòng
Trang 7tin đúng đắn, nhận thức đúng đắn, hạnh kiểm đúng đắn và năm điều răn: Không sát sinh không nói dối, không trộm cắp, không gian dâm, không dữ của riêng Đạo Jaina đề cao khái niệm Ahíma (không mưu hại sinh linh), mở rộng thành chủ nghĩa khổ hạnh trong cách ăn, cách mặc và tuyệt thực có khi đến chết Về lý thuyết đạo Jaina có phần gần gũi với đạo Phật Tuy nhiên, đạo Jaina chưa thực sự gây được tiếng vang lớn, chưa giảm bớt được tình trạng hỗn loạn trong xã hội lúc bấy giờ Trong bối cảnh lịch sử, xã hội Ấn Độ lúc bấy giờ đạo Phật ra đời
1.1.2 Sự ra đời của đạo Phật
Vào khoảng thế kỷ VI - TCN đạo Phật ra đời tại Ấn Độ Người sáng lập
là Xíchđácta Gôtama (Siđharta Gautama), là một hoàng tử con vua Sutđôđana nước Kapilavaxtu ở chân núi Hymalaya Ngoài tên tục như trên ông còn có tên gọi khác là Thíchca Mâuni (Shakya - Muni), nghĩa là vị minh triết của xứ Shakya và tên Như lai (Tathagata), Nghĩa là người nắm được chân lý
Sự ra đời đạo Phật gắn liền với con người và công lao Thíchca Mâuni Nói về sự ra đời của Đức Phật nhiều truyền thuyết, kể lại một cách sống động
và ly kỳ về cuộc đời ông Các truyền thuyết và các tác phẩm cổ kể lại rằng: Đức Phật đã qua 457 tiền kiếp khi đầu thai làm con vua Xakya thì Đức Phật là con voi trắng 6 ngà Một hôm, hoàng hậu Maia - Vợ vua Sutđôđana, đi ba vòng quanh giường rồi húc nhẹ vào sườn bên phải như chui vào bụng bà Thế
là hoàng hậu có thai Sau mười tháng, bà sinh ra hoàng tử Ông ra đời như người bước xuống cầu thang, sạch sẽ như một viên ngọc Khi Phật ra đời
“Ánh sáng rực rỡ hiện ra trên trời bỗng nghe được, người què bỗng đi được - Các vị thần trên trời cúi xuống nhìn Vừa mới lọt lòng mẹ, hoàng tử đã đứng dậy ở tư thế của người đang thuyết pháp từ trên trời bước xuống” Khi Đức
Phật được rước về cung, một nhà tiên tri, hiền triết với bản lĩnh thông minh hơn người, ông đã nhận thấy ở đứa bé khí chất khác thường nên tiên đoán
Trang 8rằng “đây là một vị cứu tinh” vừa giáng thế Vua cha rất mực cưng chiều và
muốn tránh cho con những điều phiền toái của kiếp người Ông cố tình cho hoàng tử sống trong cảnhg hết sức xa hoa, tráng lệ với yến tiệc và đông đảo người hầu hạ Tuy nhiên từ cuộc sống xa hoa, lụa là gấm vóc, yến tiệc của cung đình đã không làm cho ông vui mà càng làm tăng thêm nỗi đau buồn trong ông Buồn chán cảnh giàu sang, phú quý, cảm thông nổi khổ con người
đã khiến ông nhiều lần tìm cách trốn ra khỏi hoàng cung để tìm hiểu cuộc sống bên ngoài
Trong những lần trốn ra ngoài hoàng cung ông đã gặp nhiều cảnh tượng khiến ông suy nghĩ: lần thì thái tử gặp một người già nua lọm khọm; lần thì gặp một người ốm, đang đau đớn rên rỉ; lần thì thấy những người chết, những người thân thiết đem đi chôn, khóc lóc thảm thiết Trông thấy những cảnh đau khổ, khổ đau của người đời, ông thấy lòng buồn sầu vô tận Lần sau cùng, thái
tử ra ngoài cửa thành gặp một nhà tu hành, hìmh dáng đoan trang, vẻ mặt nghiêm nghị, thái tử hiểu rằng chỉ có sự tu hành mới giải thoát được mọi sự đau buồn, khổ nảo ở trần gian
Năm 29 tuổi Phật xuất gia tu hành Nói về nguyên nhân xuất gia tu hành của Phật, đa số cho rằng người cảm thấy nổi thống khổ của sinh, lão, bệnh, tử trên trần thế, mong tìm thấy sự giải thoát về tinh thần và người quyết ra đi tìm
sự giải thoát đó
Rời cung điện, Ông tiến lên phía bắc về miền núi tuyết rồi tìm gặp các danh nhân học đạo, cắt tóc và trở thành một nhà sư Sau gần sáu năm trời tu hành khổ hạnh, nhịn ăn, nhịn mặc khiến cho thân hình tiều tụy, da bọc lấy xương, nhiều lúc tưởng như sắp chết, vậy mà cũng chẳng được cái “đạo” của cuộc sống, không tìm ra được chân lý cứu khổ cho đời Bỗng nhiên ông chợt
nghĩ rằng: “Ta tu khổ hạnh như thế này mà không thấy rõ đạo thì cách tu của
ta vẫn chưa phải” và người đã trở lại cuộc sống bình thường Ngài xuống
Trang 9sông Ni Liêu Thiền tắm rửa cho sạch cáu ghét trong bao năm qua, sau gặp một người con gái chăn bò đem sữa đến dâng ngài Ngài ăn xong, thân thể tinh thần dần dần khôi phục lại được như trước Sau ngài đến Phật Bà Đa Gia (Buddhagava), tới dưới gốc cây Tất Ba Gia (cây bồ đề), rãi cỏ cát tường ngồi kết già phu, hướng về phương đông, thân thể trang nghiêm một mối chính
niệm, lặng yên suy nghĩ, tự phát nguyện rằng: “Ta nay nếu không chứng được
đạo Vô thượng Bồ đề, thì thà để cho nát cái thân này, chứ quyết không đứng dậy” [7;23]
Sau 49 ngày thiền định dưới gốc cây Bồ đề ông chìm đắm trong vòng sinh tử, tử sinh luẫn quẩn của kiếp người và ông đã đắc đạo Ngài đã thành được ngôi vô thượng chính giáo, lúc này ông 35 tuổi Đắc đạo rồi, Ngài đi thuyết pháp và truyền bá tư tưởng của mình
Suốt 40 năm trời truyền đạo, lúc đầu ở vườn Lộc Dã (gần Benres) và cuối cùng đã đến vườn cây gần thành Curigagara rồi mất tại đó (sách Phật gọi là viên tịch hay gọi là nhập vào cõi niết bàn) Sau khi Phật tổ mất, các tăng đồ đã tập hợp những giáo lý mà ông truyền dạy thành Pitaca và sau đó đạo Phật đã cùngg với các tín đồ của mình theo nhiều hướng với nhiều con đường khác nhau đi đến nhiều khu vực khác nhau trên thế giới
1.2 Giáo lý cơ bản của đạo Phật
Nội dung chủ yếu của học thuyết đạo Phật được tóm tắt trong câu nói của
Phật Thích Ca “Trước đây và ngày nay ta chỉ lí giải và nêu ra cái chân lí về
nỗi đau khổ và sự giải hoát khỏi nổi đau khổ”, “Cũng như nước đại dương chỉ
có một vị là mặn, học thuyết của ta chỉ có mục đích là cứu vớt” [21;199]
Cái chân lí về nỗi đau khổ và sự giải thoát khỏi nổi đau khổ ấy được thể
hiện trong thuyết “Tứ diệu đế” (Bốn chân lí huyền diệu) gồm: khổ đế, tập đế,
diệt đế và đạo đế
Trang 10- “Khổ đế”: Là chân lí nói về nỗi khổ của người đời, đạo Phật cho rằng:
Đời là bể khổ, nổi khổ là một phần của cuộc sống, là cái tuyệt đối trong đời người Đối với con người ngoài khổ đau không còn tồn tại nào khác Con người có 8 nổi khổ: Sinh, lão, bệnh, tử, gần kẻ mình không ưa, xa người mình
yêu, cần mà không được, giữ lấy 5 uẩn Phật nói rằng: “nước mắt chúng sinh
nhiều hơn nước đại dương”
- “Tập đế”: Là chân lí nói về nguyên nhân của nổi khổ Nguyên nhân của
sự khổ là do “dục vọng vô hạn của con người Phật tổ giải thích nguyên nhân
sâu xa của sự đau khổ là do “Thập nhị nhân duyên” ( mười hai nhân duyên)
và mười hai nhân duyên này tạo ra chu trình khép kín trong mỗi con người ( kiếp luân hồi): Vô minh; Hành; Thức; Danh sắc; Lục nhập; Xúc; Thụ; Ái; Thủ; Hữu; Sinh; Lão:
- “Diệt đế”: Là phương pháp diệt trừ nổi khổ, đạo Phật cho rằng muốn
