Qua các báo cáo chính trị định kỳ hàng tuần của sở mật thám Đông Dương gửi các quan chức cai trị cao cấp của chính quyền thuộc địa, có thể thấy rằng trong những năm 1936-1938, địch nắm t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA LỊCH SỬ
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
BƯỚC ĐẦU TèM HIỂU HỆ THỐNG TỔ CHỨC ĐẢNG CỘNG SẢN ĐÔNG DƯƠNG THỜI Kè 1939 – 1945
Chuyờn ngành: Lịch sử Việt Nam
Trang 2Khoá luận tốt nghiệp
2.2 Từng bước thống nhất và kiện toàn hệ thống tổ chức Đảng
trên toàn quốc (từ tháng 3 đến tháng 8/1945)
55
Trang 3Khoá luận tốt nghiệp
MỞ ĐẦU
1 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Trong lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng ta hơn 70 năm qua, thời
kỳ 1939-1945 là sự thể hiện đậm nét bản lĩnh cách mạng kiên cường, sức sống mãnh liệt, trí tuệ sáng tạo, sự trưởng thành vượt bậc của Đảng cả về tư duy cách mạng, năng lực tổ chức thực hiện lẫn hệ thống tổ chức
Thực tiễn lãnh đạo của Đảng trong quá trình vận động cách mạng giải phóng dân tộc1939-1945 rất phong phú, có ý nghĩa hết sức to lớn nên dù đã
có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu song cho đến nay vẫn còn nhiều vấn đề, nhiều phương diện chưa được làm sáng tỏ hoặc luận giải thấu đáo Trong đó có vấn đề tổ chức Đảng, vai trò và vị trí của nó trong toàn bộ quá trình Đảng lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức quá trình chuẩn bị lực lượng và thực hiện tổng khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi
Trong điều kiện hoạt động bí mật, chưa nắm chính quyền, việc xây dựng, củng cố, kiện toàn hệ thống tổ chức Đảng đóng vai trò rất quan trọng đối với sự thành bại của cách mạng Khi Đảng đã có đường lối chính trị đúng đắn, được soi rọi bởi hệ tư tưởng khoa học và cách mạng là chủ nghĩa Mác - Lênin thì có thể nói, cùng với tạo dựng đội ngũ cán bộ, việc xây dựng được
hệ thống tổ chức thống nhất và rộng khắp là một khâu quyết định sức chiến đấu và năng lực chỉ đạo thực tiễn của Đảng Trong cuộc vận động chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang 1939-1945, chính nhờ khôi phục và phát triển hệ thống
tổ chức, bám chắc trên mọi địa bàn, gắn chặt với quần chúng yêu nước và cách mạng, Đảng ta đã biến chủ trương, đường lối cách mạng giải phóng dân tộc thành phong trào đấu tranh sôi động của các tầng lớp nhân dân, tạo dựng được một đội quân chính trị hùng hậu, một lực lượng vũ trang làm nòng cốt, chớp thời cơ phát động và lãnh đạo cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi trên phạm vi toàn quốc với một tốc độ hiếm thấy trong lịch sử cách
Trang 4Khoá luận tốt nghiệp
mạng các nước trên thế giới
Nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống nhằm tái hiện lại quá trình khôi phục và phát triển hệ thống tổ chức Đảng để khẳng định vai trò lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của Đảng; nghệ thuật chuẩn bị lực lượng cho khởi nghĩa vũ trang; sự chủ động sáng tạo, linh hoạt của các cấp bộ tạo dựng
cơ quan lãnh đạo cách mạng, đúc rút những kinh nghiệm về xây dựng, bảo
vệ tổ chức Đảng; bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, những nhận định sai lạc, thiên kiến về vai trò lãnh đạo của Đảng trong cách mạng Việt Nam thời kỳ 1939-1945 là một việc làm cần thiết
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Những công trình nghiên cứu cơ bản của Ban nghiên cứu lịch sử
Đảng Trung ương như: "Những sự kiện lịch sử Đảng" tập I (1920-1945) NXB sự thật H.1976.; "Lịch sử Đảng cộng Việt Nam" (sơ thảo) tập 1 (1920 -
1954), NXB sự thật H.1981 … khi đề cập đến vấn đề tổ chức Đảng chỉ nêu lên chủ trương chỉ đạo của Đảng và nhân sự ở một vài hội nghị Trung ương
2.2 Điều đáng chú ý là cho đến nay hầu hết các tỉnh, thành trong cả nước đã hoàn thành việc nghiên cứu, biên soạn và xuất bản lịch sử Đảng bộ cấp tỉnh, lịch sử Đảng bộ cấp huyện, xã, phường cũng được quan tâm nghiên cứu
Những cuốn lịch sử Đảng bộ nói trên tuy đã nêu lên một cách cụ thể
hệ thống tổ chức Đảng ở địa phương thời kỳ 1939-1945 song chỉ ở phạm vi từng tỉnh; những cơ quan lãnh đạo cấp trên như Liên tỉnh uỷ, Xứ uỷ… rất ít được phản ánh, sự liên kết về mặt tổ chức giữa các địa phương chưa được tìm hiểu đầy đủ; không nêu được những vấn đề phương pháp luận về xây dựng tổ chức Đảng thời kỳ này
2.3 Một số công trình viết về Cách mạng Tháng Tám cũng đã đề cập
ít nhiều đến hệ thống tổ chức của Đảng thời kỳ này Có thể nêu lên những
công trình tiêu biểu như "Cách mạng Tháng Tám - Tổng khởi nghĩa ở Hà
Trang 5Khoá luận tốt nghiệp
Nội và các địa phương", 2 quyển, NXB Sử học, Hà Nội 1960; Lịch sử Cách mạng tháng Tám 1945, NXB Sự thật, Hà nội 1985… đã ít nhiều đề cập đến
tổ chức Đảng ở các tỉnh nhưng còn rất sơ lược và chủ yếu chỉ nêu tên các cơ
quan lãnh đạo cấp tỉnh mà không đi sâu vào cơ cấu tổ chức Cuốn "Lịch sử
Cách mạng tháng Tám 1945", NXB Chính trị Quốc gia 1995 có phản ánh về
hệ thống tổ chức Đảng ở Nam Kỳ và Trung Kỳ trong những năm 1939-1945, song cũng chỉ có tính chất điểm qua, nhiều vấn đề còn phải thẩm định lại và thiếu hẳn phần Bắc Kỳ
2.4 Trong nhiều công trình viết về các lãnh tụ hay kỷ yếu hội thảo về các lãnh tụ, các đồng chí lão thành cách mạng cũng phản ánh về bộ máy tổ chức, nhân sự của Đảng, nhất là ở cấp Trung ương và cấp Xứ ủy trong thời
kỳ 1939-1945 Có thể kể đến một số công trình như: "Đồng chí Trường
Chinh", tập I, NXB Sự thật, Hà Nội 1990; "Đồng chí Lê Hồng Phong",
NXB Sự thật, Hà Nội 1989; "Nguyễn Văn Cừ, một người lãnh đạo xuất sắc
của Đảng", NXB sự thật, Hà Nội 1987; "Đồng chí Phan Đăng Lưu", NXB
Nghệ Tĩnh, 1987… Ngoài ra còn có hàng chục bài viết về các lãnh tụ của Đảng được đăng tải trên các báo và tạp chí Các công trình nói trên khi đề cập đến tổ chức cơ sở Đảng còn tản mạn, chưa có hệ thống
Như vậy, cho đến nay, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống và có tính khái quát cao về quá trình khôi phục phát triển hệ thống tổ chức Đảng trong thời kỳ 1939-1945
Tuy mức độ liên quan đến đề tài khoá luận có khác nhau, những công trình nêu trên là cơ sở quan trọng để tác giả tham khảo và kế thừa trong việc thu thập, xử lý nguồn sử liệu và phương pháp luận vào quá trình thực hiện
đề tài
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sự khôi phục phát triển của hệ thống tổ chức Đảng cộng sản Đông Dương
Trang 6Khoá luận tốt nghiệp
3.2 Phạm vi nghiên cứu: Đề tài trình bày quá trình khôi phục, phát triển hệ thống tổ chức Đảng trên phạm vi cả nước thời kỳ 1939-1945
4 Phương pháp nghiên cứu:
Trong khoá luận tác giả sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic để tái hiện lại sự khôi phục và phát triển hệ thống tổ chức Đảng Đồng thời tác giả cũng sử dụng phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, đối chiếu để định lượng các tổ chức Đảng, để so sánh sự phát triển của tổ chức
cơ sở Đảng giữa các vùng miền với nhau, giữa thời kỳ này với thời kỳ khác
do hạn chế của bản thân và điều kiện nghiên cứu Vì thế, tôi rất mong được
sự góp ý chỉ bảo của các thầy cô giáo, các bạn sinh viên để đề tài được hoàn chỉnh hơn Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ đó, đồng thời tôi cũng xin
bày tỏ lòng biết ơn đến thầy giáo hướng dẫn TS Trần Văn Thức và các thầy
giáo, cô giáo trong khoa Lịch sử đã giúp tôi hoàn thành đề tài này
Trang 7Khoá luận tốt nghiệp
NỘI DUNG Chương 1 ĐẤU TRANH CHỐNG KHỦNG BỐ, VÀ PHỤC HỒI
tổ chức Đảng đã được xây dựng ở 52/69 tỉnh, thành phố trên toàn quốc Bộ máy lãnh đạo gồm 1 Ban chấp hành Trung ương; 3 Xứ uỷ Bắc Kỳ, Trung
Kỳ, Nam Kỳ; 4 Liên tỉnh uỷ và 1 Khu uỷ ở Nam Kỳ; 2 Liên tỉnh uỷ ở Nam Trung Kỳ và Bắc Trung Kỳ; 35 tỉnh, thành uỷ và Ban cán sự Đảng trực tiếp chỉ đạo trong các địa phương ở ba kỳ Đến tháng 2/1939, số lượng đảng viên
ở Việt Nam là 2064 người, trong đó Nam Kỳ có 1095 đảng viên ; Trung kỳ
1939 "Đảng lãnh đạo không thật sát, cho nên nhiều nơi cán bộ phạm phải bệnh hẹp hòi, bệnh công khai, say sưa vì thắng lợi bộ phận mà sao lãng việc củng cố tổ chức bí mật của Đảng Đến khi Mặt trận bình dân bên Pháp thất
Trang 8Khoá luận tốt nghiệp
bại, chiến tranh thế giới thứ hai bắt đầu, thì phong trào mặt trận dân chủ ở nước ta cũng bị thực dân Pháp đàn áp và Đảng ta cũng bối rối một hồi" [24, tr15 - 16]
Ngày 1-9-1939, Đức tấn công Ba Lan; hai ngày sau cùng với Anh, Pháp trong liên minh quân sự với Ba Lan, tuyên chiến với Đức Chiến tranh thế giới lần thứ hai chính thức bùng nổ
Ở Đông Dương, chính quyền thuộc địa thi hành những chính sách cực
kỳ phản động Chúng phát xít hoá bộ máy thống trị, thẳng tay đàn áp phong trào cách mạng của nhân dân ta, ban bố lệnh tổng động viên, thực hiện chính sách kinh tế thời chiến nhằm tăng cường vơ vét sức người sức của ở Đông Dương phục vụ cho chiến tranh đế quốc
