1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu thể chế chính trị phong kiến cămphuchia thời kì ăngco 802 1434

68 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thể Chế Nhà Nước Quân Chủ Chuyên Chế Cămpuchia Thời Kỳ Ăngco
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 325,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để thực hiện tốt nhiệm vụ nghiên cứu, chúng tôi phải nghiên cứu thời kỳ lịch sử tr-ớc Ăngco để làm cơ sở cho vấn đề chính, cũng nh- phải phân tích, đánh giá tính chất, đặc điểm của các l

Trang 1

A phần mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Cămpuchia và Việt Nam là hai n-ớc có quan hệ mật thiết lâu dài trong lịch sử Đã có thời gian, quan hệ giữa hai n-ớc hết sức khăng khít trong sự nghiệp đấu tranh chống kẻ thù chung, giải phóng dân tộc Hiện nay, mối quan

hệ đó đang phát triển một cách đầy triển vọng, do vậy tìm hiểu về lịch sử Cămpuchia là một việc làm hết sức cần thiết nhằm góp phần hiểu rõ hơn đất n-ớc láng giềng gần gũi với chúng ta

Lịch sử Cămpuchia từ cổ chí kim, diễn ra hết sức sinh động, phức tạp và

có nhiều thăng trầm Dân tộc Cămpuchia đã trải qua quá trình định hình và xác lập bản sắc dân tộc của mình một cách không mệt mỏi Thực tế lịch sử cho thấy rằng, nhân dân Cămpuchia đạt đ-ợc rất nhiều thành tựu quan trọng trong quá trình đó Đất n-ớc Cămpuchia có lúc thịnh, lúc suy nh-ng nhìn chung lúc nào cũng biểu hiện sức v-ơn lên mạnh mẽ để khẳng định mình Đặc biệt nhất

là thời kỳ Ăngco (802-1434), thời kỳ huy hoàng nhất của Cămpuchia trong quá khứ Thời kỳ này Cămpuchia có sự phát triển toàn diện và có vị trí lớn ở

Đông Nam á Nghiên cứu Cămpuchia thời kỳ Ăngco không chỉ để hiểu rõ chính lịch sử của thời kỳ này mà cũng để làm tô đậm thêm truyền thống lịch

sử và bản sắc của Cămpuchia V-ơng quốc Ăngco là nhà n-ớc quân chủ chuyên chế phong kiến điển hình ở ph-ơng Đông Nó không thực sự nổi bật nh- ở Trung Quốc, nh-ng đã có những điểm đặc tr-ng, khác biệt

Nhà n-ớc Ăngco là nhà n-ớc hoàn chỉnh và đỉnh cao của chế độ phong kiến Cămpuchia Điều này đ-ợc thể hiện ở tổ chức chính quyền, quân đội, luật pháp và các đặc điểm kinh tế của nó Tìm hiểu nhà n-ớc quân chủ chuyên chế Cămpuchia thời kỳ Ăngco là một vấn đề rất khoa học và rất cần thiết

Trang 2

Trong quá trình nghiên cứu vấn đề này, chúng tôi không chỉ giới hạn đơn thuần về thời kỳ Ăngco mà còn đi sâu tìm hiểu phạm vi rộng hơn hiểu sâu hơn nhiều vấn đề Để thực hiện tốt nhiệm vụ nghiên cứu, chúng tôi phải nghiên cứu thời kỳ lịch sử tr-ớc Ăngco để làm cơ sở cho vấn đề chính, cũng nh- phải phân tích, đánh giá tính chất, đặc điểm của các lĩnh vực Ăngco qua đó khái quát tính riêng biệt, đặc tr-ng của nhà n-ớc quân chủ chuyên chế Cămpuchia Nh- vậy, qua việc thực hiện đề tài này, tầm hiểu biết của ng-ời nghiên cứu sẽ đ-ợc

mở rộng hơn, rất bổ ích cho công tác giảng dạy, nghiên cứu lịch sử của bản thân sau này

Đề tài này cũng hy vọng trở thành tài liệu cần thiết cho sinh viên khi tìm hiểu về thời kỳ Ăngco bằng việc hệ thống lại kiến thức, cung cấp những nhận

định, đánh giá về giai đoạn lịch sử này Bên cạnh đó, nó cũng trở thành tài liệu nghiên cứu vấn đề mang tính tập trung và toàn diện

Với những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn lựa chon đề tài " Thể chế nhà n-ớc quân chủ chuyên chế Cămpuchia thời kỳ Ăngco" làm khoá luận tốt nghiệp của mình

2 Lịch sử vấn đề

Kể từ khi Cămpuchia gia nhập tổ chức ASEAN, Cămpuchia đã đ-ợc các giới học giả quan tâm nghiên cứu, nh-ng nhìn chung, mảng Cămpuchia cổ - trung đại vẫn ch-a đ-ợc tập trung đúng mức Vấn đề thể chế nhà n-ớc quân chủ chuyên chế Cămpuchia thời kỳ Ăngco đã đ-ợc các nhà nghiên cứu Việt Nam tiến hành nghiên cứu trong những năm trở lại đây, điều đó đ-ợc thể hiện trong các sách, giáo trình, tạp chí hay các chuyên đề

Trong các giáo trình Đại học, vấn đề này đ-ợc đề cập với một ch-ơng không lớn lắm trong phần lịch sử Cămpuchia cổ - trung đại, nhà n-ớc Ăngco

đ-ợc trình bày mang tính khái l-ợc

Có nhiều tác giả đã nghiên cứu thành sách riêng về lịch sử Cămpuchia, tiêu biểu nh-:

Trang 3

Phạm Việt Trung với cuốn "Lịch sử Cămpuchia", Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1982 Cuốn sách từng b-ớc đi sâu vào Cămpuchia giai đoạn Ăngco (802-1434) trên các mặt chính trị, kinh tế, quân sự, ngoại giao qua đó làm nổi bật tính chất chuyên chế của nhà n-ớc Cămpuchia

Ông Phạm Đức Thành trong cuốn "Lịch sử Cămpuchia", Nxb Lao Động,

1994 cũng từ góc độ t-ơng tự để tiếp cận vấn đề Tác giả giới thiệu chung về quân chủ chuyên chế thời kỳ Ăngco trên các mặt và phần nào nói lên đ-ợc những nét nổi bật, điển hình của thời kỳ này

Nói chung, các sách chuyên về lịch sử Cămpuchia chỉ trình bày vấn đề nghiên cứu trong mạch chung của lịch sử Cămpuchia và coi đó là một bộ phận cấu thành nội dung của cuốn sách

Giáo s- L-ơng Ninh viết bài "Phác thảo nghiên cứu quan hệ kinh tế - xã hội Cămpuchia d-ới thời Ăngco" trong cuốn "một số chuyên đề lịch sử thế giới" do giáo s- Vũ D-ơng Ninh chủ biên, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội,

2001, đã đi sâu vào những quan hệ về kinh tế, xã hội của Cămpuchia nhằm làm nổi bật những nét về kinh tế, xã hội của Cămpuchia Bài viết này cũng là một t- liệu quan trọng của chúng tôi khi thực hiện đề tài

Bài viết, "Văn bia Cămpuchia một nguồn tài liệu quý giá" đăng trên Tạp chí nghiên cứu Đông Nam á, số 1 - 1991, tác giả Nguyễn Trọng Định đã cho chúng ta biết thêm nhiều nguồn thông tin bổ ích về lịch sử của Cămpuchia thời

kỳ cổ đại, đặc biệt là trong thời kỳ phát triển cựu thịnh của Cămpuchia

Cuốn Lịch sử Đông Nam á thời cổ do Viện nghiên cứu Đông Nam á xuất bản năm 1983, các tác giả cũng đã nêu những điểm cơ bản của lịch sử của Cămpuchia, qua đó cho chúng tôi biết rõ hơn lịch sử của các ông vua thời kỳ

Ăngco

Nói tóm lại, các tài liệu trên xuất phát từ nhiều ph-ơng diện tiếp cận khác nhau, thông th-ờng là gắn với lịch sử chung Hầu nh- ch-a có công trình nào mang tính chuyên khảo về vấn đề " Thể chế nhà n-ớc quân chủ chuyên chế

Trang 4

Cămpuchia thời kỳ Ăngco" cho nên đó cũng là một khó khăn cho chúng tôi trong việc thu thập tài liệu

Tất cả những tài liệu trên trở thành nguồn t- liệu vô cùng giá trị cho chúng tôi khi thực hiện đề tài này

3 Đối t-ợng và phạm vi nghiên cứu

Đề tài trực tiếp đi vào nghiên cứu vấn đề Nhà n-ớc quân chủ chuyên chế Cămpuchia thời kỳ Ăngco Chúng tôi tập trung chủ yếu vào tình hình chính trị của nhà n-ớc Ăngco và tính chất chuyên chế của nó Tuy nhiên, chúng tôi cần gắn với chiều dài lịch sử tr-ớc thời kỳ Ăngco nhằm làm cơ sở lịch sử để nghiên cứu vấn đề

Về mặt thời gian, đề tài xác định từ năm 802 đến năm 1434 tức là bắt đầu giai đoạn hình thành đến lúc Ăngco suy yếu

Về mặt nội dung, để làm bật nổi đ-ợc những đặc tr-ng của nhà n-ớc

Ăngco chúng tôi tiến hành các mặt chính quyền Trung -ơng, chính quyền địa ph-ơng, quân đội, luật pháp và phân tích những tính chất thể hiện sự chuyên chế của nhà n-ớc Ăngco về kinh tế, quan hệ xã hội, tôn giáo cũng nh- các chức năng của nhà n-ớc

Trang 5

hai ph-ơng pháp chủ yếu này, chúng tôi hy vọng sẽ hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu

Bên cạnh đó, khoá luận thực hiện các ph-ơng pháp bổ trợ khác nh- ph-ơng pháp so sánh, thống kê nhằm tăng tính toàn diện khi nghiên cứu đề tài

5 Bố cục của khoá luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, khoá luận đ-ợc chia làm

Ch-ơng 3 Tính chất chuyên chế của nhà n-ớc quân chủ chuyên chế

Cămpuchia thời kỳ Ăngco

3.1 Nhà n-ớc thực hiện quyền sở hữu tối cao về ruộng đất

3.2 Nhà n-ớc xác lập trên mối quan hệ giai cấp cầm quyền thu cống nạp, giai cấp bị trị nộp cống phẩm

3.3 Các chức năng của nhà n-ớc

3.4 Tôn giáo

Trang 6

B Nội dung

Ch-ơng 1.

