Ngay từ thế kỷ V TCN cha đẻ của nền sử học thế giới Hêrôđốt cũng đã nghiên cứu về ấn Độ, hay nh- Vatxcôđơ Gama đã dành trọn cả cuộc đời phiêu l-u của mình đi tìm ấn Độ, hay Grittôp Cô lô
Trang 11
bộ giáo dục và đào tạo tr-ờng đại học vinh khoa lịch sử
khoá luận tốt nghiệp đại học
Trang 2và lịch sử xã hội có giai cấp và nhà n-ớc
Thời kỳ xã hội nguyên thuỷ kéo dài hàng triệu năm nh-ng những b-ớc tiến của nó hết sức chậm chạp và chỉ đến khi xã hội có giai cấp và nhà n-ớc ra
đời sau thời kỳ tan rã của chế độ công xã nguyên thuỷ thì lúc đó mới có dấu hiệu chứng tỏ rằng con ng-ời đã v-ợt qua thời đại dã man và b-ớc vào thời đại văn minh
Nhà n-ớc ra đời là sản phẩm tất yếu của sự phát triển lịch sử Lịch sử xã hội có giai cấp và nhà n-ớc cổ đại bao gồm hai phần xã hội có giai cấp và nhà n-ớc đầu tiên ở ph-ơng Đông cổ đại và chế độ chiếm hữu nô lệ ở ph-ơng Tây
Xã hội mới ra đời với những nét khác biệt đó nguyên nhân xuất phát từ những cơ sở hình thành nên nó Chính những cơ sở này là dấu vết hằn in lên một mô hình xã hội t-ơng lai thai nghén trong lòng nó
Tìm hiểu những cơ sở hình thành nhà n-ớc ở các quốc gia cổ đại ph-ơng Đông chúng ta sẽ tìm thấy những nét khác biệt hoàn toàn để phân biệt với cơ sở hình thành các quốc gia cổ đại ph-ơng Tây Đó cũng là cơ sở cho chúng ta lý giải sự khác biệt về h-ớng phát triển của một mô hình xã hội trong t-ơng lai cũng nh- sự khác biệt về văn hoá, lối sống giữa các quốc gia ph-ơng Tây và ph-ơng Đông từ x-a đến nay
Trang 33
Tìm hiểu nét đặc thù của các quốc gia cổ đại ph-ơng Đông ở cơ sở hình thành nhà n-ớc thì chúng ta không thể bỏ qua đ-ợc đất n-ớc ấn Độ, một đất n-ớc “ rất ph-ơng Đông” nh-ng cũng “ rất ấn Độ” Trong đất n-ớc này luôn bao hàm những cái chung lớn lao nh-ng lại cũng có những cái riêng không thể hoà tan và chính cái riêng ấy lại là hạt nhân làm nên bản sắc dân tộc, lối sống, văn hoá tinh thần của ng-ời dân ấn Độ
ấn Độ là xứ sở của những con sông chảy “ vắt vẻo trên bầu trời” với những ngọn núi quanh năm tuyết phủ đ-ợc coi là nơi ngự trị của các thần linh,
đây cũng là đất n-ớc của những tr-ờng ca mà đứa trẻ sinh ra, lớn lên và cho
đến lúc từ biệt cõi đời cũng không thể nào hiểu hết nổi Chính sự kỳ diệu và huyền bí ấy đã có sức lôi cuốn biết bao thế hệ ng-ời từ thời cổ cho đến hiện
đại luôn ao -ớc đ-ợc khám phá nó
Chính Roman Rolland cũng từng viết : “ Nếu có một nơi nào trên bề mặt trái đất mà ở đó tất cả những giấc mơ của con ng-ời đã tìm đ-ợc một quê h-ơng ngay từ thời nguyên sơ khi con ng-ời bắt đầu mơ -ớc về sự tồn tại của mình thì đó là ấn Độ”
Thật vậy, với đất n-ớc có sức thu hút “ vĩ đại nh- đại d-ơng” này, ai ai cũng muốn đ-ợc khám phá nó Về lịch sử, văn hoá, tín ng-ỡng, tôn giáo của
ấn Độ đã tốn rất nhiều giấy bút của các nhà nghiên cứu Nh-ng riêng bản thân tôi, với lòng yêu mến một đất n-ớc ch-a một lần đặt chân đến, nh-ng đã đ-ợc học, đ-ợc đọc và nghe kể nhiều về nó cũng muốn góp phần vào tìm hiểu lịch
sử đất n-ớc này Chính vì vậy chúng tôi chọn đề tài: “ Tìm hiểu những cơ sở hình thành nhà n-ớc ấn Độ thời cổ đại ” để mong thoả mãn lòng ham hiểu
biết cũng nh- muốn chứng minh xem đất n-ớc đ-ợc mệnh danh là “ rất ph-ơng Đông” và lại cũng “ rất ấn Độ” trong vấn đề mà chúng tôi tìm hiểu nh- thế nào
2 Lịch sử đề tài
Khung cảnh thiên nhiên với dãy núi Hymalaya cao nhất thế giới vắt ngang trên đất liền phía Bắc, với những dòng sông huyền diệu, những cánh
Trang 44
đồng mầu mỡ, cùng với biển cả bao bọc hai bờ Đông – Tây đã tạo cho đất n-ớc ấn Độ có một sức hút kỳ lạ Đó chính là cái nôi nuôi d-ỡng con ng-ời từ thủơ ban sơ, là nơi từ bao đời nay đã cuốn hút nhiều thế hệ khám phá nó Chính vì thế nghiên cứu về ấn Độ không có gì mới mẻ và xa lạ
Ngay từ thế kỷ V TCN cha đẻ của nền sử học thế giới Hêrôđốt cũng đã nghiên cứu về ấn Độ, hay nh- Vatxcôđơ Gama đã dành trọn cả cuộc đời phiêu l-u của mình đi tìm ấn Độ, hay Grittôp Cô lông tìm ra châu Mỹ mà cứ ngỡ đó
Các công trình nh- “ Đại c-ơng lịch sử thế giới” của Trịnh Nhu (Nxb
Đại học và giáo dục chuyên nghiệp – Hà Nội - 1990 ) hay “ Thế giới cổ đại” của Trần Ngọc Kim, “ Lịch sử cổ đại ph-ơng Đông” của V.I.Apdiep…thì vấn
đề này mới chỉ nằm rải rác ở các ch-ơng mục mang tính khái quát lịch sử, ch-a trở thành một hệ thống liên hoàn và những cơ sở cụ thể cho một nhà n-ớc ở ấn Độ ra đời vẫn ch-a đ-ợc thể hiện một cách rõ rệt, cụ thể
Ngoài ra còn có công trình nghiên cứu về ấn Độ d-ới góc độ văn hoá, văn minh nh- “ Văn hoá ấn Độ” của Cao Huy Đĩnh (Nxb Văn hoá - 1993), hay cũng một cuốn sách cùng tên của tác giả Nguyễn Tấn Đắc (Nxb Thành phố Hồ Chí Minh - 2000), hay trong tác phẩm “ Lịch sử văn minh thế giới” của tập thể tác giả Vũ D-ơng Ninh, Nguyễn Gia Phu, Nguyễn Quang Hùng (Nxb Giáo dục – Hà Nội - 2001), “ Lịch sử văn hoá thế giới cổ – trung đại” do L-ơng Ninh chủ biên (Nxb Giáo dục – Hà Nội – 2001) và nhiều tác phẩm khác
Các tác phẩm này trình bày phần lớn về văn hoá ấn Độ, tuy nhiên chúng ta cũng tìm thấy một nguồn t- liệu lớn về thiên nhiên, con ng-ời ấn Độ
để từ đó thấy đ-ợc tác động của nó đối với việc hình thành một nhà n-ớc, đặc
Trang 55
biệt là nếu có một khả năng phân tích, tổng hợp sắc bén thì sẽ tìm thấy ở đó một vấn đề khá lý thú và hết sức quan trọng đó là vai trò của tín ng-ỡng, tôn giáo đối với việc hình thành nhà n-ớc ấn Độ thời cổ đại
Đặc biệt phải kể đến những công trình nghiên cứu của C.Mac, F.Enghen và V I.Lê nin, trong nhiều tác phẩm của C.Mac nh- “ bàn về các xã hội tiền t- bản” và đặc biệt nhất là trong tác phẩm “ Sự thống trị của Anh ở ấn
Độ” và nhiều tác phẩm khác của C.Mac có đề cập đến vấn đề nhà n-ớc ph-ơng Đông cổ đại nói chung mà sau này F Enghen đã đ-a vào cuốn
“Nguồn gốc của gia đình của chế độ t- hữu và của nhà n-ớc ” Đây là một tác phẩm rất có giá trị, cuốn sách này F Enghen dựa trên tác phẩm “ T- bản ” của C.Mac, đồng thời F Enghen có nhiều bổ sung, đ-a ra nhiều luận điểm nói về văn minh, về sự hình thành nhà n-ớc Hy Lạp , La Mã… Về nguồn gốc và bản chất của nhà n-ớc …