Đã có 10 năm kinh nghiệm khủng bố và trấn áp những người cộng sản
ở Đông Dương, chính quyền thuộc địa hiểu rõ Đảng cộng sản Đông Dương
là lực lượng chính trị chủ yếu đe doạ quyền thống trị của chúng ở thuộc địa này Ngày 20/8/1939, Thống tướng Catơru (Catroux), được phong làm Toàn quyền Đông Dương thay Brêviê (Brévié) Tới Đông Dương, Catơru đã lập tức chú ý tới tính "đáng sợ" của những người cộng sản Chỉ hai ngày sau khi Tổng thống Pháp ban hành sắc lệnh giải tán Đảng cộng sản Đông Dương và các tổ chức quần chúng do Đảng lãnh đạo thì Nghị định ngày 28/9/1939 ghi rõ: "Cấm tất thảy mọi hoạt động có tính chất trực tiếp hay gián tiếp tuyên truyền các khẩu hiệu cuả Quốc tế cộng sản hay những tổ chức do Quốc tế cộng sản kiểm soát.'' và giải tán hết thảy các hội ái hữu, tổ chức hay cá nhân nào có liên hệ với Đảng cộng sản Những tổ chức có hay không có liên quan với Đảng cộng sản mà hoạt động theo khẩu hiệu của Đệ tam quốc tế cũng bị giải tán…" [30; tr 466- 467]
Ngày 4/1/1940, tại Hội đồng Chính phủ Đông Dương, Catơru tuyên bố: "Lần này chúng tôi không chờ cho mụn độc phát triển Phải mổ nó trước khi nó phát triển Chúng tôi đã đánh toàn diện và mau lẹ vào các tổ chức
Trang 9Khoá luận tốt nghiệp
cộng sản Chống cộng là một cuộc đấu tranh hàng ngày Trong cuộc đấu tranh này, phải tiêu diệt cộng sản thì Đông Dương mới được yên ổn và mới trung thành với nước Pháp Chúng tôi không có quyền không thắng Tình thế chiến tranh bắt buộc chúng tôi hành động không chút thương tiếc nào" [30; tr465 - 466]
Ngày 21/1/1940, Tổng thống Pháp lại ban hành sắc lệnh thực hiện trên toàn cõi Đông Dương việc quản thúc hay trục xuất khỏi nơi cư trú hoặc giam giữ trong các trại tập trung những người mà chúng cho là nguy hiểm cho việc phòng vệ quốc gia hay cho an ninh công cộng
Ngày 22/6/1940, Chính phủ Pháp đầu hàng phát xít Đức Ba ngày sau, vào ngày 25/6/1940, Đông Dương có một Toàn quyền mới song chính sách đàn áp đối với Đảng cộng sản Đông Dương vẫn không thay đổi Ngày 6/8/1940, tân Toàn quyền Đông Dương vẫn chỉ thị cho thống đốc Nam Kỳ, khâm sứ Trung kỳ, thống sứ Bắc Kỳ tăng cường trấn áp các hoạt động yêu nước và cách mạng
Bài bản trấn áp mà toàn quyền Catơru hay Đờcu tiến hành không khác
gì so với những tên tiền nhiệm, ngoại trừ tính phát xít tàn bạo và quy mô của
nó được đẩy lên tới đỉnh cao Đó là sự tăng cường về lực lượng và phương tiện cho các cơ quan trấn áp; là sự áp dụng các biện pháp tổng hợp từ hành chính đến truy tố hợp pháp hay những hình thức trấn áp không có trong luật định của chính quyền thuộc địa… miễn là có hiệu lực cấm đoán ngăn chặn tức khắc những hoạt động có liên quan đến chính trị, yêu nước và cách mạng dưới mọi hình thức Ở nhiều địa phương Bắc Kỳ, chúng thi hành phương châm "chặt đầu, phá tổ, nhổ rễ" (nghĩa là bắt giết cán bộ, đảng viên; đánh phá các tổ chức Đảng và quần chúng; phá các cơ sở quần chúng bảo vệ và nuôi dưỡng cán bộ) để tiêu diệt Đảng ta Thâm độc hơn, chúng còn sử dụng những đảng viên thoái hoá, biến chất chui sâu vào tổ chức Đảng để nắm lấy những thông tin về bộ máy, nhân sự của Đảng, phục vụ cho việc đánh phá
Trang 10Khoá luận tốt nghiệp
Bọn tay sai cũng ra sức tuyên truyền cho chính sách phản động của thực dân Pháp, đồng thời chĩa mũi nhọn vào Đảng cộng sản Ngày 5/10/1939, Bảo Đại ra đạo dụ cấm các cuộc hội họp, cấm tuyên truyền cộng sản
Bên cạnh thực dân Pháp và tay sai, Đảng ta còn phải đối diện với kẻ thù mới là phát xít Nhật Thực hiện mưu đồ "Tiến xuống phía Nam", trước
sự bất lực và đầu hàng hèn nhát của thực dân Pháp, quân đội phát xít Nhật tiến vào Bắc Kỳ (9-1940), sau đó hoàn tất việc chiếm đóng trên cả nước ta vào tháng 4-1941
Với các lực lượng đàn áp đủ loại (cảnh sát, mật thám, quân đội, các lực lượng bán vũ trang… ), với mạng lưới chỉ điểm dày đặc, chính quyền thuộc địa đã tập trung tất cả "hoả lực khủng bố của thực dân" vào việc đánh phá phong trào đấu tranh của nhân dân ta; trong đó chủ yếu và trước hết là nhằm tiêu diệt cộng sản
Chẳng đợi đến khi có sắc lệnh và nghị định đặt những người cộng sản
ra ngoài vòng pháp luật, ngay khi Chiến tranh thế giới lần thứ hai vừa bùng
nổ, chính quyền thuộc địa đã tiến hành hàng loạt vụ bắt bớ ở cả 3 kỳ Trong
2 ngày 3 và 9 tháng 9-1939, ngay khi Nghị định ngày 28-9-1939 của toàn quyền Đông Dương ký chưa ráo mực, địch đã vây bắt 40 cán bộ, đảng viên
và quần chúng yêu nước ở tỉnh Nam Định Trong tháng 9-1939, toàn Bắc Kỳ
có tới 1051 vụ khám xét và bắt bớ Tổng số người bị bắt trên cả nước trong tháng 9-1939 là 2000 người, trong đó riêng Nam Kỳ là 800 người [36] Đa
số họ là cán bộ, đảng viên và quần chúng cách mạng
Một biện pháp quan trọng mà thực dân Pháp sử dụng để khủng bố phong trào cách mạng của nhân dân ta là dùng toà án để xét xử những người cộng sản và quần chúng yêu nước rồi giam vào các loại nhà tù Riêng toà án Sài Gòn, trong vòng 19 tháng (từ 1-1939 đến tháng 7-1940), thực dân Pháp
đã xử 238 người tổng cộng 602 năm tù [27,tr58] Chúng còn bắt đi an trí,
Trang 11Khoá luận tốt nghiệp
buộc cư trú ở những nơi nhất định hay trục xuất khỏi nơi cư trú một số lượng rất lớn những người chúng cho là nguy hiểm cho an ninh và quốc phòng
Đi đôi với việc bắt bớ, xét xử là gia tăng đột biến của các loại nhà tù, trại giam Ngoài những loại hình nhà tù, trại giam đã có từ trước, bao gồm các trại tạm giam ở các châu, phủ, huyện; các nhà tù hàng tỉnh, các nhà tù cấp xứ, cấp liên bang như: Hoả Lò, Sơn La (ở Bắc Kỳ), Buôn Ma Thuật, Nha Trang (ở Trung Kỳ), Khám lớn Sài Gòn( Nam Kỳ) và nhà tù Côn Đảo, chúng còn lập hàng loạt trại an trí khác
Ở nhiều địa phương, địch còn dùng cả trại lính, nhà kho để giam giữ người bị bắt Tỉnh Thừa Thiên có tới 9 nhà lao, trại an trí và trại quản thúc
Kể từ khi Pháp áp đặt quyền thống trị lên đất nước ta, chưa bao giờ các loại nhà tù trại giam lại được gia cố, mở rộng và xây dựng với số lượng lớn như bấy giờ
Số lượng tù nhân trong các nhà tù, trại giam của thực dân Pháp tăng tỷ
lệ thuận với số lượng các cuộc đánh phá tổ chức Đảng, phong trào quần chúng ở bên ngoài Từ cuối năm 1939 đến cuối 1943 chúng đưa tới 7 đoàn tù lên đày ở ngục Sơn La, phần lớn là cán bộ, đảng viên và quần chúng trung kiên [53,tr36] Ở nhà tù Hoả Lò, từ năm 1940, thường xuyên có trên 400 người bị giam giữ, một phần trong số đó là tù cộng sản [44,tr78-79] Tại nhà đày Buôn Ma Thuật, từ tháng 2 đến 11-1941, có 144 chiến sĩ cách mạng ở miền Trung bị giam giữ và đày ải [49,tr90] Ở Khám Lớn Sài Gòn, đến cuối tháng 9-1940 có 1525 người bị giam giữ, quá tải gấp đôi sức chứa của nhà tù [27,tr60]
Mặc dù đã có sự chuẩn bị đối phó trước, song trước sức đánh phá quy
mô, toàn diện và ác liệt của kẻ thù, hệ thống tổ chức Đảng chịu nhiều tổn thất nặng nề
Ở Bắc Kỳ, có tới 15/17 Đảng bộ tỉnh, thành phố bị địch khủng bố là: Cao Bằng, Quảng Yên, Phúc Yên, Bắc Giang, Hải Phòng, Kiến An, Thái
Trang 12Khoá luận tốt nghiệp
Bình, Hưng Yên, Hải Dương, Nam Định, Hà Nội, Hà Đông, Hà Nam, Sơn Tây, Ninh Bình Toàn Đảng bộ hao hụt tới 50%, số lượng đảng viên [20]
Ở Trung Kỳ, Xứ uỷ đóng ở Huế phải phân tán đi các nơi, như Lê Duẩn (Bí thư Xứ uỷ), Phan Đăng Lưu, Bùi San… vào Sài Gòn hoạt động; các Liên tỉnh uỷ Thanh - Nghệ - Tĩnh (Bắc Trung Kỳ) và Ngãi -Bình - Phú (Trung Trung Kỳ) cũng bị đánh phá Có tới 9 Tỉnh uỷ, Thành uỷ, Ban cán sự
bị vỡ trong những tháng cuối 1939 đầu 1940 là Thanh Hoá, Nghệ An, Thừa Thiên, Quảng Nam, Đà Nẵng, Khánh Hoà, Bình Định, Phú Yên, Ninh Thuận
Những tổn thất nói trên đã gây nên những khó khăn lớn cho Đảng ta trong công tác lãnh đạo nhân dân đấu tranh thực hiện nhiệm vụ trước mắt là giải phóng dân tộc Nghị quyết VI của Ban Trung ương Đảng (11-1939) ghi rõ: "Vì sự khủng bố mới đây các Đảng bộ bị phá hoại ít nhiều, sự liên lạc của Trung ương với các Xứ uỷ trước kia đã thưa thớt ngày nay lại càng rời rạc;
sự liên lạc của các Xứ uỷ với Tỉnh uỷ, Tỉnh uỷ với các quận huyện, các chi
bộ nhiều nơi cũng bị đình trệ" [22,tr560]
Có những tổn thất như trên, ngoài sự đánh phá ác liệt và kéo dài của
kẻ thù, còn do nhiều cấp uỷ, đảng viên, kể cả những đồng chí chủ chốt, còn chủ quan khinh địch chần chừ hoặc chậm trễ trong việc chuyển đổi phương thức rút vào hoạt động bí mật Nguyên nhân của tình trạng này là trong những năm 1936-1939, một số lớn tổ chức, cán bộ, đảng viên qua hoạt động
Trang 13Khoá luận tốt nghiệp
công khai, do đó, khi phải chuyển đổi vào bí mật thì lúng túng, thiếu khẩn trương, có đồng chí ngại thoát ly nên bị vỡ nặng (rõ nhất là ở các tỉnh Trung Kỳ) Bên cạnh đó, ở nhiều địa phương, tổ chức Đảng chưa thống nhất về một mối, chưa có cơ quan lãnh đạo chung nên việc tiếp nhận chủ trương chuyển vào hoạt động bí mật của Đảng gặp nhiều khó khăn Nghị quyết Hội nghị Trung ương tháng 11-1939 đã nhận định: "Sự chuyển hướng sang công tác hoàn toàn bí mật của Đảng sau cuộc đàn áp tháng 9-1939, không được mau