Tổng quan lịch sử Cămpuchia từ đầu đến

thời kỳ Ăngco

1.1 Đất n-ớc và con ng-ời

Cămpuchia là một trong ba quốc gia nằm trên bán đảo Đông D-ơng, thuộc Đông Nam á lục địa, giữa khoảng 100 và 150 vĩ tuyến Bắc và 1080 kinh

Đông

Cămpuchia có biên giới chung với Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở phía Đông; Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào ở phía Đông Bắc; V-ơng quốc Thái Lan ở phía Tây, với tổng số chiều dài biên giới chung trên 2100 km; phía Nam thông ra vịnh Thái Lan bằng một bờ biển dài trên 400 km

Cămpuchia có diện tích là 181.035km2 Hình dáng đất n-ớc gần giống l-ỡi rìu hình tứ giác, từ Đông sang Tây dài 560 km, từ Bắc xuống Nam dài 440km

Thực vậy, một đồng bằng bao la do phù sa bồi đắp với gió mùa hạ phong phú đã biểu thị cho thấy Cămpuchia là một n-ớc có khí hậu nhiệt đới, một phong cảnh lí t-ởng đối với nông nghiệp Nh-ng một phần lớn đất đai là cát pha đất sét và tất cả đều rất dễ bị phá vỡ khi đ-ợc t-ớc bỏ đi lớp rừng bao phủ Mỗi năm có hai mùa đ-ợc phân biệt nhau t-ơng đối rõ nét - mùa m-a và mùa khô Mùa m-a, rất thịnh, đ-ợc tập trung vào trong năm thậm chí trong bốn tháng, trong khi một mùa khô khốc liệt kéo dài trong phần còn lại của năm,

mà không còn có chút độ ẩm nào của ban đêm

Trang 7

Tônlê Sáp là một trong những con sông có mật độ cá dày đặc trên thế giới Đồng ruộng không nhiều Đồng bằng có thể trồng lúa trên thềm sông Mêkông (vùng trung l-u) và trên triền dốc xung quanh Biển Hồ, không đ-ợc rộng và không đ-ợc phì nhiêu, kể cả vùng Tây Bắc Biển Hồ là nơi có kinh đô

cổ Chỉ có đồng bằng Batđomboong ở phía Tây là có ý nghĩa hơn cả và đất t-ơng đối bằng phẳng, rộng và phì nhiêu

Thời xa x-a, ng-ời Khơme cổ còn gắn bó với một địa bàn khác ở phía bắc Đó là l-u vực sông Sêmun chảy qua Cò Rạt (nay thuộc Thái Lan) Tuy nhiên đã canh tác ở địa bàn này không rộng và việc t-ới n-ớc gặp nhiều khó khăn

Để bù lại, Biển Hồ và sông Tônlê Sáp có nhiều đất trồng cây ăn quả nhiệt

đới; núi sẵn đá làm vật liệu xây dựng; rừng bao quanh đất n-ớc chứa đựng nhiều gỗ quý và lâm sản Cuối cùng, Mêkông là con sông duy nhất th-ờng trực

và sức mạnh của nó cũng nh- độ rộng, những vận hành của nó đ-ợc mở ra khi

có những dòng lũ, sau đó đ-ợc đóng trở lại để trữ n-ớc, cho phép mở rộng những kho l-u trữ phù sa màu mỡ để c- dân ở đây có điều kiện sinh sống bằng: hái l-ợm, săn bắn, đánh cá, trồng trọt nên đã không ngừng phát triển, góp phần của mình vào nền văn hoá lâu đời, vào vận mệnh lịch sử của Đông Nam á

Cămpuchia cũng là nơi mà ng-ời ta đã phát hiện ra đ-ợc dấu vết sinh sống của ng-ời tối cổ - Hômô erecturs Việc nhà khảo cổ ng-ời Pháp là Xôvanh phát hiện đ-ợc di chỉ đồ đá cũ sơ kỳ ở hai bên bờ trung l-u Mêkông

đó là công cụ làm bằng hòn đá cuội, ghè đẽo bên rìa hình "múi cam", rồi tìm

đ-ợc dấu vết quần động vật thuộc giai đoạn Xinantơrốp ở Kampốt và Cacbônen phát hiện đ-ợc dấu vết ng-ời thuộc giai đoạn này ở Phnom Luông Bên cạnh đó, di chỉ đồ đã giữa cũng đ-ợc ở một số nơi có đặc tr-ng văn hoá Hoà Bình - Bắc Sơn Di chỉ đồ đá mới ở Samrong Sen gồm rìu có mài nhẵn hay mài một phần, cùng với dấu vết săn hái, đánh cá thuộc 2000 năm tr-ớc

Trang 8

công nguyên Cách đây không xa lắm là Mlu Prê là di chỉ đồ đồng nổi tiếng,

có niên đại 500 năm tr-ớc công nguyên Cả hai đều ở phía Đông - Bắc Cămpuchia và có thể đ-ợc coi là một trung tâm luyện kim ở vùng Nam Đông D-ơng

Nh- thế, theo những chứng tích khảo cổ học đã cho ta biết đ-ợc rằng Cămpuchia cũng là nơi chứng kiến, trải qua những b-ớc đi đầu tiên của loài ng-ời, nơi có nền văn hoá tối cổ, có quan hệ mật thiết với văn hoá lục địa

Đông Nam á, nơi có điều kiện thoát khỏi chế độ công xã nguyên thuỷ để sớm b-ớc vào ng-ỡng cửa của văn minh Lý thuyết về một nguồn gốc bên ngoài, về

sự di c- từ ấn Độ sang là hoàn toàn không có căn cứ và trong tr-ờng hợp nào cũng không phủ nhận đ-ợc tính chất bản địa, lâu đời của tổ tiên ng-ời Cămpuchia C- dân ở đây là tộc Khơme - một nhánh của ng-ời Inđônêđiêng,

họ là chủ nhân trên phần lãnh thổ cơ bản của Cămpuchia mà dấu tích của họ vẫn còn đến thời gian sau này nh- ở đồng bằng Irawadi, Chao Phaya, ở Lào và

Cò Rạt tr-ớc khi ng-ời Thái xuất hiện, ở trung l-u và hạ l-u sông Mêkông Hậu duệ của họ là những ng-ời nói ngôn ngữ Môn - Khơme, đến nay một bộ phận vẫn còn sinh sống trên các vùng rừng núi Tr-ờng Sơn và Đăng rếch Nh- vậy, khoảng đầu công nguyên, b-ớc vào thời kỳ đồ sắt là lúc c- dân Nam Đông D-ơng có điều kiện thoát khỏi chế độ công xã nguyên thuỷ, b-ớc vào một giai đoạn mới - giai đoạn hình thành giai cấp và nhà n-ớc

Những nhà n-ớc hình thành trên lãnh thổ này đ-ợc tài liệu cổ gọi bằng những tên khác nhau nh- Phù Nam, Chân Lạp, Cao Miên Điều đó phản ánh triển vọng cũng nh- b-ớc phát triển trong quan hệ xã hội - chính trị của ng-ời Khơme Nh-ng Cămpuchia mới là tên gọi chính thức của v-ơng quốc Thế nh-ng, để thấy rõ sự hình thành và vai trò lịch sử của nó, không thể không xem xét về quốc gia cổ Phù Nam và Chân Lạp

Trang 9

1.2 Thời kỳ Phù Nam (Thế kỷ I - VI)

Không phải ngay từ đầu đã hình thành một quốc gia thống nhất rộng lớn,

mà từ đầu công nguyên, lần l-ợt xuất hiện một số tiểu quốc đã phát triển mạnh

ở vùng Karatiê là tiểu quốc Sambơ Hupura

ở vùng Banam là Viađo Hapura hay còn gọi là Phù Nam

Trong những tiểu quốc này, quan trọng hơn cả, lớn hơn cả là Banam và Bátxắc Vậy thì Banam là tiểu quốc nh- thế nào?

Banam là một gò núi nhỏ thuộc bờ trái l-u vực sông Mêkông Tiểu quốc Banam sớm hình thành (cuối thế kỷ I, đầu thế kỷ II) và phát triển nhanh chóng, mạnh hơn cả khiến các tiểu quốc khác - vốn có quan hệ thân tộc phải kết thân

và thần phục Banam do quen với chiến trận hơn nên có địa vị lãnh đạo, tiêu biểu cho các tiểu quốc khác, đại diện cho các quốc gia sơ kỳ của ng-ời Khơme: quốc gia Phù Nam Trong hơn năm thế kỷ đầu, Banam t-ợng tr-ng cho thế lực ng-ời Khơme, không ngừng bành tr-ớng thế lực, chinh phục đ-ợc n-ớc Naravara Nhờ đó, Phù Nam đã có đ-ợc tiềm lực kinh tế, trở thành quốc gia mạnh nhất Đông Nam á thời bấy giờ

Ng-ời ta biết về n-ớc Phù Nam tr-ớc hết qua những th- tịch cổ Trung Hoa, trong ghi chép của L-ơng th-, tức là bộ sử nhà L-ơng (502-556), là đầy

đủ hơn cả

Về vị trí, "N-ớc Phù Nam ở phía Nam quận Nhật Nam, trong một vịnh lớn ở phía Tây biển N-ớc cách Nhật Nam chừng 7000 lí và cách Lâm ấp (Chămpa) hơn 3000 lí về phía Tây Nam Đô thành cách biển 500 lí Một con

Trang 10

sông lớn từ Tây Bắc chảy về phía Đông đổ ra biển N-ớc rộng hơn 3000 lí Đất thấp và bằng phẳng Khí hậu và phong tục đại để giống Lâm ấp" [1; 15; 76]

Về con ng-ời và văn hoá xứ này: "Đất rộng 3000 lí, có những thành phố xây t-ờng, có lâu đài và nhà ở Đàn ông Phù Nam xấu và đen, quấn tóc, ở truồng và đi chân không, tính đơn giản và không trộm cắp Họ chăm công việc nghề nông, gieo một năm gặt ba năm Họ thích trang trí bằng điêu khắc, chạm trổ; nộp thuế bằng vàng, bạc, hạt châu, h-ơng liệu Họ có sách vở, th- viện và nhiều vật khác Chữ viết giống ng-ời Hồ Ma chay c-ới hỏi đại để giống tục lệ Lâm ấp" [2;15;76]

Lịch sử Phù Nam đ-ợc L-ơng th- kể lại rằng: Một ng-ời phụ nữ làm vua tên là Liễu Diệp Nàng còn trẻ khoẻ nh- một chàng trai Một ng-ời đàn ông ở một n-ớc tên là Hỗn Điền, đ-ợc thần cho một cây cung và dặn đi thuyền ra biển Chàng tới bên ngoài thành Phù Nam, khi đó Liễu Diệp và quân sĩ của mình muốn chiếm lấy thuyền Hỗn Điền bèn d-ơng cung bắn, mũi tên xuyên qua mạn thuyền bay tới gần Liễu Diệp, nàng cả sợ xin thần phục Hỗn Điền dạy cho Liễu Diệp khoác tấm vải thay quần áo và thói ở truồng Chàng lấy Liễu Diệp làm vợ và cai quản v-ơng quốc