thoát khỏi bể khổ trầm luôn thì phải biết tiêu diệt, phải bãi bỏ lòng ham muốn
vô chừng Nguồn ngốc sâu xa của sự khổ não là sự vận hành “Thập nhị nhân
duyên” mà khởi đầu là “vô minh” Con người muốn diệt khổ phải đi tìm gốc
rễ gây nên sự vận động của mười hai nhân duyên, phải bắt đầu từ diệt trừ “vô
minh” để không kéo theo hành động tạo ra “nghiệp” nữa, và nổi khổ được
chấm dứt
- “Đạo đế”: Là chân lí chỉ ra con đường diệt khổ Muốn đạt đến sự giải
thoát, xó bỏ mọi nổi khổ thì phải tu dưỡng theo con đường ngay thẳng Con đường diệt khổ, giải thoát và giác ngộ đòi hỏi phải rèn luyện đạo đức (giới):
Tư tưởng (Định) và khai sáng trí tuệ (Tuệ) Ba môn học này được cụ thể hoá
trong khái niệm “Bát chính đạo” (tám con đường chân chính) Đó là: Chính
ngữ, chính nghiệp, chính mệnh, chính niệm, chính định, chính kiến, chính tư duy, chính tịnh tiến Dù sao, bát chính của Phật tổ không có gì là thần bí cả, không theo một quy phạm tôn giáo nào Phật tổ không nhắc đến thượng đế
Trang 11hay một thế giới khác Ông chỉ dựa vào lẽ phải, lôgic cùng kinh nghiệm, khuyên người ta hãy tìm chân lý ngay trong tâm trí mình Tự mình giải thoát
mình đó chính là chủ trương của Phật tổ “Người phải là hòn đá của chính
mình, chớ tìm nơi chú ẩn ở chỗ khác Hòn đảo của người, nơi chú ẩn của người phải là chân lý” ấy là chân lý của đạo Phật mà mọi người phải tự mình
nhận thức thì mới được giải thoát
Đạo Phật quan niệm tất cả mọi sự vật trong vũ trụ và thế giới đều có sinh,
có diệt, đều biến hoá, không có cái gì là bất biến ( vô ngã vô thường)
- “ Vô tạo giả”: Đạo Phật cho rằng thế giới là thế giới vật chất, bản thân vũ
trụ cũng như các sự vật, hiện tượng trong vũ trụ, không phải do một đấng thần linh nào tạo ra bằng những phép màu nhiệm mà được tạo nên bằng những phần vật chất nhỏ bé nhất của vũ trụ Đây chính là nội dung cơ bản mà đạo Phật chống lại đạo Bà la môn và cũng là điểm khác biệt rõ nét giữa đạo Phật với đạo Do Thái, đạo Kitô, đạo Ix lam
- “Vô thường”: Trong vũ trụ bao la mọi sự vật, hiện tượng không đứng
yên, bất biến mà luân luân vận động, biến đổi theo chu trình: Thành, trụ, hoại, không (đối với các loài vô tình), nghĩa là, quá trình phát sinh phát triển (trưởng thành), hư hoại và tan rã
- Quy luật nhân duyên: Đạo Phật nhấn mạnh tính nhân quả của hành động con người trong một kiếp sống và trong nhiều kiếp sống nối tiếp nhau (luân hồi) Những hành động của con người trong kiếp này sẽ để lại hậu quả cho kiếp sau, nổi sướng khổ ở kiếp này là do quả báo của kiếp trước Phật tổ cho
rằng: “Tất cả các sinh vật đều không thoát khỏi sự sinh tử, tử sinh và không
thể thoát khỏi chuổi khổ đau mà tất yếu phải gánh chịu” Chết không phải hết
mà trái lại để chịu những cái khổ mới Đạo Phật chủ trương lòng khoan dung, tinh thần bất bạo lực, sự cống hiến và lòng thông cảm, đề cao lòng từ bi bác ái
Trang 12của con người đối với đồng loại Quan hệ bình đẳng chống lại sự phân biệt đẳng cấp, khuyên dăn con người làm điều thiện, tránh điều ác
Để được giải thoát, con người phải tuôn thủ một số điều luật gồm có “ngũ
giới” và “thập thiện”
- “Ngũ giới”: 5 điều răn cấm :
+ Không sát sinh
+ Không trộm cắp
+ Không nói dối
+ Không uống rượu
- “Thập thiện”: Là mười điều thiện cần làm, gồm:
+ 3 Điều thiện về thân: Không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm + 4 Điều thiện về khẩu: Không nói dối, không nói hai chiều, không nói điều ác, không nói thêu dệt
+ 3 Điều thiện về ý: Không tham lam, không dận dữ, không tà kiến Như vậy là, về thế giới quan, tuy đạo Phật ban đầu chủ trương vô thần (vô tạo giã) nhưng chung quy vẫn là vô tâm chủ quan
Về mặt xã hội, đạo Phật không quan tâm đến chế độ đẳng cấp Vì đạo Phật cho rằng, nguần gốc xuất thân của con người không phải là điều kiện để được cứu vớt Mọi người, dù thuộc đẳng cấp nào một khi đã tu hành theo học thuyết của Phật thì đều trở thành thành viên bình đẳng của tăng đoàn
Bên cạng đó, đạo Phật mong muốn có một xã hội trong đó vua thì có đạo đức và dựa vào pháp luật để trị nước, không được chuyên quyền độc đoán, còn nhân đân thì được an cư lạc nghiệp
Như vậy, đạo Phật ban đầu là một học thuyết khuyên người ta phải từ bỏ ham muốn, tránh điều ác làm điều thiện để được cứu vớt chứ không thừa nhận thượng đế và các vị thần bảo hộ Do đó, không cần nghi thức cúng bái và cũng không có tầng lớp thầy cúng
Trang 131.3 Sự phát triển bước đầu của đạo Phật
Như đã trình bày, vào thế kỷ VI - TCN đạo Phật ra đời trên mảnh đất Ấn
Độ Đạo Phật ra đời khi mà Đạo Bàlamôn đang rất phát triển và sự tồn tại dai dẳng của chế độ đẳng cấp Vácma, lấy tôn giáo đó làm cơ sở tư tưởng Với nội dung chủ yếu là đề cao lòng từ bi của con người với đồng loại, đạo Phật ra đời như một đối trọng, phản đề đối với Bàlamôn giáo và chế độ đẳng cấp Điều
đó có nghĩa là trái với ý muốn với giai cấp thống trị Vì thế, giới cầm quyền lúc đó đánh giá đạo Phật như là một trào lưu tư tưởng phi chính thống, ngoại đạo
Mặc dù vậy, do tính chất giáo lý của mình, tinh thần bác ái bình đẳng, không vụ lợi với những ý đồ đen tối hay mưu cầu một tư lợi nào mà chỉ nhằm đem lại lợi ích, an lạc cho con người không giống như Bà la môn luân bằng hình thức trấn áp, bóc lột Do đó, ngay từ khi mới xuất hiện, đạo Phật nhanh chóng được nhiều tầng lớp trong xã hội Bắc Ấn đến với Ngài, từ đẳng cấp Vương công, vũ sĩ đến quần chúng nhân dân tin theo, từ bỏ việc ác, sống với việc lành, làm cho đạo Phật ngày một phát triển bởi tín đồ theo ngày thêm đông
Sỡ dĩ quần chúng nhân dân tin theo, không phải vì họ đã thấu hết những điều tốt đẹp trong giáo lý của đạo Phật, mà vì lúc này con người hầu như đi vào con đường cùng quẫn, bế tắc Đúng vào lúc đó thì đạo Phật đã xuất hiện
và vẽ ra thiên hướng giải thoát cho con người
Lúc này, không chỉ quần chúng nhân dân tin theo mà giai cấp cầm quyền trong triều đình như vua chúa, quan lại, một mặt nhận thức lại thấy đạo Phật không phương hại gì đến quyền lợi của mình, mặt khác cũng muốn mượn phong trào quần chúng để lật đổ uy thế của đẳng cấp tăng lữ Bàlamôn, nên đã
có không ít người tôn sùng đạo Phật Tiêu biểu trong số các ông vua sùng đạo Phật như hoàng đế Axôca nổi tiếng (273 – 237) TCN) đã có công tôn đạo
Trang 14Phật thành quốc giáo Với ưu điểm của giáo lý cùng với vai trò của Axôca, các học trò Phật tổ tuyên truyền đạo Phật đã trở thành một tôn giáo, có chùa chiền, có thờ cúng, có cả một phật điện ngày thêm đông Phật tổ - nhà lập thuyết - vị hiền triết hoá thầnh vị Phật cứu thế, cứu khổ, cứu nạn, đưa con người ra khỏi bể khổ trầm luôn, rước người vào cõi niết bàn Đó là một thế giới cực lạc khác với thế giới khổ ải lúc bấy giờ
