Tuy nhiên, lịch sử, văn hoá vùng đất giàu đẹp này vốn rất phong phú, do đó vẫn còn nhiều đề tài, vì lý do này hay lý do khác chưa được quan tâm nghiên cứu khai thác hết, trong đó phải kể
Trang 13 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 7
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
1.3 Vài nét về phong trào yêu nước ở Hoằng Hoá trong những năm
Chương 2: Hoằng Hoá trong phong trào Cần Vương chống Pháp 22
2.1 Vài nét về chiếu Cần Vương và phong trào yêu nước chống
Pháp ở Thanh Hoá từ cuối 1885 đến đầu 1886 22 2.2 Nghĩa quân Hoằng Hoá ra đời và phát triển 24 2.3 Một số trận đánh tiêu biểu của nghĩa quân Hoằng Hoá
2.3.1 Trận tham gia phối hợp đánh úp thành Thanh Hoá 28
2.3.2 Trận bao vây, tập kích huyện lỵ Bút Sơn 31 2.4 Hoằng Hoá với cuộc khởi nghĩa Ba Đình 36
2 4.1 Vài nét về cuộc khởi nghĩa Ba Đình 36 2.4.2 Vai trò của Hoằng Hoá trong cuộc khởi nghĩa Ba Đình 40 2.5 Những nhân vật tiêu biểu ở Hoằng Hoá tham gia phong trào
Trang 2Lời nói đầu
Hoằng Hoá là vùng đất "địa linh nhân kiệt", là cái nôi khoa bảng lừng danh của xứ Thanh - nơi hội tụ nhiều truyền thống tốt đẹp của lịch sử dân tộc, trong đó có truyền thống yêu nước và cách mạng Trong những năm vừa qua lịch sử và văn hoá vùng đất này luôn giành được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều học giả, nhiều nhà khoa học tên tuổi vốn là những người con của quê hương Hoằng Hoá Rất nhiều công trình nghiên cứu, nhiều đầu sách có giá trị đã được xuất bản trong thời gian vừa qua và bước đầu đã được dư luận nhân dân trong và ngoài huyện đón nhận nồng nhiệt Tuy nhiên, lịch sử, văn hoá vùng đất giàu đẹp này vốn rất phong phú, do đó vẫn còn nhiều đề tài, vì lý do này hay lý do khác chưa được quan tâm nghiên cứu khai thác hết, trong đó phải kể đến một giai đoạn lịch sử đầy sôi động và hào hùng của nhân dân Hoằng Hoá cuối thế kỷ XIX, đó là phong trào yêu nước chống Pháp hưởng ứng chiếu Cần Vương
Trước thực tiễn trên, trong quá trình điền dã sưu tầm tư liệu để hoàn thành khoá luận tốt nghiệp đại học, chúng tôi, cũng là một người con của quê hương Hoằng Hoá anh hùng, đã quyết định chọn
như một nghĩa cử cao đẹp đối với mảnh đất đã sinh ra mình
Trong quá trình tiến hành công trình này, bản thân chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ to lớn và quý báu của các cơ quan, đơn vị sau: Phòng Địa chí - Thư viện Thanh Hoá; Bảo tàng - Thư viện huyện Hoằng Hoá, thư viện Trường Đại học Hồng Đức, Khoa Lịch sử - Trường đại học Vinh, đặc biệt phải kế đển sự giúp đỡ quý báu, sự chỉ bảo tận tình chu đáo của thầy Phan Trọng Sung - giảng viên Khoa Lịch sử - Trường Đại học Vinh, sự giúp đỡ, cung cấp về mặt tư liệu của nhà giáo Lê Trung Tấn, nguyên chuyên viên Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử tỉnh Thanh Hoá
Qua đây chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các cơ quan đơn vị, quý thầy cô đã quan tâm giúp đỡ để khoá luận này được hoàn thành
Trang 3Thực hiện đề tài này, chúng tôi hy vọng rằng sẽ góp một phần nhỏ bé của mình vào việc biên soạn lịch sử Hoằng Hoá giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Do hạn chế về tư liệu và thời gian, cũng như do năng lực còn có hạn nên chắc chắn khoá luận của chúng tôi sẽ không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Sự góp ý chân thành của bạn bè, sự chỉ giáo của các thầy cô và các bậc cao niên tinh thông kinh sử sẽ là động lực quan trọng giúp chúng tôi ngày càng hoàn thiện năng lực học tập và nghiên cứu khoa học của mình Chúng tôi luôn chờ đợi ý kiến đóng góp, định hướng của quý vị và các bạn
Xin chân thành cảm ơn !
Là một địa phương có vị trí chiến lược quan trọng và truyền thống yêu nước lâu đời, ngay từ những ngày đầu khi chiếu Cần Vương được ban ra, nhân dân Hoằng Hoá đã sôi nổi hưởng ứng tham gia và đã có những đóng góp quan trọng trong phong trào Cần Vương ở Thanh Hoá cuối thế kỷ XIX Vậy phong trào ở Hoằng Hoá đã diễn ra như thế nào, có những đặc điểm gì? Nên đánh giá vai trò vị trí của phong trào này như thế nào trong phong trào chung của tỉnh Thanh Hoá cho thoả đáng?
Chúng tôi thiết nghĩ: việc đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu phong trào yêu nước chống Pháp ở Hoằng Hoá cuối thế kỷ XIX không chỉ đưa lại những
Trang 4đóng góp về lý luận khoa học mà còn có ý nghĩa thực tiễn to lớn Từ đó giúp chúng ta có được cái nhìn toàn diện đầy đủ hơn về diện mạo của phong trào Cần Vương trong cả nước Những bài học lịch sử quý giá rút ra từ phong trào yêu nước ở Hoằng Hoá trong giai đoạn lịch sử này không chỉ có ý nghĩa đối với phong trào yêu nước của toàn tỉnh và cả nước lúc bấy giờ mà đối với công cuộc bảo vệ quê hương ngày nay nó vẫn còn có những giá trị nhất định
Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Hoằng Hoá anh hùng giàu truyền thống yêu nước và cách mạng, đồng thời lại là sinh viên ngành Lịch sử năm cuối, đối với tôi việc nghiên cứu - biên soạn lịch sử địa phương là một công việc tuy có phần mới mẻ nhưng rất hữu ích vì nó tập cho tôi làm quen với kinh nghiệm, phương pháp nghiên cứu lịch sử để tiến tới phục vụ cho việc nghiên cứu - biên soạn cũng như giảng dạy lịch sử địa phương sau này Từ kết quả nghiên cứu của đề tài, chúng tôi cũng hy vọng sẽ góp một phần nhỏ bé của mình vào việc biên soạn lịch sử Hoằng Hoá giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Với ý nghĩa khoa học và thực tiễn nêu trên, chúng tôi chọn đề tài:
"Hoằng Hoá trong phong trào Cần Vương chống Pháp" làm khoá luận tốt
nghiệp của mình
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Phong trào Cần Vương là một phong trào yêu nước diễn ra trong một khoảng thời gian tương đối dài (1885 - 1896) với quy mô rộng lớn nên từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu được công bố
Trước tiên là các tác phẩm của thực dân Pháp như: "Lịch sử quân sự Đông Dương", các bài nghiên cứu của viên chỉ huy người Pháp trong công cuộc "bình định" phong trào Cần Vương Tiếp đó là các tác phẩm của Quốc
sử quán triều Nguyễn, "Việt Nam sử lược" của Trần Trọng Kim
Trang 5Sau cách mạng tháng Tám 1945, đặc biệt sau 1954, hàng loạt các công trình nghiên cứu có đề cập đến phong trào Cần Vương đã được công bố như:
"Lịch sử 80 năm chống Pháp" của Trần Huy Liệu, Nxb Văn - Sử - Địa, HN, 1957; "Chống xâm lăng" của Trần Văn Giàu, Nxb Xây dựng, HN, 1957;
"Lịch sử Việt Nam (1858 đến cuối thế kỷ XIX)" của Hoàng Văn Lân - Ngô Thị Chính, QIII, tập 1, Nxb Giáo dục, HN, 1979; "Lịch sử Việt Nam", tập II của UB KHXH do Nguyễn Khánh Toàn chủ biên, Nxb KHXH, HN, 1989
Các công trình nghiên cứu trên đều cố gắng tập trung làm sáng tỏ diễn biến chính, đặc điểm, tính chất, nguyên nhân thất bại, ý nghĩa lịch sử của phong trào Cần Vương chống Pháp cuối thế kỷ XIX Một số công trình đó cũng đã phần nào đề cập đến phong trào yêu nước chống Pháp ở các địa phương trong nước, trong đó ít nhiều có phong trào ở Thanh Hoá và Hoằng Hoá