Từ cặp vợ chồng này sinh ra ba đời kế nhau làm vua mà chữ đầu tên đều

là Hỗn Tiếp đó, một viên t-ớng lên ngôi, lập nên một triều mới gồm có bốn

đời vua mà chữ đầu tên lại là Phạn Vua cuối của triều này là Phạn Tầm - ng-ời đã tiếp một phái bộ ngoại giao Trung Hoa trong khoảng những năm 222

- 280 V-ơng triều thứ ba đ-ợc nói đến sau một thời gian ngắt quảng và là một v-ơng triều đ-ợc lập với sự tham gia của ng-ời ấn Độ Thế kỷ V, theo tài liệu Trung Hoa có nói tới một ông vua tên là Sryđravacman ở ngôi khoảng năm 424-438 rồi Giayavacman lên ngôi sau đó và mất năm 514 Con ông lên kế ngôi vua từ năm 514 cho đến cuối thế kỷ VI

Trang 11

Nh- vậy, từ khi thành lập (khoảng thế kỷ II) cho đến khi kết thúc (cuối thế kỷ VI) v-ơng triều này gồm khoảng 13 đời vua Phù Nam đến đây chấm dứt và bị xâm chiếm Sự hiện diện của nhà n-ớc Phù Nam, nền văn minh Phù Nam đã góp phần tạo nên những bản sắc văn hoá đậm đà của nền văn hoá Cămpuchia ở những thế kỷ sau, nhất là thời kỳ Ăngco - thời kỳ huy hoàng nhất trong lịch sử cổ đại

Phù Nam có vị trí đứng đầu, không chỉ vì hành thành sớm, lớn mạnh hơn cả mà còn vì đây là đất bản địa của một chi tộc lớn gọi là tộc "Mặt trăng" - nguồn gốc một phần lịch sử Cămpuchia

Sau Phù Nam ít lâu, một chi tộc thứ hai - tộc "Mặt trời" ở Bátxắc tụ c- nơi trung l-u sông Mêkông, một đồng bằng t-ơng đối rộng, đất đai phì nhiêu song lại bị lệ thuộc vào n-ớc Phù Nam Nh-ng cũng do điều kiện sinh sống thuận lợi mà phát triển nhanh chóng, hùng mạnh không kém họ tộc Mặt trăng đã tách ra để lập n-ớc riêng

Nh- vậy, sự thành lập quốc gia Phù Nam và các tiểu quốc khác chính là kết quả sáng tạo của chính ng-ời Khơme Bên cạnh đó, ng-ời ấn Độ từ đầu công nguyên đã tham gia tích cực vào sự phát triển kinh tế, văn hoá và chính trị của Phù Nam Đó là những th-ơng nhân, những nhà tu hành đến đây làm ăn sinh sống, truyền bá tôn giáo, gắn bó và đồng hoá ng-ời dân địa ph-ơng Chính đời sống chính trị, kinh tế - xã hội, văn hoá của Phù Nam nó đã minh chứng cho chúng ta biết rằng: Phù Nam là một trong những quốc gia cổ đại quan trọng bậc nhất Đông Nam á thời cổ đại

Về chính trị, chúng ta biết về Phù Nam là một chế độ nhà n-ớc phong kiến, vua th-ờng mang v-ơng hiệu Vua núi, vua chuyên chế tất cả mọi quyền hành trong đó bao gồm cả v-ơng quyền lẫn thần quyền Thuế má là nguồn thu nhập chính của quốc gia

Những di vật khảo cổ tìm thấy đã thể hiện c- dân Phù Nam chủ yếu dựa vào nền kinh tế nông nghiệp trồng lúa n-ớc trên mọi địa hình, đặc biệt là tận

Trang 12

dụng đ-ợc l-ợng phù sa bồi đắp của các con sông lớn nh- Tônlê Sáp, Mêkông Đặc biệt, những đồ trang sức nh- nhẫn, vòng c-ờm đeo tay bằng vàng, ngọc trai những chiếc bát, chiếc lọ, chum vại đủ màu đ-ợc làm bằng gốm nó đã thể hiện trình độ phát triển cao của nghề thủ công nghiệp ở Phù Nam cho dù nó đang ở giai đoạn sơ khai Bây giờ Phù Nam đã có quan hệ trao

đổi, có thể nói rằng, thị trấn này là một trung tâm th-ơng mại lớn nhất ở

Đông Nam á thời đó, vì qua các loại sản vật và các loại đồng tiền cổ của Mã Lai, ấn Độ, Trung Hoa tìm thấy ở óc Eo đã minh chứng cho điều này

Văn hoá cũng đ-ợc thể hiện rõ trên lĩnh vực tôn giáo đó là tính khoan dung, hoà hợp giữa đạo Bàlamôn và đạo Phật cũng nh- các giáo phái khác nhau cùng một tôn giáo Xiva và Visnu, giữa phái Đại Thừa và phái Tiểu Thừa thuộc đạo Phật Ngoài ta, Phù Nam đã tiếp thu những tinh hoa về nghệ thuật, tiêu biểu là nghệ thuật tạc t-ợng của ng-ời ấn Độ Nh-ng cũng phải thấy rằng, tr-ớc khi tiếp thu văn minh ấn Độ thì Phù Nam cũng nh- nhiều tiểu quốc khác trong vùng Đông Nam á đã có một nền văn minh nông nghiệp trồng lúa n-ớc hết sức độc đáo rồi Vì thế, sự hiện diện của nhà n-ớc Phù Nam, văn minh Phù Nam đã góp phần tạo nên những bản sắc văn hoá đậm đà của nền văn hoá Cămpuchia ở những thế kỷ sau, nhất là thời kỳ Ăngco - thời kỳ huy hoàng nhất của lịch sử Khơme

1.3 Thời kỳ Chân Lạp (Thế kỷ VI - VIII)

Khi nội tình Phù Nam khủng hoảng, quốc gia Sơrét Thapura ở vùng Bát xắc mạnh lên Vua ở đây là Bavavacman I vốn là thân thích của hoàng tộc Phù Nam đem quân đánh Phù Nam (540-550), vua Phù Nam thua, quốc gia Phù Nam tồn tại đến giữa thế kỷ VI thì kết thúc

Cũng ở thế kỷ VI, khi Phù Nam bắt đầu suy yếu, nhiều tiểu quốc miền biên khu xa xôi, tr-ớc thần phục, nay nhân cơ hội tách ra độc lập Tất nhiên, sự phát triển đó cũng không tách rời sự suy yếu của Phù Nam, một c-ờng quốc đã

Trang 13

đi tr-ớc nó tới năm thế kỷ và chính n-ớc Phù Nam đó lại bị chinh phục bởi nhà n-ớc trẻ trung đầy sức sống này - quốc gia của các Kambujas hình thành mà ng-ời Trung Hoa th-ờng gọi là Chenla (Chân Lạp)

Thực ra thì sự h-ng thịnh một thời của Phù Nam chỉ đ-ợc nảy nở ở một

số đô thị, nơi tập trung dân c-, còn ở các vùng nông thôn thì không hề đ-ợc quan tâm Công tác thuỷ nông không đ-ợc coi trọng khiến những vụ lũ lụt của sông Mêkông gây ra những tai hoạ khủng khiếp cho các cánh đồng ruộng trũng, biến những vùng đồng bằng vốn phì nhiêu thành những vùng đồng lầy vô dụng ở vùng hạ l-u sông Mêkông; làng mạc tiêu điều, c- dân phiêu tán Mặt khác, nội bộ hoàng tộc tranh c-ớp ngôi vua diễn ra liên tiếp, vì thế đất n-ớc bị chia cắt thành nhiều vùng riêng rẽ

Chính trong cơ hội này vua Bavavacman I (589 - 600) đã tấn công thu phục lãnh thổ cũ Phù Nam Họ tiến dọc theo thung lũng sông Mêkông rồi nhanh chóng chinh phục toàn bộ đất n-ớc này, buộc các vua cuối cùng của Phù Nam phải chạy lánh nạn xuống miền Nam Từ đây Chân Lạp đã chinh phục đ-ợc Phù Nam và mở rộng lãnh thổ: phía Bắc giáp sông Mun, phía Nam giáp Tônlê Sáp, phía Đông giáp dãy Tr-ờng Sơn Cuộc chinh phục đó đã mở

đầu cho những đợt Nam tiến đ-ợc lặp đi lặp lại nhiều lần trong lịch sử của các tộc ng-ời trên bán đảo Đông D-ơng

Công cuộc chinh phục Phù Nam đã khiến cho Chân Lạp trở nên hùng c-ờng hơn và ng-ời có công đầu tiên này là Bavavacman I

Em của Bavavacman I là Chitơrasena (600-615) kế ngôi anh vào khoảng năm 600, hiệu là Mahenđravacman Ông vua này tiếp tục mở rộng bờ cõi v-ơng quốc về phía Tây và phía Nam, đặt quan hệ giao hữu với Chămpa láng giềng để rảnh tay về biên giới phía Đông, tập trung mở rộng biên giới phía Tây

D-ới thời vua Isanavacman I (615-635), con của Mahenđravacman, lãnh thổ của Chân Lạp đ-ợc mở rộng về phía Tây Nam, bao gồm Ăngco Bôrây, các

Trang 14

tỉnh Côngpông Chàm, Prâyveng, Kangđan, Takeo và Chantabun thuộc Thái Lan ngày nay Để củng cố quan hệ hữu nghị với các n-ớc láng giềng, Isanavacman I tiếp tục cử sứ thần sang triều cống Trung Quốc vào những năm

616, 617, 623 và 628, đồng thời gả con gái của mình cho ng-ời cháu nội của vua Chămpa Từ cuộc hôn nhân này đã sinh ra ông vua Chămpa (653) hiệu là Vikrantavacman - một ông vua Chămpa nổi tiếng về những công trình xây dựng đền đài

Vua Isanavacman dời đô từ Bát xắc về Pôngcông Thom đặt tên là Isana Pura ở Đông Nam Biển Hồ, có vị trí giữa Bát xắc và Banam là vùng Sampo Praykuk ngày nay

Bavavacman II (639-655), con của Isanavacman I kế nghiệp cha phải trấn

áp nhiều cuộc nổi loạn của các ch- hầu cát cứ mới duy trì đ-ợc chế độ phong kiến tập quyền do cha ông để lại Con Bavavacman II là Giayavacman I (655-681) đã chinh phục các miền trung Lào, cải tổ quân đội và xúc tiến các công trình xây dựng đền đài Ông nổi tiếng là một ông vua rất mộ đạo Xiva giáo và Visnu giáo với việc thờ thần t-ợng Harihara

Nh- thế, thời kỳ Chân Lạp là thời kỳ phát triển và thống nhất cao hơn của

đất n-ớc Cămpuchia mà biểu hiện cụ thể nh- sau:

Bộ máy chính quyền Trung -ơng đ-ợc xây dựng gồm một tể t-ớng, bốn quan th-ợng th- giúp việc vua và hệ thống khá đông quan lại cấp d-ới Sử ký nhà Tuỳ (589-617) ghi: "Nhà vua ngự trong thủ đô Ychona gồm có hơn 20.000 gia đình Giữa kinh thành có một toà nhà lớn để Ngài thiết triều và tiếp xúc với thần dân Khắp lãnh thổ có 30 thành phố, mỗi nơi có hàng nghìn gia đình d-ới quyền cai trị của một tỉnh tr-ởng Ba ngày một lần nhà vua long trọng thiết triều ngự trên một cái sập bằng gỗ h-ơng, sơn son, thiếp vàng Tr-ớc sập, nhà vua ngồi có đặt một chiếc l- h-ơng vàng bốc khói trầm nghi ngút do hai thị vệ th-ờng xuyên phụ trách Nhà vua quấn quanh ng-ời một dãi lụa hồng thả dài xuống tận chân, đầu gối chiếc mũ niệm giát đầy vàng và ngọc quý, chân đi dép

Trang 15

da, tay đeo vòng vàng, mình mặc áo lụa trắng Cách ăn mặc của các vị đại thần cũng giống nh- nhà vua Có năm vị đại thần hay th-ợng th- ăn mặc nh- vậy Còn số quan lại bên d-ới thì rất đông

Những ng-ời đến yết kiến nhà vua phải lạy ba lần sát đất tr-ớc ngai vàng hàng ngàn thị vệ mặc áo giáp và còn thanh đao đứng túc trực ở các bậc thềm tr-ớc hoàng cung, trong hành lang các cung điện và ở các cổng ra vào Ng-ời trong n-ớc th-ờng mặc áo giáp và cầm khí giới nên mỗi lần có cuộc cãi vã nhỏ nhặt thì có đánh nhau đến đổ máu

Các vị hoàng tử con của chính cung mới đ-ợc chọn kế vị vua Trong ngày

đăng quang của tân v-ơng, hầu hết các anh em của hoàng gia bị cắt ngón tay hoặc cắt mũi, rồi đầy mỗi ng-ời mỗi nơi, cắt bớt một phần ăn uống và không bao giờ gọi đến giao phó bất cứ việc gì " [3; 16; 75]

Các vua Chân Lạp đã mở đầu cho việc xây dựng cung điện, đền miếu, cho nên nhiều công trình mang những dấu ấn và kiểu cách ấn Độ, điều đó chúng ta

có thể bắt gặp ngay ở đền Prasát

Về tôn giáo, cũng nh- c- dân Phù Nam, c- dân Chân Lạp không những sùng bái tín ng-ỡng bản địa mà còn đi theo tôn giáo lớn là Hinđu và Phật giáo Song Hinđu giáo đ-ợc truyền bá rộng hơn, điều này không riêng gì Cămpuchia

mà cả khu vực Đông Nam á Với giáo lý đ-ợc trình bày trong bộ kinh Brahmanas, coi ba vị thần Brama, Visnu và Xiva là một thể thống nhất gọi là Trimurti, tức là "nhất vị tam thể" ở Cămpuchia, Brama chỉ t-ợng tr-ng cho

"tinh thần tuyệt đối", có ý nghĩa về mặt triết lý hơn về mặt tôn giáo Thần Visnu là đấng sáng tạo ra vũ trụ Thần Xiva đứng ngôi thứ ba đ-ợc thể hiện d-ới dạng "Linga" t-ợng tr-ng cho sự phồn thực, sinh sôi nảy nở Còn Phật giáo Đại thừa, cũng nh- Phật giáo Tiểu thừa mặc dù chiếm vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của c- dân Chân Lạp, nh-ng nó không chiếm đ-ợc vị

Trang 16

trí -u thế nh- đạo Hinđu mà nguyên nhân chính là bấy giờ ng-ời ta thần thánh hoá, đồng nhất vua với vị thần Xiva

Thành tựu văn hoá rực rỡ nhất của c- dân Chân Lạp là văn hoá bản tộc đã bắt đầu nảy nở Trên cơ sở học tập chữ Phạn, căn cứ vào ngôn ngữ bản tộc các nhà trí thức Cămpuchia từ thế kỷ VII đã sáng tạo ra hệ thống văn tự cổ Khơme Việc Khơme hoá tiếng nói, không những có tác dụng lớn đối với sự hình thành dân tộc và thống nhất quốc gia mà còn thúc đẩy sự ra đời của văn học dân tộc, một dòng văn học tồn tại bên cạnh dòng văn hoá dân gian

Thời Chân Lạp, kinh tế nông nghiệp đ-ợc chú trọng C- dân ở đây đã trồng lúa, mạch, kê Ng-ời sản xuất là nông dân tự do sống trong các công xã nông thôn, quan hệ cộng đồng trong công xã khá sâu sắc, nh-ng bắt đầu đã có

sự phân hoá giữa các thành viên công xã

Dẫu vậy, đến năm 680 khi Giayavacman I qua đời, cái chết của ông đã

mở đầu cho một giai đoạn khủng hoảng của v-ơng quốc Ông là một ng-ời không có con trai, cho nên khi ông mất, vợ ông là hoàng hậu Giayađevi phải

đảm đ-ơng việc n-ớc Nh-ng việc cai trị một v-ơng quốc rộng lớn trong điều kiện lịch sử nh- vậy là một việc làm quá sức của một ng-ời đàn bà goá đã có tuổi Hơn nữa, vào lúc này nhiều quốc gia mới đang trỗi dậy ở khu vức Đông Nam á chẳng hạn nh- Srivijaya, Đơravavati ở Miến Điện, Sailenđơra ở Giava Nh- thế, có thể đoán định rằng sự tiếm quyền của hoàng hậu Giayađevi là nguyên nhân dẫn tới sự rạn nứt cuả v-ơng quốc Tiếp đó năm 716, một ng-ời trong hoàng tộc tên là Puskaraksa đã làm cho v-ơng quốc bị phân liệt hẳn Biểu hiện của sự phân liệt là việc lập một kinh đô mới là Sambhupura ở vùng Sambo, một v-ơng triều mới ở miền Nam Đó là tình trạng mà sử sách gọi là

sự phân chia thành Lục Chân Lạp và Thuỷ Chân Lạp

Về vấn đề này, sử sách nhà Đ-ờng có ghi: "Nửa phía Bắc có nhiều vùng núi và thung lũng gọi là Lục Chân Lạp, nửa phía Nam có nhiều hồ và có biển bao bọc gọi là Thuỷ Chân Lạp"

Trang 17

Nhiều ng-ời đã cố gắng đoán định về địa bàn Lục Chân Lạp và Thuỷ Chân Lạp Nh-ng với việc lập một v-ơng triều mới là Sambhupura ở miền Nam cho phép xác định địa bàn của Thuỷ Chân Lạp là lãnh thổ mở rộng ở phía nam dãy Đăngrếch mà theo Tân Đ-ờng th- thì "Nửa phía Nam giáp biển phủ

đầy đầm hồ tức là n-ớc Cămpuchia ngày nay và miền hạ l-u sông Mêkông Còn v-ơng triều cũ, gốc miền Bắc là v-ơng triều Đhavapura đã tách ra và giữ quyền của mình ở miền Bắc trên đất khởi nghiệp của tộc mặt trời Đó là Lục Chân Lạp" [4; 14; 83]

Lục Chân Lạp th- tịch cổ Trung Quốc ghi lại là Văn Đan Lãnh thổ n-ớc này thuộc miền Trung, hạ Lào và một phần đất của Lào và Thái ngày nay Các

đời vua ở đây tự coi mình là thuộc dòng dõi các đời vua Chân Lạp thống nhất ngày tr-ớc Sử nhà Đ-ờng có ghi chép việc Lục Chân Lạp cử bốn sứ đoàn sang thăm Trung Quốc vào những năm 717, 753, 771 và 799

Năm 722, Lục Chân Lạp đã đem quân sang Nghệ Tĩnh hỗ trợ cho cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan để chống ách đô hộ của nhà Đ-ờng Năm 754, quân Lục Chân Lạp lại liên minh với quân nhà Đ-ờng trong cuộc chiến tranh chống lại quân Nam Chiếu ở phía Nam Trung Quốc Kinh đô của Lục Chân Lạp là Bavapura trên bờ sông Mêkông tại Pakhinbun ngày nay

Còn số phận của Thuỷ Chân Lạp phải trải qua nhiều thăng trầm, phức tạp

Đất n-ớc bị chia cắt thành nhiều công quốc độc lập và bán độc lập Trong số các công quốc đó, quan trọng nhất là một công quốc ở phía Nam do Baladitya cai trị, kinh đô là Balađityapura đ-ợc coi là kinh đô chính thức của Thuỷ Chân Lạp cách Ăngco khoảng 20 Km

Phía Bắc Thuỷ Chân Lạp là một công quốc khác có vùng Biển Hồ, kinh

đô là Sambupura trên bờ sông Mêkông, phía Bắc Crachê ngày nay Có ng-ời cho rằng ng-ời đứng đầu công quốc đó là bà hoàng Giayađêvi, vợ goá của Giayavacman I mà sau này bà đã nh-ờng ngôi cho ng-ời chồng thứ hai là Pusơara, con vua n-ớc Aninditapura Nh- vậy là trong thời kỳ này bằng những

Trang 18

cuộc hôn phối các dòng họ vua chúa thuộc các công quốc khác nhau cũng thể hiện sự mong muốn thống nhất đất n-ớc Nh-ng có thế thì n-ớc cũng đã suy

vi, họ không thể thực hiện đ-ợc Do vậy vào cuối thế kỷ VIII, Thuỷ Chân Lạp lại bị chia thành năm công quốc thù địch nhau Ngoài hai công quốc Aninditapura và Sambupura đã nói ở trên còn có ba công quốc khác nằm rải rác nằm ở Bắc hồ Tônlê Sáp là Sakơranxapura, Apgapuraga, Indơrapura

Nh- vậy, sự đấu tranh của các thế lực địa ph-ơng, nhất là của các tiểu quốc Miền Nam, nên cuối cùng đã dẫn tới sự phân liệt vào đầu thế kỷ VIII và v-ơng quốc bị chia làm hai là Lục Chân Lạp và Thuỷ Chân Lạp Điều đó đã cho ta thấy rằng các vua Chân Lạp ch-a th-ờng xuyên cai quản đ-ợc toàn bộ v-ơng quốc

Tình trạng co hẹp và phân liệt đã làm cho Cămpuchia yếu đi Đến cuối thế kỷ VIII, ng-ời Giava (Inđônêxia) đã tiến hành xâm chiếm và duy trì chế độ

áp bức ở đây mấy chục năm Sự kiện này đã chấm dứt thời kỳ thứ nhất lịch sử dựng n-ớc của Cămpuchia Mãi đến đầu thế kỷ IX, lịch sử Cămpuchia mới b-ớc vào thời kỳ khôi phục và củng cố v-ơng quyền d-ới quyền Giayavacman

II (802-944)