Được đông đảo mọi người tin theo cũng như sự giúp đỡ của các vị vua chúa nên thời kỳ đầu Phật giáo phát triển đến đỉnh cao, vào thế kỷ III – TCN, đạo Phật trở thành quốc giáo ở Ấn Độ Vị vua Axôca ở Magađa trở thành người đỡ đầu cho đạo Phật Những năm cuối thế kỷ IV - TCN, sau khi đã đánh đuổi quân xâm lược Hy Lạp, các vua đầu triều đại này vốn xuất thân từ đẳng cấp thấp nên không thể và không muốn dựa vào quý tộc Bàlamôn và Bàlamôn giáo Vì đó là giai cấp giàu có đại diện cho tầng lớp trên của xã hội
Ấn Độ lúc bấy giờ Cho nên họ muốn sử dụng một tôn giáo mới tập chunng,
có tổ chức và không liên hệ với tôn giáo địa phương khác để làm cơ sở tư tưởng cho một nhà nước tập trung, từ những lý do đó đã đưa họ đến gần với đạo Phật Khi tin theo rồi bản thân họ lại nhận ra rằng, giáo lý của đạo Phật theo người ta không chống lại cái ác, nhẫn nhục Chính điều đó lại có lợi cho giai cấp thống trị và họ đã nắm bắt lấy như một thứ vũ khí lợi hại để cai trị quần chúng nhân dân
Đến thế kỷ I trước công nguyên, sau khi chiếm được miền Tây Bắc Ấn
Độ, người Cusan đã thành lập nên nhà nước của mình Vốn là người ngoại tộc nên các ông vua triều đại này đã lấy đạo Phật làm chỗ dựa, họ tìm cách nâng
đỡ đạo Phật như tiến hành xây dựng nhiều chùa chiền, tăng viện v.v Đạo Phật thời kỳ này còn phát triển và truyền bá rộng rãi hơn thời kỳ trước Có công lớn trong việc phát triển đạo Phật thời đại này là Vua Kaníha (73 - 123)
Trang 15Những biến đổi đạo Phật diễn ra trên hai hướng Ở hướng thứ nhất, các Cao tăng và lãnh đạo giáo hội Phật giáo đã làm phức tạp hoá, tăng cường mặt siêu hình của đạo Phật Ở hướng thứ hai, cùng với sự truyền bá ra bên ngoài Tại xứ sở có sắc áo cà sa và mái chùa Phật giáo đã diễn ra sự thích nghi của giáo lý đạo Phật với các tín ngưỡng Đạo Phật trở thành tôn giáo thế giới
Xu hướng hoàn chỉnh và phát triển của giáo lý đạo Phật được trải qua nhiều lần đại hội, đại hội đạo Phật (gọi là hội nghị kết tập) Thông qua các đại hội đó giáo lý của đạo Phật được tập hợp, chỉnh lý và phát triển
Sau khi đức Phật diệt độ không lâu, mầm mống của những ý kiến bất đồng về những lời Ngài dạy dần dần nảy sinh trong giáo hội Với vai trò là trưởng tử của Đức Phật, Tôn giả Đại Ca Diếp đã khẩn cấp triệu tập Phật tập kinh điển lần thứ nhất
Hội nghị kết tập lần một được tổ chức tại thành Vương Xá 438 - TCN, với sự tham gia của 500 đại biểu tăng ni đã hợp lại trong tháng 7, để ôn lại những lời thuyết pháp và sinh hoạt thường nhật của Đức Phật cùng thánh chúng đệ tử của Ngài Ở hội nghị này đã hình thành kinh (giáo lý Phật) và luật (kỷ luật tu hành)
Sau đại hội Phật giáo lần thứ nhất khoảng 100 năm Hội nghị kết tập kinh điển lần thứ hai diễn ra Hội nghị kết tập kinh điển lần này thu hút 700 tăng
ni, tổ chức tại thành Phệ xá hi Mục đích của Hội nghị kết tập thứ hai nhằm thảo luận thêm tính chính thống của hai tập kinh, luật Phật dạy, không để cho các học thuyết ngoại đạo trà trộn vào Tại Hội nghị kết tập lần này đã có sự phân hoá về tổ chức giáo hội mà cụ thể là việc thành lập Đại chúng bộ của một số tăng ni, không tán thành với những người chủ trì hội nghị kết tập lần hai Như vậy đến hội nghị kết tập lần hai đã có sự phân hoá về tổ chức giáo hội
Trang 16Hội nghị kết tập lần thứ 3: Được tổ chức vào năm 253 - TCN, dưới thời Axôca, tại kinh đô Pataliputra, với sự tham gia của 1000 vị tăng ưu tú Hội nghị này, ngoài sự kết tập về kinh và luật tạng, của giáo hội, đồng thời đặt ra kinh kệ và các nghi thức cúng bái Với hội nghị kết tập lần thứ 3 này, lần đầu tiên, Tam tạng thánh điển hình thành
Hội nghị kết tập kinh điển lần thứ 4 diễn ra vào thời vua Caisăcca (kaníhka), (vào khoảng năm 100 sau công nguyên), tại nước Cusan ở Tây Bắc
Ấn Độ Tham ra hội nghị có tới 500 học giả tinh thông tam tạng thanh giáo từ khắp nơi trong nước Tại hội nghị này, các đại biểu chỉnh lý một lần nữa tất cả các văn bản của tam tạng khoảng gần 30 vạn bài Vua Canisacka đã ra lệnh khắc toàn bộ các bài này lên những lá đồng và công việc khác này được tiến hành rộng rãi trong mười hai năm trời và được lưu giữ nghiêm ngặt trong các bảo tháp Tiếp theo các hội nghị kinh điển lần thứ tư, các tín đồ Phật giáo còn
tổ chức nhiều hội nghị kết tập lần 5, 6, 7 v.v
Bằng những lần kết tập kinh điển Phật giáo nó có vai trò hết sức to lớn trong việc san định, hoàn chỉnh và phát triển giáo lý đạo Phật Mặc dù san định, hoàn chỉnh và phát triển giáo lý đạo Phật nhưng các đại hội này không làm được việc giữ vững sự thống nhất của các tôn giáo này Và từ đó xuất hiện nhiều môn phái Người ta ước định có khoảng 30 môn phái với những quan niệm không giống nhau Sự chia rẽ sâu sắc nhất phát sinh từ thể kỷ I, đó
là sự phân chia thành Phật giáo Đại thừa và Tiểu thừa
Ở Phật giáo Đại thừa và Tiểu thừa có một điểm chung là đều lấy tam bảo: Phật, pháp, tăng làm cơ sở chủ thuyết, còn sự khác nhau giữa hai phái là ở phương tiện và phương pháp tu luyện
Phái Tiểu thừa ( Hyayana): Nghĩa Là “Cổ xe nhỏ”- hay “con đường nhỏ
của sự cứu vớt’’ cho rằng chỉ những người xuất gia đi tu mới được cứu vớt
Tiểu thừa mang tính chất là một tông phái Phật giáo truyền thống, bảo vệ sự
Trang 17nghiêm ngặt của giáo quy, bám sát các giáo điều của đạo Phật nguyên thuỷ
Từ đó phái Tiểu thừa chủ trương “tự độ tự tha’’ tức là người theo phái Tiểu
thừa tự giác ngộ, tự giải thoát cho bản thân mình Phái Tiểu thừa cũng quan niệm, cho rằng đời này chỉ có một vị Phật duy nhất là Phật Thích Ca và cũng chỉ duy nhất Phật Thich Ca mới có thể cứu độ được cho chúng sinh, trong bàn thờ chỉ thờ duy nhất Phật Thích Ca Phái này chủ trương tu luyện giải thoát theo quy mô nhỏ, ở từng cá nhân, nhấn mạnh phần tự giác với mục tiêu là các AnHat ( La Hán) và chỉ những người xuất gia mới trở thành Phật
Phái Đại Thừa( MaHaYana) nghĩa là “cổ xe lớn’’ hay “con đường lớn của
sự cứu vớt ’’ Đại Thừa được coi là tôn giáo cách tân, mở nhiều cái mới hơn
so với đạo Phật nguyên thuỷ Khác với Tiểu thừa, Đại thừa cho rằng không chỉ những người tu hành mà cả những người trần tục quy y theo Phật cũng
được cứu vớt Từ quan niệm đó, phái Đại Thừa chủ trương “tự độ tự tha, tự
giác giác tha ” nghĩa là người theo Phật giáo Đại Thừa không chỉ giác ngộ,