lẹ và khôn khéo" [25,tr59]
Cũng cần phải thấy rằng, trong những năm hoạt động công khai, Đảng
ta đã bộc lộ một số lớn lực lượng cán bộ Kẻ thù lại nham hiểm khống chế và
sử dụng những kẻ đầu hàng phản bội trong hàng ngũ của Đảng (điển hình là Đinh Văn Di, Xứ Uỷ viênTrung Kỳ, Bí thư Tỉnh uỷ Nghệ An rồi Bí thư Liên tỉnh uỷ Thanh - Nghệ - Tĩnh) để nắm bắt theo dõi, giám sát nhiều đồng chí
ta, nhất là đối với cán bộ chủ chốt Qua các báo cáo chính trị định kỳ hàng tuần của sở mật thám Đông Dương gửi các quan chức cai trị cao cấp của chính quyền thuộc địa, có thể thấy rằng trong những năm 1936-1938, địch nắm tương đối cơ cấu tổ chức, nhân sự Trung ương, nhân sự các xứ uỷ cũng như những hoạt động của Đảng ta Do đó, khi chiến tranh thế giới nổ ra, địch đánh rất mạnh và rất trúng, gây cho Đảng ta những tổn thất lớn về tổ chức và cán bộ
1.2 Chuyển vào hoạt động bí mật,đấu tranh bảo vệ hệ thống tổ chức của Đảng
Ngay từ giữa năm 1938, khi Chính phủ Pháp ngày càng ngày ngả về phía hữu, chính quyền thuộc địa ở Đông Dương bắt đầu khủng bố những hoạt động dân chủ, một số đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Xứ uỷ Bắc Kỳ đã chuyển dần vào hoạt động bí mật, xây dựng cơ sở ở nông thôn Đồng chí Hạ Bá Cang (Hoàng Quốc Việt), Xứ Uỷ viên Xứ uỷ Bắc Kỳ bị trục xuất khỏi Hà Nội đã bàn bạc với một số đồng chí trong Xứ uỷ Bắc Kỳ "về
Trang 14Khoá luận tốt nghiệp
nông thôn để phát triển và củng cố cơ sở, sau này còn có chỗ đứng" [58,tr173] Sau một thời gian gây dựng cơ sở bí mật ở Bắc Ninh, Bắc Giang,
đồng chí Hạ Bá Cang viết thư về đề nghị các đồng chí chuyển vào hoạt động
bí mật Các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Xứ uỷ Bắc Kỳ như Trường
Chinh, Hoàng Văn Thụ,… cũng có chủ trương chuyển phương thức hoạt
động, cho rằng: "Chiến tranh nhất định xảy ra Phải chú ý miền núi"
[58,tr150]
Ngay sau khi cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra, Xứ uỷ Bắc
Kỳ tổ chức một cuộc họp hội nghị mở rộng tại làng Vạn Phúc (tỉnh Hà
Đông) do đồng chí Bí thư Nguyễn Văn Cừ chủ trì, Hội nghị đã đề ra chủ
trương và các biện pháp bảo vệ Đảng, bảo vệ cán bộ, chuyển các đồng chí
công khai vào hoạt động bí mật; chuẩn bị những cơ sở vững chắc, chủ yếu là
ở vùng rừng núi để làm nơi đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, củng cố lực lượng lâu
dài Tại Hội nghị này, đồng chí Hoàng Văn Thụ được phân công làm Bí thư
Xứ uỷ Bắc Kỳ thay đồng chí Lương Khánh Thiện
Sau Hội nghị này, đồng chí Tổng bí thư Nguyễn Văn Cừ cùng đồng
chí Hoàng Văn Thụ cử đồng chí Lương Khánh Thiện, Uỷ viên Thường vụ
Xứ uỷ Bắc Kỳ lên Phú Thọ trực tiếp chỉ đạo việc gây cơ sở cách mạng ở
vùng nông thôn miền núi [33]
Chỉ một ngày sau khi Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định đánh vào
Đảng cộng sản, thì vào ngày 29-9-1939, Trung ương Đảng đã gửi Thông
cáo cho các cấp bộ Đảng vạch rõ: "Hoàn cảnh Đông Dương sẽ tiến bước
đến vấn đề dân tộc giải phóng (…) Trong thời gian nghiêm trọng này, tình
hình quốc tế ngày một gay gắt, bọn thống trị ở đây muốn dập tắt phong trào
chính trị trong xứ thì nó phải bắt những người mà nó đã tình nghi để giam
vào ngục vì thế Đảng ta phải lựa những đồng chí trung thành, hăng hái tổ
chức các ban dự bị vào các cơ quan Các ban ấy đồng thời phải dựa vào tập
sự nếu các ban cũ bị truy tố thì ban ấy thay vào (…) Hiện thời tình hình
Trang 15Khoá luận tốt nghiệp
quốc tế đã cho chúng ta còn dại gì mà chui vào nhà tù" [22,tr756-757] Thông báo của Trung ương đã giúp nhiều Đảng bộ địa phương chuyển đổi phương thức, giảm thiểu những tổn thất về tổ chức, cán bộ do sự khủng bố của địch gây ra Chính nhờ linh hoạt nhạy bén trong chuyển đổi hoạt động vào bí mật, về nông thôn mà nhiều cán bộ cốt cán của các Đảng bộ địa phương, của các xứ uỷ đã vượt qua sự khủng bố của kẻ thù, chắp nối lại liên lạc, gây dựng lại tổ chức Đảng và phong trào cách mạng
Những chỉ đạo trong việc chuyển đổi phương thức hoạt động như trên thể hiện sự nhạy bén và khả năng thích ứng chính trị lớn của Đảng ta, song
so với sự chuyển biến căn bản của tình hình thì chưa đáp ứng được yêu cầu mới của cách mạng Vì thế, hai tháng sau ngày Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ, từ ngày 6 đến ngày 8-11-1939, Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng được tổ chức tại Bà Điểm (Hóc Môn, Gia Định) để quyết định những chủ trương mới, trong đó có công tác bảo vệ, xây dựng Đảng một cách căn bản và toàn diện hơn Dự Hội nghị này có Tổng bí thư Nguyễn Văn Cừ, Lê Duẩn, Võ Văn Tần, Phan Đăng Lưu Trên cơ sở phân tích những chuyển biến của tình hình, vận mệnh của dân tộc trước sự thoả hiệp đầu hàng với phát xít Nhật của thực dân Pháp, Hội nghị quyết định đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, trước mắt và cấp bách của cách mạng nước ta; mọi vấn đề của cuộc cách mạng lúc này, kể cả vấn đề ruộng đất, cũng phải nhằm vào mục đích ấy mà giải quyết Nghị quyết Hội nghị khẳng định: "Bước đường sinh tồn của các dân tộc Đông Dương không còn
có con đường nào khác là con đường đánh đổ đế quốc Pháp, chống tất cả ách ngoại xâm vô luận da trắng hay da vàng để tranh lấy giải phóng độc lập" [22,tr536] Hội nghị nhất trí rằng trong tình hình mới, nhiệm vụ mới, nhiệm
vụ của Đảng rất nặng nề Trên tinh thần đó, Trung ương Đảng đặc biệt coi trọng công tác xây dựng Đảng về mọi mặt, tăng cường thống nhất ý chí và hành động từ Trung ương đến chi bộ dựa trên lý luận cách mạng tiền phong
Trang 16Khoá luận tốt nghiệp
của Chủ nghĩa Mác - Lênin, trên nguyên tắc tập trung dân chủ của một Đảng bôn sê vích, trên đường lối chính trị và những khẩu hiệu đúng đắn; phải mật thiết liên lạc với quần chúng, nổ lực tranh đấu để trở nên một Đảng chân chính của quần chúng; phải võ trang lý luận cách mạng; lựa chọn cán bộ mới căn cứ vào thực tiễn công tác; khuyếch trương và củng cố cơ sở Đảng trong các thành thị, trung tâm kỹ nghệ, các hầm mỏ đồn điền; gây dựng cơ sở Miên, Lào lập các ban chuyên môn; chú trọng công tác chỉ bộ; kiểm soát việc thực hiện Nghị quyết; thực hiện tự phê bình và phê bình; chú ý chống nạn khiêu khích mật thám Trong tình hình bị địch đánh phá ác liệt, tổ chức Đảng nhiều nơi bị vỡ, liên lạc không thông suốt, Hội nghị đã chủ trương
"phải lập tức khôi phục hệ thống Trung - Nam - Bắc và làm cho các Đảng bộ
từ chi bộ đến Trung ương mật thiết liên lạc" [22,tr 560]
Những đường hướng mà Hội nghị vạch ra đã được truyền đến các địa phương, thổi một luồng sinh khí mới vào phong trào đấu tranh cách mạng, trở thành quyết tâm hành động cho toàn Đảng trong xây dựng lực lượng cách mạng, khôi phục và củng cố hệ thống tổ chức Đảng, đảm bảo cho Đảng đủ sức gánh vác nhiệm vụ nặng nề trước thời cuộc mới
Đầu tháng 1-1940, Trung ương kêu gọi các cấp bộ: "Củng cố hàng ngũ Đảng Lúc này hơn lúc nào hết đế quốc không để cho ta yên một phút nào, luôn luôn khám xét bắt bỏ hạ gục những chiến sĩ tốt của Đảng, muốn làm cho tan nát hệ thống Đảng Muốn chống nổi với sức khủng bố liên miên
ấy, chúng ta phải hoạt động cho tinh tường, phải có giác quan chính trị cho sáng suốt để mau nhận xét hoàn cảnh, mới dễ tránh khỏi những sự theo dõi của mật thám Có được như vậy ta mới hoạt động được lâu dài, mới giữ được mối liên lạc nội dung giữa các tổ chức Đảng, làm cho vững chắc hàng ngũ Đảng (…) phải xem xét, phải nghiên cứu và tuỳ hoàn cảnh thay đổi phương pháp hành động và nâng cao trình độ công tác và tổ chức thì mới may giảm bớt sự thất bại cho Đảng được" [25,tr4-5]
Trang 17Khoá luận tốt nghiệp
Sau Hội nghị lần thứ 6 của Ban chấp hành Trung ương Đảng chưa được bao lâu thì vào đầu năm 1940, có tới 5 Uỷ viên Trung ương bị sa vào tay địch: Đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Lê Duẩn bị bắt ngày 17-1-1940; đồng chí Lê Hồng Phong bị bắt vào ngày 6-2-1940; đồng chí Hà Huy Tập bị bắt vào ngày 30-3-1940, đồng chí Võ Văn Tần bị bắt và ngày 21-4-1940 Đây là một tổn thất lớn của Đảng ta
Ngày 3-9-1940, Toà án Sài Gòn kết án các đồng chí Nguyễn Văn
Cừ, Hà Huy Tập, Lê Hồng Phong, Lê Duẩn mỗi người 5 năm tù, 10 năm quản thúc [27,tr60]
Việc có tới 3 trong 5 Uỷ viên Trung ương là Nguyễn Văn Cừ (Tổng Bí thư), Lê Duẩn, Lê Hồng Phong bị bắt tại thành phố Sài Gòn càng khẳng định trong hoàn cảnh địch khủng bố trắng, thì chủ trương việc chuyển địa bàn hoạt động về nông thôn của Đảng là hoàn toàn đúng đắn