Những luận điểm của C.Mac và F Enghen đ-ợc V.I.Lênin bổ sung và phát triển trong tác phẩm “ Nhà n-ớc và cách mạng”
Mạc dù chúng ta không tìm thấy những kiến giải cụ thể về những cơ sở
để hình thành nhà n-ớc ấn Độ thời cổ đại nh-ng những công trình nghiên cứu của C.Mac, F Enghen, V.I.Lênin là những lý luận có tính chất chuẩn mực, là kim chỉ nam cho ng-ời nghiên cứu về vấn đề nhà n-ớc cũng nh- tìm thấy một
đối sánh để nhìn rõ sự khác biệt giữa cơ sở hình thành nhà n-ớc ở ph-ơng Tây
cổ đại với ph-ơng Đông cổ đại nh- thế nào Từ đó chiếu rọi cụ thể vào lịch sử
ấn Độ để thấy rõ nhà n-ớc ấn Độ thời cổ đại ra đời trên cơ sở nh- thế nào, nó
có những cơ sở chung với các quốc gia cổ đại ph-ơng Đông ra sao? và có cơ
sở riêng biệt gì? Đó chính là những cơ sở cho chúng tôi nghiên cứu, tìm hiểu
đề tài lựa chọn
Nh- vậy để nhận biết một cách hệ thống và cụ thể, chúng tôi chọn đề
tài “ Tìm hiểu những cơ sở hình thành nhà n-ớc ấn Độ thời cổ đại” này
không tham vọng tìm ra cái gì mới mà chỉ là sự tổng hợp lại các vấn đề đã
đ-ợc nghiên cứu và làm sáng rõ một số vấn đề về những cơ sở hình thành nhà n-ớc ở ấn Độ mà thôi
Trang 66
Mặc dù với lòng ham hiểu biết và một sự đầu t- công sức s-u tầm, tổng hợp và phân tích tài liệu song bản thân là một sinh viên ch-a có điều kiện thuận lợi hơn để nghiên cứu, tìm hiểu hết các công trình đã nghiên cứu về ấn
Độ đặc biệt là trong vấn đề có liên quan đến đề tài lựa chọn Chính vì thế sẽ khó tránh khỏi những thiếu sót Rất mong đ-ợc thầy h-ớng dẫn, các thầy cô giáo trong khoa và các bạn đồng nghiệp góp ý cho bài nghiên cứu đ-ợc hoàn thiện hơn
3 Ph-ơng pháp nghiên cứu
Dựa trên các tác phẩm nghiên cứu về đất n-ớc ấn Độ trên các ph-ơng diện: Lịch sử, văn hoá, triết học, tôn giáo của nhiều tác giả khác nhau, đề tài
“ Tìm hiểu những cơ sở hình thành nhà n-ớc ấn Độ thời cổ đại” đ-ợc
trình bày trên cơ sở tổng hợp, hệ thống hoá các công trình nghiên cứu, đồng thời sử dụng các ph-ơng pháp phân tích, logic lịch sử và chứng minh
Ph-ơng pháp nghiên cứu đó đ-ợc cụ thể qua các b-ớc:
+ B-ớc 1: Tiếp cận chọn lọc t- liệu có liên quan đến vấn đề sự ra đời của nhà n-ớc nói chung, của nhà n-ớc ở ph-ơng Đông và ở ấn Độ nói riêng
+ B-ớc 2: Xử lý những t- liệu đã chọn lọc có liên quan
+ B-ớc 3: Phân tích, hệ thống hoá kiến thức về những cơ sở hình thành nhà n-ớc nói chung, nhà n-ớc ở ph-ơng Đông nói riêng và rút ra những cơ sở hình thành nhà n-ớc ở ấn Độ thời cổ đại trên cơ sở những t- liệu cụ thể đã thu thập và xử lý
Trang 73.1.1 Nền nông nghiệp và yêu cầu của công tác trị thuỷ, thuỷ lợi
3.1.2 Sự phân công lao động và vai trò của công xã nông thôn
trong việc tạo ra cơ sở hình thành nhà n-ớc ấn Độ thời cổ đại
3.2 Cơ sở xã hội
3.2.1 Sự phân chia đẳng cấp trong xã hội ấn Độ thời cổ đại
3.2.2 Yêu cầu chống ngoại xâm
3.3 Cơ sở tín ng-ỡng - tôn giáo
3.3.1 Tín ng-ỡng đa thần của c- dân ấn Độ thời cổ đại
3.3.2 Đạo Bàlamôn, cơ sở vững chắc cho sự ra đời nhà n-ớc ở ấn Độ thời cổ đại
Trang 88
phần nội dung Ch-ơng 1 tổng quan về đất n-ớc ấn Độ cổ đại
1.1 Điều kiện địa lý, tự nhiên.
ấn Độ cổ đại là một trong những trung tâm văn minh, văn hoá lớn và sớm nhất thế giới
Thời cổ đại phạm vi địa lý ấn Độ bao gồm toàn bộ lãnh thổ ấn Độ, Pakixtan, Bănglađet và Nêpan ngày nay
Đây là một bán đảo hình tam giác lớn, một “ tiểu lục địa” ở Nam á “ Từ
Đông Bắc tới Tây Bắc đều có núi chắn ngang, trong đó dãy núi Hymalaya nổi tiếng với ngọn núi Chômôlungma cao nhất thế giới (8884m) và quanh năm tuyết phủ” [12:184] Có thể xem địa hình đó là một biên giới tự nhiên ở phía Bắc ấn Độ
Địa hình ấn Độ rất đa dạng và đ-ợc chia làm ba khu vực rõ rệt
1 Vùng núi Hymalaya với hệ thống gồm ba dãy núi trùng điệp, các
đoạn giữa của dãy núi là ba thung lũng dài, rộng chạy song song với nhau Trong số các thung lũng đó “ Casmia (Kashmir) ở cực Bắc ấn Độ nổi tiếng nhất, từ lâu đã đ-ợc mệnh danh là “ thiên đ-ờng của hạ giới” ” [8: 6]
Dãy núi Hymalaya nh- một bức t-ờng thiên nhiên ngăn chặn các luồng gió lạnh ở phía Bắc xuống và các luồng không khí ẩm ở phía Nam lên Sự đi lại giữa ấn Độ với bên ngoài bằng đ-ờng bộ, hầu nh- chỉ dựa vào các con đ-ờng hẻm ở miền Tây Bắc mà thôi Còn từ Đông Nam đến Tây Nam đều có biển, vịnh Bengan ở phía Đông, ấn Độ D-ơng ở phía Nam và biển A Rập ở phía Tây
2 Khu vực từ vùng núi Hymalaya đến giáp cao nguyên Đêcan Đó là vùng đồng bằng sông ấn – Hằng, dải đồng bằng vào loại lớn nhất thế giới,
đ-ợc bồi đắp bởi phù sa và n-ớc t-ới của hai dòng sông ấn và sông Hằng
Trang 99
3 Vùng núi phía Nam còn lại là cao nguyên Đêcan Cao nguyên giống nh- một lòng chảo tạo thành bởi hai dãy núi lớn ở hai mặt: Dãy Gat (Ghats) Tây và Gat (Ghats) Đông Về cơ bản đất đai của cao nguyên Đêcan không có giá trị lớn về nông nghiệp, tuy là dọc bờ biển có những dải đồng bằng t-ơng
Khái quát bằng những hình ảnh văn ch-ơng về sự phong phú của địa hình
ấn Độ, giáo s- Cao Huy Đĩnh – ng-ời từng bỏ nhiều công sức nghiên cứu về
đất n-ớc và những giá trị văn hoá ấn Độ đã khái quát: “ Đất n-ớc ấn Độ, nhìn ngang Đông – Tây là từ sông Indux (sông ấn) và sông Kasmia có nhiều hoa thơm quả ngọt, hồ biếc với miền Ngũ hà (vùng Pengiáp – năm con sông) vì nhiêu rồi dọc theo con sông Hằng và dải bình nguyên bát ngát cho đến châu thổ “ đất vàng” màu mỡ giáp vịnh Bengan Nhìn dọc Bắc Nam, từ dãy núi Hymalaya, đ-ợc ví nh- “ lâu đài tuyết” hay “ bông hoa sen trắng vĩ đại” đi xuống thành tầng tầng, lớp lớp, đến l-u vực sông Hằng rồi sang cao nguyên
Đêcan rộng lớn, đến bờ biển ấn Độ D-ơng” [4: 18]
Không chỉ có địa hình phức tạp là một nét độc đáo mà ấn Độ còn là xứ
sở của những con sông “ chảy vắt vẻo trên bầu trời” sự chia cắt hai miền Nam Bắc bằng dãy núi Vinđia làm ranh giới, miền Bắc có hai con sông lớn là sông
ấn và sông Hằng đ-ợc xem là nơi khởi nguyên của nền văn minh ấn Độ