giải thoát cho mình mà còn tự giác ngộ, tự giải thoát cho nhiều người khàc
Tất cả mọi người đều được lên cõi “niết bàn” bằng chính sự cố gắng của
mình
“Niết bàn” (Nirvana), đó là sự giải đáp của các tông phái Phật giáo không đồng nhất Có phái bảo rằng, đó là “trạng thái tinh thần không phiền
não”, phái khác cho rằng, đó là “trạng thái sinh hoạt thú tính” Phái khác nữa
bảo: “Niết bàn là tuyệt đối khoái lạc tinh thần”, hoặc “mọi tình dục đều chấm
dứt” hay, “vô vi tỉnh mịch” v.v Nhưng dù gì chăng nữa thì “Niết bàn” cũng
là điểm cao nhất mà ngươì tu hành cố vươn tới
Không thừa nhận sự tồn tại độc nhất của Phật Thích Ca mà phái Đại Thừa cho rằng Phật Thích Ca là Phật cao nhất, nhưng ngoài Phật Thích Ca còn có nhiều Phật khác tồn tại như Phật Adi đà, Phật Di lạc, Phật Đại dược sư v.v., tất cả đều là những đối tượng được thờ cúng Phái Đại Thừa cho rằng ai
Trang 18cũng có thể trở thành phật và thực tế đã có nhiều người đạt đến cõi Niết bàn
đó là Văn Thú Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Quan Âm Bồ Tát, Địa Tạng Bồ Tát v.v Bồ Tát là những người đã đạt được sự hoàn thiện bằng tu luyện, đáng được lên niết bàn song ở lại thế gian để cứu độ chúng sinh Trong các vị Bồ Tát đó, Quan Âm Bồ Tát được kính trọng nhất Ngoài ra, Phật giáo Đại thừa còn chủ trương giải thoát cho đông đảo nhiều người Chẳng riêng gì các cao tăng mới được giải thoát mà những người tu tại gia cũng được giải thoát Thậm chí, cũng có thuyết về thiên đường, xứ Bồng lai, do Phật Adiđà
“Amida” cai quản và bên cạnh đó là địa ngục Chốn Bồng Lai là thế giới của các vị Phật, là nơi trú ngụ linh hồn của người tuân thủ giáo quy, muốn được lên Thiên đàng phải tái sinh, tái suất một lần nữa Bên cạnh thiên đàng, phái Đại thừa còn tạo ra địa ngục với những hình phạt nghiêm ngặt cũng xuất hiện dành cho những kẻ tội lỗi, không tuân thủ giáo quy Và thế là có cả Thiên đàng, địa ngục để khuyến khích trừ ác
Từ việc thừa nhận sự tồn tại của nhiều vị Phật khác ngoài Phật tổ do đó trong điện thờ của phái Đại thừa, thờ nhiều tượng Phật khác nhau như: Phật tam thế: Chư Phật mười phương ở 3 đời: Quá khứ, hiện tại, tương lai Phật Adiđà, Quan thế âm Bồ Tát và Đại thế trí tiếp theo là tượng Phật Thế tôn (Đức Phật thích ca)
Như vậy, Phật Đại thừa đã đi rất xa các giáo lý nguyên thủy Có lẽ chính nhờ điểm này, mà sau khi Phật giáo được truyền vào Viêt Nam phái Đại thừa
đã chiếm được ưu thế
Sự phân hoá đạo Phật thành hai giáo phái chính: Tiểu thừa và Đại thừa, cùng với sự tiếp thu các yếu tố ngoại lai ở những nơi đạo Phật truyền đến đã làm cho đạo Phật trở thành một tôn giáo có tính chất quốc tế lan toả, truyền bá nhiều nơi
Trang 19CHƯƠNG 2 QUÁ TRÌNH LAN TỎA CỦA ĐẠO PHẬT ĐẾN KHU VỰC
ĐÔNG NAM Á
Với những nội dung cơ bản của giáo lý như là đề cao lòng từ bi của con người với đồng loại, chủ trương bình đẳng giữa các chúng sinh, chống lại đẳng cấp Vácna v.v Đạo Phật từng bước đi vào lòng người, như một liều thuốc ngọt được quần chúng nhân dân chấp nhận rễ ràng Giai cấp thống trị cũng nhìn thấy Phật giáo không phương hại gì đến quyền lợi của họ nên rất nhiều vua chúa, Quý tộc đã ủng hộ Phật giáo Xuất phát từ những mặt tích cực đó nên đạo Phật đã ngày một lớn mạnh và phát triển, không chỉ bó hẹp trong phạm vi đất nước nơi nó sinh ra, mà đạo Phật còn lan rộng ra nhiều nước, nhiều khu vực xung quanh
Khi Thích Ca Mâuni tạ thế, các khu vực truyền bá đạo Phật chủ yếu ở vùng trung lưu sông Hằng, đặc biệt là ở xung quanh các thành phố lớn mới nổi lên Sau khi Phật tạ thế, các đệ tử trực truyền của Ngài đã đem đạo Phật
mở rộng tới hạ lưu sông Hằng về phía Đông, phía Nam tới bờ sông Caođaveri, phía Tây tới bờ biển Arập, phía Bắc tới khu vực Thaiyro Ở thời
kỳ thống trị của Vua Axôca thuộc vương triều Maruya, đạo Phật bắt đầu phát triển tới các vùng biên giới của thứ đại lục, Đông tới Mianma, Nam tới Xri Lanca, Tây tới Xyri, Ai cập v.v, nhanh chóng trở thành tôn giáo mang tính thế giới Sau khi vương triều Cu San (Kú han) hưng khởi lại truyền tới Iran, các nơi ở trung tâm châu Á, rồi qua con đường tơ lụa truyền vào Trung Quốc, từ Trung Quốc truyền vào các nước Triều Tiên, Nhật Bản v.v
2.1 Khu vực chịu ảnh hưởng của đạo Phật Đại thừa (khu vực Bắc truyền)
Trang 20Đạo Phật truyền vào các nơi ở châu Á, đại thể có thể phân làm hai con đường Nam và Bắc Hướng Nam đầu tiên truyền vào Xrilanca từ Xrilanca truyền vào các nước Mianma, Thai Lan, Cămpuchia, Lào v.v., rồi qua con đường Mianma truyền vào các dân tộc thiểu số như Thái Lan, Băng Long, Bố Lăng v.v., thuộc tỉnh Văn Nam Trung Quốc Truyền theo con đường nay chủ yếu là đạo Phật Tiểu thừa Ấn Độ, tín thờ kinh Phật bằng tiếng Pali, do đó được gọi là đạo Phật ngữ hệ Pali
Xrilanca: Trong số những nước chịu ảnh hưởng của đạo Phật Nam truyền
thì Xrilanca là nước đầu tiên Đạo Phật truyền vào Xrilanca khoảng thời kì vua Asôca thế kỷ thứ III - TCN Theo truyền thuyết, vua Asôca đã từng phái con trai của mình là Msaidha đi Tích Lan (Xây Lan) truyền Đạo, nhận được
sự hoan nghênh của Quốc vương Tích Lan là Đêsa Trên cơ sở đạo Phật truyền Giáo truyền sang từ Ấn Độ, Đêsa đã sáng lập ra phái Đại Tự ở thủ đô Aruraddapurô Trước sau công nguyên, trưởng lão Tích Lan và tăng nhân Ấn
Độ là Hỉ Lại xây dựng nên phái Vô Uý Vào thế kỷ IV, trưởng lão Xagari, ở chùa Kì Đa Lâm lại sáng lập ra phái Kỳ Đa Lâm Như vậy, xuất phát từ ảnh hưởng của Phật giáo Ấn Độ, vào khoảng thế kỷ IV đến thế kỷ V, ba phái kể trên đồng thời cùng tồn tại, không xung đột lẫn nhau Nữa đầu thế kỷ V, Phật giáo Tiểu thừa bắt đầu được hệ thống hoá nhờ công một người tăng nhân từ
Ấn Độ đến Tích Lan
Cuối thế kỷ VI do sự ủng hộ giúp đỡ của vương thất đối với phái Đại Tự, khiến cho thế lực của phái Đại Tự có một thời rất suy yếu nay lại được phục hưng Vào thế kỷ VII, đạo Phật ở Xri Lanca đã ở vào tình trạng vô cùng tiêu điều Từ thế kỷ X đến nữa đầu thế kỷ XI, Xri Lanca bị người Ta min Ấn Độ xâm nhập, đạo Phật bị đàn áp Nửa sau của thế kỷ XI, sau khi vua Duýadabahu lên ngôi, ông sai sứ đi Mianma nghênh tiếp cao tăng tới XriLanca xây dựng lại Phật giáo Tiểu thừa, nhưng sau thế kỷ XIII lại bị sự
Trang 21xâm nhập của người Tamin, rồi sự truyền bá của đạo Ixlam và sự xâm chiếm của người Bồ Đào Nha, đạo Phật ngày càng sa vào tình trạng hấp hối Nửa sau của thế kỷ XVI, vương thất Xri Lanca lại một lần nữa phái người đi Mianma và Xiêm (Thái lan) nghênh thỉnh Phật pháp, khiến cho Phật giáo Tiểu thừa được sống lại Cuối thế kỷ XIX, Xri Lanca dấy lên phong trào cách mạng và phục hưng Phật giáo, Đạt ma Bà la đã xây dựng nên Hội Đại Bồ Đề