Tại Thanh Hoá trong những năm gần đây, cũng như nhiều địa phương khác, việc nghiên cứu - biên soạn lịch sử địa phương đã và đang được đẩy mạnh và trở thành một nhu cầu thực sự quan trọng, có ý nghĩa giáo dục to lớn được nhiều cấp, nhiều ngành ở địa phương quan tâm, chú ý Trên thực tế, trong những năm vừa qua Thanh Hoá đã có nhiều công trình nghiên cứu lịch
sử có chất lượng cao như "Địa chí Thanh Hoá", "Lịch sử Thanh Hóa", "Danh
sỹ Thanh Hoá và việc học thời xưa", "Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá"
Đối với huyện Hoằng Hoá nhiều công trình có chất lượng cao cũng đã
và đang được tiến hành biên soạn như: "Lịch sử Đảng bộ Hoằng Hoá", 2 tập,
"Địa chí văn hoá Hoằng Hoá", "Hoằng Hoá 20 năm xây dựng, đổi mới và phát triển" và sắp tới là "Lịch sử phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân Hoằng Hoá cuối thế kỷ XIX" Một số làng xã của huyện cũng đã biên soạn lịch sử địa phương mình như: Lịch sử xã Hoằng Lộc, Hoằng Quang,
Trang 6Hoằng Tiến Lịch sử làng Hội Triều (Hoằng Phong), Nguyệt Viên (Hoằng Quang)
Về phong trào yêu nước chống Pháp hưởng ứng chiếu Cần Vương của nhân dân Hoằng Hoá cho đến nay có được một số công trình nghiên cứu lịch
sử đề cập đến Đặc biệt là những công trình, những bài nghiên cứu sau:
- "Nghĩa quân Hoằng Hoá với phong trào Cần Vương và khởi nghĩa Ba Đình" Báo cáo khoa học nhân kỷ niệm 100 năm khởi nghĩa Ba Đình - Tài liệu đánh máy lưu trữ tại thư viện huyện Báo cáo này đã trình bày những nét
cơ bản nhất về phong trào yêu nước chống Pháp ở Hoằng Hoá cuối thế kỷ XIX (từ trang 4 đến trang 12)
- "Khởi nghĩa Ba Đình và phong trào yêu nước kháng Pháp của nhân dân Thanh Hoá cuối thế kỷ XIX" - Nxb Thanh Hoá 1992 Tập kỷ yếu này đã chọn đăng 3 bài về phong trào ở Hoằng Hoá (các trang từ 100 đến 109 và từ
118 đến 125)
- "Địa chí văn hoá Hoằng Hoá", Ninh Viết Giao (chủ biên), Nxb KHXH, HN, 2000, cũng đã dành hẳn một mục: "Hoằng Hoá với phong trào Cần Vương cứu nước" từ trang 213 đến 224
- "Phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân Nông Cống cuối thế
kỷ XIX (1885 - 1895)" - BNCLS Đảng Thanh Hoá, 1987 cũng đã đề cập đến vai trò và sự phối hợp của nghĩa quân Cần Vương Hoằng Hoá trong phong trào Cần Vương Thanh Hoá ở các trang 23, 69, 70
- "Từ Ba Đình đến Hùng Lĩnh" của Đinh Xuân Lâm, Trịnh Thu - Nxb Thanh Hoá 1985 cũng đề cập đến phong trào ở Hoằng Hoá và các lãnh tụ nghĩa quân của huyện (ở các trang 15, 19, 28, 38, 44, 111, 112, 113 )
- "Lịch sử Đảng bộ và phong trào cách mạng của nhân dân Hoằng Hoá" tập 1, Nxb Thanh Hoá, 1995 trong chương 1, phần 2 đã dành 2 trang (20 và 21) nói về phong trào yêu nước chống Pháp ở Hoằng Hoá
Trang 7- "Võ tướng Thanh Hoá trong lịch sử" của Trần Văn Thịnh Nxb QĐND 1998 cũng dành 2 trang nói về Nguyễn Đôn Tiết và Cao Bá Điển
Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên đây dù ít hay nhiều, trực tiếp hay gián tiếp đã đề cập đến nhiều khía cạnh của đề tài chúng tôi lựa chọn nghiên cứu Song chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống, nhiều vấn đề vẫn chưa được làm sáng tỏ như: chưa trình bày, khôi phục lại một cách có hệ thống các sự kiện tiêu biểu, những diễn biến chính, chưa thấy hết được vai trò vị trí cũng như rút ra được những bài học kinh nghiệm cần thiết từ phong trào yêu nước của nhân dân Hoằng Hoá cuối thế kỷ XIX Các công trình trên mới chỉ dừng lại ở các tài liệu do các nhà nghiên cứu lịch sử địa phương điền dã, sưu tầm và ghi chép giản lược Một số khác cũng chỉ tồn tại dưới dạng các báo cáo tham luận tại Hội thảo khoa học và hầu như chỉ được quan tâm khi diễn ra các hoạt động kỷ niệm, ngày lễ
Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu được đề cập trên sẽ là cơ sở ban đầu vô cùng quý giá, là nguồn tư liệu bổ sung cần thiết để chúng tôi tiến hành nghiên cứu một cách sâu sắc và có hệ thống hơn, góp phần hoàn thành khoá luận tốt nghiệp của mình
3 ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
a) Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng của đề tài là phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân Hoằng Hoá trong những năm từ giữa 1885 đến đầu 1887 Do đó chúng tôi chủ yếu đi sâu tìm hiểu, phân tích các vấn đề có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới đối tượng đã xác định trên
b) Phạm vi nghiên cứu
Đề tài được giới hạn trong thời gian từ tháng 7 năm 1885 đến đầu năm
Trang 8chiếu Cần Vương được ban ra đến khi cuộc khởi nghĩa Ba Đình thất thủ Đây
là phần trọng tâm của đề tài, tuy nhiên để trình bày một cách có hệ thống hơn, cũng như để thấy được vai trò ví trí của phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân Hoằng Hoá trong phong trào ở Thanh Hoá lúc bấy giờ, trong quá trình thực hiện đề tài chúng tôi cũng sẽ đề cập tới nhiều sự kiện trong phong trào Cần Vương Thanh Hoá có liên quan đến Hoằng Hoá Bên cạnh đó, trước khi nghiên cứu trực tiếp phần trọng tâm của đề tài chúng tôi thiết tưởng cũng cần phải khái quát một số nét lớn về vị trí địa lý, truyền thống yêu nước cũng như tình hình Hoằng Hoá trước khi có chiếu Cần Vương Tuy nhiên, về cơ bản đề tài được xác định trong một khoảng không gian xác định là huyện Hoằng Hoá
Việc giới hạn đề tài trong phạm vi hẹp như vậy sẽ giúp chúng tôi có điều kiện nghiên cứu một cách sâu hơn, nhằm rút ra một số nhận xét, đánh giá xác đáng về phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân Hoằng Hoá cuối thế kỷ XIX Đây chính là mục đích cuối cùng mà đề tài cần đạt đến
4 NGUỒN TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
a) Nguồn tư liệu
Khi lựa chọn đề tài này, một trong những khó khăn đầu tiên của chúng tôi đó là việc sưu tầm các nguồn tư liệu có liên quan Bởi lẽ, khác với các giai đoạn lịch sử từ sau 1930, giai đoạn lịch sử cuối thế kỷ XIX ở Hoằng Hoá, cũng như các địa phương khác do nhiều nguyên nhân mà nguồn tư liệu để lại rất hạn hẹp Tuy nhiên, bằng niềm đam mê, bằng nghĩa cử với quê hương khiến chúng tôi đã nỗ lực cố gắng sưu tầm một số tài liệu quan trọng để phục
vụ cho việc nghiên cứu đề tài
Nguồn tư liệu thứ nhất phải kể đến là các tài liệu do Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Đảng Thanh Hoá tổ chức biên soạn như:
Trang 9- "Khởi nghĩa Ba Đình và phong trào yêu nước kháng Pháp của nhân dân Thanh Hoá cuối thế kỷ XIX", 1992
- "Niên biểu lịch sử Thanh Hoá", 1998
- "Phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân Nông Cống cuối thế
kỷ XIX (1885 - 1895)"
Thứ hai là các nguồn sử liệu của các nhà sử học nghiên cứu về lịch sử Thanh Hoá như: "Từ Ba Đình đến Hùng Lĩnh" 1997 của Đinh Xuân Lâm và Trịnh Nhu; "Võ tướng Thanh Hoá trong lịch sử", 1998 của Trần Văn Thịnh;
"Thanh Hoá trong tay bạn", 1997 của Phan Bảo và Nguyễn Hữu Chúc
Thứ ba là các nguồn tư liệu lịch sử dân tộc có tính chất tham khảo hoặc
ít nhiều có liên quan đến đề tài như: "Lịch sử 80 năm chống Pháp", 1957 của Trần Huy Liệu; "Chống xâm lăng", 1957, QIII của Trần Văn Giàu, "Lịch sử Việt Nam (1858 - cuối thế kỷ XIX)", 1979, QIII của Hoàng Văn Lân, Ngô Thị Chính; "Tên làng xã Việt Nam đều thế kỷ XX" của tác giả Dương Thị The - Phạm Thị Hoa dịch và biên soạn