Con sông ấn (Indus) ở vùng Tây Bắc ấn Độ, dài 3040 km bắt nguồn từ dãy Hymalaya quanh năm tuyết phủ, chảy qua Casmia, Pakixtan L-u vực sông ấn có năm con sông đổ vào ( vùng Pengiáp), hạ l-u sông ấn tạo thành tam giác châu thổ rộng 8000km2 Đồng bằng dọc sông ấn dài đến 2900km, n-ớc cấp cho sông này là băng hà, tuyết ở Caracôrum, Hinđucuc và các thác n-ớc cao khác Mùa đông l-u l-ợng n-ớc nhỏ vì băng ch-a tan Từ tháng hai,
Trang 1010
tháng ba n-ớc lên cao cho đến mùa hạ, tháng bảy, tháng tám có gió mang m-a
lũ lớn làm đồng bằng bị lũ lụt L-ợng m-a ở Tây Bắc là 200 – 500 mm3 Tuy nhiên do băng tuyết tan mà vùng ven sông ấn có thể đ-ợc lụt t-ới n-ớc
Vai trò của con sông này đối với lịch sử đất n-ớc ấn Độ đã đ-ợc J.Nêhru bằng tất cả niềm tự hào của mình đã nói: “ Giáo s- Chillde đã nói rất chính xác rằng: Đại diện cho một sự thích ứng rất hoàn hảo của cuộc sống con ng-ời với một môi tr-ờng đặc biệt mà chỉ là kết quả của nhiều năm cố gắng kiên trì Và nó đã bền vững, nó mang tính chất đặc biệt ấn Độ và tạo nên cơ
sở của nền văn minh ấn Độ” [ 3: 69]
Chính từ “ môi tr-ờng đặc biệt” , sự khó khăn trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, trong gây dựng một nền văn minh ở đây, mà xét về mặt kinh tế
“vùng thung lũng sông ấn nông nghiệp không thể tiến hành đ-ợc nếu không
có bàn tay trị thuỷ, thuỷ lợi của con ng-ời” [21:14]
Còn con sông Hằng (Gange) ở Đông Bắc cũng có sự kỳ vĩ của nó và có vai trò không nhỏ đối với việc hình thành nên nền văn minh của đất n-ớc này Sông Hằng dài gần 3000 km, đoạn hạ l-u cử nó hợp với sông Bramaputơra và cùng với con sông này tạo thành đồng bằng châu thổ rộng lớn
Chế độ n-ớc sông Hằng chịu ảnh h-ởng của gió mùa hạ Đông Nam Vùng này có l-ợng m-a nhiều hơn bất cứ nơi nào trên thế giới (lên tới 3000
mm3) “ L-ợng n- này kết hợp với băng tuyết tan khiến cho sông Hằng luôn
đầy n-ớc và lụt lội th-ờng xảy ra, l-u l-ợng lên tới 73000 m3/s” [5:15]
Một lý do nữa là ở thung lũng sông Hằng, từ thời cổ còn bao phủ bởi những cánh rừng nhiệt đới rậm rạp mà ngày nay không còn nữa Độ ẩm ở hạ l-u rất cao, thậm chí các cây trồng -a ẩm nh-: lúa, đay, mía … có thể trồng đ-ợc ở
đây mà kong cần n-ớc nhân tạo
L-ợng phù sa do sông Hằng bồi đắp rất lớn “ ở hạ l-u lớp phù sa dày từ
600 – 800 m” [5:15] C- dân Nam á th-ờng nói tới một số nhiều “ hằng hà
sa số” (nhiều nh- cát sông Hằng) Cánh đồng ven sông Hằng dài 2700 km,
đây là nơi cung cấp nhiều l-ơng thực nhất cho c- dân ấn Và dòng sông Hằng
Trang 1111
này,tr-ớc hết “ là con sông của ấn Độ, con sông đã nắm giữ trái tim của ấn Độ
và thu hút hàng bao nhiêu triệu ng-ời đến đôi bờ của nó từ buổi bình minh của lịch sử Câu chuyện dòng sông Hằng từ ngọn nguồn của nó đến biển cả, từ thời x-a đến thời nay là câu chuyện của nền văn minh và văn hoá ấn Độ, của
sự h-ng suy các triều đại, của các thành phố lớn kiêu hãnh, của cuộc phiêu l-u của con ng-ời và sự tìm tòi trí tuệ, từng làm bận bịu các nhà t- t-ởng ấn Độ, của sự phong phú và hoàn mỹ của cuộc sống, cũng nh- sự từ chối và bác bỏ của nó, những thăng trầm, tăng tr-ởng và tàn lụi, sự sống và cái chết” [21:70]
Vâng! Có lẽ không thể bình luận gì hơn đ-ợc lời của chính con ng-ời tâm huyết với đất n-ớc mình nh- J.Nêhru Chỉ xin nhấm mạnh thêm rằng, xét
về mặt kinh tế thì hai dòng sông Bắc ấn này có tác dụng rất to lớn
Việc quần tụ trên bến bãi phù sa các sông lớn để làm nông nghiệp của c- dân ấn Độ cổ đã tạo nên các nền văn minh – lò đúc tụ nhiều nền văn minh tối cổ của ph-ơng Đông, thu hút luồng thiên di của các bộ lạc Đó là nên văn minh gọi theo tên sông: Văn minh sông ấn và văn minh sông Hằng Ngay tên gọi của cả xứ này(Hinđustan) là lấy theo tên sông ấn Về ph-ơng diện ngôn ngữ học thì sông ấn (Indus) và sông Hằng (Gange) đều có nghĩa là sông n-ớc Indus là từ chữ “ Id” theo ngôn ngữ nguyên ấn Điếu đó nói lên phần nào ảnh h-ởng của sông n-ớc đối với toàn bộ đời sống xã hội ở đây
Nh- vậy vùng bình nguyên phù sa rộng lớn của thung lũng sông ấn, đặc biệt là sông Hằng và chi l-u của chúng là vùng khá thuận lợi cho sự sinh sống của con ng-ời và phát triển sớm nền văn minh Tuy nhiên, nh- đã trình bày
do l-ợng m-a phan phối không đều và theo mùa nên không đủ cho sự phát triển nông nghiệp ở Bắc ấn, l-ợng m-a và độ ẩm tăng dần về phía Đông Do vậy việc trị thuỷ, thuỷ lợi, đắp đê, đào giếng… là công việc hàng đầu của c- dân nông nghiệp ấn Độ nói riêng và ph-ơng Đông nói chung Chính yêu cầu phải điều tiết lực l-ợng tự nhiên này đã tác động vào tổ chức xã hội ở nơi đây V.I.Lênin nhận xét: “ Thế giới không làm thoả mãn con ng-ời và con ng-ời quyết định cải tạo thế giới bằng hành động của mình” [18: 28]
Trang 1212
Địa hình sông núi đa dạng, phức tạp cũng làm cho khí hậu trên “ tiểu lục
địa” này phân hoá phức tạp theo, trong đó có những yếu tố đòi hỏi con ng-ời nơi đây phải cố kết với nhau để cùng khắc phục
ở khu vực phía Bắc vùng núi Hymalaya với sự ngăn cách, Hymalaya nh- một bức t-ờng thiên nhiên ngăn chặn các luồng gió lạnh ở phía Bắc xuống và các luồng không khí ẩm ở phía Nam lên Bởi vậy về mùa đông, ở ấn
Độ có nhiệt độ cao hơn các n-ớc khác cùng vĩ tuyến, còn mùa hè thì m-a rất nhiều
Vùng đồng bằng sông ấn - Hằng khí hậu nóng ẩm, ở đây đã trở thành vựa lúa và là nơi phát triển các loại cây l-ơng thực chủ yếu của ấn Độ
Tuy nhiên đất n-ớc có những đỉnh núi cao, những khu rừng rậm, những con sông lớn, những đồng bằng rộng ấy lại cũng là “ đất n-ớc hàng năm phải trải qua những tháng hè nóng kinh khủng với nhiều trận bão bụi mù mịt từ các
sa mạc miền Tây, miền Trung kéo về rang cháy cả cây cỏ và con ng-ời ” [4: 18]
Sự khác biệt ấy đòi hỏi con ng-ời muốn tồn tại và phát triển phải cố kết nhau lại cùng chống lại thiên nhiên và một nhà n-ớc với đầy đủ các chức năng của nó sẽ ra đời trên cơ sở đó
Tuy nhiên khí hậu không chỉ có khắc nghiệt tàn bạo với con ng-ời mà bên cạnh đó “ những ngày xuân ấm áp và trong sáng với bầu trời xanh thẳm không chút gợn mây” [4:19] cũng tồn tại Chính thiên nhiên vừa hiền dịu, t-ơi sáng, vừa hùng vĩ lại vừa tàn ác và cay nghiệt ấy đã gây nhiều ấn t-ợng sâu sắc ngay từ trong những trang thần thoại đầu tiên của c- dân ấn Độ Họ bắt