ở các nơi như Côlômbô và Bodh Gaya ở Ấn Độ, bảo hộ di tích Phật giáo, biên soạn kinh điển văn Pali, thúc đẩy sự phát triển đạo Phật hiện đại ở thứ đại lục Nam Á Năm 1945, sau khi Xri Lanca được độc lập, chính phủ đã thi hành chính sách duy trì và bảo hộ đạo Phật Trong đời sống chính trị, kinh tế,
xã hội đạo Phật đã có ảnh hưởng cực kỳ quan trọng Hiện nay, ở Xri Lanca có khoảng 70% số dân là giới Tănggiàla, mà trong số người Tănggiàla các môn
đồ đạo Phật chiếm khoảng 94%, phân thành ba phái Xiêm, Thượng Mianma
và Hạ Mianma Số chùa Miến trong toàn quốc có khoảng 5602 ngôi, tăng ước khoảng 2 vạn người
Như vậy, sau khi truyền đến Xri Lanca, đạo Phật đã xây dựng nơi đây một
cơ sở khá mạnh và tại đền thờ Kady, có thánh địa Phật giáo, tại đây còn giữ,
“cái răng cái mắt của Phật tổ”
Mianma: Theo truyền thuyết, thời thống trị của vua Áxôca, Ấn Độ đã cử
người tới Kim Địa truyền đạo (vùng đất Ta thung của Hạ Mianma ngày nay) Lúc đầu, Đạo Phật theo đường biển vào Mianma Sau thế kỷ V, Phật giáo Đại thừa và Phật giáo Tiểu thừa đều rất thịnh hành
Giữa thế kỷ XI, sau khi vua Anărahta thuộc vương triều Pagan thống nhất Mianma, Phật giáo Tiểu thừa XriLanca truyền vào dùng Miến văn viết nên Tam Tạng điển tịch vốn bằng văn Pali, bài xích Mật giáo, khiến cho Mianma bắt đầu trở thành quốc gia Phật giáo thuần Tiểu thừa Các vị vua thuộc vương
Trang 22triều Pagan nhiệt tâm phù trì Phật giáo, xây dựng nên hàng loạt chùa Phật,
tháp Phật, do đó được gọi là “vương triều xây chùa” {21;319}
Thế kỷ XIII mặc dù đất nước bị chia cắt thành hai vương triều Nam – Bắc đối địch nhau nhưng cả hai vương triều đều tin thờ đạo Phật Do đó đạo Phật vẫn vô cùng phồn thịnh, với nhiều ngôi chùa nổi tiếng như Chùa Vàng Cung Thụy Hải được xây dựng nên ở thời kỳ này
Tiếp nối là các vương triều Pêgu, Tungku sau khi thống nhất Nam – Bắc
đã cử người sang Xri Lanca học tập giới luật, chỉnh đốn đạo Phật và cho đúc nhiều chuông, xây chùa Sang thế kỷ XVIII, những vị vua như Pagan, Minđo Min v.v., đều tin thờ đạo Phật Họ đã xây dựng nên tháp Phật Đa lộc, tu sữa tháp Chùa Vàng, thu tập lại những văn bia đạo Phật đã thất lạc, khiến cho tín ngưỡng Phật giáo đã ăn sâu vào dân gian Từ năm 1868 đến1871, vua Min đo Min ở Alaôbada đã triệu tập các cao tăng trong toàn quốc tham gia biên tập lại và tu sửa, hiện đính TamTạng lần thứ năm bằng ngôn ngữ Pali, hơn thế còn mang toàn bộ kinh điển khắc trên 729 bia đá để lưu lại vĩnh viễn
Trong những năm chịu sự thống trị của thực dân Anh, đạo Phật vẫn kiên trì truyền thống của mình, trở thành lực lượng chỉ đạo tinh thần của phong trào dân tộc chủ nghĩa Mianma, nhiều tín đồ Phật giáo tổ chức những đoàn thể chính trị, tham gia cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm Độc lập trở lại Mianma tiến hành đại hội Phật giáo lần thứ sáu, tiến hành hiệu đính lại Tam Tạng một cách chặt chẽ bằng văn tự Pali, biên soạn thành Tam Tạng Pali mới Tháng 10 năm 1961, Unu chấp chính, đã tuyên bố đạo Phật là quốc giáo Đến đây đạo Phật có một vị trí khá lớn trong xã hội Mianma
Hiện nay, toàn quốc có 25 triệu tín đồ Phật giáo, chiếm 80% tổng số dân, chiếm 95% số dân của tộc Miến, tăng khoảng 10 vạn người, chùa viện có 2 vạn chiếc Chỉ riêng ở Pagan đã có tới 13.000 công trình lớn nhỏ và trải qua
Trang 23nhiều lần thiên tai địch hoạ đến nay vẫn còn ngần 5000 chùa tháp Không phải
ngẫu nhiên mà người ta gọi Mianma là “đất nước Chùa Vàng”
Thái Lan: Ở miền Trung Thái Lan đặc biệt là ở Nakhon PaThom đã phát
hiện nhiều di tích Phật giáo cổ như các bánh xe luân hồi bằng đá, các tấm thờ
có hịnh tượng Phật bằng đất nung v.v Điều đó chứng tỏ Phật giáo Tiểu thừa
đã có mặt ở Thái Lan rất sớm, ít nhất cũng từ những thế kỷ đầu công nguyên Theo truyền thuyết thì giữa thế kỷ XII người Thái ở vùng Vân Nam Trung Quốc di chuyển về phía Nam đã xây dựng nhà nước bộ tộc độc lập ở vùng Xu khô thai thượng lưu sông Mê Nam, nhân dân của nước này đã chịu ảnh hưởng của văn hoá Trung Quốc, tín ngưỡng Phật giáo Đại thừa
Năm 1361, vào thời thống trị của T,amarajaluTải, Quốc vương đời thứ năm của Vương triều Xu khô thai nghênh thỉnh cao tăng từ Xrilanca, truyền
bá giới luật và nghi thức của Tiểu thừa, dùng đạo Phật Tiểu thừa thống nhất, thay thế Mật giáo đang thịnh hành, kết hợp vưới Phật giáo Đại thừa Từ đó đạo Phật của Thái Lan bắt đầu phân thành phái Thuyết giáo và phái Tập thiền Giữa thế kỷ XIV, do các đời vua ADuĐàDa đều tín thờ đạo Phật Chính
vì vậy đạo Phật ở Thái Lan phát triển rất mạnh, họ một mặt đưa đạo Phật Tiểu thừa vao Căm Pu Chia và làm nhiệm vụ khôi phục lại đạo Phật ở Xây Lan khi
nó bị suy yếu Ở Xây Lan tới nay vẫn lưu lại một bộ phận thuộc về tông phái Upali, gọi là tông Xiêm
Dưới sự trị vì của dòng họ Rama, đạo Phật một lần nữa phục hồi, phát triển sau một thời gian suy yếu khi quân Mianma xâm chiếm Thái Lan Năm
1788, RamaI, đã triệu tập hội nghị Phật giáo nhằm hiệu đính Tam Tạng và biên soạn từ điển tiếng Pali Rama IV (1851 - 1868) khi chấp chính, đã tiến hành cải cách Phật giáo Rama V lúc tại vị đã từng để cho cao tăng thu tập những bản viết bằng các loại ngôn ngữ địa phương của Tam Tạng Pali ngữ, hơn nữa còn tiến hành hiệu đính, đến năm 1894 in thành sách tạng Rama VI
Trang 24và Rama VII kế tiếp đã hoàn thành sự nghiệp này Hiện nay, Thái Lan là quốc gia lấy đạo Phật làm quốc giáo Môn đồ đạo Phật chiếm khoảng 95% tổng số dân tòan quốc, tăng có 26 vạn người, chùa viện có 25.688 ngôi, chùa Phật có hơn 10 vạn ngôi, bình quân mỗi một thôn trang có một ngôi chùa
Cămpuchia: Đạo Phật truyền vào Phù Nam từ bao giờ chưa khẳng định
được Năm 503 tăng nhân Phù Nam là Tăng Già Bà La đến truyền đạo ở khu vực miền Nam Trung Quốc được Lương Vũ Đế dùng lễ tiếp đãi Tăng Già Bà
La ở Trung Quốc dịch 11 bộ kinh, trong đó đại bộ phận là kinh điển Phật giáo Đại thừa, do đó có thể biết được đạo Phật đại thừa đã sớm truyền vào Phù Nam từ trước thế kỷ VI
Cuối thế kỷ VI, Chân Lạp là thuộc quốc của Phù Nam đã vùng dậy,
chiếm Phù Nam và sáp nhập vào Chân lạp Chân Lạp “một nước sùng bái đạo
Phật và thiên thần, Thiên thần mạnh hơn, đạo Phật đứng sau”[21;324} Đạo
Phật và đạo Ấn Độ dung hợp lẫn nhau, cấu thành đạo Phật Chân Lạp có đặc trưng sùng bái Tam vị nhất thể là Phật, Liên Hoa Mục và Liên Hoa Sinh (Padmasambhava) vốn có gốc từ quan niệm Tam vị nhất thể của đạo Ấn Độ (Siva, Výhnu, Brahma)