Tuy nhiên đây là đề tài lịch sử riêng về Hoằng Hoá nên chúng tôi chủ yếu sưu tầm các tư liệu do chính địa phương Hoằng Hoá tổ chức biên soạn hoặc sưu tập được có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến đề tài như:
- "Nghĩa quân Hoằng Hoá với phong trào Cần Vương và khởi nghĩa Ba Đình Thanh Hoá (1886 - 1887), 1986, Báo cáo tham luận tại Hội thảo khoa học kỷ niệm 100 năm khởi nghĩa Ba Đình của Huyện uỷ - UBND Huyện Hoằng Hoá
- "Địa chí văn hoá Hoằng Hoá", 2000, Ninh Viết Giao chủ biên, Nxb KHXH, HN
- "Lịch sử Đảng bộ và phong trào cách mạng của nhân dân Hoằng Hoá,
1995, tập 1 Nxb Thanh Hoá,
Trang 10Ngoài ra, chúng tôi cố gắng tiếp xúc với một số nguồn tư liệu gốc do các chuyên viên nghiên cứu lịch sử địa phương điều tra sưu tầm trước đây hiện đang lưu giữ tại tư gia cũng như những văn bản đánh máy đang lưu trữ tại thư viện, Ban tuyên giáo huyện Hoằng Hoá Đồng thời trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã trực tiếp về các địa phương nơi diễn ra phong trào, nay là các xã Hoằng Đức, Hoằng Giang, thị trấn Bút Sơn để gặp gỡ các bậc cao niên, các nhà giáo lão thành nhằm lắng nghe, tiếp thu những ý kiến quý báu phục vụ cho đề tài của mình
b) Phương pháp nghiên cứu
Nguồn sử liệu thực hiện đề tài này không nhiều, hơn nữa đó hầu hết là những công trình được thực hiện cách đây từ 10 đến 15 năm về trước, nhiều quan điểm, sự kiện chưa tiếp cận được với những thành tựu mới của khoa học lịch sử Do vậy việc lựa chọn phương pháp nghiên cứu là một vấn đề hết sức quan trọng quyết định đến kết quả cuối cùng của khoá luận Vì thế khi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi đã lựa chọn phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic, phương pháp so sánh, xác minh phê phán tư liệu lịch sử và phương pháp điền dã sưu tầm lịch sử địa phương
Trên cơ sở của những tư liệu thu thập được, đặc biệt là các tư liệu có liên quan đến đề tài, công việc của chúng tôi hoàn toàn không phải là lắp ghép, sao chép một cách máy móc lại các nguồn tư liệu sẵn có mà từ các nguồn tư liệu, chúng tôi suy ngẫm, phân tích, khái quát bằng "ngôn ngữ lịch sử" của bản thân nhằm biến thành cái riêng của mình Các tài liệu đó chỉ là cơ
sở để thực hiện đề tài này
5 BỐ CỤC CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, nội dung chính của khoá luận được trình bày trong 2 chương như sau:
Trang 11Chương 1: Hoằng Hoá - vị trí địa lý và truyền thống yêu nước Chương 2: Hoằng Hoá trong phong trào Cần Vương chống Pháp
Trang 12NỘI DUNG
Chương 1 HOẰNG HOÁ - VỊ TRÍ ĐỊA LÝ VÀ TRUYỀN THỐNG YÊU NƯỚC
1.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ
Hoằng Hoá là mảnh đất gắn bó hữu cơ với tỉnh Thanh Hoá, một tỉnh
mà "không một đường qua lối lại nào của nó không vang lên tiếng va chạm của giáo gươm thuở trước" [14, 2] Nằm ở phía Đông của xứ Thanh, thuộc hạ lưu của sông Mã, Hoằng Hoá là một huyện ven biển, phía Đông giáp biển, phía Tây giáp các huyện Thiệu Hoá, Vĩnh Lộc, phía Bắc giáp huyện Hậu Lộc, phía Nam giáp huyện Quảng Xương, phía Tây Nam giáp thành phố Thanh Hoá và một phần huyện Đông Sơn
Xét theo vĩ độ và kinh độ trên mặt địa cầu thì "Hoằng Hoá ở vĩ tuyến
19050'50'' Bắc ở Lạch Trào đến 19030'30'' vĩ độ Bắc ở núi Sơn Trang và từ kinh độ 105059'50'' ở ngã ba Bông đến 105059'30'' ở lạch Trường" [9, 15]
Quan sát địa hình Hoằng Hoá chúng ta thấy: trừ phía Đông là biển còn lại ba phía đều có sông Mã bao bọc Đây là vùng châu thổ được bồi đắp trên nền đất cũ do hiện tượng biển lùi và sự lắng đọng của phù sa sông Mã, sông Chu Nhìn chung có thể chia mảnh đất Hoằng Hoá thành hai vùng chính:
Vùng ven biển: bờ biển Hoằng Hoá kéo dài từ cửa Lạch Trường đến cửa Lạch Trào dài 12km "Thanh Hoá có nhiều cửa biển nhưng chỉ có hai cửa Hội Triều (Lạch Triều) và Y Bích (Lạch Trường) nếu có việc cầu kíp thì hai huyện Hoằng Hoá và Hậu Lộc giữ vị trí xung yếu" [2, 8] Các xã ven biển gồm 8 xã thuộc tổng Ngọc Chuế cũ (Hoằng Yến, Hoằng Tiến, Hoằng Hải, Hoằng Trường, Hoằng Đông, Hoằng Thanh, Hoằng Ngọc, Hoằng Phụ) Đây
Trang 13là một dải đất khá cát rộng, hẹp không đều, độ màu mỡ cũng không đều được hình thành bởi các dòng hải lưu xuôi ngược dọc bờ biển
Vùng đồng bằng: bao gồm tất cả các xã còn lại thuộc 7 tổng trước đây (Từ Minh, Bái Trạch, Hành Vĩ, Bút Sơn, Dương Thuỷ, Dương Sơn, Lỗ Hương) Những giải thích về vùng biển Hoằng Hoá có thể cắt nghĩa cho cả địa bàn toàn huyện Bởi lẽ nhiều xã trước đây là biển như xã Hoằng Phong, Hoằng Thắng, khi biển rút đi cùng với quá trình lịch sử địa lý, đến một thời gian nào đó hình thành vùng đồng bằng trũng mà hễ có mưa to nếu không có
đê là ngập nước Vùng đất cao cũng có nhưng rất ít, chỉ có mấy làng ven núi Sơn Trang (xã Hoằng Khánh), một số làng ở Hoằng Trung
Tóm lại bộ mặt địa hình Hoằng Hoá bằng phẳng, phì nhiêu, bộ mặt địa hình ấy không phải chỉ do thiên nhiên tạo ra mà phần lớn cảnh quan của đồng bằng, độ màu mỡ của đồng bằng, sự sầm uất, trù mật của xóm làng còn mang dấu vết của bàn tay, trí não của con người Hoằng Hoá trong chiều dài lịch sử tạo nên một vùng quê giàu đẹp rất đỗi tự hào
Địa hình Hoằng Hoá như đã nói trên nhìn chung là bằng phẳng Nhưng nơi đây không chỉ có những cánh đồng bao la, những bãi biển cát trắng chạy dài mà còn có những ngọn núi xen kẽ như núi Kim Trà (Sơn Trang hay Nghĩa Trang) thuộc xã Hoằng Khánh, núi Linh Trường (Kim Chuế, Trường Lệ, Lạch Trường hay núi Hà Rò) nằm ở ba xã Hoằng Yến, Hoằng Hải, Hoằng Trường; núi Băng Sơn (Mộc Sơn, núi Bưng) thuộc xã Hoằng Sơn; núi Ngọc Hàm Rồng (núi Nít) thuộc xã Hoằng Long Mỗi vùng là mỗi thắng cảnh gắn với bao kỳ tích chiến đấu và xây dựng của tiền nhân nên núi nào cũng tiềm ẩn những nét tinh hoa, khát vọng, nỗi niềm của con người Hoằng Hoá, vẻ đẹp, đức cần cù, trí tuệ thông minh của nhân dân Hoằng Hoá Một số ngọn núi có
vị trí đặc biệt quan trọng như núi Kim Trà, núi Trường, núi Ngọc Dãy Kim Trà ở phía phía Bắc làm ranh giới với Vĩnh Lộc, Hà Trung sẽ án ngữ các đợt
Trang 14gió mùa Đông Bắc vào mùa đông Còn dãy Linh Trường nằm ở phía Đông có đỉnh cao nhất là 205m, có mỏm đá ăn ra biển như mũi hài sẽ ngăn chặn xu hướng dịch chuyển của Lạch Trường về phía Nam giữ thế ổn định lâu dài cho
bờ biển Hoằng Hoá Các núi thấp và nhỏ điểm xuyết cho Hoằng Hoá trù mật trữ tình, phối hợp với dòng sông Mã bao bọc cùng hệ thống sông ngòi chảy ngang dọc như sông Cung nối liền cửa biển Lạch Trường và Lạch Trào Sông Tuần chảy giữa huyện nối thành mạng lưới giao thông đường thuỷ lên rừng, xuống biển dễ dàng
Hoằng Hoá nằm ở trong khu vực nhiệt đới gió mùa nhưng lại ở vùng biển nên hàng năm nhận được ba luồng gió chính: Gió mùa Đông Bắc, gió mùa Tây Nam và gió Đông Nam Cũng như toàn tỉnh Thanh Hoá thời tiết Hoằng Hoá chia làm hai mùa rõ rệt: mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 10, nhiệt