đầu hát và kể chuyện là để ca ngợi những lực l-ợng thiên nhiên và những hiện t-ợng vũ trụ
Thiên nhiên có một vai trò hết sức quan trọng trong đời sống vật chất, tinh thần của ng-ời ấn , là cái nôi nuôi d-ỡng con ng-ời từ thủơ bình minh hoang dã, song thiên nhiên với sự huyền bí và uy lực của nó lại gây cho con ng-ời với bao bất trắc, khổ hạnh và để lý giải điều đó, con ng-ời th-ờng mơ -ớc, cầu mong một cuộc sống tốt đẹp hơn, thoát khỏi thiên tai với những trận
Trang 1313
m-a thu dữ dội liên miên, lôi cuốn hàng vạn sinh linh theo n-ớc lũ và những
đêm đông rét buốt do hơi lạnh toả ra từ lòng lục địa …Đó chính là nguồn t- duy đơn giản hình thành nên luồng tín ng-ỡng, phong tục, tập quán, hội hè của ng-ời dân ấn tạo nên b-ớc đệm cho các tôn giáo lớn đ-ợc hình thành
J.Nêhru cũng nhận thấy sự phức tạp của các thành phần tộc ng-ời trên
đất n-ớc của ông, ông nói : “ Chúng tôi là một chủng tộc lâu đời, hay nói
đúng hơn là một tập hợp kì quặc của nhiều chủng tộc và các kí ức về chủng tộc của chúng tôi đã có từ buổi bình minh của lịch sử ” [21:76]
Dựa vào kết quả nghiên cứu giữa những năm 30 của thế kỉ XX của nhóm những nhà khảo cổ học của hai tr-ờng đại học Yale – Cambridge tiến hành khai quật di chỉ hoá thạch ở Sixalik nằm ở phía Bắc ấn Độ và Pakixtan chúng ta có thể khẳng định rằng, ng-ời Nêgrôit là chủng tộc cổ x-a nhất co mặt ở ấn Độ, sau đó là đến ng-ời Autraloit là chủng tộc ng-ời c- trú sớm ở
đây Tiếp đến là ng-ời Đravida, Đravida nghĩa là sông n-ớc, biến âm xen kẽ n/nd rất th-ờng gặp trong ngôn ngữ Đravida Đây là những bộ tộc di c- đến
ấn Độ sớm nhất vì thế họ đ-ợc xem là c- dân bản địa của mảnh đất giầu có này Đây là bộ tộc ng-ời đã sản sinh ra các nhóm pha tạp hiện nay ở Trung và Nam ấn
Có giả định là ,ng-ời Đravida có nguồn gốc từ Australia họ đến đây từ thuở châu lục Đại D-ơng đó còn gần với ấn Độ
Đặc điểm của chủng tộc này là có n-ớc da màu nâu sẫm, mặt dẹt, mũi thẳng, tóc đen thẳng Những nét đó cho thấy ng-ời Đravida có sự gần gũi giữa chủng tộc Autraloid và Europeoid Sự phán đóan qua hình thái ngôn ngữ và
Trang 1414
đời sống kiểu nguyên thuỷ của các bộ lạc nói thổ ngữ Munda cho thấy từ rất
xa x-a họ là chủ nhân của xứ sở này Họ c- trú phần lớn ở Nam ấn thuộc cao nguyên Đêcan Ngày nay nhóm ng-ời này sống rải rác ở các nơi nh-: Kui ở Orissa; ng-ời Kalackh ở Chotanagpur thuộc Đông ấn; ng-ời Brahui ở Baluchistan ở Tây ấn C- dân này là chủ nhân của nền văn hoá Harapa – Môhenjôđarô cách ngày nay khoảng 5000 năm
Tiếp theo ng-ời Đravida là ng-ời Arian, hiện nay chiếm tới 72% c- dân
ấn, họ là chủng tộc từ bên ngoài vào Có thể là từ vùng núi Capcadơ di chuyển vào ấn Độ qua ngõ hẹp ở vùng Tây Bắc vào khoảng thời gian giữa thiên niên kỷ II TCN Tộc ng-ời này có nguồn gốc Châu Âu, với vóc ng-ời to lớn, mũi hẹp và cao, da sáng, mắt đen và theo ngữ hệ ấn - Âu
Lúc đầu ng-ời Arian có khoảng 5 bộ lạc sống ở th-ợng l-u sông ấn và vùng Pengiap, sau đó lan dần sang sông Hằng ở phía Đông, v-ợt qua dãy Vinđia xuống phía Nam Ng-ời Arian vốn là một bộ lạc du mục, trải qua quá trình định c- họ đã chuyển sang làm nghề trồng trọt và thủ công Họ chính là lực l-ợng làm nên diện mạo cho đất n-ớc ấn Độ ngày nay
Nhìn về mọi ph-ơng diện lịch sử, văn hoá thì chủng tộc Đravida và Arian là cội nguồn làm nên nền văn hoá truyền thống dân tộc ấn Độ
Tiếp sau ng-ời Arian là các tộc ng-ời Môngôloid xâm nhập vào cũng làm cho cộng đồng các dân tộc ở ấn Độ ngày càng đông đảo
Và “ không một dân tộc nào, không một chủng tộc nào tồn tại mà không
hề thay đổi” [21: 78], họ liên tục hoà trộn với dân tộc khác và dần biến đổi Nói nh- vậy để thấy rằng khi ng-ời Arian xâm nhập vào đất ấn thì đã xẩy ra quá trình tổng hợp và hợp nhất văn hoá lớn đầu tiên diễn ra giữa ng-ời Arian mới đến và ng-ời Đravida, những ng-ời có khả năng là đại diện của nền văn minh thung lũng Indus Từ đó đã hình thành các chủng tộc ở ấn Độ và nền văn hoá cơ sở của ấn Độ
Trang 1515
Trong những thời đại tiếp sau, những giống ng-ời khác đã kéo đến nh-: Partrian, Bactrian (tên một chủng tộc ở Tây á và Trung á cũ), Scytrian (giống ng-ời Cỏ ở vùng Bắc biển đen Caspi và Aral), Hun (chủng tộc Tatar có từ châu á tràn sang châu Âu vào thế kỷ IV, V và là gốc của tên Hungari ngày nay)…Rồi những ng-ời thiên chúa giáo đầu tiên, ng-ời Do Thái, ng-ời theo
đạo Zoroastrian tức là những ng-ời theo hệ thống tôn giáo cổ ở Zend Avesta
và Bat- do Zoroster sáng lập …
Họ đến, tạo ra sự khác biệt rồi hoà nhập và đất n-ớc ấn Độ đ-ợc xem nh- “ là nơi có sức thu hút không giới hạn nh- đại d-ơng” , đất n-ớc này có sức lôi cuốn kỳ lạ bởi vì “ nếu có một nơi trên bề mặt trái đất mà ở đó tất cả những giấc mơ của con ng-ời đã tìm đ-ợc quê h-ơng ngay từ thời nguyên sơ khi con ng-ời bắt đầu mơ ứơc về sự tồn tại của mình thì đó là ấn Độ ” [21: 105] Chính vì thế mà ngay từ thời cổ đại ấn Độ đã phải đ-ơng đầu với các tộc ng-ời từ bên ngoài vào muốn chống lại các cuộc xâm l-ợc đó ng-ời dân ấn phải có những cơ sở nhất định để đoàn kết tạo nên sức mạnh, bởi một dân tộc
kỳ lạ nh- thế sẽ có những con đ-ờng đi không giống dân tộc nào trên thế giới trong lịch sử tồn tại và phát triển của dân tộc mình Điều đó sẽ đ-ợc khẳng
định và chứng minh sau
Với sự pha tạp giữa các tộc ng-ời đó mà văn hoá ấn Độ là kết quả của
sự đóng góp, tích tụ của nhiều chủng tộc ng-ời khác nhau, tạo nên một sự đa dạng, phong phú về văn hoá
Do tính chất đa dạng về tộc ng-ời, về địa lý, nên ấn Độ từ thời cổ đại cho đến hiện đại rất đa dạng về ngôn ngữ Có thể xem ấn Độ là một bức tranh nhiều màu sắc, song lại không có màu chủ đạo Theo tính toán, có khoảng 500 – 1500 ngôn ngữ đ-ợc sử dụng, trong đó 15 thứ tiếng đ-ợc sử dụng rộng rãi nhất là: Hindu, Udru, Bengali, Assam, Oriya, Sindhi, Marathi… Tuy vậy thời tiền sử ngôn ngữ có vai trò quan trọng trong việc truyền tải t- t-ởng, tình cảm, tinh thần ấn, cũng nh- tạo nên bộ mặt văn hoá chung của ấn Độ đó là chữ Phạn (Sanscrit)