Tóm lại, trong buổi đầu dựng n-ớc của Cămpuchia có quá nhiều biến

động về đời sống chính trị, trong đó có cả sự chia rẽ bên trong và ngoại xâm Tuy nhiên, đây không phải là sự suy sụp của v-ơng quốc mà là sự khủng hoảng ban đầu Từ đất khởi nghiệp trên sông Sêmun, ng-ời Khơme đã thực hiện một cuộc Nam tiến sôi động ra đến biển, nh-ng rồi họ đã dừng lại và co lại trên các thềm cao để sinh sống theo thói quen vốn có của họ Tình trạng sống phân tán và th-a, trên một địa bàn rộng, với những điều kiện sống và canh tác khác nhau, ch-a dễ gì ngay từ đầu tạo nên một sự thống nhất ổn định

và bền vững Nên, nếu nh- sự phát triển ồ ạt đã sinh ra sự khủng hoảng ban

đầu thì cũng có thể trở thành b-ớc quá độ chuẩn bị cho một sự phát triển cao hơn

Trang 19

Ch-ơng 2

Tình hình chính trị thời kỳ

Ăngco (802-1434)

2.1 Khái quát quá trình phát triển của nhà n-ớc Ăngco

Đây là thời kỳ phát triển kế tiếp, rực rỡ nhất của lịch sử Cămpuchia tr-ớc khi tiếp xúc với chủ nghĩa thực dân, là thời kỳ tiến tới sự thống nhất ổn định, hoàn thiện việc xây dựng bộ máy chính quyền Trung -ơng, thời kỳ phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội của vuơng quốc Cămpuchia

2.1.1 Giai đoạn khôi phục của Cămpuchia (802-944)

Trải qua một thời gian, tạm thời bị suy yếu, bị n-ớc ngoài khống chế

và áp bức, đã nhanh chóng đ-ợc khôi phục và tiếp tục đ-ợc phát triển cao hơn trong ba thế kỷ, với những mốc quan trọng, đánh dấu bằng các triều vua:

Vua Giayavacman ( 802-850)

Nhân cơ hội Giava suy yếu, Giayavacman II vốn thuộc hoàng tộc Cămpuchia phải bỏ chạy sang Giava khi n-ớc nhà có tranh chấp, nội bộ và ngoại xâm, trở về n-ớc tập hợp lực l-ợng đấu tranh đã nhanh chóng đuổi đ-ợc quân đồn trú Giava, giành lại độc lập cho xứ sở và ông lên ngôi năm 802 - kết thúc thời kỳ Chân Lạp, mở đầu triều đại mới cũng là thời kỳ mới, thời kỳ

Ăngco huy hoàng

Trong suốt 50 năm cầm quyền (802-850), Giayavacman II đã tiến hành những cuộc chiến tranh quyết liệt với giặc ngoại xâm, với các thế lực quý tộc

địa ph-ơng, thu phục những vùng ở xa, khôi phục nền tự chủ Tuy nhiên, sự khôi phục v-ơng quốc đến đây chỉ thực hiện đ-ợc trên lãnh thổ miền Nam, tức

là chủ yếu xung quanh Tônlê Sáp và những vùng c- trú trên thềm cao của hạ l-u sông Mêkông Song nh- thế, nó cũng đã đánh dấu b-ớc thống nhất một phần đất n-ớc và là b-ớc đầu của thời kỳ Ăngco trong lịch sử Cămpuchia

Trang 20

Tiếng tăm Giayavacman II thật lớn trong hai thế kỷ - là một ông vua quan trọng bậc nhât không ai v-ợt qua nổi trong sử ký Cămpuchia

Những cái mà Giayavacman II đã làm đ-ợc có thực chất và ông nổi tiếng

là ng-ời xây dựng nền đế quốc, đã sử dụng quyền hành nhà vua trên đất mới chiếm đ-ợc để chia cho các ch- hầu Một công việc có tầm quan trọng lớn lao

và có ý nghĩa sâu sắc nhất của v-ơng triều Giayavacman II là việc tìm kiếm

địa điểm và khởi công xây dựng kinh đô mới của v-ơng quốc Nh-ng điều ấy cũng không phải là dễ dàng mà rất khó khăn, có thể nói rằng quá trình định đô của Giayavacman II cũng hết sức long đong Lúc đầu Ngài định đô ở Inđrapura (phía Đông Côngpông Chàm) Sau đó Ngài di chuyển lên phía Bắc Biển Hồ đến làng Kuti (Ban Tây ngày nay), rồi lại di chuyển đến Hariharalaya Lần thứ ba Ngài lập kinh đô ở Amarenđrapura Cuối cùng, Ngài lập kinh đô ở núi Kuleng (phía Bắc Xiêm Riệp) và đặt tên là Mahenđrapura, nghĩa là "thành phố (Pura) của thần (Inđra) vĩ đại (Maha)" Đây ch-a phải là Ăngco mà nó còn cách Ăngco 50 km về phía Đông Bắc Song b-ớc đầu đã khôi phục và định ra

vị trí quan trọng cho sự ra đời kinh đô Ăngco sau này

Điểm nổi bật nhất ở vua Giayavacman II là ông đã làm sống lại hình t-ợng "Dơvaraja" nhằm xây dựng v-ơng quyền của vũ trụ mà nh- ta đã thấy là sau khi chiếm lấy Hariharalaya (820), một buổi lễ làm xúc động đ-ợc tổ chức

ở núi Mahenđra (Phnom Kulen), ở đấy một trung tâm tôn giáo từ lâu đã đặt chỗ lõm của một quả đồi Nhà vua đã mời một vị Pháp s- Bàlamôn ng-ời ấn

Độ sang giúp vua theo những tính toán huyền bí, có thể biến thành hiện thân của thần Siva Trách nhiệm của vị Pháp s- tối cao hay là Purôhita là phải làm

đúng lễ nghi Việc trông coi các mũ miện nhà vua cũng giao trách nhiệm cho các Pháp s- Bàlamôn Nhà vua nh- thế là nhà vua của vũ trụ, là hiện thân xác thịt của Dơvaraja, hay là tinh tuý của vua

Trang 21

Thờ Dơvaraja của Cămpuchia còn kết hợp với truyền thống thờ rắn hổ mang Theo truyền thống này, vua là hiện thân của thần đất và đặt vật t-ợng tr-ng cho "Linga" của nhà vua thờ trên cao của đỉnh tháp

N-ớc Cămpuchia nh- thế chịu ảnh h-ởng to lớn của tôn giáo ấn Độ về

đ-ờng lối Ng-ời ta còn thấy những cái còn tồn tại của việc kết hợp thờ các thần Siva, Visnu và cả những dấu vết của truyền thống thờ Phật nữa

Những cơ sở trên ta có thể khẳng định Giayavacman II là ng-ời có vị trí

đặc biệt: ng-ời giải phóng đất n-ớc, khôi phục đất n-ớc, góp phần kế thừa và phát triển văn hoá dân tộc, đặt cơ sở cho việc xây dựng kinh đô Ăngco, là ng-ời mở đầu cho thời kỳ Ăngco

Vua Suryavacman I (1002-1050)

Suryavacman I (lên ngôi cách nhau gần 100 năm), với địa vị là ng-ời tiếp tục kiến thiết Ăngco sau khi bị chiến tranh tàn phá, đồng thời ông cho xây dựng thêm một số công trình mới nh- ngôi đền Preath Vihean trong dãy Đăng rếch và ngôi đền Phnom Chisor ở Takeo đây là những công trình đặt cơ sở cho khu vực Ăngco II (Ăngco Thom) Ông còn là vua của một v-ơng triều mạnh, t-ơng xứng với các v-ơng triều mạnh ở Giava (erơlenga) và Miên Điện (Anôratha)

Trang 22

Ugiayađitycavacman II, nối ngôi năm 1050, đã tiếp tục cho xây dựng kinh đô Ăngco, và đáng kể nhất là đào thêm hồ chứa n-ớc Barây Tây dài 9

km, rộng 2,2 km Cũng trong thời kỳ này có nhiều cuộc khởi nghĩa nổi dậy chống lại v-ơng triều, nh-ng kết quả là đều bị dập tắt

Nh- vậy, là kể từ v-ơng triều Giayavacman II đến v-ơng triều của Suryavacman I, lịch sử Cămpuchia đã hoàn thành giai đoạn khôi phục lại chủ quyền, ổn định, thống nhất Bắc - Nam, đi liền với sự củng cố kinh đô Ăngco

Và đặc biệt là sự phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn này nh- cho xây dựng và cải tạo một số hồ chứa n-ớc lớn để phục vụ sản xuất Đây là giai đoạn phát triển của một nhà n-ớc phong kiến để chuẩn bị cho giai đoạn phát triển cao hơn, cực thịnh hơn của v-ơng triều Ăngco

2.1.2 Giai đoạn phát triển thịnh đạt của v-ơng quốc Ăngco (Thế kỷ XII)

Vua Suryavacman II (1113-1150)

Suryavacman II là ng-ời đã tái lập sự thống nhất đất n-ớc Cămpuchia

Ông lên ngôi vào năm 1113 Trong suốt thời gian trị vì, Suryavacman II đã đ-a Cămpuchia phát triển v-ơng quyền tới đỉnh cao mới và tiến hành những cuộc chiến tranh tấn công Chămpa, Đại Việt Ngoài ra, còn bành tr-ớng lãnh thổ nhằm củng cố quyền lực với hạ l-u và trung l-u sông Mê Nam cho đến Bắc Cò Rạt gần nh- liên tục trong suốt 35 năm

D-ới một v-ơng triều mạnh nh- thế, nhiều đền tháp nh- Phnom, Chisor, Vát Phu, Ban Tây và đặc biệt xây dựng lại công trình Ăngco Vát kỳ vĩ

ở thế kỷ VII để thờ thần Visnu đã đ-ợc hoàn thành d-ới thời Suryavacman I,

đã làm tăng uy quyền của các ông vua cũng nh- sức mạnh và tầm vóc của v-ơng quốc

Vua Giayavacman VII (1181-1201)

Trang 23

Chúng ta biết rằng, mối hiềm khích giữa Cămpuchia với Chămpa đã kéo dài hàng chục năm, cả hai bên đều tấn công nhau nhiều lần Trong những năm cuối đời, Suryavacman II còn đánh chiếm và cai trị Chămpa gần năm năm Sau đó trong triều đình Cămpuchia xẩy ra những vụ rối ren Năm 1165, một ng-ời tự x-ng là Tribhuvanađi - Tyavarman nổi dậy c-ớp ngôi lại càng gây nên tình trạng không ổn định trong đời sống chính trị Vua Chămpa bấy giờ là Giaya Inđravacman V đã nhân cơ hội này đem quân tấn công trả thù Cămpuchia vào năm 1177 Thuỷ quân Chămpa theo đ-ờng sông vào Biển Hồ

và đổ bộ vào Ăngco Quân Cămpuchia không chống cự nổi vì bị bất ngờ và nhất là vì thiếu sự thống nhất Ăngco và những vùng dân cử ở gần bị c-ớp và

bị đốt phá nặng nề Chămpa còn tiếp tục duy trì ở đây chế độ chiếm đóng và

đô hộ

Ngay từ đầu của những vụ rối ren, tr-ớc năm 1165, một hoàng thân trẻ tuổi đang đi công cán ở xa, thấy tình hình đó đã vội vã trở về Ăngco Nh-ng không kịp, Tơrybhuvacman đã c-ớp đ-ợc ngôi và đàn áp các đối thủ Tiếp đó lại đến những năm đô hộ của Chămpa Ông phải náu mình chờ đợi thời cơ suốt