độ trung bình là 280C, có khi đến 400C, giông bão thường xuyên xảy ra Mùa lạnh từ tháng 1 đến tháng 4 năm sau, có nhiệt độ trung bình là 200
C, có khi giảm xuống 100C, khí hậu khô lạnh, có sương mù
Với vị trí địa lý tự nhiên như trên, Hoằng Hoá là huyện vừa có đường biển, đường sông, đường bộ thuận lợi cho phát triển giao lưu kinh tế, văn hoá với các huyện, các vùng xung quanh, đặc biệt là tuyến giao thông quan trọng: đường thiên lý Bắc vào Nam (ngày xưa) và tuyến quốc lộ 1A song song với đường sắt thống nhất chạy dài 9km từ Nghĩa Trang đến Hàm Rồng, hơn 30km đường sông của các sông Mã, sông Bút, sông Cung
Tuy nhiên điều kiện địa lý nói trên cũng đưa lại cho cư dân Hoằng Hoá không ít khó khăn, nhất là khó khăn trong sản xuất nông nghiệp như lũ lụt, hạn hán gây ảnh hưởng tới mùa màng, làm hư hỏng các công trình xây dựng khiến cho người dân nơi đây trong suốt quá trình lịch sử luôn vật lộn với điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt để sinh tồn
Trang 15Về mặt địa lý hành chính, từ thời Hùng Vương đến nay, Hoằng Hoá trải qua nhiều lần tên gọi đơn vị hành chính như:
Thời Văn Lang - Âu Lạc, Hoằng Hoá thuộc bộ Cửu Châu, một trong 15
bộ của nước ta lúc bấy giờ Sang thời Bắc thuộc, cũng như nhiều địa danh khác, Hoằng Hoá bị phong kiến Trung Hoa đô hộ Trải hơn 1000 năm thống trị, chính quyền đô hộ đã nhiều lần thay đổi tên gọi đơn vị hành chính như: thời thuộc Hán, đất đai Hoằng Hoá thuộc quận Tư Phố, đời Tam Quốc, Lữ Tấn là đất huyện Kiến Sơ và Cao Ban Thời Nam Bắc triều sang thời Tuỳ đổi tên là Long An Đời thuộc Đường đổi Long An thành Sung An (712), sau thành Sùng Bình
Vào năm 938 với chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền đưa đất những ta giành lại độc lập tự chủ lâu dài Tiếp theo các nhà nước Ngô - Đinh - Tiền Lê tìm cách bãi bỏ hẳn các tên gọi đơn vị hành chính cũ cũng như chế
độ quận huyện thời Bắc thuộc, chia nước ta thành các đạo, phủ, trấn
Từ thế kỷ thứ X - XV, Hoằng Hoá thuộc đất hai huyện Cổ Đằng (Bắc Hoằng Hoá ngày nay) và Cổ Hoằng (Nam Hoằng Hoá) [1, 29]
Theo tác giả Đào Duy Anh trong cuốn "Đất nước Việt Nam qua các đời" thì ở thế kỷ XV Thanh Hoá thuộc đạo Hải Tây, huyện Cổ Đằng đổi thành huyện Hoằng Hoá [1, 469] Cái tên Hoằng Hoá chính thức có từ đó
Riêng huyện Mỹ Hoá, sách Đại Nam nhất thống chí chép: "Năm Minh Mệnh thứ 19 (1838) lấy tổng Đại Lý, huyện Hậu Lộc, hai tổng Lỗ Hương và Dương Sơn huyện Hoằng Hoá và 3 xã thôn Bái Xuyên, Hà Thuỷ và Trung Tiết tổng Bút Sơn đặt làm huyện này" [9, 13] Đến năm 1924 bỏ huyện Mỹ Hoá, trả tổng Đại Lý cho Hậu Lộc, nhập 3 tổng còn lại vào huyện Hoằng Hoá
Hoằng Hoá theo "tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XX" có 7 tổng, 161
xã, thôn, trang, sở, đến 1948 có 8 tổng, 169 xã, thôn
Trang 16Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, theo quy định của chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà, các phủ, huyện, châu đều gọi là huyện Các huyện chỉ điều chỉnh lại một số phần đất riêng Hoằng Hoá vẫn đủ 8 tổng và nhập thêm một làng của huyện Hậu Lộc là làng Trung Hoá nay là xã Hoằng Trinh Hiện nay Hoằng Hoá có 47 xã, thị trấn huyện lỵ là Bút Sơn
Như vậy mặc dù tên gọi và một số phần đất có sự chuyển dịch qua các thời kỳ nhưng nhìn chung Hoằng Hoá vẫn luôn là địa bàn ổn định và phát triển liên tục qua các thời kỳ lịch sử
1.2 TRUYỀN THỐNG YÊU NƯỚC
Gắn bó máu thịt với xứ Thanh, với Tổ quốc Việt Nam, Hoằng Hoá là nơi hội tụ nhiều truyền thống tốt đẹp của dân tộc như: truyền thống tự lực tự cường, sáng tạo, hiếu học đặc biệt là truyền thống yêu nước rất đáng tự hào
Nằm ở phía Đông Bắc xứ Thanh, Hoằng Hoá có địa bàn chiến lược hết sức quan trọng trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc Tại Hoằng Hoá trong lịch sử hàng nghìn năm giữ nước của cha ông đã nhiều phen
"vang lên tiếng va chạm của giáo gươm thuở trước"
Trong hơn 1000 năm Bắc thuộc, cùng với nhân dân Thanh Hoá và cả nước, nhân dân Hoằng Hoá không ngừng vươn lên kiên trì đấu tranh chống lại
âm mưu đồng hoá của kẻ thù Điều đó đã tạo ra cho Hoằng Hoá một sắc thái riêng biệt, một truyền thống yêu nước kiên cường, là cơ sở cho các phong trào yêu nước sau này
Ngay từ cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng vào mùa xuân năm 40 bùng
nổ ở quận Giao Chỉ, nghĩa quân Hoằng Hoá đã có mặt ở trung tâm ban đầu của cuộc khởi nghĩa Thần tích làng Phú Hạng xã Tân Phú, huyện Quốc Oai tỉnh Hà Tây ghi rõ: "Ông Nguyễn Viên ở Hoằng Hoá giữ chức trưởng doanh
ở Cổ Châu, lấy bà Trần Thị Lâm sinh được Ả Lã sau đổi thành nàng Đê và
Trang 17người con trai tên là chàng Quốc Đến tuổi trưởng thành Ả Lã và chàng Quốc theo Hai Bà Trưng khởi nghĩa và mất tại Cấm Khê Hình ảnh chị em Ả Lã còn ăn sâu trong tâm khảm của nhân dân các vùng Hoài Đức (Hà Tây) và Gia Lương (Hà Bắc)" [9, 183]
Thời thuộc Ngô vào năm 248, khi Triệu Trinh Nương dẫy binh khởi nghĩa thì tại ngã ba sông Tuần (xã Hoằng Lý ngày nay) đã có đồn tiền tiêu của Bà Triệu và quân của bà còn đóng ở bãi "Cồn Binh" ở Hoằng Giang và
"Bãi Binh" ở Lộc Bồi - Hoằng Hợp Nhân dân nhiều nơi ở Hoằng Hoá cũng
đã gia nhập vào đội quân khởi nghĩa của Bà Triệu Đến nay vẫn còn câu thơ lưu truyền ở Quỳ Chữ (xã Hoằng Quỳ) như :
"Phường ta, phường tổ, tổ tiên Nuôi quân Bà Triệu đã quen từng ngày Voi ngựa trú ở mã này
Mỗi khi xung trận đánh dày quân Ngô"
[2, 19]
Năm 542, Lý Bý dựng cờ khởi nghĩa đuổi quân Lương, nhân dân Hoằng Hoá đã góp phần xứng đáng vào cuộc khởi nghĩa này Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa đã đem đến cho nhân dân Hoằng Hoá những giây phút thanh bình của nhà nước Vạn Xuân Nhiều danh tướng của cuộc khởi nghĩa Lý Bý như Lý Thiên Bảo, Triệu Quang Phục đã được nhân dân Hoằng Hoá lập đền thờ để ghi nhớ công lao đánh giặc ở Hoằng Thành và Hoằng Phượng (ngày nay)
Trên dọc sông Tuần, sông Mã nhân dân vùng ven cũng đã đem thuyền chiến ủng hộ quân Ngô Quyền từ Ái Châu qua đây đi đánh giặc Nam Hán tại sông Bạch Đằng
Dưới thời phong kiến, Hoằng Hoá là địa bàn chiến lược quan trọng được nhiều triều đại chú ý tới
Trang 18Ở thời Lý (1010 - 1225), trong nhiều lần cất quân đánh Chiêm Thành, các vua nhà Lý đã dừng lại ở Hoằng Hoá để tuyển thêm quân đánh giặc (1031, 1035, 1044) Bấy giờ Hoằng Hoá có nhiều tướng giỏi như Lê Phụng Hiểu (xã Hoằng Sơn) được vua Lý Thái Tổ phong làm vũ vệ tướng quân Khi Thái Tổ qua đời, các vương gây biến, ông đã đánh dẹp đưa Thái Tông lên ngôi, giữ yên triều Lý Ông còn có công lớn lao trong việc dẹp giặc Chiêm Thành giữ yên bờ cõi phía Nam Danh tướng Nguyễn Tuyên (xã Hoằng Lộc) cũng có nhiều công lớn dưới triều Lý, khi mất được phong làm phúc thần, được lập đền thờ tại quê hương