Sau Hội nghị lần thứ 6 của Ban chấp hành Trung ương Đảng mặc dù phần lớn những đồng chí chủ chốt của Trung ương bị bắt, song các cấp bộ Đảng trên cả nước đã khẩn trương đẩy mạnh chuyển hướng hoạt động, tích cực chống khủng bố, bảo vệ cơ sở, khôi phục lại cơ quan lãnh đạo các cấp
Tại Bắc Kỳ, sau Hội nghị Xứ uỷ ngày 8-9-1939, do địch truy lùng ráo riết cơ quan Xứ uỷ từ các cơ sở ở Hàng Nón, 44 Bài Thị Xuân, 22 Phố Huế (Hà Nội) chuyển vào các địa điểm ở Vạn Phúc, Đại Mỗ, Tây Mỗ, La Cả, Thượng Cát… thuộc phủ Hoài Đức (Hà Đông) Từ các địa điểm này, Xứ uỷ phân công cán bộ đi bắt mối liên lạc với các cơ sở Đảng, cơ sở cách mạng ở Vĩnh Yên, Phúc Yên, Phú Thọ, Tuyên Quang [33]
Cuối năm 1939, Xứ uỷ Bắc Kỳ tổ chức một cuộc họp mở rộng tại một địa điểm ở Hà Đông, do Hoàng Văn Thụ, Bí thư Xứ uỷ chủ trì Tham dự cuộc họp có Hạ Bá Cang, Trần Quốc Hoàn, Bùi Đức Minh, Nguyễn Thành Diên, Lê Hoàng (tức Dung) Đào Duy Kỳ Hội nghị đã quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương, bàn biện pháp tổ chức mặt
Trang 18Khoá luận tốt nghiệp
trận dân tộc thống nhất phản đế… Trong tình thế địch đánh phá ác liệt, các mối liên lạc hay bị đứt, sự chỉ đạo từ xứ uỷ xuống các địa phương khó khăn,
Xứ uỷ đã quyết định phân chia khu vực đồng bằng châu thổ sông Hồng vùng Duyên Hải Đông Bắc và các tỉnh dọc đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn; Hà Nội
- Lào Cai thành các Liên tỉnh, mỗi liên tỉnh có Liên uỷ phụ trách
Cũng từ đầu năm 1940 do địch theo dõi gắt gao, Xứ uỷ quyết định chuyển toàn bộ cơ quan sang tả ngạn sông Hồng, đóng tại hai địa điểm là Yên Mỹ và Ngô Nhuế Sau đó cơ quan bị lộ Xứ uỷ lại chuyển toàn bộ về La
Cả, Vạn Phúc, Đại Mô, Tây Mỗ, Thượng Cát (Hà Đông) Một thời gian sau
bị lộ, Xứ uỷ lại chuyển cơ quan về làng Đình Bảng (Từ Sơn Bắc Ninh) Khi
ở Đình Bảng có biến động, cơ quan Xứ uỷ lại chuyển sang làng Yên Mỹ (Thuận Thành, Bắc Ninh) Tại đây, Xứ uỷ họp chuẩn bị Hội nghị lần thứ 7 của Ban chấp hành Trung ương Sự di chuyển liên tục của cơ quan Xứ uỷ đã làm cơ quan mật thám Pháp bất lực trong việc theo dõi và đến cuối tháng 11-
1940 thì chúng mất dấu Chúng viết: "Xứ uỷ Bắc Kỳ di chuyển nhiều lần chỗ
ẩn náu của mình, đến cuối tháng vừa rồi (tháng 11-1940) họ chuyển đến một nơi chưa biết" [6]
Cuối năm 1939, Xứ uỷ ra báo "Giải phóng" làm cơ quan tuyên truyền chỉ đạo phong trào, do Hoàng Văn Thụ phụ trách Từ số 1 đến số 7 báo là cơ quan của Xứ uỷ Bắc Kỳ Từ ngày 25-3-1941 báo chuyển thành cơ quan tuyên truyền của Trung ương Đảng cộng sản Đông Dương
Trước sự đánh phá ác liệt của địch, cơ sở Đảng ở các địa phương tiếp tục bị vỡ, Xứ uỷ Bắc Kỳ, các Liên tỉnh uỷ liên tiếp cử cán bộ đi các nơi khôi phục, củng cố cơ sở cũ, gây dựng những cơ sở mới Từ tháng 4 đến tháng 10 năm 1940, do sự nỗ lực của các cán bộ, có 6 cơ quan lãnh đạo cấp tỉnh thành mới được tổ chức là các Ban cán sự ở Tuyên Quang, Bắc Giang, Phú Thọ, Vĩnh Yên, Tỉnh uỷ lâm thời Quảng Yên và Tỉnh uỷ lâm thời Sơn Tây Sự ra đời của các cơ quan lãnh đạo đã thể hiện sự cố gắng và sáng tạo lớn của Xứ
Trang 19Khoá luận tốt nghiệp
uỷ Bắc Kỳ
Tuy nhiên việc khôi phục, gây dựng tổ chức gặp rất nhiều khó khăn
Số lượng các cấp bộ khôi phục và xây dựng mới không nhiều và không tồn tại được lâu hoặc phải lập đi lập lại nhiều lần
Trong năm 1940, ngoài việc khôi phục tổ chức, Xứ uỷ Bắc Kỳ đã hai lần tổ chức bắt mối với những tổ chức cách mạng và với các đồng chí hoạt động ở Trung Quốc, song chưa thực hiện được
Tại Trung Kỳ, sau một thời gian tạm lánh vào Sài Gòn, đồng chí Bùi San, Uỷ viên Xứ uỷ quay về Trung Kỳ hoạt động Ngày 15/02/1940, đồng chí Bùi San triệu tập một số cán bộ ở các địa phương họp tại Thuận An (cách Huế 13km) để phổ biến Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng, lập lại Xứ uỷ Trung Kỳ Tham dự Hội nghị có các đồng chí Bùi San (Thừa Thiên) Nguyễn Đức Dương, Trần Văn Ngoạn, Hồ Xuân Lưu, Trần Mạnh Quỳ, Trần Hữu Dực… Một Xứ uỷ mới được tổ chức gồm
có đồng chí Bùi San, Hồ Xuân Lưu, Nguyễn Đức Dương, Trần Hữu Dực, Lê Chưởng, Trần Mạnh Quỳ Xứ uỷ phân công các Xứ uỷ viênvà cán bộ đi phụ trách, khôi phục tổ chức Đảng ở các nơi: Bùi San, Hồ Xuân Lưu, Trần Mạnh Quỳ phụ trách 3 tỉnh Bắc Trung Kỳ; Lê Chưởng, Nguyễn Đức Dương, Trần Văn Ngoạn, Hồ Tỵ ở Trung Kỳ ( Bình - Trị- Thiên và Quảng Nam); Trần Hữu Dực phụ trách Nam Trung Kỳ (Ngãi - Bình - Phú - Khánh - Ninh Thuận
- Bình Thuận) từ đó phát triển lên Tây Nguyên Cơ quan Xứ uỷ chuyển ra đóng ở Vinh vào tháng 9-1940
Nhờ sự hoạt động tích cực của các đồng chí cán bộ Xứ uỷ và các đồng chí còn lại ở các địa phương, nhiều tổ chức cơ sở Đảng được khôi phục, củng cố lại ở Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thừa Thiên, Bình Định, Khánh Hoà, Ninh Thuận… Ngoài 2 tỉnh uỷ Quảng Trị và Quảng Ngãi vẫn tồn tại từ trước, một số cơ quan tỉnh, thành uỷ được tổ chức lại là Tỉnh uỷ Nghệ An, Tỉnh uỷ Hà Tĩnh, Tỉnh uỷ Quảng Nam (tháng 3-1940), Thành uỷ Huế (giữa
Trang 20Khoá luận tốt nghiệp
1940) Tỉnh uỷ Thanh Hoá (11-1940)
Tuy nhiên, cũng như ở Bắc Kỳ việc khôi phục tổ chức Đảng Trung Kỳ còn nhiều hạn chế Miền Trung có địa hình kéo dài từ Thanh Hoá đến Bình Thuận, không thuận tiện cho giao thông liên lạc, nhưng cơ quan Xứ uỷ lại đóng ở Vinh, nên sự nắm bắt tình hình cũng như truyền đạt chỉ thị, chỉ đạo phong trào các địa phương rất khó khăn Hệ thống tổ chức cơ sở Đảng được khôi phục không đồng đều Nhiều tỉnh Trung và Bắc Trung Kỳ lập được cơ quan lãnh đạo các cấp trong khi các tỉnh Nam Trung Kỳ, từ Phú Yên trở vào chỉ gây dựng được một vài cơ sở Đảng, hoặc có đảng viên hoạt động đơn lẻ
mà không lập được chi bộ Các tỉnh Tây Nguyên không có cơ sở Đảng
Tại Nam Kỳ, mặc dù địch khủng bố tháng 9-1939 và trong những tháng tiếp theo, Đảng bộ vẫn duy trì và phát triển Ngày 27-7-1940, đồng chí
Tạ Uyên triệu tập một cuộc Hội nghị mở rộng tại ấp Tân Thuận, xã Tân Hương, quận Châu Thành (Mỹ Tho) có sự tham gia của đồng chí Phan Đăng Lưu, Uỷ viên Trung ương Đảng và 24 đại biểu thuộc 19/21, tỉnh thành phố ở Nam Kỳ Hội nghị đã đề ra những công việc cần kíp trước mắt để chuẩn bị cho một cuộc khởi nghĩa tiếp tới, trong đó có việc kiện toàn cơ quan lãnh đạo các cấp Hội nghị đã kiện toàn lại Xứ uỷ, bổ sung một số đồng chí vào
Xứ uỷ do Tạ Uyên làm Bí thư Xứ uỷ ra báo "Tiến lên" làm cơ quan tuyên truyền, chỉ đạo phong trào Sau Hội nghị này và các cuộc Hội nghị tiếp theo của Xứ uỷ, của Ban thường vụ Xứ uỷ, mặc dù một số cán bộ lãnh đạo của
Xứ uỷ (như Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Hữu Tiến) bị bắt, song cùng với việc xúc tiến khởi nghĩa, hệ thống tổ chức Đảng được củng cố ở 19/21 tỉnh, thành phố ở Nam Kỳ Hai tỉnh uỷ Bạc Liêu và Sóc Trăng được tổ chức lại Có 14 tỉnh lập được tỉnh uỷ hoặc ban cán sự là Biên Hoà, Thủ Dầu Một, Sài Gòn, Gia Định, Tân An, Chợ Lớn, Sóc Trăng, Bến Tre, Mỹ Tho, TràVinh, Vĩnh Long, Long Xuyên, Châu Đốc, Bạc Liêu Tổ chức Đảng ở Nam kỳ vẫn tổ chức trong 4 liên tỉnh bộ do 4 Liên tỉnh uỷ phụ trách và Khu
Trang 21Khoá luận tốt nghiệp
uỷ Sài Gòn - Chợ Lớn Theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng (11-1940) thì từ tháng 6 đến tháng 10-1940, số đảng viên Nam Kỳ tăng 60% [25, tr60] Tuy nhiên Đảng bộ phát triển không đều, nơi mạnh, nơi yếu ở các tỉnh, thành trọng yếu như Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định… cơ sở Đảng cũng chưa thật vững chắc"[42]
Cùng với sự khôi phục lại hệ thống tổ chức Đảng và bộ máy lãnh đạo
ở các địa phương, cơ quan Trung ương cũng được tổ chức
Việc các đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Lê Duẩn, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Võ Văn Tần bị bắt đầu năm 1940 đã làm cho Ban chấp hành Trung ương tan vỡ Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (11-1940) kết luận "Đa số T.U (tức Trung ương) bị thất bại một năm nay" [25, tr 60] Đến giữa 1940, Ban chấp hành Trung ương Đảng chỉ còn đồng chí Phan Đăng Lưu
Trước tình hình chuyển biến nhanh chóng, phần lớn các đồng chí Trung ương bị bắt, liên lạc với Nam Kỳ và Trung Kỳ đình trệ, với tinh thần chủ động các đồng chí chủ chốt trong Xứ uỷ Bắc Kỳ là: Hoàng Văn Thụ, Trường Chinh, Hạ Bá Cang đã cùng nhau thực hiện những nhiệm vụ với vai trò của Ban chấp hành Trung ương lâm thời Ngày 16-6-1940 với danh nghĩa của Ban chấp hành Trung ương, các đồng chí đã ra "Tuyên ngôn của Đảng cộng sản Đông Dương" đăng trên báo Giải phóng, số 5 (15-7-1940) cơ quan của Xứ uỷ Bắc Kỳ, do đồng chí Hoàng Văn Thụ phụ trách [25, tr 12 - 14] Mật thám Pháp ở Bắc Kỳ bắt được hầu hết các báo "Giải phóng" của Xứ uỷ
và qua những nguồn tin do các tên chỉ điểm cung cấp, chúng đoán cơ quan Trung ương đã chuyển ra Bắc Trong Báo cáo định kỳ, tháng 10-1940, Sở mật thám Bắc Kỳ viết: "Cơ quan Trung ương đã chuyển từ Nam Kỳ ra Bắc