Sau thế kỷ XII, Chân Lạp trở thành cường quốc ở khu vực Đông Nam Á, đạo Phật phát triển cũng đã đạt đến đỉnh cao Năm 1550, DhảanỉdravảmanII tại vị, lần đầu tiên đã xoá bỏ được tình trạng đạo Ấn Độ chiếm địa vị độc tôn
lâu dài ở Chân Lạp Lúc đó ở Chân Lạp “Thờ Phật kính cẩn nghiêm trang,
hàng ngày dung hơn 300 phiên nữ nhảy múa dâng cơm hiến Phật”, các môn
đồ Phật giáo thì “tăng mặc áo vàng có gia đình, mặc áo hồng thì ở chùa, giới
luật dất nghiêm” Phật giáo một thời trở thành tôn giáo có thế lực nhất ở
Chân Lạp
Thế kỷ XIII, Phật giáo Chân Lạp vẫn phát triển, “nhà nhà đều tu hành phật tử”, chùa viện của đạo Phật chỉ lập tượng Phật Thích Ca Mâu Ni, tăng
Trang 25nhân gọt tóc, phần trên mặc áo cà xa vàng, để trần vai bên phải, phần dưới mặc quần vàng, đi chân đất,v.v Bắt đầu từ thế kỷ IX đến thế kỷ XIII, trải qua
sự cố gắng của các đời vua thuộc Vương triều Ăngco, tại thành Ăng co đã xây dựng lên rất nhiều cung điện, chùa viện xây bằng đá, dáng vẽ hùng vĩ, hơn thế còn điêu khắc, trạm trỗ rất tinh vi, đẹp đẽ Số khắc đá này đại đa số là tạc tượng của Phật giáo và Ấn Độ giáo, chúng là chứng tích của những hoạt động tôn giáo đương thời, đồng thời cũng phản ánh một đặc điểm dung hoà của tôn giáo Chân Lạp, và là một trong những vốn quý nhất của nền nghệ thuật phương Đông
Từ giữa thế kỷ XIV Chân Lạp được gọi là Cămpuchia Cùng với sự xâm nhập của người Thái, Phật giáo Tiểu thừa XriLanca tràn vào Cămpuchia Cămpuchia dần trở thành một quốc gia hoàn toàn theo đạo Phật Tiểu thừa cho tới ngày nay
Phật giáo Tiểu thừa trở thành tôn giáo của cả tầng lớp quý tộc lẫn dân chúng Đạo Phật trở thành vị thần tối cao đối với mọi người, thay thế cho vua
- thần Ngôi chùa Phật bằng gỗ ấm cúng trở nên gần gũi với dân chúng bởi là những đền núi bằng đá uy nghi lạnh lùng thời Ăngco Mỗi làng có một ngôi chùa riêng và thờ Phật đã trở thành trung tâm văn hoá của các bản làng gần
xa Phật giáo góp phần đáng kể vào việc liên kết mọi thành viên trong xà hội Cămpuchia vào một nền văn minh chung
Hiện tại tăng đoàn Phật giáo Cămpuchia phân thành hai tông phái: Phái Đại tông: Tăng nhân của phái này chiếm khoảng 90% Tăng nhân toàn quốc, chùa viện chiếm 94% chùa viện trong cả nước; Phái Pháp Tông: Tăng nhân của Phái này đa số là quý tộc, được thượng tầng xã hội ủng hộ
Lào: Người Lào trước khi lập quốc chỉ là một bộ tộc, bộ Lạc luôn luôn
chiến tranh thôn tính lẫn nhau hoặc bị dân tộc khác chinh phục, nên ít có thời gian để chú ý tới tín ngưỡng tôn giáo Từ khi Phà Ngừm lên ngôi, vốn được
Trang 26trưởng lão Ma-ha Ba-sa-man-da nuôi dưỡng, đã ảnh hưởng sâu sắc tinh thần đạo Phật Khơme, hơn nữa vợ ông là con gái Vua Cămpuchia, một tín đồ Phật giáo rất thuần thành Sau khi đất nước Lào được bình yên, Bà thấy dân chúng giết hại rất nhiều súc vật một cách tàn nhẫn để dùng vào việc tế lễ quỷ thần vừa tốn kém vừa mê tín Bà đã thuyết phục Phà Ngừm thỉnh cầu các sư Tăng
từ Cămpuchia sang truyền bá đạo Phật để dân chúng nhu hoà, bớt đi sự sát phạt nhau để giữ gìn đất nước, vua Phà Ngừm chấp thuận, sai sứ giả mang vàng bạc, châu báu, lễ vật sang Cămpuchia dâng quốc vương Cămpuchia, thỉnh cầu nhà vua phái cao tăng đức độ, tài năng mang theo Tam Tạng kinh điển truyền bá Phật giáo ở Lào Quốc vương Cămpuchia chấp thuận cử Ma -
Ha Ba - sa - man - na và hai trưởng lão khác cùng đi Ba vị trưởng Lào là ba
vị cao tăng tinh thông Tam Tạng kinh điển được nhà vua Cămpuchia phái đi cùng với 20 tỷ khiêu đến truyền Phật pháp ở Lào, xây dựng chùa chiền, in ấn kinh Phật, Phật giáo từ đó dần dần trở thành quốc giáo ở Lào
Giữa thế kỷ XVI vua Duy Tô Nạp (1520-1550), xây dựng nên chùa Duy
Tô cực kỳ tinh xảo lộng lẫy Hơn thế, còn đem kinh Phật Tam Tạng từ Phạm Văn dịch sang tiếng Lào để lưu hạnh rộng rãi Người kế thừa vua Duy Tô là
Ba Đề Tát Lạp lúc còn tại thế đã công bố sắc lệnh, cấm chỉ thờ phụng quỷ thần, khẳng định địa vị độc tôn của đạo Phật ở Lào
Nửa sau thế kỷ XVIII, Thái đánh chiếm Lào, Lào bị phụ thuộc vào Thái Đạo Phật bị ảnh hưởng, đầu thế kỷ XIX vua Chậu Anon đã lập nước tại Lào, đất nước vạn tượng đã trở thành trung tâm của đạo Phật Nước suy yếu, đạo Phật cũng bước vào thoái trào
Đầu thế kỷ XX, đạo Phật ở Lào bắt đầu phục hưng Toàn quốc đã thành lập tổ chức Phật Lào thống nhất, xây đựng nhiều trường học tiếng Pali, chỉnh
lí và phát triển, xuất bản điển tịch Pali bằng tiến Lào, đạo Phật ở Lào ngày nay vẫn có ảnh hưởng quan trọng
Trang 27Các tín đồ Phật giáo ở Lào chủ yếu do hai phái hợp thành Chiếm quá nữa
số tăng nhân toàn quốc là phái Đại Bộ, số còn lại là phái Pháp tương ứng
Ngoài ra còn có một bộ phận Hoa kiều, Việt kiều tín thờ Phật giáo Đại thừa
Inđônêxia: Tại Inđônêxia, đạo Phật cũng đã sớm có mặt Năm 412 sau công
nguyên khi Pháp Hiển (Fahsien) đi qua Ye-p’o-ti (Xumatơra và Java ngày nay) thấy Phật pháp đã có mặt Năm 430 nước Ho-lo-tem (nay là phía nam
Xu matơra tới phía tây Java) đã sai sứ vào triều Tống Văn Đế, báo cáo nước
họ là một nước theo đạo Phật “tín trọng Tam bảo, xây dựng tháp chùa” Sang
thế kỷ V các đảo chủ yếu của Inđônêxia như Xumatura, Giava và Bali đã lưu truyền Phật giáo, cùng đề cao Đại thừa và Tiểu thừa, nhưng còn pha trộn tín ngưỡng dân gian ở nơi đó Ở Inđônêxia, mặc dù tồn tại cả Phật giáo Đại thừa
và Tiểu thừa song chủ yếu là Phật giáo Tiểu thừa
Sang thế kỷ VIII Phật giáo từ Srivijaya phát triển sang bán đảo Mã Lai Giữa thế kỷ VIII, tại trung Giava vương triều Xailenđra được xây dựng nên,
đã tôn thờ Mật giáo do Phật Đại thừa kết hợp Ấn Độ giáo mà thành Ngôi đền lớn Bôrôbuđu của vương triều này xây dựng nên đã trở thành kì quan của nghệ thuật lịch sử thế giới Đầu thế kỷ XIII vương triều Singorai xây dựng ở Đông Gia va và vương triều Najapahit sáng lập ở thế kỷ XIV đều thờ đạo Phật Thế kỷ XV sau khi đạo Ixlam truyền vào Giava, đạo Phật dần dần suy yếu diệt vong Sau chiến tranh thế giới hai đạo Phật ở Inđônêxia đã được phục hồi, hiện có hơn 600 ngôi chùa Phật, tín đồ mới có một triệu người
Như vậy, cùng với quá trình phát triển, hoàn chỉnh về Mặt giáo lý đạo Phật cũng đã được truyền bá ra bên ngoài Ấn Độ, với hướng Nam truyền và Bắc truyền Hướng Nam truyền tới cá nước chúng ta vừa tìm hiểu như: XriLanca, Mianma, Thái Lan, Cămpuchia, Lào, Inđônêxia,v.v Ngoài con đường Nam truyền thì đạo Phật còn đi theo con đường Bắc truyền Vậy con đường Bắc truyền của đạo Phật đến những nước nào?