Trang 1616
Đất n-ớc, con ng-ời ấn Độ ngay từ thuở ban sơ đã có sự phức tạp về
điều kiện tự nhiên, về chủng tộc và ngôn ngữ Điều đó một mặt tạo nên sự phong phú, đa dạng về đời sống kinh tế, về văn hoá, tạo nên nền văn minh lừng lẫy trong lịch sử Nh-ng mặt khác nó lại tạo ra sự cách biệt, bí hiểm giữa các vùng, các dân tộc, sự khép kín trong mỗi c-ơng vực Vì thế trong lịch sử
ấn Độ từ khi hình thành nhà n-ớc hoàn chỉnh cho đến các triều đại phong kiến sau đó, ch-a bao giờ thống nhất đ-ợc hoàn toàn lãnh thổ Bên cạnh đó về mặt tôn giáo, sự đa thần giáo điều khó tránh khỏi, song khi một tôn giáo hợp nhất ra đời, nó sẽ là công cụ không chỉ về mặt t- t-ởng mà còn có vai trò quan trọng trong chính trị Đó là sức mạnh tinh thần trong việc tập hợp các chủng tộc khác nhau vào một chỉnh thể duy nhất
Trang 1717
Ch-ơng 2 khái quát về cơ sở hình thành nhà n-ớc ở ph-ơng đông
cổ đại
2.1 Lý luận chung về cơ sở hình thành nhà n-ớc
Theo các nhà sáng lập chủ nghĩa Mac – Lênin, nhà n-ớc là một phạm trù lịch sử có quá trình phát sinh, phát triển và diệt vong Lịch sử loài ng-ời đã trải qua thời kỳ không có nhà n-ớc, đó là thời kỳ công xã nguyên thuỷ và sẽ phát triển đến một giai đoạn không cần nhà n-ớc
Nhà n-ớc là sản phẩm của xã hội loài ng-ời khi xã hội đó đã phát triển
đến một mức độ nhất định và nó sẽ tiêu vong khi những điều kiện khách quan cho sự tồn tại của nó không còn nữa Đúng nh- F.Enghen đã khẳng định:
“Nhà n-ớc không phải là một thế lực từ bên ngoài gán ghép vào xã hội Nó là sản phẩm của xã hội đã phát triển đến một giai đoạn nhất định, nó là sự thừa nhận rằng xã hội đó bị kìm hãm trong một sự mâu thuẫn với bản thân nó không sao giải quyết đ-ợc, rằng xã hội đó đã bị phân chia thành những cực
đối lập không thể điều hoà mà xã hội đó không đủ sức thoát ra đ-ợc…” [17:176]
Nh- vậy để hình thành đ-ợc nhà n-ớc thì phải có cơ sở về kinh tế và cơ
sở về xã hội
Về cơ sở kinh tế, nh- V.I.Lênin đã khẳng định lại ý kiến của C.Mac:
“Nhà n-ớc là sản phẩm của chế độ t- hữu mà lúc đó con ng-ời sản xuất ra của cải d- thừa th-ờng xuyên…” [18:11] Của cải d- thừa chính là nguồn gốc, là cơ
sở cho chế độ t- hữu xuất hiện
Khi có của cải d- thừa th-ờng xuyên thì nảy sinh ra hiện t-ợng những ng-ời có ảnh h-ởng lớn trong bộ lạc, liên minh bộ lạc nghĩ ra việc sử dụng sức lao động của ng-ời khác để làm ra của cải vật chất nhiều hơn thu về phía mình nhiều hơn và nh- vậy t- t-ởng bóc lột cũng bắt đầu nảy sinh từ đó Việc
đó bắt đầu đ-ợc thực hiện và ngày càng đ-ợc đẩy mạnh với mức độ tăng dần
Tr-ớc kia trong các cuộc chiến tranh thôn tính mở rộng địa bàn c- trú giữa các bộ lạc, liên minh bộ lạc, tù binh bắt đ-ợc sau mỗi cuộc chiến th-ờng
Trang 1818
bị giết hoặc nuôi trong nhà Nh-ng càng về sau do yêu cầu của sản xuất kinh
tế ngày càng đòi hỏi nhiều sức lao động hơn thì tù binh bị sung vào lực l-ợng lao động của các công xã và dần biến thành nô lệ, từ đó chế độ nô lệ ra đời
Nh- vậy, về đại thể sự xuất hiện của chế độ t- hữu và chế độ nô lệ đã dẫn đến hệ quả trong xã hội có kẻ giàu, ng-ời nghèo, kẻ bóc lột và ng-ời bị bóc lột
Về cơ sở xã hội cho một nhà n-ớc ra đời, nh- V.I.Lênin khẳng định:
“Nhà n-ớc là sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thể
điều hoà đ-ợc Bất cứ ở đâu, hễ lúc nào và chừng nào mà về mặt khách quan, những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hoà đ-ợc thì nhà n-ớc xuất hiện” [18:12] Xã hội phân hoá thành các giai cấp có lợi ích đối lập nhau và mâu thuẫn giữa các giai cấp là tất yếu
Cơ sở xã hội là kết quả tất yếu của cơ sở kinh tế vì chỉ khi nào kinh tế phát triển đến một mức độ nhất định thì có chế độ t- hữu và từ đó xã hội mới phân hoá thành những giai cấp đối kháng Và đến khi các giai cấp mâu thuẫn gay gắt, đi đến chỗ tiêu diệt nhau thì “ khi đó cần phải có một lực l-ợng tựa hồ nh- đứng trên xã hội có nhiệm vụ làm dịu sự xung đột và giữ cho xung đột ấy nằm trong một trật tự và các lực l-ợng này sinh từ xã hội nh-ng lại tự đặt minh trên xã hội và ngày càng xa lạ đối với xã hội, đó chính là nhà n-ớc” [11:30]
Nhà n-ớc xuất hiện lần đầu tiên trong lịch sử vào khoảng cuối thiên niên kỷ IV TCN đến giữa thiên niên kỷ II TCN, đó là những nhà n-ớc cổ đại ở
Ai Cập, L-ỡng Hà, trung Quốc, ấn Độ, là những nơi có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sự phát triển kinh tế nông nghiệp t-ới n-ớc, là những nơi có qua trình phân hoá xã hội, tập trung của cải t- hữu và diễn ra đấu tranh giai cấp sớm nhất
2.2 Khái quát cơ sở hình thành nhà n-ớc ở ph-ơng Đông cổ đại
Các quốc gia cổ đại ph-ơng Đông hầu hết đều hình thành trên l-u vực các con sông lớn nh-: Ai Cập (sông Nin), L-ỡng Hà (sông Tigơrơ và
ơphrat),Trung Quốc (sông Hoàng Hà), ấn Độ (sông ấn – Hằng) Những con
Trang 1919
sông này đã tạo ra những đồng bằng thuận lợi cho sự phát triển nông nghiệp với đất đai t-ới tốt, phì nhiêu, thuỷ l-ợng cao, khí hậu ẩm, hoạt động canh tác sản xuất nông nghiệp diễn ra hết sức dễ dàng Bởi vậy những bộ lạc du c- sống rải rác trên các miền khác nhau ở châu á và Đông Bắc châu Phi đã sớm phát hiện và biết lợi dụng những điều kiện tự nhiên thuận lợi đó để đến định c- ở những đồng bằng lớn và phát triển nghề nông Tại những nơi ấy, nông nghiệp đi đôi với thủ công nghiệp phát triển
Nhà n-ớc cổ đại ph-ơng Đông xuất hiện trên cơ sở sức sản xuất có phát triển nh-ng trình độ ch-a cao, “ vào khoảng thiên niên kỷ IV TCN, c- dân ven
bờ sông Nin và l-u vực sông Hoàng Hà đã bắt đầu trồng lúa với những l-ỡi cuốc bằng đá và l-ỡi cày bằng gỗ” [11:36] Bình th-ờng với những kỹ thuật thô sơ nh- vậy, con ng-ời khó v-ợt qua thời kỳ nguyên thuỷ, muốn b-ớc vào xã hội có giai cấp và nhà n-ớc thì phải có sản phẩm d- thừa th-ờng xuyên, mà