Kỳ chưa lâu" [6] Tuy nhiên , sự phân công trách nhiệm giữa các đồng chí chưa rõ ràng, cụ thể, chưa có ai được cử giữ trách nhiệm Tổng bí thư của Đảng
Trang 22Khoá luận tốt nghiệp
Hội nghị Trung ương họp từ ngày 6 đến 9-11-1940 tại Đình Bảng (Từ Sơn, Bắc Ninh) có các đồng chí Hoàng Văn Thụ, Trường Chinh, Phan Đăng Lưu, Hạ Bá Cang, Trần Đăng Ninh Hội nghị đã bàn về tình hình Đảng và nhận định rằng: "Đảng bộ ba xứ thiệt thòi khá nhiều bởi cuộc khủng bố tháng 9-1939, nhưng nhiều đảng viên mới gia nhập Đảng, khiến cho Đảng mau bù đắp được thiệt thòi và được mở rộng ra là khác ( ) Măc dầu đế quốc khủng bố gắt gao, Đảng vẫn luôn luôn phát triển Nhất là từ khi Pháp bại trận, tháng 6, Đảng và các tổ chức do Đảng lãnh đạo nảy nở nhanh chóng" [25, tr 58 - 60] Tuy nhiên Hội nghị cũng khẳng định rằng số lượng đảng viên còn quá ít ỏi, giao thông liên lạc vẫn bị gián đoạn, trình độ hiểu biết phổ thông của đảng viên không cao, do Trung ương bị tan vỡ nên việc chỉ huy Đảng không được thống nhất… Hội nghị khẳng định rằng muốn cho cuộc cách mạng tư sản dân quyền Đông Dương thắng lợi "vô sản giai cấp
Đông Dương phải giữ quyền lãnh đạo cách mệnh" do đó phải luôn luôn "hết sức củng cố và mở rộng Đảng"
Hội nghị đã kiện toàn lại Ban chấp hành Trung ương lâm thời gồm các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Phan Đăng Lưu, Hạ Bá Cang Đồng chí Trường Chinh được uỷ nhiệm làm Quyền Tổng Bí thư [60]
Do Ban chấp hành Trung ương lúc này vẫn chỉ lâm thời, trong cơ cấu không có đại diện của Trung Kỳ, Nam Kỳ chỉ có một đồng chí, do đó Hội nghị chủ trương sẽ có tổ chức một cuộc hội nghị toàn quốc sẽ có tất cả đại diện của ba xứ tham gia và bầu Ban Trung ương chính thức [1] Theo hướng
đó, Trung ương lâm thời cử Phan Đăng Lưu về Nam hoãn cuộc khởi nghĩa,
Trang 23Khoá luận tốt nghiệp
sau đó sẽ cùng đại biểu Nam Kỳ quay ra Bắc để tham dự Hội nghị toàn quốc;
cử người vào liên hệ với các đồng chí Trung Kỳ, cử Hoàng Văn Thụ sang Trung Quốc để gặp các đồng chí Phùng Chí Kiên,Vũ Anh và Hoàng Văn Hoan với mục đích là "chuẩn bị cho việc tiến tới cuộc Hội nghị của Trung ương đầy đủ hơn"[1] Công việc đang chuẩn bị thì Trung ương nhận tin từ Trung Quốc báo là Đại biểu quốc tế đã về Hoa Nam và triệu tập Trung ương
ra họp [60] Một đoàn gồm 3 đồng chí Hoàng Văn Thụ, Đào Duy Kỳ (Bí thư Liên tỉnh uỷ D) Bùi Đức Minh (giao thông đặc biệt của Xứ uỷ) lên đường sang Trung Quốc Tại Tĩnh Tây, đồng chí Hoàng Văn Thụ đã gặp Nguyễn Ái Quốc nhận chỉ thị và việc tổ chức một hội nghị toàn quốc của Đảng
Như vậy chỉ sau một năm, mặc dù bị địch điên cuồng khủng bố hệ thống tổ chức Đảng đã được củng cố lại Ban Trung ương đã được lập lại, 3
kỳ có 3 Xứ uỷ lãnh đạo; ở Bắc Kỳ và Nam Kỳ có các Liên tỉnh uỷ phụ trách; ở Nam Kỳ hệ thống tổ chức Đảng phục hồi nhanh và có bước phát triển Tuy chưa được đều khắp, thiếu vững chắc song sự khôi phục lại bộ máy lãnh đạo các cấp đóng vai trò quan trọng trong khôi phục hệ thống tổ chức của Đảng, cũng như trong lãnh đạo phong rào cách mạng Tuy có một
số hạn chế song sự hồi phục nói trên đã thể hiện sức sống mãnh liệt, sức sáng tạo lớn của những người cộng sản, sự tự chủ trong chuyển đổi phương thức hoạt động, khả năng thích ứng của Đảng ta
1.3 Chống khủng bố, từng bước khôi phục hệ thống tổ chức Đảng
Trong khi hệ thống tổ chức Đảng đang được phục hồi và củng cố thì cuối năm 1940 đầu năm 1941, nổ ra cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, cuộc nổi dậy của binh lính ở Chợ Rạng - Đô Lương (Nghệ An) Thực dân Pháp liền tiến hành một đợt khủng bố mới gây nên những tổn thất to lớn cho Đảng ta, nhất
là ở Nam Kỳ
Do có kẻ phản bội trong hàng ngũ cách mạng (như tên Nguyễn Văn
Cừ là Bí thư Tỉnh uỷ Long Xuyên, Trần Đức Huy là cán bộ của Xứ uỷ Nam
Trang 24Khoá luận tốt nghiệp
Kỳ…) địch biết kế hoạch khởi nghĩa của Xứ uỷ Nam Kỳ nên khi cuộc khởi nghĩa vừa nổ ra, chúng đã thẳng thắn đàn áp đẫm máu Đồng chí Phan Đăng Lưu về tới Sài Gòn nhưng lệnh khởi nghĩa đã phát đi các nơi Đồng chí bị địch bắt vào chiều tối ngày 22-11-1940 tại nhà ở phố Cây Mai (Sài Gòn) Nói về sự tàn bạo của đế quốc Pháp ở Nam Kỳ, báo Cờ giải phóng số 21 (ngày 30-9-1945) viết: "Trong cuộc khủng bố tàn bạo năm 1940, giặc Pháp đốt nhà, càn làng, đem hàng ngàn chiến sĩ cách mạng, đàn bà, trẻ em dìm xuống biển Mối căm thù của nhân dân lên đến cực điểm" [10]
Theo báo cáo chính thức của địch, từ 23-11 đến hết tháng 12-1940, địch đã bắt tổng cộng 5848 người trên toàn Nam Kỳ [12] Đến tháng 1-1941 chúng bắt thêm 1200 người, đưa tổng số người bị bắt trong hơn hai tháng là
7048 người [28] Từ tháng 1 năm 1941, thực dân pháp bắt đầu đem những người bị bắt ra xét xử Đến hết tháng 12-1941, chúng đã xử 2258 người (tử hình 158 người, chung thân 180 người, các loại án từ 5 năm đến 20 năm khổ sai, kèm theo số năm quản thúc tương ứng là 1920 người) [27, tr302 - 303] Đồng chí Phan Đăng Lưu Uỷ viên trung ương duy nhất phụ trách miền Nam
bị địch xử tử hình Đồng chí Tạ Uyên bị địch bắt và hy sinh trong tù ngày 10-12-1940 Nhân dịp này, thực dân Pháp đã mang một số đồng chí Trung ương và Xứ uỷ Nam Kỳ như: Nguyễn Văn Cừ, Hà Huy Tập, Võ Văn Tần, Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Hữu Tiến… (đều bị bắt trước khởi nghĩa) ra
Ở Trung Kỳ, sau cuộc nổi dậy của binh lính ở Chợ Rạng - Đô Lương (Nghệ An ) do Nguyễn Văn Cung (Đội Cung) chỉ huy (1-1941) và cuộc bạo
Trang 25Khoá luận tốt nghiệp
động giết tên chủ đồn điền Sông Con Phơ rây, tên bang tá Hồ Dũng Tài ở Hương Sơn, Hà Tĩnh (5-1941), thực dân Pháp và tay sai tăng cường khủng
bố, bắt bớ, phá vỡ nhiều tổ chức Đảng mới hồi phục, nhất là ở Bắc Trung
Kỳ Hàng trăm cán bộ, đảng viên quần chúng cách mạng bị bắt giết và giam giữ
Ở Bắc Kỳ, địch tăng cường càn quét vùng Bắc Sơn, Võ Nhai, đồng thời xiết chặt các biện pháp trấn áp, mở nhiều cuộc vây ráp bắt bớ, đánh phá
tổ chức Đảng và khủng bố các hoạt động cách mạng Ngày 8-7-1941, Thống
sứ Bắc Kỳ ra Sắc lệnh số 330/CB gửi các quan tư Pháp, cảnh binh với nội dung: "Phủ thống sứ ra lệnh cho các sĩ quan cảnh sát tư pháp phải khám xét tất cả các trụ sở của tất cả các hội thuộc Đệ tam quốc tế, khám xét tất cả các
tổ chức hay các nhóm có quan hệ phụ thuộc hoặc gia nhập hay không gia nhập Đảng cộng sản, hay tuân theo các khẩu hiệu của Quốc tế cộng sản Các ông phải khám xét nhà ở của tất cả những người có khả năng còn giữ những tài liệu dùng vào việc tuyên truyền cộng sản để nhằm mục đích bắt được tất
cả các báo chí ra định kỳ hay không định kỳ, các tranh ảnh và tất cả các tài liệu phương tiện nhằm truyền bá những khẩu hiệu của Quốc tế cộng sản hay của các tổ chức phụ thuộc nó" [51]
Trong tình hình địch tăng cường khủng bố, các cấp bộ Đảng ở Trung, Bắc, các đảng viên còn lại sau khởi nghĩa và nhiều đồng chí vượt ngục ở Nam Kỳ đã không quản hy sinh, gian khổ, lăn lội trong quần chúng để khôi phục lại các tổ chức Đảng
Tại Bắc Kỳ, vào tháng 12-1940, các đồng chí Trung ương lâm thời và
Xứ uỷ Bắc Kỳ họp tại chùa Đồng Kỵ (Từ Sơn, Bắc Ninh) chọn người trong
Xứ uỷ đi dự Hội nghị Trung ương 8 Trong đó có các đồng chí Hoàng Văn Thụ, Trần Đăng Ninh… Một Xứ uỷ lâm thời được chỉ định gồm các đồng chí Đào Duy Kỳ, Lương Văn Tri, Chu Thiện, Đào Năng An … do đồng chí Đào Duy Kỳ làm quyền Bí thư Cơ quan của Xứ uỷ đóng ở vùng cầu Đuống
Trang 26Khoá luận tốt nghiệp
(Bắc Ninh) sau đó chuyển về Vạn Phúc (Hà Đông) rồi lên Vĩnh Yên Trước khi lên đường dự Hội nghị lần thứ 8 của Ban chấp hành Trung ương Đảng, Trung ương họp với Xứ uỷ lâm thời ở Vạn Phúc Hà Đông, giao nhiệm vụ cho Xứ uỷ lâm thời cử cán bộ về các địa phương củng cố, xây dựng cơ sở Đảng, xúc tiến liên lạc với Trung Kỳ và Nam Kỳ Các đồng chí Trung ương căn dặn các đồng chí ở lại là sẽ đi khoảng 2 hay 3 tháng sẽ về, hoặc có thể sẽ lâu hơn, ở nhà có gì khó khăn thì chủ động giải quyết nhứ không ỷ lại [33]
Thời gian này địch đánh phá liên miên, nhiều cơ sở bị vỡ, nhiều cán
bộ bị bắt, nhiều nơi cán bộ đòi xử tử bọn phản động; liên lạc với Nam Kỳ, Trung Kỳ và với Trung ương không thực hiện được Lúng túng trước những khó khăn của tình hình, Xứ uỷ Bắc Kỳ đã tổ chức một cuộc họp tại Vĩnh Tường (Vĩnh Phúc), vào ngày 1 và 2-6-1941 đề ra những phương hướng hoạt động có nhiều điểm không đúng Hội nghị cho rằng địch đang lùng bắt ở khắp nơi, ở lại đồng bằng thì rất nguy hiểm nên cơ quan của Xứ uỷ phải chuyển lên vùng thượng du để tránh bị khủng bố, chỉ để lại những tổ chức nhỏ ở đồng bằng để nắm phong trào; phải tăng cường các hoạt động trong vùng dân tộc thiểu số, liên lạc chặt chẽ với Trung Quốc, Trung Quốc sẽ cung cấp vũ khí để đánh chiếm các đồn thượng du; phải gửi thật nhiều cán bộ sang Trung Quốc để huấn luyện… [20] Hội nghị cho rằng hiện trong Đảng đã có nhiều kẻ phản bội, cần phải vạch mặt và thủ tiêu chúng, do đó đi đến chủ trương lập Toà án cách mạng và lập Ban ám sát Nghị quyết Hội nghị viết