Trang 282.2 Khu vực chịu ảnh hưởng của đạo Phật Đại thừa (khu vực Bắc
truyền)
Cùng với con đường truyền xuống phía nam (Nam truyền), thì đạo Phật
từ Ấn Độ truyền lên phái Bắc chủ yếu qua hai con đường Một đường bắt đầu từ vùng Tây Bắc Ấn Độ, vượt qua dãy núi Hinđucusơ và sông Amua ở nền Trung Apganixtan, vượt qua cao nguyên Pamia, vào Tân cương Trung Quốc rồi lại từ hành lang Hà Tây đế Trường An và Lạc Dương, sau đó từ Trung Quốc truyền và các nước Triều Tiên, Nhật Bản và Viêt Nam v.v Một đường khác là từ Ấn Độ trực tiếp truyền vào Nêpan, vượt qua chân núi Hymalaya, vào Tây Tạng, rồi lại từ Tây Tạng truyền vào nội địa Trung Quốc
và một số vùng thuộc tộc Buryat của Mông Cổ và Xibêri
Trung Quốc: Phật giáo được du nhập vào Trung Quốc thời kỳ Lưỡng
Hán (vào đầu kỷ nguyên) Con đường truyền nhập là từ vùng tây bắc Ấn Độ truyền đế vùng Trung Á, sau đó lại du nhập vào vùng Tây Thành (vùng Tân Cương ngày nay và các nước ở vùng phía Tây núi Thông Sơn), sau đó dần dần được du nhập vào vùng Trung Nguyên Vào thời kỳ Tam Quốc Đông Hán, khi Phật giáo vừa mới được truyền vào Trung Quốc, từ các bậc phong kiến thống trị đất nước đến các thần dân trăm họ về cơ bản đều coi Phật giáo
là một thứ thần tiên có phép màu nhiệm, do đó ảnh hưởng của Phật giáo đều rất hạn chế Bản thân Phật giáo trong thời kỳ này chỉ chú trọng các hoạt động như phiên dịch kinh sách và giải thích rõ mục đích cùng với giáo nghĩa của đạo Phật Đến thời kỳ Ngụy, Tấn, Nam - Bắc triều, đạo Phật lại một lần nữa được phát triển và hưng thịnh, truyền bá đến nhiều nơi trong cả nước, trở
thành tôn giáo của quần chúng
Thời kỳ Tuỳ - Đường, theo sự phát triển của xã hội chính trị, Phật giáo
cũng bước vào thời kỳ phát triển mang tính cao trào Theo đà dần hoàn thiện của Phật giáo, các Tông giáo của Phật giáo thời kỳ Đường cũng nhờ đó mà
Trang 29đua nhau ra đời Các Tông giáo chủ yếu gồm có: Thiên Thai Tông, Tam Luận Tông, Mật Tông v.v Có thể nói thời kỳ Tuỳ - Đường là giai đoạn phát triển cao nhất, đã hình thành hàng loạt những tông phái và học phái lớn có đặc trưng của dân tộc Trung Hoa
Thời kỳ Lưỡng Tống, Phật giáo được tiếp tục duy trì Sự lưu hành của đạo Phật trong thời kỳ này cho ta thấy rõ những đặc trưng chứng tỏ Phật giáo
đã ăn sâu vào văn hoá truyền thống của Trung Quốc Học thuyết của Tống Nho đã hấp thụ được một phần tư tưởng của Phật giáo, từ đó làm phong phú thêm nội dung lý luận của học thuyết đó; tín ngưỡng Phật giáo dân gian ngày càng đi sâu vào lòng người, một số quan niệm tôn giáo đã biến thành phong tục, tập quán của nhân dân Trong phong trào cải lương của gia cấp tư sản cuối triều nhà Thanh, trong đạo Phật đã tiến hành cải cách, có thời kỳ đã rất sôi nổi, nhưng không lâu lại xẹp xuống Sở dĩ như vậy vì về cơ bản đạo Phật thuộc về hình thái ý thức phong kiến, ở thời kỳ cận đại rất khó thích ứng với
sự phát triển của kinh tế – xã hội Trung Quốc
Triều Tiên: Đạo Phật từ Trung Quốc truyền vào bán đảo Triều Tiên trong
khoảng nữa sau thế kỷ IV, lúc đó đang thời kỳ đối địch giữa Cao Ly, Bách
Tế và Tân La Đạo Phật truyền vào Cao Ly khoảng đời vua Tiểu Thiếu Lâm thứ hai (372) Phù Kiên thời tiền Tần từng phái sứ giả và sư Thuận Đạo đem tặng kinh Phật và Tượng Phật, vua Tiểu Thiếu Lâm cũng cử người đáp lại Ở thành Hoàn Đô gần thủ đô Tập An Cao Ly đã dựng nên chùa Tỉnh Môn và chùa Y Phất Lan để cho Thuận Đạo và A Đạo an cư
Đạo Phật truyền vào Bách Tế ở Tây Nam bán đảo Triều Tiên không mạnh bằng Cao Ly Năm Thẩm Lưu Vương nguyên niên (384), sư Ấn Độ là Malanamđa từ Đông Tấn đến thành Hán Sơn của Bách Tế, được vua Bách Tế nhiệt thành tiếp đãi, năm sau dựng chùa Phật ở Hán Sơn, độ tăng 10 người Đây là sự bắt đầu của đạo Phật ở nước Bách Tế Từ Cao Ly đạo Phật truyền
Trang 30vào Tân La dưới thời trị vì của Nội kỳ (417-418) Vào thời Nam - Bắc của Trung Quốc, Tân La có không ít tăng nhân đến Trung Quốc hoặc đi Ấn Độ cầu học, triều bái Số tăng nhân này đã có vai trò quan trọng trong việc xây dựng đạo Phật ở Triều Tiên Vào thời Tam Quốc ở Triều Tiên, Lý Luận Đại, Tiểu thừa của đạo Phật đều được truyền bá một số học phái, tông phái của Trung Quốc như Tam Luận Tông, Không Tông, Luật Tông v.v., cũng lần lượt truyền vào Triều Tiên
Năm 668, sau khi tiêu diệt Cao Ly và Bách Tế, thống nhất Triều Tiên, đạo Phật được sự giúp đỡ của những người thống trị Tân La, đã phát triển chưa từng thấy Tuyệt đại bộ phận tông phái và học phái được lập ra ở Trung Quốc vào thời Tuỳ-Đường đều được các nhà sư lưu học ở Trung Quốc đem
về Triều Tiên
Năm 936, Vương Kiến thống nhất bán đảo Triều Tiên, sau khi xây dựng
hàng loạt chùa Phật, ban bố “Huyết Yến thập điều” (mười điều giáo huấn quan trọng), đòi hỏi dân chúng cả nước phải tuân hành “Bát qua Trai” (cúng
bái các thần như Thiên thần, Ngũ nhạc, Danh sơn, các Hải long thần), hơn
nữa còn cử hành “Hội đốt đèn” khiến cho đạo Phật một thời ở cuối thời kỳ
Tân La bị xa sút nay lại được khôi phục sức sống Về sau các vua tuy thúc đẩy chính sách tôn Nho, nhưng cũng vẫn phù trì cho sự phát triển của đạo Phật Thời kỳ đầu các vương triều Cao Ly các tông phái Phật giáo vẫn bảo trì
“Ngũ giáo cửu sơn”, sau khi Nghĩa Thiên nhất trí, đem thiên đạo dung hợp vào trong Thiền Tông Sau khi xây dựng thiên đài tông thì tình thế đã thay
đổi, “Ngũ giáo cửu sơn” đã trở thành “Ngũ giáo Lưỡng tông” Sau đó, Trí Nạp phát triển thêm một bước thành học thuyết “Giáo Thiếu nhất trí” và
“Thiếu Phong Định Tuệ song tu”, mở ra một hệ Tào Khê Tông
Cuối thời Cao Ly do một số người độc tôn Nho giáo, thêm vào đó là sự
hủ hoá của sư sải trong xã hội đã xuất hiện phong trào bài phật giáo Cao Ly,
Trang 31điều đáng đề cập là trong những năm từ Hiển Tông tới Tuyên Tông đã khắc
in, xuất bản được kinh Đại Tạng bằng tiếng Cao Ly, tổng cộng có 5024 quyển Ngoài ra, vào năm thứ ba vua Tuyên (1085) Nghĩa Thiên đã biên soạn
và in ra 5048 quyển “Tục Tạng Kinh”
Kể từ năm 1392 trở đi do các đế Vương thi hành chíng sách tôn Nho bỏ Thích đã làm suy yếu thế lực của đạo Phật ở Triều Tiên Mãi tới năm 1908, Triều Tiên đã phải triệu tập hội nghị Phật giáo do đại biểu các chùa tới dự, đã thành lập được hội Phật giáo thống nhất Năm 1916, tại Toàn La đạo đã thành lập được các phái viên tư Viên Phật giáo có đông đảo quần chúng tham gia Cuộc chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Triều Tiên giành lại được độc lập, đạo Phật bắt đầu phục hưng Căn cứ thống kê năm 1970, Nam Triều Tiên (Hàn Quốc) có các phái Thiền Tông tổng cộng tới 18 tông phái, 2300 ngôi chùa viện, 9200 tăng và 5 triệu tín đồ
Nhật Bản: Đạo Phật truyền vào Nhật Bản thế kỷ thứ VI, thế kỷ VII
Chẳng những người ta thờ hai đạo của Khổng Tử và Lão Tử, mà họ còn thờ một đạo nữa, to lớn, mạnh mẽ hơn Khổng giáo và Lão giáo ấy là Thần giáo (Shintoisme) Thần giáo luôn tỏ ra phản kháng đạo Phật khi nó mới được truyền vào Trải qua mấy trăm năm thờ ơ, lạnh lẽo, hai đạo mới hoà hiệp, thân thiện nhau
Đạo phật truyền vào nước Nhật bởi nước Trung Quốc đi ngang nước Cao Ly Triều Tiên và được chính phủ nước Cao Ly môi giới Năm 552, Vua
xứ Petsi bên Cao Ly phái sứ qua nước Nhật chầu vua Kin - Mei dòng MiKado thứ ba mươi và nạp lễ vật trong ấy có những kinh phướn, tượng Phật với một cái trang thờ Sứ lại dâng lên một phong thư, đại khái nói rằng:
“Kinh giới thiệu dịch giữa Cao Ly, Bách Tế và Tân La” Đạo Phật truyền vào
Cao Ly khoảng đời vua Tiểu Thiếu Lâm thứ hai (372) Phú Kiên thời tiền Tần từng phái sứ giả và sư Thuận Đạo đem tặng kinh Phật và tượng Phật, vua