điều đó lại đòi hỏi sự xuất hiện công cụ bằng kim loại Nh-ng các c- dân ph-ơng Đông thời cổ đại chủ yếu sống bên bờ những con sông lớn, nơi mà thiên nhiên hết sức -u đãi, nơi những đồng bằng đất đai phù sa màu mỡ để gieo trồng tạo nên sản phẩm ngày càng nhiều hơn với những công cụ bằng đá, bằng gỗ và bằng đồng
Bên cạnh nghề nông là chủ yếu, c- dân ph-ơng Đông cổ đại còn biết chăn nuôi: lợn, bò, cừu… và làm các nghề thủ công nh- nghề dệt, làm gốm, hoạt động trao đổi, buôn bán cũng đã xuất hiện Giờ đây sản phẩm do con ng-ời tạo ra không những đủ nuôi sống bản thân họ mà đã có một phần d- thừa Từ nền kinh tế phát triển ở mức độ nh- vậy cũng là điều kiện cho sự bóc lột xuất hiện
Do hoạt động sản xuất nông nghiệp là cơ sở kinh tế của tất cả các quốc gia cổ đại ph-ơng Đông Cho nên để phát triển ngành kinh tế này phải dựa vào công tác thuỷ lợi, trị thuỷ làm nền tảng Công việc trị thuỷ và thuỷ lợi đòi hỏi con ng-ời phải hợp sức với nhau, phải liên kết các công xã nông thôn với nhau, bởi vì không một con sông nào chỉ chảy qua một công xã, cũng không
có một trận lụt nào chỉ lụt vài làng, muốn trị thuỷ và làm thuỷ lợi, chinh phục
Trang 2020
thiên nhiên thì một số công xã nông thôn gần gũi phải tập hợp nhau lại thành một liên minh công xã và các liên minh công xã này kết hợp với nhau hình thành nên một nhà n-ớc
Nh- vậy về cơ sở kinh tế để hình thành nhà n-ớc ở ph-ơng Đông, ngoài yếu tố kinh tế đã phát triển đến một mức độ nhất định làm xuát hiện chế độ t- hữu thì nhà n-ớc còn đ-ợc ra đời từ yêu cầu trị thuỷ, thuỷ lợi do đặc tr-ng kinh tế khu vực đòi hỏi
Về cơ sở xã hôị để hình thành nhà n-ớc ở ph-ơng Đông cổ đại, từ sự phát triển kinh tế ở các công xã nông thôn, lợi dụng sự đóng góp của các thành viên, ng-ời chỉ huy công xã chiếm một phần hoa lợi biến thành của riêng.Hơn nữa, tr-ớc đây trong các cuộc giao tranh giữa các thị tộc, do quan niệm tù binh không mang lại lợi ích gì nên việc giết các tù binh sau mỗi cuộc chiến là một hiện t-ợng phổ biến, nh-ng khi yêu cầu sức lao động lên cao, tù binh đ-ợc giữ lại làm nô lệ, họ phải phục dịch cho ng-ời chỉ huy công xã chứ không phải là lực l-ợng lao động chủ yếu nh- nô lệ ở ph-ơng Tây Chính vì vậy mà chế độ nô lệ ở các quốc gia ph-ơng Đông chỉ là nô lệ gia tr-ởng chứ không phải là chế độ nô lệ phổ biến nh- ở ph-ơng tây
Ng-ời chỉ huy công xã có của cải ngày càng nhiều, trở thành ng-ời
đứng trên công xã và tách ra khỏi cộng đồng Do sự phân công lao động ngày càng tăng mà ng-ời chỉ huy cần có sự chuyên trách vì tính chất công việc ngày càng nhiều, từ đó hình thành nên bộ phận giúp việc cho chỉ huy công xã
là tầng lớp quý tộc Tầng lớp quý tộc này chiếm thêm ruộng đất, chiếm đoạt tài sản mà nông dân công xã đóng góp và chúng trở nên giàu có còn nông dân công xã ngày càng nghèo túng và mắc nợ Vì mắc nợ nhiều nên phải gán ruộng cho nhà giàu mặc chịu phận làm nô lệ
Đó chính là sự phân hoá giàu, nghèo và các giai cấp đã ra đời có sự đối kháng sâu sắc, hình thành xã hội có giai cấp đầu tiên
Tuy nhiên trong cơ sở xã hội này ở các quốc gia cổ đại ph-ơng Đông còn có những cơ sở đặc thù để tạo nên chất men cố kết cộng đồng hình thành nên nhà n-ớc, cơ sở đặc thù đó chính là yêu cầu chống ngoại xâm
Trang 2121
Những mảnh đất màu mỡ là điều kiện sinh hoạt thuận lợi, là miếng mồi ngon thu hút sự dòm ngó của những bộ lạc du mục đang sống ở thời kỳ tan rã của chế độ công xã thị tộc muốn từ bỏ cuộc sống nay đây mai đó của mình chuyển sang lối sống định c-
Thời cổ đại hầu hết các quốc gia ph-ơng Đông đều đứng tr-ớc nguy cơ xâm nhập của các bộ lạc du mục từ bên ngoài vào và sự xâm lăng đó không chỉ đe doạ một vài công xã mà thôi Chính vì vậy muốn bảo tồn cơ sở tồn tại của mình thì các công xã nông thôn phải liên kết lại với nhau để hình thành nên sức mạnh tổng hợp chống lại kẻ thù Đó chính là yếu tố thúc đẩy sự ra đời của nhà n-ớc ở nơi đây
Có thể khái quát những cơ sở để hình thành nhà n-ớc ở các quốc gia cổ
đại ph-ơng Đông bằng nhận định của F Enghen nh- sau: “ Nhà n-ớc mà nhóm tự nhiên bao gồm những công xã trong cùng bộ lạc đã đi đến chỗ thiết lập ra quá trình tiến hoá của họ Lúc đầu chỉ có thể bảo vệ lợi ích chung (việc t-ới n-ớc và chống ngoại xâm) thì từ nay trở đi lại có luôn cả mục đích duy trì bằng bạo lực, biến những điều kiện sinh hoạt thành của riêng và sự thống trị của giai cấp thống trị chống lại giai cấp bị trị ” [17: 223]
Nh- vậy, ở ph-ơng Đông cổ đại nhà n-ớc ra đời một mặt trên những cơ
sở mang tính quy luật chung của sự hình thành nhà n-ớc đó là từ sự phát triển kinh tế dẫn đến sự xuất hiện của t- hữu và sự phân hoá xã hội thành những giai cấp đối kháng Mặt khác nó có những cơ sở khác thúc đẩy quá trình ấy nh- yêu cầu của công tác thuỷ lợi, trị thuỷ phục vụ cho sự phát triển nông nghiệp là ngành kinh tế đóng vai trò chủ yếu của đời sống xã hội Ngoài ra hoạt động chống ngoại xâm từ bên ngoài cũng là chất men liên kết các công xã với nhau để hình thành nhà n-ớc
ở ph-ơng Đông cổ đại, nhà n-ớc ra đời không phải do những đòi hỏi bức thiết của đấu tranh giai cấp trong xã hội mà nhà n-ớc ra đời tr-ớc khi xã hội có sự phân hoá rõ rệt, mâu thuẫn gay gắt, sự tồn tại của nhà n-ớc đã đáp ứng đòi hỏi của xã hội và khi đó nhà n-ớc đã có đ-ợc cơ sở kinh tế – xã hội
để tồn tại và phát triển
Trang 2222
Là một vùng đất rộng lớn, đông dân nhất vùng Nam á , nơi chứa đựng
đầy đủ nhất những nét đặc thù của xã hội ph-ơng Đông cổ đại ở ấn Độ cổ
đại, sự ra đời một nhà n-ớc cũng xuất phát từ những cơ sở mang tính quy luật chung nh-ng đồng thời cũng từ những cơ sở đặc tr-ng chỉ có ở ph-ơng Đông
và đặc biệt tại mảnh đất này một nhà n-ớc ra đời lại cũng từ cơ sở mà không một dân tộc, một nhà n-ớc nào có đ-ợc, nó cho thấy sự khác biệt, đặc thù mang đậm dấu ấn của đất n-ớc và con ng-ời ấn Độ Cũng chính điều đó đã làm cho các nhà nghiên cứu, những nhà ấn Độ học tốn không biết bao nhiêu công sức, bút mực để tìm hiểu, khám phá những nét riêng ấy, những cái đã làm nên bản sắc ấn Độ từ cổ x-a cho đến ngày nay ấn Độ cũng nh- tất cả các quốc gia trên thế giới, để hình thành một nhà n-ớc phải dựa trên những cơ