"Cuộc Hội nghị lại xét rằng nếu muốn thực hiện được vấn đề quân sự hoá Đảng thì cần phải lập ngay một "Toà án quân sự cách mệnh" để xử tội những phần tử nào không theo đúng quân kỷ Hơn nữa "Toà án quân sự cách mệnh" còn có ý nghĩa là để trừng trị bọn nội phản và bọn Việt gian chó săn phản động" [5] Còn Ban ám sát có nhiệm vụ "trừ khử, không phải chỉ những kẻ phản bội mà tất cả những kẻ có hành động có hại cho Đảng [20] Nghị quyết lưu ý các cấp bộ rằng với những đảng viên phản bội thì Toà án quân sự cách
Trang 27Khoá luận tốt nghiệp
mệnh xét xử và tuyên án, các địa phương không được tự ý hành động, bản án phải do Thường vụ Xứ uỷ chuẩn y thì mới được thi hành; còn đối với bọn Việt gian thì các cấp bộ có quyền tự do giải quyết, nhưng trước khi thi hành phải hỏi ý kiến của Liên tỉnh uỷ
Nhận thấy đó là những chủ trương phiêu liêu, vô tổ chức đặt vận mệnh của Đảng bộ Bắc Kỳ treo trên sợi tóc, đặt các đồng chí (Trung ương) vào tình thế hết sức nguy hiểm [1] Ngay sau khi họp Hội nghị Trung ương 8 trở
về, các đồng chí Trường Chinh (Tổng bí thư), Hoàng Văn Thụ (Uỷ viênThường vụ Trung ương) đã triệu tập một cuộc họp Xứ uỷ ở làng Đông Lĩnh huyện Thanh Ba, Phú Thọ Sau đó thấy có hiện tượng bị lộ nên chuyển sang làng Sóc Đăng - huyện Đoan Hùng, Phú Thọ, vào đầu tháng 8-1941
Dự hội nghị này về Xứ uỷ có các đồng chí Đào Duy Kỳ, Trần Đăng Ninh, Chu Thiện,Thành Ngọc Quản (Đào Văn Trường)… Tại Hội nghị này, Trung ương đã uốn nắn những lệch lạc sai trái của Xứ uỷ lâm thời, phê bình toàn bộ
Xứ uỷ lâm thời
Trong thông cáo gửi các cấp bộ Đảng (16-9-1941), Ban Thường vụ Trung ương đã nêu lên khuyết điểm của Xứ uỷ lâm thời Bắc Kỳ, coi đó là một hướng sai lầm trong đấu tranh chống khủng bố, làm bài học nhắc nhở chung cho toàn Đảng Thông cáo viết: "Lại có khuynh hướng tả khuynh theo đuôi quần chúng khủng bố cá nhân, đề ra khẩu hiệu "lập toà án quân sự cách mạng", một khẩu hiệu rỗng tuyếch, không hợp thời trong lúc này, một khẩu hiệu biểu lộ một tinh thần hoảng hốt, dao động, không đủ trấn tĩnh để nhận
Trang 28Khoá luận tốt nghiệp
nói rõ trong Nghị quyết của Hội nghị lần thứ 8 của Ban chấp hành Trung ương Hội nghị đã quyết nghị nhiều vấn đề để triển khai công cuộc chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang Hội nghị đặt lên hàng đầu công tác củng cố nội bộ Đảng, coi đó là "một công tác vô cùng khẩn cấp" [25, tr186] Hội nghị đã tập trung bàn sâu các biện pháp như phân biệt rõ tổ chức Đảng và tổ chức quần chúng, không để quần chúng tham gia họp chi bộ một cách vô nguyên tắc, kếp nạp đảng viên mới phải cẩn thận theo điều lệ; cương quyết khai trừ những phần tử lười biếng, phân công cán bộ phải rõ ràng, hợp với năng lực; đảng viên phải kiểm soát lẫn nhau, phải thực hiện tự chỉ trích bôn sê vích…
Về mặt hệ thống bộ máy tổ chức, Hội nghị có một số hiệu chỉnh Thực hiện chủ trương của Hội nghị, được sự chỉ đạo, giúp đỡ trực tiếp của Trung ương (đồng chí Hoàng Văn Thụ) Xứ uỷ đã tích cực triển khai công tác khôi phục, củng cố xây dựng cơ sở Đảng Cũng như cơ quan Trung ương, cơ quan Xứ
uỷ không chuyển lên thượng du như Hội nghị Xứ uỷ (6-1941) đã chủ trương,
mà bám trụ ở các địa phương xung quanh Hà Nội, thuộc các tỉnh Bắc Ninh,
Hà Đông, Phúc Yên,Vĩnh Yên Những địa điểm xa nhất so với Hà Nội mà
Xứ uỷ đặt cơ quan là Thái Ninh và Gia Thanh (Phù Ninh, Phú Thọ) Thượng Trưng, Hoà Lạc (Vĩnh Tường, Vĩnh Yên), Ứng Hoà (Hà Đông) Còn thì nằm trong bán kính cách trung tâm Hà Nội từ 10km đến 30km, trong các làng xã thuộc Hoài Đức, Đan Phương (Hà Đông), Quốc Oai (Sơn Tây) Từ Sơn, Tiên
Du, Gia Lâm, Thuận Thành, Văn Giang (Bắc Ninh), Mỹ Hào (Hưng Yên)…
Nhờ sự hoạt động của các cấp bộ Đảng, của các đồng chí đảng viên, trong 2 năm 1941 -1942, mặc dù địch liên tiếp đánh phá, tổ chức Đảng vẫn được khôi phục từ cấp chi bộ trở lên trong 16 tỉnh thành phố ở Bắc Kỳ là Cao Bằng, Bắc Ninh, Bắc Giang, Thái Bình, Tuyên Quang, Hải Dương, Hưng Yên, Phú Yên, Phú Thọ, Vĩnh Yên, Hà Nội, Hà Đông, Sơn Tây, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình Một vài địa phương đã lập lại hoặc tổ chức mới được cơ quan lãnh đạo cấp tỉnh, thành như: Cao Bằng, Phúc Yên, Hưng Yên,
Trang 29Khoá luận tốt nghiệp
Bắc Ninh, Bắc Giang Một số địa phương tuy chưa khôi phục hoặc thành lập được tổ chức Đảng song đã có đảng viên hoạt động như Thái Nguyên, Hải Phòng, Kiến An
Tuy nhiên, hệ thống tổ chức Đảng ở Bắc Kỳ từ cấp tỉnh trở xuống không được vững chắc Trừ một số nơi có phong trào vững hoặc được Trung ương, Xứ uỷ trực tiếp chỉ đạo khôi phục như Cao Bằng, Phú Yên, Hà Đông, Sơn Tây… còn hầu hết các tỉnh thành còn lại bị phá vỡ, phải lập đi lập lại nhiều lần mà vẫn không đứng vững được Nguyên nhân của tình trạng trên, ngoài sự đánh phá điên cuồng của kẻ thù còn do công tác củng cố chưa được chú trọng đúng mức, một số nơi cán bộ lại hoạt động công khai lộ liễu, nguyên tắc bí mật chưa được quán triệt và thực hiện theo đúng chỉ thị của Trung ương
Tính đến cuối 1942, ở Bắc Kỳ tổ chức Đảng còn duy trì ở 12 tỉnh, thành phố là Cao Bằng, Bắc Ninh, Bắc Giang, Thái Bình, Tuyên Quang, Hà Nội, Hưng Yên, Phúc Yên, Hà Đông, Ninh Bình và Sơn La (chi bộ nhà tù Sơn La) Trong đó, 9 tỉnh có cơ quan Tỉnh uỷ hoặc Ban cán sự là Cao Bằng, Bắc Ninh, Bắc Giang, Thái Bình, Tuyên Quang, Hà Nội, Hà Đông, Phúc Yên, Hưng Yên Các tỉnh, thành phố Hải Phòng, Kiến Giang, Thái Nguyên… có đảng viên hoạt động đơn lẻ
Tại Trung Kỳ, từ giữa năm 1940, qua "mạng lưới lấy tin" mật thám Pháp đã phát hiện ra sự khôi phục của tổ chức Đảng ở vùng Bắc Trung Kỳ
mà trước hết là Đảng bộ Nghệ An và tiến hành đánh phá Từ tháng 7 đến tháng 11-1940, địch đã bắt được 2 trong 3 tỉnh uỷ viên Nghệ An, 2 xứ uỷ viên Xứ uỷ Lâm thời Trung Kỳ là Lê Chưởng (ngày 2-8-1940) tại Thừa Thiên và Nguyễn Đức Dương (16-11-1940) tại Đà Nẵng, cùng nhiều đảng viên khác Qua khai thác những người bị bắt (trong đó có người không giữ được khí tiết đã khai báo), mật thám Pháp đã nắm được sự khôi phục và địa bàn hoạt động của Xứ uỷ Trung Kỳ, biết được khá nhiều thông tin về cơ cấu
Trang 30Khoá luận tốt nghiệp
tổ chức của Đảng ở các tỉnh từ Huế đến Nghệ An Chúng liên tiếp tổ chức các cuộc bắt bớ, truy lùng những đảng viên đang hoạt động trong vùng
Mặc dù địch xiết chặt các biện pháp trấn áp, các đồng chí trong Xứ uỷ
và trong các Đảng bộ vẫn tích cực hoạt động Tháng 11-1940, trên đường trở
về Nam Kỳ, đồng chí Phan Đăng Lưu đã gặp đồng chí Bùi San tại Vinh Đồng chí Phan Đăng Lưu đã chỉ thị và hướng dẫn đồng chí Bùi San bắt liên lạc với Trung ương ở Bắc Kỳ Sau một năm gián đoạn, Đảng bộ Trung kỳ đã nối lại liên lạc với Trung ương Vào cuối tháng 12-1940, theo chỉ thị của Trung ương 3 đồng chí Xứ uỷ viênTrung kỳ hoạt động tại Bắc Trung Kỳ đã họp và cử Hồ Xuân Lưu và Bùi San đi dự Hội nghị Trung ương 8 Tháng giêng 1941, hai đồng chí lên đường ra Bắc
Cũng trong thời gian này, dưới sự chỉ đạo của Xứ uỷ, ba tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh tiến hành chắp nối khôi phục lại Liên tỉnh uỷ Bắc Trung Kỳ Liên tỉnh uỷ gồm 3 người là Trần Mạnh Quỳ (Xứ uỷ viên phụ trách Nghệ
An, Hà Tĩnh), Hoàng Đôn (tức Cu Đen) và Nguyễn Đức Cúc (Nguyễn Văn Linh) Tuy nhiên Liên tỉnh uỷ chỉ tồn tại được một thời gian rất ngắn thì Nguyễn Đức Cúc bị bắt ở Vinh (ngày 9- 01-1941), Hoàng Đôn bị bắt tại Nghi Lộc (3-1941), Liên tỉnh uỷ không còn
Sau cuộc nổi dậy của binh lính Chợ Rạng - Đô Lương, từ tháng
3-1941 chính quyền thuộc địa tổ chức một đợt khủng bố lớn ở Nghệ An, hầu hết cơ sở Đảng ở Vinh, Nam Đàn, Thanh Chương bị đánh phá Các cơ sở in báo và tài liệu của Xứ uỷ Trung Kỳ và Tỉnh uỷ Nghệ An bị phát hiện; một số cán bộ phụ trách cơ quan ấn loát của Xứ uỷ bị bắt hoặc ra đầu thú Qua khai thác một cán bộ trong cơ quan của Xứ uỷ, mật thám Vinh biết Bùi San và Hồ Xuân Lưu đã ra Bắc để tham dự cuộc Hội nghị lần thứ 8 của Ban chấp hành Trung ương Đảng
Nửa đêm 29 rạng ngày 30-5-1941, nhận được tin từ Sở mật thám Hà Nội, mật thám Pháp tại Vinh cùng bọn tay sai đã đón bắt hai đồng chí Bùi
Trang 31Khoá luận tốt nghiệp
San và Hồ Xuân Lưu tại ga Cầu Giát (Nghệ An) Tiếp đó, ngày 19-7-1941, địch bắt đồng chí Trần Văn Ngoạn tại Huế và ngày 16-8-1941, sau nhiều tháng truy lùng, địch bắt được đồng chí Trần Mạnh Quỳ tại YênThành (Nghệ An) Ngày 19-8-1941 địch phá cơ quan ấn loát cuối cùng của Xứ uỷ ở Hưng Nguyên Đến ngày 9-9-1941 đồng chí Trần Hữu Dực bị bắt tại Ninh Thuận Như vậy đến tháng 8-1941 cùng với sự đổ vỡ hàng loạt tổ chức cơ sở Đảng ở Nghệ An, Hà Tĩnh, cơ quan của Xứ uỷ Trung Kỳ bị đánh phá, các đồng chí