Trang 32Tiểu Thiếu Lâm cũng cử người đáp tạ Ở thành Hoàn Đô gần thủ đô Tập An Cao Ly đã dựng lên chùaTỉnh Môn và chùa Y Phất Lan để cho Thuận Đạo và
A Đạo du cư
Đạo Phật truyền vào Bách Tế ở Tây Nam bán đảo Triều Tiên không mạnh bằng Cao Ly Năm Thẩm Lưu Vương nguyên niên (384) Sư Ấn Độ là Malanamđa từ Đông Tấn đến thành Hán Sơn của Bách Tế, được vua Bách Tế nhiệt thành tiếp đãi, năm sau dựng chùa Phật ở Hán Sơn, độ tăng 10 người Đây là sự bắt đầu của đạo Phật ở vườn Bách Tế Từ Cao Ly đạo Phật truyền vào Tân La dưới thời trị vì của Nội Kỳ (417-418) Vào thời Nam - Bắc triều của Trung Quốc, Tân La có không ít tăng nhân đến Trung Quốc hoặc đi Ấn
Độ cầu học, triều bái Số tăng nhân này đã có vai trò quan trọng trong việc xây dựng đạo Phật ở Triều Tiên Vào thời Tam quốc ở Triều Tiên, lý luận Đại, Tiểu thừa của đạo Phật đều được truyền bá Một số học phái, tông phái của Trung Quốc như Tam luận tông, Khổng tông, Luật tông v.v., cũng lần lượt truyền vào Triều Tiên
Năm 668, sau khi tiêu diệt Cao Hy, Bách Tế, thống nhất Triều Tiên đạo Phật được sự giúp đỡ của những thống trị Tân La, đã phát triển chưa từng thấy Tuyệt đại bộ phận Tông thái và Học phái lập ở Trung Quốc vào thờ Tùy Đường đều được các nhà sư lưu học ở Trung Quốc đem về Trều Tiên Năm 936, Vương Kiêu thống nhất bán đảo Triều Tiên, sau khi xây dựng
xong Vương triều Cao Ly, đã dựng lên hàng loạt chùa phật, ban bố “Huyết
yếu thập điều” (mười đều giáo huấn quan trọng), đòi hỏi dân chúng cả nước
phải tuân hành “Bát quan Trai” ( cúng bái các thần như Thiên thần, Ngũ Nhạc, Danh Sơn, các Hải Long thần), hơn nữa còn cử hành “Hội đốt đèn”,
khiến cho Phật giáo một thời ở cuối kỳ Tân La bị xa sút nay lại được khôi phục sức sống Về sau các vua tuy thúc đẩy chính sách tôn Nho, nhưng cũng vẫn phù trì cho phát triển của đạo Phật Thời kỳ đầu vương triều Cao Ly các
Trang 33tông phái Phật giáo vẫn bảo trì “Ngũ giáo cửu Sơn”, sau khi Nghĩa Thiên Đài
dung hợp vào trong Thiền tông, sau khi xây dựng Thiên Đài tông thì tình thế
đã thay đổi, “Ngũ giáo cửu Sơn” đã trở thành “Ngũ giáo Lưỡng tông” Sau
đó, Trí Nạp phát triển thêm một bước thành học thuyết “Giáo Thiền nhất trí”
và “Thiền phong Định Tuệ song tu”, mở ra một hệ Tào Khê tông
Cuối thờ Cao Ly do một số người thống trị độc tôn Nho giáo, thêm vào
đó là sự hư hoá của sư sãi trong xã hội đã xuất hiện phong trào bài Phật giáo Cao Ly, điều đáng đề cập là trong những năm từ Hiển Tông tới Tuyên Tông
đã khắc in, xuất bản được Kinh Đại Tạng bằng tiếng Cao Ly, tổng cộng có
5024 quyển Ngoài ra, vào năm thứ ba vua Tuyên Tông (1085) Nghĩa Thiên
đã biên soạn và in ra 5048 quyển “Tạng tụng kinh”
Kể từ năm 1392 do các đế Vương thi hành chính sách tôn Nho bỏ Thích
đã làm suy yếu thế lực của đạo Phật ở Triều Tiên Mãi tới tận năm 1908, Triều Tiên đã phải triệu tập hội nghị Phật giáo do đại bểu các chùa tới dự, đã thành lập được Hội Phật giáo thống nhất Năm1916, tại Toàn La Đạo đã thành lập được các phái Kiên tư Viên phật giáo có đông đảo quần chúng tham gia Cuộc chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Triều Tiên giành lại được độc lập, đạo Phật bắt đầu phục hưng Căn cứ thống kê đế năm 1970, Nam Triều Tiên (Hàn Quốc) có các phái Thiền tổng cộng tới 18 tông phái,
2300 ngôi chùa viện, 9200 tăng, 5 triệu tín đồ
Nhật Bản: Đạo Phật truyền vào Nhật Bản thế kỷ thứ VI thế kỷ VII
Trước khi đạo Phật truyền vào thì nước Nhật đã có đạo đức rồi Chẳng những người ta thờ hai đạo của Khổng Tử và Lão tử, mà họ còn thờ một đạo nữa, to lớn, mạnh mẽ hơn Khổng giáo với Lão giáo ấy là Thần - giáo (Shintoime) Thần giáo luân tỏ ra phản kháng đạo Phật khi nó mới được truyền vào Trải qua mấy trăm năm thờ ơ, lạnh lẽo, hai đạo mới hoà hiệp, thân thiện nhau
Trang 34Đạo Phật truyền vào nước Nhật bởi nước Trung Quốc đi ngang nước Cao Ly Triều Tiên và được chính phủ nước Cao Ly làm môi giới Năm 552, vua xứ Pðti bên Cao Ly phái sứ qua nước Nhật chầu vua Kim - Mei dàng MiKado thứ ba mươi và nạp lễ vật trong đó có những kinh phướn, tượng Phật với một cái trang thờ Sứ lại dâng lên một cái phong thư, đại khái nói
rằng: “Xin giới thiệu với đại vương Phật giáo là nền đạo đức quý hoá hơn
hết Gốc bên cõi Ấn Độ xa vời, đạo này dạy đạo lý rất thâm trầm Ngày xưa đức Khổng Tử đã có nói đến một cách kính trọng và bí thiết lắm Phật giáo giúp cho mình khi lâm chung được đến cõi niết bàn, an lạc hoàn toàn Trẫm rất mong đại vương chẳng bỏ qua, mà chắc thế nào ngài cũng hoan nghênh
và truyền ra nơi quý quốc, vì ngày trước Phật có phán lời tiên tri này Đạo ta
sẽ lan rộng ra về phía Đông” {4;166}
Trước lời thỉnh cầu của vua Cao Ly, hoàng đế Nhật Bản đã chịu nhận lời Ngài bèn đem cốt Phật thờ về truyền cho chư Tăng lo dọn kinh sách cho
bá tánh tu học v.v Đây là sự bắt đầu của đạo Phật chính thức truyền vào Nhật Bản Sau khi đạo Phật chính thức truyền vào Nhật Bản, trong triều đình từng nổ ra cuộc đấu tranh kịch liệt, một phái trong bộ tộc To ngã ủng hộ Phật giáo cuối cùng đã giành được thắng lợi, từ đó đạo Phật giành được chỗ đứng trong cung đình và một bộ phận quý tộc Căn cứ vào thống kê khi Thánh Đức Thái Tử mất, toàn Nhật Bản có 46 ngôi chùa, tăng có 816 người, ni có 569 người Năm 645 Nhật Bản ban bố chiếu thư đẩy mạnh việc phát triển Nhật
giáo, lần đầu tiên ra lệnh bổ nhiệm “Thập sứ”, còn thiết lập “pháp điều” để
quản lý Tăng ni, chùa viện trong cả nước, ngoài ra còn cấp cho chùa viện một
số đất đai ngoài sổ sách Được sự che chở của triều đình, Phật giáo lại phát triển, đến cuối thế kỷ VII, toàn quốc có hơn 540 ngôi chùa ở khắp các nước Năm 710, dưới thời Nại Lương (710-794) nhiều ngôi chùa lớn được xây dựng lên như: Chùa Đông Đại, chùa Tây Đại, chùa Đườn Chiêu Đề v.v
Trang 35Hơn thế còn đang hình thành “Nam Đô Lục tông” tức Tam Luận tông, Pháp Tướng tông, Thành Thực tông, Câu Xá tông, Hoa nghiêm tông và Luật tông Có thể nói thời kỳ Nại Lương là thời kỳ hưng thịnh của Phật giáo Tuỳ Đường Trung Quốc, tăng lữ của hai nước đi lại nhộn nhịp Đạo Chiêu ở chùa Nguyên Hưng năm 653 tới Trung Quốc theo học Duy Thức học của Huyền Trang sau khi về nước lập ra phái tướng tông Năm 653, Đạo Quang sang nhà Đường tiếp tục giới luật, sau khi về nước thủ xướng Luật tông Năm
754, Hoà thượng Giấm Châu sang Nhật Bản truyền thụ giới luật ở chùa Đông Đại, làm đệ tam truyền của Luật tông
Cũng như ở Trung Quốc, đạo Phật ở Nhật Bản khi thì may khi thì rũi, lúc được trọng dụng, lúc bị phỉ báng, có nhà vua tiếp trợ, mà cũng có nhà vua thờ
ơ và hành khổ nữa Ba bốn trăm năm trìm nổi, mãi đến thế kỷ thứ XIII mới thật thịnh hành và đến thế kỷ XVI thì đã phát lắm Về sau này, tình hình nhà Phật bên Nhật khác bên Trung Quốc nhiều Hiện nay, chẳng những chùa và tăng bên Nhật nhiều hơn xưa, mà số nhà tăng thông thái rất đông, ăn ở theo
phạm hạnh, dìu dắt bá tánh Căn cứ thống kê năm 1980, “Nhật Bản ước có 8,7
triệu tín đồ Phật giáo, thuộc 13 tông, hơn 160 phái” {21;344}
Tăng ni Nhật Bản, không lo bề sung sướng, không ưa mến bạc tiền, sãi bên Nhật làm tròn nghĩa vụ, mang cao giá phẩm nhà tăng Một người Pháp tên E.S.Oberlin, nhân khi qua khảo cứu Phật giáo bên Nhật, có khen Tăng
chúng Nhật Bản: “Phần đông chư Tăng đều là các nhà thật thông thái, thấu
rõ kinh sách, biết các thứ tiếng Hán, Phạn, Tây Tạng và cũng hiểu một vài thứ tiếng Âu Châu nữa Các ngài từng làm giáo sư ở các trường đại học trường của nhà vua hoặc tư thục Đã thông minh tuệ trí, các ngài lại khiêm nhượng đúng bậc, khiêm nhượng một cách mà chúng ta chưa từng quen ở Âu Châu” {4;167}