sở nhất định Nhà n-ớc ấn Độ thời cổ đại ra đời đ-ợc dựa trên những cơ sở lý luận chung cho việc hình thành một nhà n-ớc, đồng thời cũng trên những cơ
sở mang tính đặc thù của xã hội ph-ơng Đông thời cổ đại và đặc biệt là từ một cơ sở mang đậm dấu ấn ấn Độ mà không một nhà n-ớc nào có và điển hình nh- ở nơi đây
Trang 2323
Ch-ơng 3 Những cơ sở để hình thành nhà n-ớc ấn Độ thời cổ đại
3.1 Cơ sở kinh tế
3.1.1 Nền nông nghiệp và yêu cầu của công tác trị thuỷ, thuỷ lợi
ấn Độ có một vùng bình nguyên phù sa rộng lớn của thung lũng sông
ấn, sông Hằng cùng những chi l-u của chúng, là vùng khá thuận lợi cho sự sinh sống của con ng-ời và phát triển sớm nề văn minh Hai dòng sông Bắc ấn này là nơi mà các c- dân ấn Độ thời cổ đẫ quần tụ trên bến bãi phù sa của nó
để làm nông nghiệp
Ng-ời Đravida là bộ tộc di c- đến ấn Độ sớm nhất, đ-ợc xem là c- dân bản địa của mảnh đất này và ngay từ đầu họ đã bắt tay vào sản xuất nông nghiệp cùng với quá trình định c- Họ chính là chủ nhân của nền văn hoá Harapa – Môhenjôđarô ( cuối thiên niên kỷ III TCN đến đầu thiên niên kỷ II TCN), thuộc nền văn minh sông ấn
Do địa hình, khí hậu có sự phân hoá, l-ợng m-a phân bố không đều giữa các vùng nên hoạt động sản xuất nông nghiệp đ-ợc xem là nghề chính của ng-ời Đravida gặp nhiều khó khăn trong quá trình phát triển Thời kỳ này ng-ời Đravida mới sử dụng các loại công cụ sản xuất là những chiếc cuốc bằng đá và những chiếc cày bằng gỗ nh-ng sản xuất nông nghiệp của họ không chỉ đủ ăn mà bắt đầu xuất hiện của cải d- thừa
Có đ-ợc điều đó là nhờ có sự -u đãi hết sức thuận lợi của thiên nhiên, l-ợng phù sa bồi đắp cho đồng ruộng là rất lớn Hiện t-ợng lũ lụt th-ờng xuyên xảy ra và sau mỗi lần n-ớc rút đi thì một lớp phù sa để lại với bề dày
đáng kể Đất đai màu mỡ nh- thế làm cho việc canh tác, sản xuất nông nghiệp diễn ra dễ dàng hơn Điều đó cũng lý giải vì sao khi công cụ bằng kim loại ch-a xuất hiện mà kinh tế ở ấn Độ cổ đại nói riêng, ở ph-ơng Đông nói chung lại có thể phát triển đến một trình độ nhất định để hình thành đ-ợc nên văn minh của mình
Trang 2424
Tuy nhiên cũng chính vì hoạt động sản xuất nông nghiệp trồng đại mạch, tiểu mạch và cả lúa tẻ nữa là cơ sở quyết định sự sống còn của con ng-ời nơi đây, cho nên việc bảo đảm mọi điều kiện cho hoạt động sản xuất diễn ra thuận lợi, đạt năng xuất cao là một yêu cầu tối cần thiết và nó cũng quyết định trình độ phát triển của ng-ời dân ấn thời cổ
Thiên nhiên -u đãi nh-ng cũng lại vừa thử thách quyết liệt sự thích nghi
và cải tạo một con ng-ời đối với nó Sự phân hoá khí hậu trên lãnh thổ ấn Độ hết sức phức tạp, l-ợng m-a phân phối không đều và theo mùa nên không đủ cho sự phát triển nông nghiệp ở Bắc ấn l-ợng m-a và độ ẩm tăng dần về phía
Đông Do vậy việc trị thuỷ, thuỷ lợi, đắp đê, đào giếng… là công việc hàng
đầu của c- dân nông nghiệp ấn Độ
Bóng dáng của yêu cầu trị thuỷ, thuỷ lợi có thể thấy trong tổ chức quản
lý công xã nông thôn “ cơ sở của hình thức nhà n-ớc thô sơ nhất” [13:58] Yêu cầu đó không chỉ thấy ở buổi đầu khi c- dân ấn Độ cổ đại bắt đầu định c- và b-ớc vào sản xuất phục vụ nhu cầu cuộc sống của mình mà cho đến tận khi
“chính quyền chuyên chế đã xuất hiện và suy vong ở Ba T-, ấn Độ có nhiều
đến đâu chăng nữa , thì mỗi một chính quyền đó cũng biết rất rõ rằng nó tr-ớc hết là ng-ời tổng phụ trách việc t-ới n-ớc cho các thung lũng, mà nếu không
có thì ở đó không thể có một nền nông nghiệp nào hết” [13:58]
Từ sự nhận định mang tính chỉ đạo đó của C.Mac chúng ta có thể khẳng
định rằng việc một nhà n-ớc có thể ra đời đ-ợc ở ấn Độ cổ đại phải trên cơ sở thực hiện đ-ợc chức năng làm thuỷ lợi, trị thuỷ để bảo đảm cơ sở tồn tại của
nó, bởi hệ thống t-ới n-ớc là cơ sở của mùa màng
Theo các kết quả khai quật khảo cổ ở di chỉ Harapa( gần Pengiap) và Môhenjôđarô (tỉnh Sind thuộc Pakixtan) khai quật vào những năm 20 thế kỷ
XX ng-ời ta vẫn ch-a phát hiện đ-ợc và có thể là ch-a có các công trình t-ới n-ớc thời kỳ này của c- dân bản địa Đravida Mặc dù vậy, căn cứ vào trình độ phát triển văn hoá chung, căn cứ vào những di vật tìm thấy tại di chỉ khảo cổ
đó chúng ta có thể khẳng định là ng-ời Đravida (ng-ời nguyên ấn) đã b-ớc
Trang 2525
đầu biết đào m-ơng, đ-a n-ớc và ruộng, làm các công trình thuỷ lợi nhỏ,
“nhiều nhà có giếng, phòng tắm, lại có một hệ thống dẫn n-ớc phức tạp” [20:39]
Tuy nhiên những hoạt động trị thuỷ, thuỷ lợi sơ khai đó ch-a đủ sức chống lại thiên nhiên dữ dội và hậu quả là nền văn minh sông ấn này đã bị sụp đổ Nguyên nhân biến mất của nền văn minh này là gì đang còn nhiều tranh luận, nhiều ng-ời giả thiết là do hệ thống thuỷ lợi bị suy thoái hoặc bị tai hoạ lớn phá huỷ… Ví nh- “ nhà bác học Mỹ Đ.Rêkit lãnh đạo một đoàn ng-ời gồm các nhà thuỷ học và địa chất học cho là sông ấn đổi dòng do một trận
động đất tâm chấn động cách Môhenjôđarô 140km về phía Nam Núi lở ngăn sông khiến dòng chảy ng-ợc lên, bùn và n-ớc đổ vào l-u vực biến thành một
đầm cạn Nhiều đô thị bị ngập d-ới một lớp phù sa và cát dày hàng mét trong nhiều lần” [5:16]
Nhà khảo cổ Giôn Macsan(ng-ời anh) cho rằng cứ 300 năm lại có một biến thiên địa chất gây ra làm cho bùn phù sa tràn khắp đất đai C- dân
Đravida chống lại sự hung hãn của n-ớc, của những trận m-a thu dữ dội, liên miên lôi cuốn hàng vạn sinh linh theo n-ớc lũ cũng nh- những trận bão bụi
mù mịt từ các sa mạc miền Tây, miền Trung kéo về rang cháy cỏ cây và con ng-ời bắng cách đắp những con đê bằng đá cao 10m, rộng 20m Tuy nhiên l-u vực sông ấn vẫn bị tàn phá và nền văn hoá Harapa – Môhenjôđarô vẫn bị chôn vùi “ lý do là sông ấn không chảy theo dòng cũ mà đã đào một dòng chảy mới ở bên trái và lao băng băng, mạnh nh- một cột n-ớc thẳng
Trang 2626
Chính vì ch-a có một sự cấu kết giữa các bộ lạc trong thời kỳ tan rã của công xã nguyên thuỷ nên việc thất bại của c- dân Đravida tr-ớc thách thức của tự nhiên và của lịch sử là một tất yếu Và cũng chính vì thế nên nhà n-ớc theo đúng nghĩa của nó vẫn ch-a đ-ợc ra đời một cách hoàn chỉnh