Xứ uỷ viên bị bắt (trừ đồng chí Lê Chưởng vượt ngục ngày 20-4-1941 về hoạt động ở Quảng Trị) Xứ uỷ không còn
Sau Hội nghị lần thứ 8 của Ban chấp hành Trung ương Đảng (5-1941) Trung ương đặt cơ quan ở vùng ven Hà Nội và đặt đường dây liên lạc với Đảng bộ Trung Kỳ Đó là đường dây liên lạc Hà Nội - Vinh - Quảng Trị - Huế do Nguyễn Thị Quang Thái, Phạm Thị Hà (tức Châu), Phan Thị Lợi, Lê Thị Nhồng (tức Nam)… phụ trách
Vào tháng 8-1941, Trương Văn An được Tỉnh uỷ lâm thời Quảng Nam ra Bắc Trung Kỳ để bắt liên lạc với Xứ uỷ xin chỉ thị hoạt động Đến Quảng Trị, Trương Văn An biết Xứ uỷ đã vỡ và theo sự hướng dẫn của Lê Thị Nhồng, ra Bắc bắt liên lạc với Trung ương Tại Chèm, Trương Văn An
đã gặp được các đồng chí Trung ương, báo cáo tình hình Đảng bộ miền Trung Đồng chí Hoàng Văn Thụ đã giao những tài liệu quan trọng như: Chương trình điều lệ của Mặt trận Việt Minh, thư của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, du kích chiến tranh… và chỉ thị cho Trương Văn An trở về bắt liên lạc với các đồng chí Lê Chưởng, Trương Hoàn lập lại Xứ uỷ Trung Kỳ để chỉ đạo phong trào Tháng 9-1941, Trương Văn An đã gặp Lê Chưởng, Trương Hoàn tại cơ quan Tỉnh uỷ Quảng Trị ở Gia Đẳng (Triệu Phong) Ba đồng chí
đã lập ra Xứ uỷ lâm thời Trung Kỳ, do Lê Chưởng (Uỷ viên xứ uỷ cũ) làm
Bí thư Do phòng trào ở Quảng Trị đang bị đánh phá, cơ quan Xứ uỷ được đặt tại La Thọ (Điện Bàn, Quảng Nam) Xứ uỷ lâm thời Trung Kỳ đã ra
Trang 32Khoá luận tốt nghiệp
thông cáo "Trước tình hình mới, phản cần kíp vũ trang quần chúng chuẩn bị khởi nghĩa" (ngày 15-12-1941) gửi đi các địa phương Đến ngày 14-6-1942 Thường vụ Xứ uỷ lâm thời ra lời hiệu triệu kêu gọi các chiến sĩ cộng sản, chiến sĩ cứu quốc, hãy giữ vững tinh thần, chỉnh đốn lại tổ chức Đảng, lập chi bộ mới, chắp nối lại liên lạc, chống khủng bố… Xứ uỷ giữ liên lạc với Trung ương qua đường dây bí mật đã nói ở trên, nhận được những tài liệu chỉ đạo quan trọng của Đảng, nhân bản ra và gửi đi các nơi
Ngày 15-2-1942 Trương Văn An bị bắt tại Vinh Trong tháng 5 và
6-1942 đường dây liên lạc của Xứ uỷ với Trung ương bị phát hiện Cũng giữa năm 1942, do một số cán bộ Quảng Nam hoạt động thiếu thận trọng, địch phát hiện thấy sự phục hồi của phong trào cách mạng nơi đây nên tìm cách tiêu diệt Chúng lùng sục, bắt bớ cán bộ, triệt phá cơ sở ta Hầu hết cán bộ của Xứ uỷ, Tỉnh uỷ Quảng Nam bị bắt Xứ uỷ Trung Kỳ lập lại chưa đầy 1 năm đã bị vỡ Đây là một khó khăn rất lớn đối với các cấp bộ Đảng ở Trung
Kỳ
Trong 2 năm 1941-1942, mặc dù gặp nhiều khó khăn, nhiều tỉnh ở Trung Kỳ vẫn có tổ chức Đảng hoạt động là Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Lâm Viên ở Quảng Nam vào đầu năm 1942 có tới 70 chi bộ với 300 đảng viên [23,tr246]
Tuy nhiên do địch đánh phá ác liệt, tổ chức Đảng ở các địa phương đã không tồn tại được Các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Ngãi tổ chức Đảng
từ Tỉnh xuống đến cấp chi bộ cơ sở đều bị vỡ giữa năm 1941 Đảng bộ Quảng Nam, Đà Nẵng, Quảng Trị bị đánh phá, tổn thất nặng vào giữa năm 1942,Tỉnh uỷ Quảng Nam chỉ còn lại 2 người Tỉnh uỷ Quảng Trị phải chuyển sang Quảng Bình không lãnh đạo phong trào địa phương được nữa, trên thực tế Tỉnh uỷ không còn Đảng bộ Thừa Thiên vừa củng cố lại đầu năm 1942 thì đến cuối năm lại bị khủng bố Tỉnh uỷ Thanh Hoá phải lập đi
Trang 33Khoá luận tốt nghiệp
lập lại tới 3 lần Ở thời điểm cuối năm 1942, ở miền Trung chỉ còn 5 tỉnh có
tổ chức Đảng hoạt động là Thanh Hoá, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Thừa Thiên và Quảng Bình Trong đó Thanh Hoá và Quảng Nam có cơ quan lãnh đạo cấp tỉnh; 2 tỉnh Quảng Bình và Quảng Ngãi, mỗi tỉnh chỉ có 1 chi bộ Xứ
uỷ không còn, tổ chức Đảng các địa phương vừa ít vừa không liên lạc được với nhau gây ra khó khăn lớn cho Đảng bộ
Tại Nam Kỳ, ngay trong lúc đang khủng bố ác liệt, vào tháng 12 năm
1942 một số đồng chí còn lại trong Xứ uỷ đã tập hợp lại tại nhà bà Nguyễn Thị Châu (xã An Phú Tây, nay thuộc Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh)
để kiểm điểm sự thất bại của cuộc khởi nghĩa, bàn bạc các công tác trước mắt Hội nghị nhận định chủ trương khởi nghĩa là của Xứ uỷ nên Xứ uỷ phải chịu trách nhiệm, nhưng chịu trách nhiệm chính là Tạ Uyên và Lê Văn Khương Hội nghị quyết định cảnh cáo toàn bộ Xứ uỷ, 2 đồng chí Tạ Uyên
và Lê Văn Khương phải chịu kỷ luật trước Đảng, đồng chí Tạ Uyên đã bị địch bắt đánh chết Đồng chí Lê Văn Khương có mặt tại Hội nghị đã nhận kỷ luật với Đảng
Tiếp đó, trong 2 ngày 21-22 tháng 1-1941, Xứ uỷ Nam Kỳ tổ chức một cuộc Hội nghị tại nhà ông Nguyễn Văn Lưu xã Đa Phước huyện Cần Giuộc chợ Lớn (nay thuộc huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh) Hội nghị đã phân tích sâu nguyên nhân thất bại cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, chủ trương chuẩn bị đón thời cơ khởi nghĩa lần hai Hội nghị đã bầu ra Xứ
uỷ Nam Kỳ mới gồm 11 đồng chí [127,tr287]
Xứ uỷ ra báo "Giải phóng" do Nguyễn Văn Kỉnh phụ trách đặt cơ quan vùng ven phía Tây thành phố Sài Gòn, Chợ Lớn
Ngày 10-4-1941 Thường vụ Xứ uỷ Nam Kỳ ra Thông báo gửi tới các đảng viên Đối với công tác xây dựng Đảng, thông cáo viết: "Chúng ta phải chắp lại các mối liên lạc, tổ chức lại các ban lãnh đạo và củng cố tổ chức các ban lãnh đạo ở các tỉnh Ngoài ra còn phải kết nạp thêm đảng viên mới, tập
Trang 34Khoá luận tốt nghiệp
hợp những đồng chí chân thành của phong trào trước và không hề nản chí trước sự khủng bố của địch (…) loại trừ khỏi hàng ngũ những phần tử có tư tưởng cá nhân (…) cần phải giáo dục những đồng chí chưa hiểu thấu chủ nghĩa cộng sản và đường lối của Đảng, làm cho họ biết xây dựng và lãnh đạo
Ngày 13-2-1941, những đồng chí còn lại của Liên tỉnh uỷ Cần Thơ (Cần Thơ, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Quận Phước Long tỉnh Rạch Giá) đã nhóm họp đề ra chủ trương thành lập một Liên tỉnh mới gồm 9 tỉnh miền Tây Nam Bộ, trong đó có cả 3 tỉnh Long Xuyên, Châu Đốc, Sa Đéc, trước đó thuộc Liên tỉnh Long Xuyên, lấy tên là Liên tỉnh Hậu Giang
Theo đó, ngày 23-3-1941, đại biểu 9 tỉnh miền Tây Nam Kỳ đã họp tại phố Chín Căn (tỉnh lỵ Rạch Giá) lập ra Liên tỉnh uỷ Hậu Giang, do Phan Văn Bảy (tức Bảy Cùi, Phó bí thư Xứ uỷ) làm Bí thư Tham gia Liên tỉnh uỷ có Ngô Tám (Uỷ viênXứ uỷ), Lưu Kim Phong, Lưu Nhơn Sâm (Uỷ viênXứ uỷ), Bùi Dự… Liên tỉnh uỷ lãnh đạo 9 tỉnh thuộc miền Tây Nam Kỳ là Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Long Xuyên, Châu Đốc, Rạch Giá, Hà Tiên,
Sa Đéc Tại Hội nghị này Liên tỉnh uỷ đã chủ trương bổ sung kiện toàn các cấp uỷ, bổ sung những đồng chí có năng lực cho các địa phương phong trào còn yếu, bồi dưỡng cán bộ tại địa phương… cơ quan Liên tỉnh uỷ đóng tại thị xã Rạch Giá Rừng U Minh Thượng trở thành căn cứ tập hợp, huấn luyện cán bộ, chế tạo vũ khí của Liên tỉnh uỷ Các đồng chí trong Liên tỉnh uỷ phân công nhau về các địa phương chỉ đạo phong trào, gây dựng tổ chức
Trang 35Khoá luận tốt nghiệp
Đảng
Công việc đang tiến hành thì từ tháng 6 đến tháng 8 địch phát hiện ra
cơ quan Liên tỉnh Hậu Giang và đánh phá, các đồng chí trong Xứ uỷ Nam
Kỳ, trong Liên tỉnh Hậu Giang lần lượt bị bắt [39]
Từ tháng 7 đến tháng 9-1941, một số đồng chí từ miền Tây Nam Kỳ như Bùi Sự, Nguyễn Thị Huệ… lên bắt liên lạc với các đồng chí còn lại ở Sài Gòn Sài Gòn lúc này có nhiều nhóm Đảng hoạt động, có nhóm tự nhận
là Thành uỷ [4] Vào đầu năm 1942, hai đồng chí ở miền Tây lên cùng 3 đồng chí hoạt động ở Sài Gòn hợp lại thành một nhóm lấy danh nghĩa là Liên tỉnh uỷ miền Đông để hoạt động Hoạt động được một thời gian từ tháng 9 đến cuối năm 1942, "Liên tỉnh uỷ" này bị địch đánh phá, chỉ còn Bùi
Dự thoát được chạy về miền Tây
Cũng trong thời gian này, một số cán bộ lãnh đạo của tỉnh Mỹ Tho như Nguyễn Thị Thập, Nguyễn Văn Cảnh (Tám Cảnh), Nguyễn Văn Chiêm… sau một thời gian lánh ở Đồng Tháp Mười đã phân công nhau đi chắp nối với cơ sở ở các địa phương miền Trung và Tây Nam Kỳ để gây dựng lại tổ chức
Cùng với sự khôi phục và hoạt động của các cơ quan lãnh đạo, các nhóm Đảng nói trên, tổ chức Đảng đã được phục hồi trong một số địa phương Nam Kỳ Tuy nhiên do sự đánh phá của kẻ thù, công tác khôi phục
tổ chức cơ sở Đảng ở Nam Kỳ thời kỳ này gặp rất nhiều khó khăn Ở Sài Gòn và Gia Định có nhiều "tỉnh uỷ", "thành uỷ", song không tồn tại được Đến cuối năm 1942 toàn Xứ uỷ có 8 tỉnh, thành phố có tổ chức Đảng hoạt động là Cần Thơ, Sa Đéc, Châu Đốc, Long Xuyên, Trà Vinh, Bạc Liêu, Rạch Giá, Hà Tiên Trong đó có 4 địa phương có tỉnh uỷ lâm thời hoặc ban cán sự
là Rạch Giá, Trà Vinh, Châu Đốc và Bạc Liêu Các tỉnh Cần Thơ, Sa Đéc, Long Xuyên, Hà Tiên chỉ từ 1 đến 4 chi bộ Ở nhiều địa phương khác có