Những năm kháng chiến chống quân Nguyên Mông và bọn giặc phương Nam ở đời Trần, cửa Lạch Trường là nơi đọ sức quyết liệt giữa quân triều đình với quân địch Nhiều làng xã quanh vùng đã nhanh chóng đóng bè mảnh, chặt cây vót nhọn để ủng hộ binh lính nhà vua Hoằng Hoá cũng đóng góp nhiều danh tướng giỏi cho cuộc kháng chiến chống Mông Nguyên như Nguyễn Công Đàn (xã Hoằng Thịnh) lập công lớn được nhà vua phong tới chức Phụ ký lang hầu đô tổng thống, khi mất được phong làm phúc thần, đền thờ hiện nay còn ở làng Đoan Vĩ (Hoằng Thịnh) Danh tướng Hoàng Phụng Thế có công bắt sống bọn phản loạn Phạm Sư Ôn, chiếm giữ Thăng Long, giúp nhà Trần thoát khỏi sự xâm lược của Chiêm Thành
Dưới thời thuộc Minh, có lần nghĩa quân Lam Sơn vượt qua sông Mã ở
Cổ Đằng, Lê Lợi đã được nhân dân nhiều nơi giúp đỡ Về sau có người như
bà Hà Thị Cai ở Nghĩa Hưng (xã Hoằng Xuân) được vua Lê ghi công lập đền thờ tưởng niệm tại quê nhà gọi là đền Quốc Mẫu Hoặc có người đã trở thành danh tướng khai quốc công thần của nhà Lê như: Lê Viện (Hoằng Thành) từng chỉ huy đánh thắng các trận Tuy Động, Chúc Động bao vây thành Đông Quan và hy sinh anh dũng (1426) Khi đất nước thái bình được vua Lê Thái
Trang 19Tổ ban là "Hoàng Triều trận vong, " khen là "hết lòng tiết tháo" và truy tặng chức "Lê triều quận công"
Cuối năm Mậu Thân (1788), Quang Trung mang đại binh ra Bắc diệt giặc Thanh thì nhân dân vùng bến đò Đồng Lộng (xã Hoằng Tân) đã mang thuyền bè chở nghĩa quân vượt qua sông nhanh chóng
Kế tục và thừa hưởng truyền thống vẻ vang đó, nửa sau thế kỷ XIX khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, triều đình nhà Nguyễn đại diện cho thế lực phong kiến thối nát phản động, đầu hàng dâng nước ta cho Pháp Không cam chịu làm nô lệ nhân dân nhiều nơi đã đứng lên chống thực dân Pháp xâm lược Trong phong trào yêu nước chống Pháp cuối thế kỷ XIX ở Thanh Hoá nhân dân Hoằng Hoá đã anh dũng đứng lên ngay từ những ngày đầu thực dân Pháp đặt chân lên đất Thanh Hoá, góp phần cùng nhân dân cả tỉnh làm nên phong trào Cần Vương sôi nổi và rầm rộ cuối thế kỷ XIX
1.3 VÀI NÉT VỀ PHONG TRÀO YÊU NƯỚC Ở HOẰNG HOÁ TRONG NHỮNG NĂM TỪ 1858 ĐẾN 1884
Nhân dân Hoằng Hoá vốn có truyền thống yêu nước nên ngay từ giữa thế kỷ XIX, khi thực dân Pháp đặt chân lên nước ta, không khí chống Pháp đã dấy nên sôi nổi ở khắp nơi trong huyện, đặc biệt khi Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ nhất (1873) và lần thứ hai (1882), cùng với thái độ nhu nhược đầu hàng của nhà Nguyễn, cũng như nhiều nơi trong nước, nhân dân các xã, thôn
ở Hoằng Hoá sôi sục căm thù, tiêu biểu là trong giới nho sỹ
Là vùng đất khoa bảng danh tiếng của xứ Thanh nên lúc bấy giờ ở Hoằng Hoá có rất nhiều trường tư thục do các nhà khoa bảng địa phương mở
để dạy học: trường Yên Vực của tú tài Nguyễn Như Cơ, trường Phù Quang của đốc học Lê Quýnh, trường Bái Xuyên của tú tài Nguyễn Duy Tân, trường Cự Đà của cử nhân Nguyễn Đình Văn, trường Nghi Am của cử nhân
Trang 20Nhữ Bá Sỹ, trường Kim Đính của Nguyễn Đôn Tiết Tại những ngôi trường này nếu như trước đây chỉ có các cuộc bình văn, đối thơ thì đến giai đoạn này
đã trở thành nơi tập hợp nho sĩ trong huyện để bàn bạc về quốc sự Kể cả khi bình văn "người ta bàn nhiều đến binh thư mà lướt qua phần kinh truyện" [3, 119] Vấn đề được tranh cãi bàn bạc nhiều nhất chủ yếu xoay quanh chủ trương "hoà hay chiến với giặc Tây Dương" [3, 119] Là những người được sinh ra từ cái nôi của truyền thống yêu nước nên nho sỹ Hoằng Hoá luôn tỏ rõ khí tiết thanh cao, chính trực của mình và phần đông trong số họ đều chủ trương đánh đuổi thực dân Pháp bảo vệ quê hương đất nước
Trong số nho sĩ Hoằng Hoá đương thời có một số là những nhà khoa bảng đỗ đạt cao từng ra làm quan thời Minh Mệnh, Tự Đức, còn lại là những nhà khoa mục ở hương thôn Trước sự xâm lược của thực dân Pháp, được phong trào yêu nước của nhân dân cổ vũ, số đông trong hàng ngũ quan lại Hoằng Hoá đã biểu thị thái độ bất hợp tác với bè lũ thực dân phong kiến Họ vứt bỏ chức tước, bổng lộc, thành quả của hàng mấy chục năm lều chõng, dùi mài kinh sử để trở về quê hương đem những hiểu biết của mình nhằm mưu việc đánh giặc cứu nước, cứu dân
Nhữ Bá Sỹ (1788 - 1867) từng là đốc học Thanh Hoá dưới triều Tự Đức nhưng chán nản công danh, ông đã cáo quan về quê dạy học Trường Cát Xuyên (Nghi Am) của thầy Nhữ Bá Sỹ tập hợp đông đảo các nho sinh trong
và ngoài huyện và trở thành nơi bàn bạc quốc sự nhiều nhất lúc bấy giờ Khi Pháp xâm lược nước ta Nhữ Bá Sỹ đã nhiều lần dâng sớ đề nghị đánh Pháp
"Sớ của ông dài mấy vạn chữ, lời lẽ thống thiết có đủ mưu thuật" [9, 283]
Năm 1865, khi đã 78 tuổi ông còn đi võng vào Nghệ An mưu việc chống Pháp với văn thân tỉnh bạn Về quê hương đang lo chuẩn bị đề phòng Pháp đến thì ông ốm nặng rồi mất Theo gương ông các nho sỹ Hoằng Hoá và các nơi khác là học trò của ông đã tham gia và có vai trò quan trọng trong
Trang 21phong trào Cần Vương chống Pháp sau này Tiêu biểu là Phạm Bành vừa là học trò vừa là con rể ông
Nguyễn Đôn Tiết (1836 - 1886) : Ông từng đỗ phó Bảng (1879) và làm tri huyện Đức Thọ (Hà Tĩnh) nhưng khi Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ lần hai (1882), ông đã cáo quan về quê liên hệ với văn thân tỉnh nhà cùng chí hướng
để bàn kế sách đánh giặc khi chúng đặt chân lên quê hương
Từ năm 1882 - 1884 ông đã đi khắp các vùng từ miền xuôi đến miền núi liên hệ gặp gỡ với hầu hết các văn thân sĩ phu và những người yêu nước trong tỉnh đề bàn kế sách chống Pháp Ông đã trực tiếp gặp Tống Duy Tân ở Vĩnh Lộc, gặp Hà Văn Mao và Cầm Bá Thước ở miền Tây Thanh Hoá, gặp Nguyễn Phương ở Tĩnh Gia, Lê Khắc Tháo ở Đông Sơn Sau những cuộc gặp gỡ này, Nguyễn Đôn Tiết đã về quê tập hợp lực lượng chờ thời nổi dậy ứng nghĩa Với uy tín của một vị đại khoa, ông đã nhanh chóng nhận được sự ủng hộ của văn thân sĩ phu và nhân dân huyện nhà, từ đó một phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân Hoằng Hoá do ông làm chủ suý ngày một phát triển và đã gây được tiếng vang lớn trong những ngày đầu hưởng ứng chiếu Cần Vương
Bên cạnh các nhà khoa bảng đỗ đạt cao, ở Hoằng Hoá lúc bấy giờ còn
có các nhà khoa mục ở hương thôn với khoảng "30 người" [3, 100], phần lớn
là tú tài ở các làng tổng Họ sống gần gũi nhân dân nên tiếp thu được sức mạnh và lòng yêu nước của nhân dân một cách sâu sắc, sinh động Trên cơ sở
ấy một khi có giặc ngoại xâm kéo đến họ sẽ nhanh chóng tập hợp được nhân dân đứng lên cứu nước Đó là những yếu tố đầu tiên trong việc tập hợp lực lượng ở cơ sở làm cho phong trào Cần Vương ở Hoằng Hoá sớm được phát động và tổ chức
Khi đề cập đến tình hình ở Hoằng Hoá giai đoạn này cũng cần phải thấy rõ vai trò của một lực lượng quan trọng sau này đóng góp vào các nghĩa
Trang 22quân Cần Vương đó là những hương binh - đội quân bán vũ trang ở nông thôn được lập ra thời Tự Đức để "phòng bị khi quốc gia có việc" Tuy là những hương binh phải làm việc theo nhiệm vụ của triều đình phong kiến nhưng trên thực tế họ cũng là những nông dân nghèo khổ nên có tinh thần đấu tranh anh dũng và hăng hái chiến đấu cho chính nghĩa
Như vậy, trước khi có chiếu Cần Vương tại Hoằng Hoá, từ văn thân sĩ phu cho đến mọi tầng lớp nhân dân đều đã thể hiện lòng căm thù giặc sâu sắc