Đến khi ng-ời Arian chiếm Bắc ấn ( từ thiên niên kỷ II TCN) thì nền văn minh sông Hằng (ở vùng Đông Bắc) đã thay thế nền văn minh sông ấn Cuộc xâm lăng của ng-ời Arian chỉ là một giai đoạn của trào l-u Nam tiến cứ xuất hiện đều đều “ đó là một trào l-u chính trong lịch sử nhân loại cứ nhịp nhàng lên xuống, tạo nên nhiều nền văn minh rồi lại huỷ diệt những nền văn minh đó” [20: 44], khi qua Apganixtan rồi men theo những đ-ờng tr-ờng phía Tây Hymalaya mà vào ấn Độ ở vùng Ngũ Hà và Pengiap Tại đây do thấy sự -u đãi tuyệt vời của thiên nhiên, các bộ lạc Arian bắt đầu định c-, vừa chăn nuôi, vừa trồng trọt
Ng-ời Arian chủ yếu là các bộ lạc du mục, có sức khoẻ, giỏi chinh chiến, sử dụng các loại vũ khí bằng sắt, quen c-ỡi ngựa Họ tràn vào đất ấn và
định c- trong các cộng đồng làng xã, tập hợp thành những tiểu quốc mà thực chất là những liên minh bộ lạc, sinh sống bằng nghề chủ yếu là nông nghiệp
Quá trình du mục và định c- của ng-ời Arian trên đất ấn Độ chính là quá trình hình thành nên một nền văn hoá hoàn chỉnh trên đất n-ớc này, bao gồm “ văn hoá Arian đã đ-ợc ấn Độ hoá và văn hóa ấn Độ gốc tiền Arian cũng đã đ-ợc Arian hoá làm cho nó vừa thống nhất, vừa phức tạp, tạo nên một
đặc điểm chủ yếu của nền văn hoá ấn Độ” [4: 31]
Ng-ời Arian đặt chân lên đất ấn Độ khi mà tr-ớc đó ng-ời bản địa
Đravida đã đạt đến một trình độ văn minh cao hơn nhiều so với mình nh-ng rồi nền văn minh ấy cũng bị tàn lụi Kế thừa ph-ơng thức tồn tại của ng-ời bản địa, ng-ời Arian phải tự tìm cho mình một cách thức tổ chức mới, khắc phục những gì mà ng-ời Đravida ch-a làm đ-ợc để tạo dấu ấn của mình trên mảnh đất vàng mà họ đã chọn này
Trang 2727
Yêu cầu thay đổi đó mang tính tất yếu lịch sử, đúng nh- C.Mac khẳng
định: “ Những quan hệ xã hội đều gắn liền mật thiết với những lực l-ợng sản xuất Do có những lực l-ợng sản xuất mới, loài ng-ời thay đổi ph-ơng thức sản xuất của mình và do thay đổi ph-ơng thức sản xuất, cách kiếm sống của mình, loài ng-ời thay đổi tất cả quan hệ xã hội của mình” [13: 23]
Ng-ời Arian định c- chủ yếu ở l-u vực sông Hằng, vùng này lại có l-ợng m-a lớn hơn bất cứ nơi nào trên thế giới (lên tới 3000mm3) L-ợng m-a này kết hợp với băng tuyết tan làm cho sông Hằng luôn đầy n-ớc và lụt lội th-ờng xuyên xảy ra, l-u l-ợng lên tới 73000m3/s Nơi đây từ thời cổ đã đ-ợc bao phủ bởi những cánh rừng nhiệt đới rậm rạp mà ngày nay không còn nữa,
độ ẩm ở hạ l-u rất cao, thậm chí các cây trồng -a ẩm nh-: lúa, đay, mía… có thể trồng đ-ợc ở đây mà không cần n-ớc nhân tạo, l-ợng phù sa do sông Hằng bồi đắp rất lớn, ở hạ l-u lớp phù sa dày từ 600 – 800m…
Để khẳng định sức sống của mình, c- dân Arian tìm mọi cách tận dụng tới mức tối đa những thuận lợi của tự nhiên và hạn chế tới mức thấp nhất những tai biến do chính thiên nhiên gây ra thông qua hoạt động thuỷ lợi, trị thuỷ
Họat động trị thuỷ, thuỷ lợi của ng-ời Arian đ-ợc phản ánh trong tập kinh Rig – Vêđa (có từ thiên nhiên kỷ II TCN), thời gian này thuỷ lợi có tầm quan trọng lớn Trong Rig – Vêđa còn bảo l-u những lời cầu nguyện mong các con sông dâng đầy n-ớc cho đất đai phì nhiêu, mùa màng t-ơi tốt Trong tập kinh này có nhắc đến việc “ lấy n-ớc bằng cách đào từ lòng đất” Hệ thống t-ới n-ớc làm thuỷ lợi phát triển hơn trong thời kỳ hình thành tổ chức nhà n-ớc đầu tiên
Cùng với quá trình định c- của ng-ời Arian, họat động tổ chức xã hội của họ cũng bắt đầu hình thành, chế độ công xã nông thôn hình thành một cách thuần thục hơn “ và lúc ấy sức sản xuất đã tiến lên một b-ớc mới, đồ sắt
đ-ợc sử dụng, nông nghiệp đã chiếm hẳn -u thế so với chăn nuôi, trong các ngành thủ công, ngành quan trọng nhất là nghề luyện kim và nghề dệt vải” [14: 205] Có đ-ợc điều đó là do những nhà nông học đã đ-ợc xác định đ-ợc thời tiết có tầm quan trọng nh- thế nào và l-ợng n-ớc t-ới cần thiết cho mỗi
Trang 2828
loại cây trồng Bóng dáng của yêu cầu thuỷ lợi có thể thấy trong tổ chức quản
lý của công xã, tổ chức này tồn tại từ thời cổ đại cho đến thời cận đại hầu nh- không hề thay đổi
Hoạt động thuỷ lợi đối với cuộc sống của c- dân ấn Độ đặc biệt là ng-ời Arian quan trọng tới mức mọi hoạt động sinh hoạt của con ng-ời đều gắn với sông n-ớc, gắn với con sông Hằng, từ nghi lễ cầu đảo hàng năm của c- dân ở dây, ng-ời dân đều hành h-ơng, cầu nguyện, tắm và uống n-ớc sông Hằng, gọi sông Hằng là mẹ cao cả Trong quan niệm duy vật giải thích nguồn gốc thế giới của các triết gia ấn cổ thì n-ớc luôn là yếu tố đầu tiên trong tứ
đại: N-ớc, lửa, gió và đất
Do tầm quan trọng đó mà ở ấn Độ thời cổ đại “ thuỷ lợi cũng là cơ sở của nhà n-ớc nh- các quốc gia ph-ơng Đông cổ đại khác C.Mac đã từng nhấn mạnh rằng, những điều kiện khí hậu và những đặc điểm đất đai nhất là trên khoảng rộng lớn của vùng thảo nguyên kéo dài từ Xahara, qua Arabi, Ba T-, ấn Độ… đã làm cho hệ thống t-ới n-ớc nhân tạo bằng sông đào và công trình thuỷ lợi trở thành cơ sở của nhà n-ớc ph-ơng Đông” [5 :18] Và ở ấn Độ cũng nh- ở Ai Cập, L-ỡng Hà, ng-ời ta lợi dụng mùa n-ớc lên để cho n-ớc chảy vào các kênh đào t-ới cho mùa màng
Với những họat động thuỷ lợi của c- dân Arian, họ đã làm cho nền kinh
tế ấn Độ phát triển đến mức độ cao hơn nhiều, tạo nên sự rực rỡ của nền văn minh sông Hằng, kiến lập sự thống trị của ng-ời Arian trên mảnh đất này
Do đã biết sử dụng công cụ lao động bằng sắt nên cùng với sự thuận lợi của điều kiện tự nhiên, nền sản xuất nông nghiệp đã đạt đến trình độ phát triển cao, sự phù trợ của công tác thuỷ lợi, trị thuỷ đạt ở mức độ cao hơn thời kì của c- dân nguyên ấn, sản phẩm d- thừa đã ở mức lớn hơn nhiều Đó là cơ sở làm nảy sinh chế độ t- hữu trong các công xã nông thôn, các tiểu quốc Thủ công nghiệp và việc trao đổi cũng phát đạt hơn tr-ớc rất nhiều, nghề luyện kim và nghề dệt vải sản xuất ra ngày càng nhiều sản phẩm phục vụ cho tiêu dùng trong sinh hoạt “ Tại các châu thành có thợ thủ công độc lập và những