Trang 36Khoá luận tốt nghiệp
đảng viên song hầu hết không hoạt động mà nằm im chờ thời Những năm 1941-1942 là thời kỳ rất khó khăn của Đảng bộ Nam Kỳ
Cùng với sự khôi phục tổ chức Đảng ở 3 kỳ, cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng cũng được kiện toàn, thực thi nhiệm vụ lãnh đạo phong trào cách mạng trong cả nước
Ngay sau khi biết cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ đã nổ ra, vào cuối tháng 11-1940, Ban Trung ương lâm thời đã ra lời Hiệu triệu các đồng chí, các cấp
bộ Đảng hưởng ứng cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, đồng thời chỉ thị các Đảng bộ phải cấp tốc "Thống nhất ý chí và hành động trong các chi bộ và tổ chức, liên lạc khăng khít với các cấp bộ trên trong mỗi địa phương" [32]
Theo sự triệu tập của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị lần thứ 8 của Ban chấp hành Trung ương đã họp từ ngày 10 đến ngày 19-5-1941 tại Pắc
Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng Tham dự Hội nghị có 9 người
Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương Đảng đã đề ra nhiệm vụ xây dựng Đảng, làm cho Đảng đủ năng lực lãnh đạo công cuộc chuẩn bị và tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền Hội nghị cho rằng cuộc cách mạng Đông Dương lúc này là cách mạng giải phóng dân tộc, một bước đi chiến lược trong tiến trình cách mạng dân tộc, dân chủ và xã hội chủ nghĩa do Đảng lãnh đạo, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố chủ yếu bảo đảm thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc Vì vậy, Đảng phải được xây dựng vững mạnh, thực sự là đội tiền phong của giai cấp công nhân "đủ năng lực lãnh đạo cuộc cách mạng Đông Dương đi đến toàn thắng [25,tr136]; phải chú trọng phát triển lực lượng đều khắp, đặc biệt là những nơi đô thị tập trung, các đồn điền, hầm mỏ đến vùng nông thôn và các vùng dân tộc thiểu số; phải gấp rút đào tạo cán bộ, đẩy mạnh công tác vận động quần chúng
Hội nghị đã bầu Ban chấp hành Trung ương chính thức gồm các đồng
Trang 37Khoá luận tốt nghiệp
chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hạ Bá Cang, Phùng Chí Kiên, Vũ Anh (dự khuyết), Trần Đăng Ninh Ban thường vụ gồm 3 đồng chí Trường Chinh,
Hạ Bá Cang, Hoàng Văn Thụ, Đồng chí Trường Chinh được bầu làm Tổng
Bí thư
Sau Hội nghị, đồng chí Vũ Anh ở lại hoạt động ở vùng Cao Bằng, đồng chí Phùng Chí Kiên về lãnh đạo lực lượng du kích ở Bắc Sơn - Vũ Nhai (thuộc Lạng Sơn và Thái Nguyên), Ban Thường vụ Trung ương lên đường về xuôi hoạt động Các đồng chí Bùi San, Hồ Xuân Lưu trở về Trung Kỳ; Nguyễn Thành Diên về Bắc Kỳ công tác
Do một số đồng chí uỷ viên Trung ương bị bắt hoặc hy sinh, nên đến cuối năm 1941, Ban Trung ương chỉ còn 4 người: Vũ Anh hoạt động tại Cao Bằng, Ban Thường vụ Trung ương gồm các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hạ Bá Cang về đóng cơ quan ở vùng ven Hà Nội, từ đó chỉ đạo phong trào trong cả nước, cử người vào truyền đạt Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 của Ban chấp hành Trung ương với các Đảng bộ Nam Kỳ, chỉ đạo việc thành lập Xứ uỷ Trung Kỳ Trên thực tế Ban Thường vụ đảm nhiệm tất cả các công việc của Ban chấp hành Trung ương
Trước tình hình nhiều cán bộ, đảng viên trong đó có nhiều đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Trung ương và các Xứ uỷ bị bắt, Ban Thường vụ Trung ương đã "nghĩ cách bảo vệ Trung ương và Xứ uỷ" bằng cách lập các
An toàn khu (ATK) hoạt động theo nguyên tắc hoàn toàn bí mật, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thường vụ Trung ương Đồng chí Trường Chinh kể lại:
"Trong năm 1942, Thường vụ Trung ương có một cuộc Hội nghị bàn rằng bây giờ địch khủng bố gắt gao như thế này thì rút lên chiến khu hay ở dưới đồng bằng Sau đó Thường vụ quyết định phải ở lại đồng bằng thì mới bắt mạch được phong trào, bám sát được phong trào quần chúng (…) Đi lên chiến khu, an toàn hơn nhưng không bắt mạch được phong trào, có thể lạc
Trang 38Khoá luận tốt nghiệp
hậu (…) Phải bám lấy thành phố, chúng tôi tổ chức ra an toàn khu" [1] Theo đó, Ban thường vụ Trung ương đã lập một khu an toàn khá rộng trong các làng xã thuộc Đông Anh, một phần Yên Lãng (thuộc Phúc Yên) một phần Từ Sơn, Gia Lâm (Bắc Ninh), một phần Hoài Đức (Hà Đông) bao bọc lấy gần già nửa ngoài thành Hà Nội, nằm trên hai bờ sông Hồng Hà, cách trung tâm thành phố từ 10 đến 20km
Trong vùng An toàn khu Trung ương không phát động quần chúng đấu tranh, làm như "phong trào đang ngủ" để đánh lạc hướng điều tra của địch Sau này ngoài An toàn khu như Hà Nội, Trung ương còn tổ chức một
An toàn khu dự bị ở Hiệp Hoà (Bắc Giang), Phổ Yên, Phú Bình (Thái Nguyên) để khi có động ở dưới thì chạy lên trên ấy, yên tĩnh thì trở lại [1]
Chính nhờ tổ chức ra các An toàn khu mà trong suốt thời kỳ từ đầu
1942 đến tháng Tám 1945, cơ quan Trung ương không bị vỡ Trong khi các
cơ quan mật thám cảnh sát Pháp ở Bắc Kỳ suy đoán rằng đầu não cộng sản
đã chuyển lên vùng rừng núi biên giới thì các đồng chí Trung ương vẫn bám sát Hà Nội để chỉ đạo phong trào cách mạng ở Bắc Kỳ, xúc tiến các mối liên lạc, đưa tài liệu Trung ương vào cho Đảng bộ Trung Kỳ và Nam Kỳ
Từ sau Hội nghị lần thứ 8, Ban chấp hành Trung ương Đảng về đứng chân ở "An toàn khu", Ban Thường vụ Trung ương liên tiếp ra các văn bản tài liệu hướng dẫn của Đảng bộ thực hiện củng cố và phát triển Đảng, thực hiện công tác bí mật Tháng 6-1941, Tổng Bí thư Trường Chinh viết bài
"Củng cố Đảng" đăng trên báo "Giải phóng" số 2 kêu gọi các cấp bộ "trừ diệt các bệnh quan liêu và bao biện" trong bộ máy Đảng, chấn chỉnh sinh hoạt chi bộ cho "điều đặn và liên tiếp"
Đặc biệt ngày 1-12-1941, Trung ương ra "Chỉ thị về công tác" do Tổng Bí thư Trường Chinh khởi thảo Trung ương đã chỉ rõ những hạn chế trong công tác tổ chức các Đảng chưa thật "rộng rãi, thực tế và khoa học"
Do đó, các cấp bộ Đảng phải ra sức củng cố và mở rộng cơ sở Đảng như:
Trang 39Khoá luận tốt nghiệp
mở rộng chi bộ nhất là chi bộ Xí nghiệp làm cho chi bộ sinh hoạt đều đặn, thống nhất tổ chức Đảng khắc phục tình trạng đứt mối rời rạc; tổ chức các ban chuyên môn của Đảng ở các cấp như Ban tuyên truyền, huấn luyện, Ban công vận, Ban binh vận, Ban tài chính, Tổ chức các đảng đoàn trong các đoàn thể quần chúng Cũng trong thời gian này, Xứ uỷ Bắc Kỳ ra tài liệu
"Công tác bí mật" do đồng chí Hạ Bá Cang khởi thảo Tài liệu đã hướng dẫn rất cụ thể những phương pháp thực hiện là bí mật trong tổ chức, khai hội, lập
cơ quan, giao thông, thư từ tài liệu, khai trừ phần tử xấu…
Cũng trong những năm 1941 - 1942, Trung ương ban hành "Điều lệ tóm tắt" của Đảng Những nguyên tắc chung nhất về tôn chỉ, mục đích, tổ chức bộ máy của ban điều lệ này giống với điều lệ đã thông qua tại Đại hội lần thứ nhất của Đảng năm 1935 Ban điều lệ khẳng định "Đảng là một tổ chức bí mật" trong hệ thống tổ chức xét thấy cần thiết thì có thể tổ chức ra các Liên tỉnh uỷ Điều lệ viết: "Nơi nào ba, bốn tỉnh liền nhau mà cơ sở Đảng phát triển thì muốn tiện việc chỉ huy, Xứ uỷ có thể thương lượng với Trung ương lập ra các Ban liên tỉnh để chỉ huy ba, bốn Liên tỉnh uỷ Xứ nào chưa lập được Xứ uỷ thì Trung ương phải trực tiếp chỉ huy các Đảng bộ trong xứ ấy Trung ương lại có thể uỷ quyền cho ban Uỷ viên của Đảng ở tỉnh nào hay liên tỉnh nào mạnh nhất trong xứ ấy tạm thời chỉ huy các Đảng
bộ toàn xứ" [25, tr 140]
Sự ra đời của Ban chấp hành Trung ương lâm thời (năm 1940) rồi Ban chấp hành Trung ương chính thức (5-1941) đã thể hiện rõ tinh thần trách nhiệm và những nỗ lực to lớn của các đồng chí lãnh đạo của Đảng, trước hết
là của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, của các đồng chí Trung ương và của Xứ uỷ Bắc Kỳ Tuy không có đại biểu Nam Kỳ tham dự do Đảng bộ trong Nam bị đánh phá nặng nề, Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương Đảng (5-1945) đã quy tụ trí tuệ và những thành phần ưu tú của Đảng bộ Bắc Kỳ, của
bộ phận hoạt động ở nước ngoài, có ý nghĩa như một Hội nghị toàn quốc của
Trang 40Khoá luận tốt nghiệp
Đảng Ban chấp hành Trung ương do Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương Đảng cử ra có đủ tư cách và uy tín, quyền hạn và nghĩa vụ lãnh đạo phong trào cách mạng trên cả nước
Với việc nằm sát dinh luỹ của kẻ thù, với những chỉ thị và tài liệu quan trọng, Ban chấp hành Trung ương đã đóng vai trò to lớn trong việc uốn nắn những sai sót, khôi phục và củng cố lại hệ thống tổ chức của Đảng trước hết là ở Bắc Kỳ, chắp mối liên lạc với Trung Kỳ, Nam Kỳ nhằm đạt tới sự thống nhất về ý chí, tư tưởng tổ chức và hành động trên phạm vi toàn Đảng, làm cho Đảng đủ năng lực lãnh đạo công cuộc cứu quốc