và luôn sẵn sàng tư thế đứng lên chống lại kẻ thù khi chúng đặt chân lên mảnh đất quê hương Ngày kinh thành Huế thất thủ, trong nhân dân Hoằng Hoá đã lưu truyền những câu ca dao cổ vũ như:
" Quân dân luyện tập binh đao Càng ngày càng tiến mãi vào kinh đô"
[3, 101]
Có thể nói, truyền thống yêu nước bất khuất chống ngoại xâm của dân tộc, của quê hương xứ sở và sự nhận thức sâu sắc nhạy bén về nghĩa vụ của mối người dân mất nước là yếu tố tư tưởng quan trọng làm tiền đề cho phong trào nghĩa quân Hoằng Hoá ra đời, phát triển nhanh chóng khi chiếu Cần Vương được ban ra (7/1885)
Trang 23Sau gần 30 năm đánh chiếm, bằng chiến lược lấn dần từng bước cộng với sự lừng chừng, thiếu quyết đoán, lúng túng rồi đi đến đầu hàng của triều Nguyễn, thực dân Pháp đã chiếm trọn nước ta thông qua các điều ước 1883 và
1884
Sau khi nhà Nguyễn đầu hàng, ngay tại triều đình, một nhóm quan lại yêu nước tập hợp xung quanh Tôn Thất Thuyết vẫn bí mật chuẩn bị lực lượng
để hành động khi thời cơ đến "Đêm 4 rạng sáng ngày mồng 5 tháng 7 năm
1885 (đêm 22 rạng sáng 23 tháng 5 năm Ất Dậu), thừa lúc giặc Pháp có phần
sơ hở, ông đã hạ lệnh cho quân lính bất ngờ nổ súng tấn công kinh thành Huế"
Trang 24[10, 9] Nhưng do sự chuẩn bị còn thiếu sót, giặc Pháp lại có ưu thế rõ rệt về
vũ khí nên cuộc phản công đã không thành
Trước tình hình kinh thành Huế thất thủ, Tôn Thất Thuyết đã phải đưa vua Hàm Nghi chạy ra phía Bắc để tính chuyện tiếp tục kháng chiến lâu dài Tại miền Tây Quảng Trị, Hàm Nghi đã hai lần xuống chiếu Cần Vương (lần thứ nhất vào ngày 13/7, lần thứ hai tại Hà Tĩnh vào ngày 19/9/1885) kêu gọi văn thân sĩ phu và nhân dân cả nước đứng lên chống Pháp
Thanh Hoá là một địa danh mà "không một đường qua lối lại nào của
nó không vang lên tiếng va chạm của giáo gươm thuở trước" Vị trí chiến lược của xứ Thanh còn được ghi nhận: "Bờ cõi tỉnh Thanh Hoá bốn phía cao sâu, mà đường thuỷ đường bộ thông đến 8 cõi trùng hiểm bao bọc phía ngoài, còn phía trong thì bằng phẳng rộng rãi Thiệt là chỗ làm cuống họng cho các tỉnh Bắc Kỳ hiện nay, mà tỉnh Thanh Hoá là nơi hình mạnh hướng vào, thế lớn nhóm lên vậy" [14, 15] Ngay cả khi ra chiếu Cần Vương lần thứ hai, vua Hàm Nghi cũng đã từng chỉ thị cho quan lại, binh sĩ và dân chúng: "Khi nào trừ khử được chúng (chỉ giặc Pháp) thì đến gặp trẫm Trẫm sẽ đóng đô tại Thanh Hoá Đây là một địa điểm quý" [10, 12]
Với vị trí chiến lược và bề dày truyền thống yêu nước như vậy nên từ những ngày đầu khi chiếu Cần Vương được ban ra, nhân dân Thanh Hoá đã sôi nổi hưởng ứng và đã có những đóng góp to lớn tô thắm thêm truyền thống chống ngoại xâm oai hùng của dân tộc
Ngay sau khi tiếp nhận chiếu Cần Vương, dưới sự lãnh đạo của các văn thân sĩ phu yêu nước, nhân dân các địa phương đã hăng hái đứng dậy tập hợp đội ngũ, tổ chức lực lượng sẵn sàng tiêu diệt giặc khi chúng xâm lược quê hương Trên phạm vi toàn tỉnh, từ miền biển lên miền núi, từ đồng bằng tới trung du đã nhanh chóng hình thành một mạng lưới các làng xã kháng chiến
Trang 25Ở đây cũng cần thấy rõ rằng: trong khi nhân dân sôi nổi hưởng ứng chiếu Cần Vương thì bọn quan lại đầu hàng lại có những hoạt động gây bất lợi cho phong trào Tổng đốc Nguyễn Thuật và án sát Vương Duy Trinh ngày đêm mong chờ quân Pháp kéo tới tỉnh lỵ Chúng đã ngăn cản không cho bố chánh Nguyễn Khoa Luận tiến hành những chuẩn bị cần thiết để chống giặc khi chúng kéo tới Tuy nhiên bất chấp ý định đen tối của bọn quan lại phản động, văn thân sĩ phu và nhân dân các địa phương đã nhất tề vùng dậy, quyết sống mái với quân thù Công tác chuẩn bị lực lượng diễn ra ở hầu khắp các địa phương từ miền biển đến miền ngược
Tại Hậu Lộc, nghĩa quân được hình thành dưới sự lãnh đạo của Phạm Bành và Hoàng Bật Đạt Cùng lúc đó tại Tĩnh Gia là Nguyễn Phương, tại Nông Cống là Tôn Thất Hàm, Lê Ngọc Toản, tại Quảng Xương là Đỗ Đức Mậu, Lãnh Phiên, tại Hà Trung có Lãnh Toại, Lãnh Phi, Đông Sơn có Lê Khắc Tháo, ở miền núi phía Tây có Hà Văn Mao, Cầm Bá Thước
Nhìn chung, trên toàn tỉnh lúc đó đã hình thành một hệ thống làng xã kháng chiến dày đặc, đặc biệt từ đầu năm 1886, khi Trần Xuân Soạn được Tôn Thất Thuyết uỷ nhiệm phụ trách chung, ông đã lấy danh nghĩa vua Hàm Nghi phong chức cho các văn thân sĩ phu yêu nước trong tỉnh và dần dần đi đến tập hợp thống nhất các lực lượng nghĩa quân trong toàn tỉnh đoàn kết chống Pháp
Cùng với văn thân sĩ phu và nhân dân toàn tỉnh sôi nổi hưởng ứng chiếu Cần Vương, là một địa phương có truyền thống yêu nước chống ngoại xâm, lại nằm sát tỉnh lỵ Thanh Hoá, do đó ngay từ những ngày đầu của chiếu Cần Vương nhân dân Hoằng Hoá đã nhanh chóng hưởng ứng và chuẩn bị lực lượng chống Pháp
2.2 NGHĨA QUÂN HOẰNG HOÁ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN
Trang 26Tại Hoằng Hoá, ngay từ khi Pháp tấn công Bắc Kỳ lần thứ hai (1882) một số văn thân đã từ quan về quê dạy học và tìm cách chống Pháp Đến khi nhà Nguyễn ký hai điều ước đầu hàng (1883, 1884) thì "hàng loạt văn thân sĩ phu, các nhà khoa bảng đã quay về địa phương ứng nghĩa" [3, 4]
Một trong những cơ sở đầu tiên của nghĩa quân Hoằng Hoá lúc bấy giờ được thành lập tại làng Thọ Vực, tổng Bút Sơn, dưới sự chủ trì của vị phó bảng Nguyễn Đôn Tiết vốn là tri huyện Đức Thọ - Hà Tĩnh đã cáo quan trở về
để chống Pháp Lực lượng nghĩa quân ban đầu có khoảng 100 người" [5, 102] gồm đinh tráng các làng trong tổng tham gia Về sau lực lượng nghĩa quân ở
Tế Độ (xã Hoằng Phúc) do Lê Thế Khánh chỉ huy sát nhập thành cơ sở lớn, làng Tế Độ được chọn làm nơi huấn luyện, tích trữ vũ khí, lương thực
Cùng lúc đó, tại huyện Mỹ Hoá, cơ sở nghĩa quân đầu tiên cũng được thành lập ở làng Trinh Hà, tổng Dương Sơn (xã Hoằng Trung) có khoảng 60 người do Lê Trí Trực chủ trì
Từ hai cơ sở trên lực lượng nghĩa quân được trải rộng ra trong hai huyện Hoằng Hoá và Mỹ Hoá cũ
Tại làng Trinh Sơn tổng Lô Hương (Hoằng Giang), Cao Điển vốn là suất đội vũ lâm của triều đình Huế cũng quay về quê nhà, lập một căn cứ nghĩa quân với khoảng 40 người ở núi Triêng, phần đông là thân nhân trong
họ và một số làng khác có truyền thống thượng võ
Tại làng Hoằng Nghĩa, tổng Hành Vĩ (Hoằng Lộc), cử nhân Nguyễn Huy Võ đang làm quan tri huyện Bình Lục, Hà Nam và kế theo là người anh ruột, cử nhân Nguyễn Huy Cửu làm quan tri huyện Kim Anh (Vĩnh Phúc) đã trở về lập ra cơ sở nghĩa quân với trên 100 người tham gia
Tại làng Mỹ Đà, tổng Từ Quang (Hoằng Minh), cử nhân Lê Viết Huy vốn là bố chánh Nghệ An (thường gọi là bố Mỹ) đã quay về cùng con là Lê Viết Trạc tập hợp nghĩa quân với khoảng 100 người
Trang 27Tại làng Yên Vực, tổng Từ Quang (xã Hoằng Long) cử nhân Nguyễn Phương cũng từ bỏ chức đốc học Hải Dương trở về quê lập nghĩa quân khoảng 30 người
Tại làng Tào Xuyên, tổng Dương Thuỷ (Hoằng Lý), cử nhân Nguyễn Xuân (án Xuân, án Tào) làm án sát Quảng Bình cũng cáo quan tham gia khởi nghĩa Hương Khê - Hà Tĩnh và được cử về quê xây dựng cơ sở Tại đây ông