16 năm ròng rã Nh-ng thời điểm gay cấn nhất cũng là lúc nốt buộc đ-ợc tháo

gỡ, Trybhuvacman đã bị chết trong cuộc tấn công của quân Chămpa Số đông quý tộc và nhân dân đã ủng hộ ông hoàng trẻ tuổi trong cuộc đấu tranh giành lại chủ quyền đất n-ớc Nhờ đó, ông đã nhanh chóng tổ chức đ-ợc lực l-ợng chiến đấu, đặc biệt là một đội thuỷ quân Chính đội thuỷ quân này đã đánh thắng hạm đội Chămpa, đuổi đ-ợc quân Chămpa về n-ớc

Nh- vậy, sau 16 năm ròng rã chờ thời cơ, đến trận thuỷ chiến ác liệt trên Biển Hồ (1177), Cămpuchia đã chiến thắng thuỷ quân Chămpa, hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc (1180), Giayavacman II lên ngôi vua vào năm

1881, đ-a v-ơng quốc Cămpuchia phát triển tới đỉnh cao

Sau khi lên ngôi, Giayavacman II tiếp tục viễn chinh bành tr-ớng lãnh thổ

và tính đến chuyện trả thù Chămpa

Trang 24

Năm 1190, Giayavacman VII đã sai một đạo quân sang đánh Chămpa, Chămpa bị thua và bị chiếm đóng lại V-ơng quốc Cămpuchia đã đặt quân đồn trú và cử một hoàng thân cai trị, Chămpa trở thành một thuộc địa, một tỉnh của v-ơng quốc Cămpuchia trong một thời gian dài

Giayavacman VII, chắc đã không phải tốn công sức nhiều để thu phục lại vùng trung và hạ l-u sông Mê Nam Giờ đây với sức mạnh mới, ông còn tiến

xa hơn nữa về phía bắc cao nguyên Cò Rạt, đến Sayphong (gần Viên Chăn) và

có thể đến cả địa điểm Luôngphabăng ngày nay ở trên dòng Nậm Hu

Vùng th-ợng l-u sông Mê Nam, địa bàn của n-ớc Harypungiaya và các

bộ lạc Môn khác vẫn giữ đ-ợc nền tự chủ d-ới thời Suryavacman I và II, thì nay chắc đã bị phụ thuộc Giayavacman VII Nhà vua có thể mở rộng quyền lực hơn nữa tới biên giới Miến Điện và bán đảo Malaya

Trong khi đó, một tấm bia của ông cho biết là ông đã thiết lập ngoại giao thân hữu với nhiều quốc gia mạnh trong khu vực nh- Đại Việt và Giava

V-ơng quốc Cămpuchia ch-a khi nào bành tr-ớng lãnh thổ rộng lớn và hùng mạnh nh- d-ới thời Giayavacman VII Chính vì thế, để cai quản v-ơng quốc, ông đã tổ chức cai quản hành chính, cử các quý tộc, công thần đi cai quản các tỉnh Bấy giờ cũng có tài liệu đã kể Cămpuchia có tới 12 thuộc quốc Giayavacman VII, là một ng-ời rất sùng bái đạo Phật, trong thời gian ông

ở ngôi, đạo Phật (Đại thừa) đã phát triển một cách rực rỡ, nh-ng ấn Độ giáo cùng tăng lữ Bàlamôn vẫn đ-ợc tiếp tục truyền bá Ông cũng cho xây dựng hàng trăm đền nhỏ ở địa ph-ơng, nhiều đền lớn ở kinh đô Đặc biệt là Ăngco Thom với chu vi 12 km, năm đ-ờng lớn từ trung tâm ra năm cửa sổ, t-ợng tháp

đồ sộ, ở trung tâm tạc t-ợng mặt ng-ời quay bốn h-ớng - đó chính là hình t-ợng của nhà vua

Giayavacman VII, còn chú trọng phát triển nền văn hoá dân tộc, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất, giao thông và đời sống nh- Giayavacman VII còn cho tiến hành đào một số kênh máng ở Ăngco và Bắc

Trang 25

Biển Hồ để dẫn và chứa n-ớc Để đảm bảo việc giao thông liên lạc, một hệ thống đ-ờng sá nối các địa ph-ơng với kinh đô và trên các tuyến đ-ờng đó ông

đã cho dựng 121 trạm nghỉ, "có bếp lửa" (để nấu ăn) và phải chăng cũng có cả ngựa để đổi? Ngày nay, ng-ời ta tìm thấy dấu tích một số trạm nghỉ đó trên các tuyến đ-ờng Ăngco - Phimai, Ăngco - Xampo (đô cũ của miền Nam) cho tới Vigiaya (kinh đô Chămpa) Bên cạnh đó ông còn cho xây d-ng 102 bệnh viện để chữa bệnh cho mọi ng-ời và ở đó ông đã ghi một câu nói nổi tiếng

"Trẫm đau đớn vì bệnh tật của thần dân hơn là của mình, bởi vì nỗi đâu đớn của thần dân đã gây nên nỗi đau đớn của các vua chứ không phải bởi chính nỗi

đau đớn của các vua" [5; 15; 99]

Nh- vậy, chỉ có 20 năm ở ngôi ngắn ngủi, mặc dầu còn có nhiều mặt hạn chế, nh-ng Giayavacman VII là một nhân vật lịch sử vĩ đại của Cămpuchia - v-ơng triều của ông đánh dấu đỉnh cao của sự phát triển v-ơng quốc Cămpuchia thời kỳ Ăngco

2.1.3 B-ớc đầu của sự suy thoái

Cho đến nay ng-ời ta vẫn ch-a biết rõ Giayavacman VII qua đời lúc nào Niên điểm cuối cùng có liên quan với ông đ-ợc biết là vào năm 1201 và thuỵ phong là Mahapuramasaugata

Trong những năm của thời vua này, Cămpuchia tiếp tục giữ địa vị là một trong những v-ơng quốc mạnh nhất khu vực: l-u vực sông Mê Nam chắc đã chịu sự kiểm soát hoàn toàn; Miến Điện có thể cũng phải chịu thần phục, còn Chămpa đã bị biến thành một tỉnh của Cămpuchia từ năm 1203 Do đó để củng

cố địa vị của mình, đặc biệt là đối với Chămpa, v-ơng quốc Cămpuchia lại chuyển sang tấn công Đại Việt vào các năm 1207, 1216 và 1218 Cũng trong năm 1207, Giayavacman VII còn đem quân tiến đánh cả Miến Điện nh-ng cuối cùng không đạt đ-ợc kết quả và buộc phải rút lui

Tuy nhiên, sau Giayavacman VII, những ng-ời kế tục ông còn có 5 đời vua kế tục (Inđravacman II; Giayavacman VIII; Srinđravacman;

Trang 26

Srinđrajayavacman; Giayavacmađiparamesvara), ở ngôi từ 1201 đến 1336, mặc dù đất n-ớc vẫn đ-ợc sống trong cảnh thái bình, nh-ng sự thịnh v-ợng thì không còn nữa, điều đó đ-ợc biểu hiện ở chỗ là các công trình xây dựng không

đ-ợc tiếp tục xây Sau năm 1218, những cuộc tiến công ra bên ngoài cũng chấm dứt, không những thế, năm 1220, Cămpuchia còn rút quân đồn trú và trao trả chủ quyền cho Chămpa Việc này đ-ợc biết cho đến nay nh- một hành

động đơn ph-ơng, chủ động, biểu hiện của sự mệt mỏi, chán nản chứ không thấy một cuộc đấu tranh, một sự biến động nào

Cho đến những năm cuối đời vua Giayavacman VIII (đời vua thứ ba), ng-ời Thái từ th-ợng nguồn sông Mêkông đã tràn xuống, lấn chiếm l-u vực sông Mê Nam, lập nên những quốc gia riêng của họ mà không gặp phải một sự chống cự nào của v-ơng quốc Cămpuchia, hơn thế nữa họ còn tấn công chiếm cao nguyên Cò Rạt và tấn công vào tận kinh đô Ăngco

Đến năm 1296, bắt đầu thời gian trị vì của vua Srinđravacman thì v-ơng quốc Cămpuchia vừa trải qua một cuộc chiến tranh xâm l-ợc của ng-ời Xiêm làm cho làng mạc bị tàn phá, đã thế trong nội bộ triều đình có những biểu hiện của sự nổi loạn, những âm m-u chống đối, thanh trừ lẫn nhau

Qua những biểu hiện đó, ta có thể thấy dấu hiệu đầu tiên của sự suy thoái

đã xuất hiện mà nguyên nhân của sự suy thoái đó là do tiền tiêu phí chồng chất trong công quỹ và lao động bắt buộc, tiền chi phí cho chiến tranh kết hợp với lòng từ thiện và xây dựng đền đài hình nh- là quá nhiều so với cái công quỹ

mà Cămpuchia có thể cung cấp Ng-ời ta tính có đến 300.000 tu sĩ và ng-ời phục vụ, 20.000 chùa nhà n-ớc, mỗi năm ăn hết 380.000 tấn thóc và còn tiêu dùng các đồ trang sức bằng kim c-ơng, vàng, bạc Nh- thế, nó đã trở nên nặng

nề đối với nhân dân, đó là ch-a kể đến những cuộc chiến tranh xâm l-ợc làm cho đất n-ớc càng ngày càng kiệt quệ, trong lúc đó dân số của Cămpuchia thì

ít, trình độ sản xuất còn thấp và không đ-ợc coi trọng

Trang 27

Đến đời vua cuối là Giayavacmađipa (1327-1336), theo truyền thuyết thì

ông đã bị chết một cách vô tình bởi mũi giáo của một ng-ời trồng d-a thuộc một tộc ng-ời thiểu số, và ng-ời trồng d-a đó sau này đ-ợc tôn lên ngôi báu

vẫn mang cái tên bình dị "Ng-ời trồng v-ờn" (Tacham Chamkar)

Một số sử gia đã gọi sự kiện này là "một cuộc cách mạng v-ơng triều", rõ ràng là đã sử dụng ngôn từ một cách thái quá Tuy nhiên, năm 1336 cũng đánh dấu một mốc quan trọng trong tiến trình lịch sử văn hoá đó là việc sử dụng chữ Phạn đã nh-ờng chỗ hẳn cho chữ Bali và Khơme, bi ký nh-ờng chỗ hẳn cho kinh Phật và các bản niên giám hoàng gia viết trên lá cọ, đạo Phật Tiểu thừa du nhập từ thời vua Inđravacman II giờ đây đã thịnh hành và các vua từ đây cũng rời bỏ truyền thống gọi v-ơng hiệu theo kiểu ấn Độ T-ớc Vacman không

đ-ợc dùng nữa, tên gọi đ-ợc Khơme hoá, một số tính từ tôn quý vẫn đ-ợc giữ, song đã đ-ợc cải biến đi ít nhiều, ví nh- tên vua luôn luôn gắn với từ Preah, thì

đã biến âm thành Vrah (thiêng liêng)

Sự kiện Ng-ời trồng v-ờn đ-ợc niên giám hoàng gia kể lại, và có ng-ời còn nói rằng đến đầu thế kỷ XX, trong hoàng cung còn thấy treo một cách trang trọng cây giáo của ng-ời làm v-ờn nh- là một kỷ vật có thật Nh-ng dù

có thật hay không thì xét cho cùng vấn đề có ý nghĩa quan trọng là ở chỗ vì sao v-ơng quốc Cămpuchia có sự biến đổi nh- thế ở gần giữa thế kỷ XIV? Vì

có lẽ là sau biến động ở thế kỷ XIII gây nên bởi sự kiện Mông Cổ bành tr-ớng xuống phía Nam, n-ớc Nam Chiếu của ng-ời Thái ở vùng Tây Nam Trung Quốc bị Mông Cổ tấn công, phá vỡ nên ồ ạt di c- xuống phía Nam làm cho Cămpuchia mất những lảnh thổ rộng lớn ở Mê Nam, Cò Rạt, Chămpa, và sau những suy thoái về kinh tế - xã hội, thì xu h-ớng phát triển của v-ơng quốc Cămpuchia là củng cố chế độ phong kiến "dân tộc", củng cố v-ơng quốc gắn liền với bộ tộc chủ yếu và địa bàn chủ yếu Nh-ng tiếc thay xu h-ớng này lại diễn ra trong những điều kiện không thuận lợi

Trang 28

Sang thế kỷ XIV và cả thế kỷ XV, Cămpuchia suy yếu, ng-ời Thái lập ra n-ớc AyuThay ở hạ l-u sông Mê Nam Một năm sau đã đ-a quân tiến đánh Sukhôthay, chinh phục cao nguyên Cò Rạt, rồi tiến đánh Cămpuchia lần đầu tiên với quy mô lớn, mở đầu giai đoạn một của cuộc chiến tranh xâm l-ợc Cămpuchia (1352-1454) Theo niên giám kể lại rằng, vua AyuThay là Ramađhipati bao vây kinh đô Ăngco trong một năm Vua Cămpuchia là Lampông ốm rồi chết, hoàng thân Sôryôtê cầm quyền Khắp nơi "chỉ nghe tiếng than khóc của nhân dân Các t-ớng bị chết trận hết ng-ời này đến ng-ời khác Chim chóc không còn kêu hót trong thành " Cuối cùng thành cũng bị

vỡ, hoàng thân Sôryôtê bị chết, phần lớn c- dân trong thành bị bắt làm nô lệ, bạc vàng châu báu và t-ợng thần quý bị c-ớp mang về đất Thái

Trong vòng năm năm (1352-1357) Cămpuchia bị ng-ời Thái cai trị Tiếp

đó một ng-ời em của Lampông ẩn náu từ Lào trở về giành lại ngôi vua và cầm quyền yên ổn đ-ợc đến 20 năm (1357-1377) Sau khi Lampông chết, con của

ông đ-ợc lập ở ngôi đ-ợc dăm năm rồi ng-ời em lại lên thay làm vua đ-ợc hơn m-ời năm

Năm 1393, AyuThay lại đ-a quân tiến đánh Quân Thái bao vây Ăngco suốt sáu tháng mà không thắng nổi, sau phải dùng gian kế mới hạ đ-ợc thành Vua Dhammasôka bị chết tại trận vào năm 1394, ng-ời Thái đã đặt ách thống trị đến 1405, gây nên tình trạng hết sức bi thảm, tổn thất lớn lao không kể xiết Cung điện và nhà dân phần lớn bị đốt cháy, nhiều của cải bị lấy đi, nhiều ng-ời bị bắt làm nô lệ Tr-ớc tình hình nh- vậy, ng-ời dân phải di c- về miền

Đông - Nam để sinh sống, do vậy mà kinh đô đã mất đi bộ mặt đông đúc và thịnh v-ợng của hơn một thế kỷ tr-ớc

Tr-ớc tình hình ấy, vua mới của Cămpuchia là Sămđéc Chaopônheay đã

cố gắng ổn định tình hình, củng cố v-ơng quốc để tránh sự uy hiếp của ng-ời Thái Nhà vua quyết định rời bỏ kinh đô Ăngco, lập kinh đô mới ở Phnôm Pênh Nh- thế là kinh đô chuyển từ vùng Tây Bắc về Đông Nam Biển Hồ

Trang 29

Nh-ng vấn đề không phải chỉ là ở chỗ thay đổi địa điểm Sự chuyển biến kinh

đô đánh dấu một b-ớc ngoặt mà bản thân sự chuyển biến không thể tạo nên

đ-ợc Đó là thời kỳ hoàng kim của chế độ phong kiến đã kết thúc (1434) và suy sụp không sao cứu vãn nổi đã bắt đầu, lịch sử Cămpuchia lại sang một trang khác

Nh- vậy, Quốc gia Ăngco là một nhà n-ớc quân chủ chuyên chế Trung -ơng tập quyền mạnh mẽ Cũng nh- các quốc gia cổ đại ph-ơng Đông khác, quyền lực trong n-ớc tập trung cao độ trong tay các vua chúa Khơme, thực hiện một chế độ chính trị đặc biệt, gọi là chủ nghĩa chuyên chế kiểu ph-ơng

Đông, mà đặc tr-ng chủ yếu là quyền lực vô hạn của các đế v-ơng, nắm trong tay quyền sở hữu tối cao về ruộng đất và thần dân trong cả n-ớc Là một dân tộc giàu lòng tín ng-ỡng tôn giáo, ng-ời Khơme quan niệm vua chúa của họ là những kẻ đại diện cho thần, hơn thế nữa là hiện thân của thần cổ đại, là những

vị thần sống Cũng nh- "Pharaông" ở Ai Cập cổ đại, "Patêxi" ở L-ỡng Hà cổ

đại,"ragia" ở ấn Độ cổ đại các "Vacman" của thời Ăngco đ-ợc coi là những

vị thần sống Quyền lực của Vacman là vô hạn, hơn nữa các Vacman tập trung trong tay cả v-ơng quyền lẫn thần quyền, một đặc tr-ng khác của chủ nghĩa

Với tín ng-ỡng tôn giáo đó, những chức vụ quan trọng nhất của bộ máy nhà n-ớc đều nằm trong tay nh-ng ng-ời đại diện của tầng lớp tăng lữ Bàlamôn cao cấp Tầng lớp tăng lữ Bàlamôn cao cấp này vừa có nhiệm vụ quản lý trực tiếp công việc cúng tế và quản lý kinh tế các đền chùa, vừa có nhiệm vụ truyền bá tôn giáo "Dơvaraja" và truyền thụ kiến thức văn hoá và

Trang 30

khoa học trong nhân dân Riêng một số ng-ời -u tú nhất, thông thái nhất và có

uy tín nhất trong tầng lớp này thì đ-ợc nhà vua cử giữ chức vụ cao quý nhất trong triều Tr-ớc hết phải nói đến các vị cao tăng, hoà th-ợng, trụ trì các đền chùa lớn, gọi là "Purôhita", đ-ợc các bút tích mô tả là những ng-ời "hiểu biết khoa học của trái tim, hiểu sự màu nhiệm của ma thuật và của câu thần chú, biết bí mật của các tôn giáo, bí mật của tiếng chuông và tia chớp" [6; 17; 131] Những ng-ời này th-ờng đ-ợc nhà vua mời về kinh đô chủ trì các buổi lễ trọng thể ví nh- lễ đăng quang cho nhà vua hoặc để làm quân s- cho nhà vua trong những vấn đề quốc gia đại sự hay trong việc xét xử những vụ tranh chấp quan trọng về quyền sở hữu ruộng đất của quý tộc và đền chùa Họ là những

"Purôhita" của nhà vua, còn đ-ợc gọi là "Rajapurôhita" th-ờng xuyên sống bên cạnh nhà vua, đ-ợc nhà vua hết sức tin dùng, đ-ợc quyền ra vào nơi cung cấm, và khi nhà vua đang còn thơ ấu, thì đ-ợc cử giữ chức nhiếp chính đại thần Vị "Rajapurôhita" đầu tiên theo tín ng-ỡng "Đơvaraja" do Giayavacman

II đặt ra là Xivakaivalya, ng-ời đứng đầu một dòng họ Bàlamôn nổi tiếng thời bấy giờ, một dòng họ đã cung cấp cho các đời vua Ăngco rất nhiều "Purôhita"

có tính chất cha truyền con nối Chính Xivakaivalya là ng-ời đứng ra tổ chức buổi lễ đăng quang cho GiayavacmanII năm 822 trên đỉnh đồi Mahenđra ở núi Pơnông Kulen Vì các "Rajapurôhita" vốn là những bậc rất thông thái và có

đức độ cao siêu, nên th-ờng đ-ợc chọn làm thầy học của vua, và với t- cách

đó, họ đ-ợc vua phong cho chức t-ớc "Guru", t-ớc vị quốc s- hay vị thái s-, một chức t-ớc cao quý nhất trong triều đình Theo tài liệu văn bia thì chức

"Guru" đòi hỏi phải thông thái năm loại tri thức sau đây: ngữ pháp Sanxcơri, khoa học, chính trị, tôn giáo, sử thi Mahabarata và Ramayana, và biết truyền thụ những tri thức đó cho học trò của mình Bắt đầu từ thời Giayavacman V trở

đi, các bút tích không nói đến các chức "Rajapurôhita" hay "Purôhita - Dơvaraja" nữa nh-ng lại nói nhiều đến chức t-ớc Guru, ng-ời thầy đồng thời

là ng-ời cố vấn chủ chốt, ng-ời thực hiện những ý đồ to lớn của nhà vua, trong

Trang 31

đó có việc thiết kế và kiến trúc cung điện, và đền chùa Giayavacman VI khi mới lên ngôi năm 1080 đã yêu cầu vị "Guru" đáng kính của mình là Divacapanđita tổ chức lễ đăng quang Về sau, cũng có tổ chức những buổi lễ long trọng khác trong dịp nhà vua ban tặng ruộng đất cho đại quý tộc quan liêu

và cho các đền chùa Divacapanđita năm 1107 lại cũng tổ chức lễ đăng quang cho Daraninđravacman, em trai của Giayavacman VI, để rồi phản lại ông vua này, đ-a ng-ời cháu nội của hai ông vua tr-ớc là Xuryavacman II lên ngôi lúc còn nhỏ tuổi D-ới đời Giayavacman VII, chức t-ớc "Guru" đ-ợc chuyển sang dòng họ tăng lữ mới là Mahgalarơta Nhà vua đã xây dựng riêng cho vị thái s- của mình ngôi đền Ta Phom lộng lẫy, trong đó giữa các t-ợng thần Hinđu giáo

có pho t-ợng của "Guru" Giayamangalarơ d-ới dạng bồ tát "bôđisatva"