đã tập hợp được nghĩa quân với khoảng 30 người
Bên cạnh đó, cũng thời gian này ở hai huyện Hoằng Hoá và Mỹ Hoá, một số cơ sở nghĩa quân do các nhà khoa mục ở hương thôn chủ trì cũng đã dấy lên rộng rãi như:
Cơ sở Đại Lộc, tổng Hành Vĩ (xã Hoằng Vinh) do Tú Bớ chỉ huy có khoảng 40 người
Cơ sở ông Hoà, tổng Hành Vĩ (xã Hoằng Thành) do cử nhân Lê Huy
Ôn chủ trì có khoảng 50 người
Cơ sở Liên Châu, tổng Bái Trạch (xã Hoằng Châu) do Tú Quý đứng đầu có khoảng 30 người
Cơ sở Đằng Xá, tổng Bút Sơn (xã Hoằng Đạo) do hai anh em ruột Mai Hàn, Mai Quán lãnh đạo có khoảng 40 người
Cơ sở các thôn, tổng Dương Thuỷ (nay thuộc xã Hoằng Cát) cũng có khoảng 40 người do Phạm Văn Viên và Phạm Văn Kiên chủ trì Về sau do Đặng Oanh và Đặng Tý chỉ huy
Ngoài ra, vào thời điểm này, tại một số vùng nữa trong hai huyện, do những nguồn liên lạc khác đã lập được các cơ sở nghĩa quân lớn mạnh
Tại làng Hợp Đồng, tổng Lô Hương (xã Hoằng Giang) được lệnh của
bố vợ là phụ chính Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Thọ Tốn đã lập ra một nghĩa quân đông đảo với 200 người bao gồm dân phu các làng trong tổng tham gia,
về sau một lực lượng nghĩa quân của Cao Điển được sát nhập lại trở thành cơ
Trang 28sở quan trọng án ngữ một vùng phía Tây Bắc huyện, cạnh đường thiên lý từ Huế ra Hà Thành
Tại làng Nguyệt Viên, tổng Từ Quang (nay thuộc xã Hoằng Quang) được sự giúp đỡ của vị thông gia là tả quân đô thống Trần Xuân Soạn, tú tài Nguyễn Duy Hinh đã gây dựng được một cơ sở nghĩa quân gồm có khoảng 80 người, về sau được lực lượng nghĩa quân của cử Phương (Yên Vực), án Xuân (Tào Xuyên) sát nhập trở thành căn cứ rộng từ Hàm Rồng đến Nghĩa Trang
Tại làng Thanh Nga, tổng Dương Sơn (nay thuộc xã Hoằng Trinh) nghĩa quân Lê Văn Phác cũng được thành lập có khoảng 40 người dưới sự giúp đỡ của Lê Khắc Tháo (Đông Sơn)
Tại làng Phú Khê, Cổ Đằng, tổng Dương Thuỷ (nay thuộc xã Hoằng Quý), Lê Khắc Quýnh được sự chỉ đạo của Hoàng Bật Đạt cũng lập ra một đội quân khoảng 30 người, hầu hết là những tay võ nghệ nổi tiếng trong làng Sau Ba Đình thất thủ một số trong lực lượng này kéo ra Bắc Kỳ tham gia nghĩa quân Yên Thế
Các làng ven biển thuộc tổng Ngọc Chuế được sự chỉ đạo của Phạm Bành một số nghĩa quân cũng được thành lập Tiêu biểu là cơ sở nghĩa quân ở làng Đông Thành (nay là xã Hoằng Tiến) do Đội Tám ( Lê Xuân Tuyển) chỉ huy
Từ sự phát triển của các cơ sở nghĩa quân, tính đến cuối năm 1885,
"Hoằng Hoá đã có đến 80% số làng có nghĩa quân Cần Vương và đã được tập hợp tại 15 cơ sở tại 5 tổng của hai huyện lúc bấy giờ Tổng số nghĩa quân có trên
1000 người" [5, 103] Lúc đầu các cơ sở được hình thành riêng lẻ nhưng về sau (đầu năm 1886) khi có sự chỉ huy của các lãnh tụ Cần Vương trong tỉnh như Trần Xuân Soạn, Tống Duy Tân, lực lượng nghĩa quân của hai huyện Hoằng Hoá và Mỹ Hoá đã được thống nhất dưới sự chỉ huy của phó bảng Nguyễn Đôn Tiết và tán tương Lê Trí Trực Từ đó các cơ sở đều có sự phối hợp chặt chẽ và phát triển nhanh chóng Nghĩa quân ở từng cơ sở tổ chức tập luyện nghiêm
Trang 29minh, nhiều nơi hình thành các giáo trường như giáo trường Cồn Mả (Mỹ Đà), giáo trường Cồn Nan (Tế Độ), hoặc những bãi tập như bãi chợ Hôm (Nguyệt Viên), chợ Quăng (Hoằng Nghĩa), núi Triêng (Trinh Sơn) núi Hà Đô (Đôn Nghĩa)
Ngoài việc mua sắm vũ khí có sẵn như dáo, mác, mã tấu, đinh ba một số cơ sở còn chế thêm vũ khí mới như cơ sở Tế Độ đã tổ chức ra các lò rèn, lò đúc đạn bằng tiền đồng do các nhà giàu trong vùng ủng hộ
Vai trò thủ lĩnh nghĩa quân cũng được nêu cao trong việc tổ chức, chỉ huy các cơ sở Nhiều người không những đã đứng ra tập hợp lực lượng mà còn tự đem tài sản của mình hoặc đích thân đi vận động, quyên góp để nuôi quân, xây dựng cơ sở vững mạnh
Nguyễn Thọ Tốn, một gia đình giàu có nổi tiếng, được sắc phong thái bộc, đã dốc hết cơ nghiệp vào công cuộc Cần Vương mà bản thân ông là thủ lĩnh dấy nghĩa
Nguyễn Huy Võ, Nguyễn Huy Dinh, Lê Huy Ôn, Lê Viết Trạc đã từng lặn lội bắt liên lạc với Phạm Bành, Hoàng Bật Đạt và sau là Đinh Công Tráng để
đi tìm hiểu chiến thuật, chiến lược trong công việc xây dựng căn cứ nghĩa quân
Sự chịu đựng gian khổ, tinh thần hy sinh tính mạng cho sự nghiệp cao
cả mà các thủ lĩnh Cần Vương ở từng cơ sở luôn nêu cao đã góp phần tích cực làm cho phong trào nghĩa quân Hoằng Hoá ngày càng phát triển và được đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia ủng hộ Có thể nói "Cả huyện Hoằng Hoá, đâu đâu cũng rầm rậy, hừng hực khi thế "Bình Tây phục quốc" của những người dân có chí mạnh tâm hùng Đất trời Hoằng Hoá được một phen chứng kiến những người dân tỏ dạ trung cam với Tổ quốc, với quê hương" [9, 215]
Trên cơ sở ấy nghĩa quân Hoằng Hoá đã đáp ứng kịp thời những yêu cầu to lớn, cần thiết về chiến đấu cũng như chi viện chiến đấu trong phong trào Cần Vương Thanh Hoá
Trang 302.3 MỘT SỐ TRẬN ĐÁNH TIÊU BIỂU CỦA NGHĨA QUÂN HOẰNG HOÁ TRONG PHONG TRÀO CẦN VƯƠNG
2.3.1 Trận tham gia phối hợp đánh úp thành Thanh Hoá
Tháng 11/1885 khi nghĩa quân Hoằng Hoá còn đang trong thời kỳ tập luyện chuẩn bị lực lượng thì tại tỉnh lỵ Thanh Hoá quân Pháp do Minô (Mignot) chỉ huy kéo từ Ninh Bình vào Nghệ An Trên đường hành quân Minô đã để lại một đơn vị chiếm đóng tỉnh lỵ Thanh Hoá do Métsanhgơ (Metsinger) chỉ huy Kết hợp với đóng quân đồn trú, Pháp cử Ranhgiơvan (Ringeval) làm công sứ Thanh Hoá Tổng đốc Thanh Hoá lúc bấy giờ là Nguyễn Thuật "đã không chống cự mà còn đón tiếp quân Pháp vào đóng trong nội thành" [5, 121]
Tỉnh lỵ Thanh Hoá từ sau ngày thực dân Pháp chiếm 6,7 tháng, bộ mặt kinh tế vẫn chưa có gì thay đổi nhưng bộ máy cai trị thì đã được chúng tăng cường liên tục Ở nội thành, bên cạnh dinh tổng đốc, chúng đặt văn phòng công sứ Pháp, tiếp theo là "trại lính Âu gồm khoảng 120 tên và trại lính pháo thủ Bắc Kỳ cùng lính khố xanh có khoảng 300 tên" [6, 68] Ở các cửa thành đều có các bốt gác của giặc và chúng còn dựng thêm một đồn Pháp ở Cầu Hạc phía Bắc thành Những cảnh tượng mới diễn ra hàng ngày như việc lùng sục,
vơ vét của lính định, tiếng kèn Tây gọi lính càng làm cho nhân dân ta thêm căm thù lũ cướp nước và bán nước
Tại Hoằng Hoá tri huyện là Tôn Thất Thiệu vốn là tay sai đắc lực của
án sát Vương Duy Trinh đã cho tay chân ngày đêm dò la hành tung của cụ Bảng Tiết (Nguyễn Đôn Tiết) và hoạt động của nghĩa quân để mật báo tình hình cho Vương Duy Trinh và công sứ Pháp
Trước tình hình đó, sau một số thắng lợi bước đầu trong việc kìm chân địch, các nhà lãnh đạo phong trào Cần Vương Thanh Hoá đề ra mục tiêu
Trang 31chính là phải nhanh chóng mở rộng hơn nữa vùng căn cứ, mở rộng phong trào khởi nghĩa, đánh thẳng vào bộ máy đầu não của địch ở tỉnh lỵ
Với ý nghĩa ấy các nhà lãnh đạo Cần Vương trong tỉnh đã vạch kế hoạch đánh úp thành Thanh Hoá, cơ sở chính của bọn xâm lược và bọn tay sai quan lại Nam triều đầu tỉnh Công việc quan trọng này được giao cho nghĩa quân ở các huyện phối hợp: Nông Cống, Tĩnh Gia, Quảng Xương, Đông Sơn, Hoằng Hoá, Vĩnh Lộc trong đó nghĩa quân Hoằng Hoá giữ một vai trò quan trọng