Tóm lại sự hình thành và sự phát triển của tầng lớp tăng lữ Bàlamôn cao cấp nói trên: "Purôhita", "Guru", đã khẳng định một điều là: mặc dù chức năng, nhiệm vụ, vai trò và nội dung hoạt động của các nhân vật này có khác nhau ở các giai đoạn khác nhau của lịch sử Ăngco, họ đều là những vị giáo chủ có trách nhiệm lãnh đạo mọi hoạt động tôn giáo trong cả n-ớc, đồng thời cũng là những vị đại thần thân cận nhất của nhà vua, những ng-ời thực sự

đứng đầu bộ máy nhà n-ớc quân chủ chuyên chế Khơme

D-ới họ là một bộ máy quan liêu cồng kềnh và phức tạp gồm đủ các hạng quan lại có những đặc quyền, những đặc lợi khác nhau Nh- Chu Đạt Quan có thuật lại: "ở n-ớc này cũng có các th-ợng th-, các t-ớng tá, các nhà thiên văn

và các quan lại khác; ở d-ới họ là quan viên đủ các loại khi các quan lại đi ra ngoài thì đều có mang huy hiệu, theo sau là những ng-ời tuỳ tùng, số l-ợng quy định theo cấp bậc Hàng đại thần đ-ợc đi kiệu có cán mạ vàng, có bốn chiếc lọng vàng che; quan lại hàng bên d-ới cũng đ-ợc đi kiệu có cán vàng với hai lọng; hàng quan lại cấp thấp hơn một bậc nữa thì có kiệu cán vàng với một chiếc lọng; cuối cùng quan lại cấp thấp hơn hết chỉ có lọng cán vàng mà thôi, cũng có ng-ời dùng kiệu cán bạc" [7; 17; 133] Những quan đại thần đa số là

Trang 32

những ng-ời cùng dòng họ với nhà vua hay thuộc dòng họ ngoại thích (mẹ hay

vợ vua) nh- điều Chu Đạt Quan đã có chép: "Trong đa số các tr-ờng hợp, những chức quan lại cao cấp đều giao cho các hoàng thân hoặc những ng-ời đã

đem con gái của mình vào cung vua" [8; 17; 133] Những điều này càng đ-ợc thể hiện rõ d-ới thời Giayavacman II rằng có năm gia tộc đều tự x-ng là dòng

họ của năm bà phi của ông vua này và những ng-ời trong các dòng họ ngoại thích đó nh- anh em của bà hoàng Kambuja - lacxơmy, đều làm quan to trong triều đình Hai ng-ời anh vợ của Xuryavacman I cũng là những bậc v-ơng công quý tộc lớn nhất thời đó Cũng còn có một con đ-ờng tiến thân khác khá phổ biến là lấy con gái vua làm vợ nh- tr-ờng hợp tăng lữ Bàlamôn,

Đivacarabata gốc từ ấn Độ sang đã đạt tới địa vị cao nhất trong triều nhờ lấy công chúa Inđralăcsơmy, con gái của Raijenđravacman II Ng-ời thầy của Xuryavacman I là "Guru" Yôgixvarapanđita cũng nh- vậy

Nh- vậy rõ ràng họ là những viên đại thần đứng sau "Guru" và

"Rajapurôhita" Họ là những ng-ời đứng đầu các bộ quan trọng của nhà n-ớc chuyên chế Ăngco, mỗi bộ đ-ợc phân công phụ trách một ngành hoạt động quan trọng của bộ máy nhà n-ớc Trong số các th-ợng th- đó, có một ng-ời

đứng đầu, giữ chức tể t-ớng, ng-ời thân cận nhất của nhà vua mà văn bia th-ờng gọi là "Acharya" Chức tể t-ớng "Acharya" đôi khi cũng kiêm luôn nhiệm vụ thầy học hay cố vấn của nhà vua, trong tr-ờng hợp khuyết chức vụ

"Guru" hoặc "Rajapurôhita" Sau các th-ợng th-, các chức vụ nhà n-ớc quan trọng nhất nằm trong tay những quan lại đứng đầu các ngành Ngành t- pháp

là một trong những ngành quan trọng nhất, đứng ngay sau ngành quân sự là do các quan toà và thanh tra t- pháp điều khiển Ngành kinh tế quốc dân do bốn viên quan to nắm giữ; nhiệm vụ, quyền hạn của những hoạt động của họ đ-ợc coi nh- là những quan thủ kho các hạng

Ngoài những chức quan trên, còn có một ngạch quan lại đặc biệt gồm những viên ngự sử hay đô sát (Tamrvac) có nhiệm vụ kiểm soát và giám sát

Trang 33

mọi hoạt động của các quan lại các cấp từ Trung -ơng đến địa ph-ơng Hầu hết các chức quan to nói trên đ-ợc liệt kê trên bản danh sách gồm hơn 200 ng-ời đã từng giữ buổi lễ tuyên thệ long trọng tr-ớc vua Xuryavacman I trong buổi lễ đăng quang và đ-ợc khắc trong một gian phòng ở cung điện nhà vua tại

Ăngco Thom

Phụ nữ quý tộc ở Cămpuchia thời đại Ăngco cũng có thể tham gia đời sống chính trị, đến nỗi một số nhà du hành Trung Hoa thời bấy giờ có nhận xét rằng những ng-ời phụ nữ Cămpuchia rất nổi tiếng về những kiến thức thiên văn học và các môn khoa học khác; nhiều ng-ời lại đ-ợc cử giữ những chức vụ quan trọng trong triều, trong đó có cả chức quan toà của toà án th-ợng thẩm

2.2.2 Chính quyền địa ph-ơng

Các bút tích không cho chúng ta biết gì nhiều về tổ chức hành chính và

bộ máy quan lai ở địa ph-ơng thời đại Ăngco, ngoài sự mô tả của Chu Đạt Quan trong tập "Chân Lạp phong thổ ký": "Cả n-ớc chia thành 90 tỉnh Mỗi tỉnh đều có quan lại địa ph-ơng cai trị và có phủ đ-ờng bao bọc bởi một hàng rào bằng gỗ kiên cố" [9; 16; 122] Số l-ợng tỉnh nhiều nh- vậy chứng tỏ phạm

vi mỗi tỉnh không rộng lắm Trong các bút tích của ng-ời Khơme thời Ăngco,

đơn vị hành chính mà Chu Đạt Quan gọi là tỉnh đ-ợc ghi là "Pranam", tiếng Sanxcơri có nghĩa là "quản hạt" và rõ ràng là có mang ý nghĩa của một vùng

đất đai đặt d-ới quyền hành chính và t- pháp của một viên tỉnh tr-ởng Ngoài

đơn vị hành chính Pranam, còn có đơn vị hành chính khác là "Visaya" đây là một đơn vị gần nghĩa với đơ vị "Pranam" hay còn gọi là một tỉnh nhỏ hoặc một phủ, huyện, ở cấp chính quyền thấp hơn Cuối cùng đơn vị hành chính thấp nhất là "Phum" (t-ơng đ-ơng với làng xã) mà x-a kia gọi là Sruk

2.2.3 Quân đội

Trong suốt thời đại Ăngco nhà n-ớc Khơme đã tiến hành nhiều cuộc chiến tranh xâm l-ợc đối với các quốc gia và các dân tộc láng giềng Trong các cuộc chiến tranh lớn th-ờng là nhà vua thân chinh ra trận Vua Khơme là

Trang 34

thủ lĩnh tối cao D-ới vua có chức tổng t- lệnh quân đội gọi là "Sênapaty" (t-ớng) hoặc "Mahasênapaty" (đại t-ớng) th-ờng giao cho các hoàng thân (anh

em nhà vua) đảm nhiệm Về sau chức "Sênapaty" biến thành một chức t-ớc danh dự nhà vua ban cho số ng-ời nào đó trong hoàng tộc, mà không đòi hỏi những ng-ời nào đó phải thực sự tham gia chiến trận Về hệ thống tổ chức và các cấp bậc t-ớng tá trong quân đội Khơme, theo bút tích của ng-ời Trung Hoa cũng nh- các bức tranh chạm nổi ở các đền chùa đã cho chúng ta một khái niệm t-ơng đối đầy đủ về thành phần của quân đội Ăngco, về cách trang

bị và chiến thuật của nó

Thời chiến, nhà n-ớc Ăngco ra lệnh tổng động viên tất cả những trai tráng trong n-ớc tham gia quân đội Ngoài ng-ời Khơme ra, trong quân đội còn có những tù binh bắt đ-ợc trong các cuộc chiến tranh với các n-ớc láng giềng hay các công quốc thù địch, đa số là ng-ời Xiêm và ng-ời Chàm Trong thời kỳ khủng hoảng suy vong của thời đại Ăngco, các vua chúa Khơme còn tuyển mộ những lính đánh thuê từ n-ớc ngoài vào

Theo bút tích ở đền Prêrup (thế kỷ X) cho biết các hoạt động quân sự chỉ tiến hành vào mùa khô "khi trên bầu trời không thể thấy đ-ợc những cầu vồng", bởi vì chỉ vào mùa khô mới có thể điều động đ-ợc những đội quân khổng lồ, trong đó có cả những đội kỵ binh và những đoàn voi chiến Binh chủng chủ yếu của quân đội Ăngco là bộ binh Chỉ có t-ớng lĩnh chỉ huy các

đội bộ binh mới đ-ợc dùng ngựa Nh- ng-ời ta thấy trong các bức chạm nổi ở

đền Bayon, các voi chiến cũng đ-ợc sử dụng trong các trận đánh T-ớng lĩnh của hai đạo quân tham chiến đang đọ sức với nhau trên mình voi giữa chiến tr-ờng hỗn độn Trên mình voi có đặt một chiếc ghế bành giành cho vị t-ớng chỉ huy, còn ng-ời quản t-ợng thì ngồi trên đầu voi và chỉ đ-ợc bảo vệ bằng một lá chắn nhỏ

Tr-ớc khi ra trận hoặc tr-ớc khi mở một đợt tiến công, ng-ời ta th-ờng

tổ chức những lễ tế thần trong các đền chùa để cầu nguyện thần chiến thắng

Ngày đăng: 27/07/2021, 16:21

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w