Do nằm ở sát tỉnh lỵ Thanh Hoá, nơi mà quân tiếp viện của Pháp có thể
sẽ kéo qua để ứng cứu khi trận đánh nổ ra Vì thế theo sự phân công của các nhà lãnh đạo phong trào Cần Vương, nghĩa quân Hoằng Hoá có nhiệm vụ án ngự phía Bắc tỉnh lỵ từ chợ Giá vào đến bến đò Triềng để chặn đường tiếp viện của quân Pháp từ Ninh Bình kéo vào Thực hiện kế hoạch đánh thành, trước khi khởi sự hai ngày, ngày 9/3/1886, Nguyễn Đôn Tiết đã điều toán quân của Đội Tám từ tổng Ngọc Chuế qua đò Choán lên mai phục ở Yên Vực, đồng thời phân công đội nghĩa dũng của cử Xuân đóng ở Tào Xuyên, một đội nữa do tán tương Lê Trí Trực bố trí ở Phú Khê Thượng Lần này nghĩa quân mặc dù được tổ chức xuất kích hết sức bí mật nhưng cũng không thể qua nổi mắt của tên tay sai Tôn Thất Thiệu
Riêng nghĩa quân của Nguyễn Thọ Tốn được bố trí tại đò Triềng, nghĩa quân Nguyễn Duy Hinh và nghĩa quân Lê Viết Trạc được bố trí tại Hàm Rồng nhằm đánh chặn lực lượng chi viện của địch Đối với nghĩa quân của Cao Bá Điển (Võ Cao Điển) được tổ chức đánh từ trong thành ra Nghĩa quân Lê Trí Trực được lệnh kéo lên phối hợp với nghĩa quân Lê Khắc Tháo ở Đông Sơn tiến công đồn Quán Dò, nhằm tiêu diệt lực lượng rút lui của địch ở mạn Bắc thành
Trang 32Đêm ngày 11 rạng ngày 12 tháng 3 năm 1886, nhân cơ hội sáng hôm sau là ngày phiên chợ tỉnh, các cánh quân đã cải trang làm người đi chợ tiến
về tỉnh lỵ Nguyễn Phương từ Tĩnh Gia dẫn 300 quân cảm tử, các cánh quân của Tống Duy Tân và Cao Điển từ Vĩnh Lộc theo đường Thiệu Hoá kéo xuống, nghĩa quân của Tôn Thất Hàm từ Nông Cống kéo ra, nghĩa quân Đỗ Đức Mậu từ Quảng Xương lên, Hà Văn Mao từ Thọ Xuân kéo xuống Trong khi đó thì Nguyễn Đôn Tiết đưa quân từ Hoằng Hoá lên chặn giặc bên tả ngạn sông Mã Đúng vào lúc nửa đêm ngày 11 quân ta xông vào hai cửa Tiền và Tả giết chết lính gác rồi đột nhập đánh chiếm các nơi Lính Pháp giữa đêm đột ngột bị dựng dậy, hốt hoảng cầm súng vừa chạy tán loạn, một số bị nghĩa quân tiêu diệt tại chỗ, các công sở của địch cùng lúc bị tấn công, chánh văn phòng toà sứ Pive (Bivert) và trung uý Phơrăngcơ (Franck) đều trúng đạn bị thương Nghĩa quân thừa thắng đánh cả bọn Pháp lẫn bọn tay sai kéo tới cứu nguy cho chủ, nhiều tên chết, một số chạy trốn tán loạn, số còn lại rút vào đồn
cố thủ "Lửa cháy rực trời, trống mõ khua vang, tiếng nghĩa quân hò reo dậy đất, cuộc chiến đấu kéo dài đến gần sáng" [10, 27] Nhưng giặc Pháp có ưu thế về vũ khí, chúng đã ngoan cố bám lấy vị trí nên nghĩa quân không sao tiêu diệt hoàn toàn được chúng đành phải rút lui
Không đầy một tuần lễ sau ngày thành Thanh Hoá bị đánh bất ngờ, Pháp đã điều một lực lượng gồm lính Ả rập và lính pháo thủ Bắc Kỳ do thiếu
ta Têriông chỉ huy kéo từ Nam Định vào tỉnh lỵ Thanh Hoá Đúng như kế hoạch đã dự định, cuộc hành quân của địch phải đi qua đò Triềng, do đó nghĩa quân Nguyễn Thọ Tốn đã kịp thời bố trí cất giấu thuyền bè để kìm chân địch Khi tới nơi, không có phương tiện qua sông, bọn địch lúng túng liền bị nghĩa quân mai phục xung quanh tiến đánh tới tấp, làm tan rã đội hình, một số bị thương mãi đến tối chúng mới cướp được ít tre nứa của dân để qua sông một cách khó khăn
Trang 33Trận đánh úp thành Thanh Hoá mặc dù không giành được thắng lợi hoàn toàn nhưng đã làm cho giặc Pháp thiệt hại nặng nề Thắng lợi ấy gây ảnh hưởng vang dội trong nhân dân tỉnh nhà đồng thời cũng là mối lo ngại lớn của
kẻ thù Trong "hoạt động có tiếng vang lớn đầu tiên của phong trào Cần Vương Thanh Hoá" [10, 26], nghĩa quân Hoằng Hoá đã góp phần quan trọng vào phong trào chung của tỉnh nhà
2.3.2 Trận bao vây, tập kích huyện lỵ Bút Sơn
Sau trận đánh úp thành Thanh Hoá không thành công vì hoả lực của địch mạnh hơn hẳn quân ta, các nghĩa quân được lệnh rút lui gấp về các căn
cứ địa phương để bảo toàn lực lượng Nghĩa quân Hoằng Hoá do Nguyễn Đôn Tiết chỉ huy ở tả ngạn sông Mã không gặp quân tiếp viện ở Ninh Bình vào cũng đã tiến hành kéo quân về Bút Sơn "Trống dong cờ mở giữa ban ngày theo đường đê sông Tuần, đi đầu vác lá cờ đại có thêu 4 chữ "Bình tây phục quốc" là cô Xuyến - nữ trang binh, vợ cả Tu, con dâu của Bảng Tiết Các nghĩa quân trong huyện kéo về Bút Sơn đóng ở các đình Thọ Vực, Thọ Văn,
Tế Độ, Trù Ninh vây quanh huyện lỵ Nhân dân Bút Sơn già trẻ gái trai nô nức hưởng ứng, khí thế đánh giặc giữ làng tưng bừng trong toàn huyện" [5, 121] Bãi Vực trước huyện lỵ được chọn làm nơi tập trung và tập luyện của nghĩa binh Chợ Bút trở thành nơi tập hợp gia đình và người thân của nghĩa binh kết hợp đi chợ và hỏi thăm chồng con đang tại ngũ "Chưa bao giờ Bút Sơn có khí thế hào hùng như những ngày đón quân ông Bảng Tiết" [5, 121] Tri huyện Tôn Thất Thiệu khi nghe tin nghĩa quân kéo về đã cùng nha lại bỏ trốn chạy về tỉnh lỵ cầu cứu quan Tây
Được tin báo của Tôn Thất Thiệu, Nguyễn Thuật và Vương Duy Trinh yêu cầu công sứ Pháp Ranhgiơvan và trung tá Métsinhge phái quân chiếm đóng Bút Sơn để đàn áp nghĩa quân Hoằng Hoá Métsinhge ngay lập tức đã
Trang 34chapelle) chỉ huy tức tốc kéo về Bút Sơn chiếm đóng trong huyện lỵ Tôn Thất Thiệu nấp bóng quân Tây cũng kéo theo một đội lính về đóng trong huyện cùng với đội lính Âu, chung quanh có hàng rào chông gai bao bọc
Trước quân thù mạnh có nhiều súng ống tối tân, Nguyễn Đôn Tiết đã lệnh cho nghĩa quân lui xa huyện lỵ về phía Đông, rút từ Thọ Vực, Thọ Văn, Thọ Sơn, Thọ Lộc chuyển xuống Tế Độ, Bái Ninh, Đạt Tài, Hạ Vũ để khi cần thiết có thể rút sang Ngọc Chuế qua đò Choán, đồng thời ông cho người báo cho Hoàng Bật Đạt và Đỗ Xuân Mậu để nghĩa quân hai huyện giáp danh: Hậu Lộc và Quảng Xương chi viện kịp thời Mặt khác ông giao cho Tú Tân và Tú
Cơ vừa đôn đốc quân lương, vừa sắp xếp cho nhân dân Bút Sơn nhất là người già và trẻ con các xóm gần huyện lỵ như Thọ Vực, chợ Bút tạm lánh sang ba
xã phía Đông sông Đằng để tránh nạn khi có đánh nhau to
Sapen và Tôn Thất Thiệu vừa chiếm đóng huyện lỵ đã giở ngay những thủ đoạn dã man của bọn xâm lược đối với nhân dân Bút Sơn: "Chúng ẩn trong các nhà công đường, tư thất, trại giam kiên cố bắn súng suốt đem ra bốn phía vịn cớ đề phòng nghĩa quân tập kích Ban ngày chúng cho các toán lính
Âu kèm theo bọn tay sai dẫn đường kéo đi các làng xung quanh huyện để đốt phá, gặp nhà là đốt, gặp người là bắn" [5, 121] Đặc biệt chúng đã triệt hạ thôn Thọ Vực quê hương của lãnh tụ Nguyễn Đôn Tiết Hai dãy phố chợ Bút cũng bị biến thành tro tàn trừ nghè xã Bút và chùa Liên Hoa Xóm Tây Thọ Văn cũng bị đốt phá "Suốt tháng 4 năm 1886 Bút Sơn như một biển lửa cháy liên tục hết ngày này qua ngày khác Các ngôi nhà tre gỗ của nhân dân bị đốt hết chỉ còn trơ lại những hàng dừa bị cháy xém" [5, 121] Mặc cho sự tàn sát
dã man của kẻ thù, nhân dân Bút Sơn không hề nao núng, vẫn dũng cảm kiên trì tiếp tế cho nghĩa quân: ban ngày đi tránh đan, ban đêm về nấu cơm, làm bánh gánh sang tiếp tế cho nghĩa quân