Vì vậy, nghiên cứu về "Tác động cuả Chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954 và chiến thắng Điện Biên Phủ đến Hội nghị Giơnevơ về vấn đề chấm dứt chiến tranh và lập lại hoà bình ở Đông D-ơng" sẽ
Trang 1Tr-ờng Đại học Vinh
Khoa Lịch sử &&&
Lê Văn Phong
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Tác động của Chiến cuộc Đông - Xuân 1953 - 1954
và chiến thắng Điện Biên Phủ đến Hội nghị Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại
Trang 2Lời cảm ơn
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Nguyễn Thị Bình Minh và các thầy cô
giáo khoa Lịch sử, tr-ờng Đại học Vinh, đã nhiệt tình giúp đỡ em trong quá
trình làm khoá luận tốt nghiệp Mặc dù có nhiều cố gắng, nh-ng do khả năng
nghiên cứu có hạn, khoá luận không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong
đ-ợc sự góp ý, chỉ bảo của các thầy cô giáo và các bạn
Em xin chân thành cảm ơn
Vinh, tháng 5 năm 2005
Lê Văn Phong
Mục lục
Trang 3mở đầu
tra ng
Ch-ơng 1 : Khái quát cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp,
từ ngày 19 tháng 12 năm 1946 đến tr-ớc chiến cuộc Đông Xuân
1953 - 1954
1.1 Kháng chiến bùng nổ và đ-ờng lối kháng chiến
1.2 Những thắng lợi trên mặt trận quân sự
1.3 Những thắng lợi trên mặt trân ngoại giao
Chuơng 2 : Tác động của chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954
và chiến dịch Điện Biên Phủ đến Hội nghị Giơnevơ về chấm dứt
chiến tranh và lập lại hoà bình ở Đông D-ơng
2.1 Chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954 và chiến dịch Điện Biên
Trang 4mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Trong suốt chiều dài lịch sử dựng n-ớc và giữ n-ớc, dân tộc ta phải đ-ơng
đầu với nhiều cuộc chiến tranh xâm l-ợc của các thế lực đế quốc to lớn và
hung bạo ở mọi thời đại Với truyền thống yêu n-ớc, bất khuất, quật c-ờng,
nhân dân ta đã chiến đấu và chiến thắng, đ-a dân tộc b-ớc lên ngang tầm thời
đại, có nhiều đóng góp vào sự nghiệp cách mạng thế giới Chiến tranh nhân
dân Việt Nam đã trở thành huyền thoại của thế kỷ XX khi đất n-ớc bé nhỏ ấy
đánh bại hai c-ờng quốc đế quốc là Pháp và Mỹ Với thế trận chiến tranh nhân
dân mà ở đó sức mạnh chính trị, quân sự, ngoại giao đã đ-ợc tổng hợp, phát
huy hơn bao giờ hết, kết thành sức mạnh to lớn của chủ nghĩa dân tộc Việt
nam , trở thành một động lực vĩ đại mà không một thế lực đế quốc nào có thể
khuất phục đ-ợc
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: Thực lực là cái chiêng, ngoại giao là cái
tiếng Cái chiêng có to thì cái tiếng mới lớn Điêù đó đã nói lên mối quan hệ
khăng khít giữa đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao và vai trò to lớn
của đấu tranh quân sự trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu
n-ớc Vì vậy, nghiên cứu về "Tác động cuả Chiến cuộc Đông Xuân 1953 -
1954 và chiến thắng Điện Biên Phủ đến Hội nghị Giơnevơ về vấn đề chấm dứt
chiến tranh và lập lại hoà bình ở Đông D-ơng" sẽ giúp chúng ta hiểu sâu hơn
về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp; làm rõ hơn mối quan hệ khăng
khít giữa đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao trong thời kỳ này, để từ
đó khẳng định tầm vóc to lớn của chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ Hơn 50
năm đã trôi qua, nh-ng thời gian lại càng làm sáng rõ nhiều vấn đề về chiến
thắng vĩ đại Điện Biên Phủ, về nghệ thuật chỉ đạo quân sự, ngoại giao của
Đảng, về Hội nghị Giơnevơ Do đó, tìm hiểu về "Tác động cuả Chiến cuộc
Đông Xuân 1953 - 1954 và chiến thắng Điện Biên Phủ đến Hội nghị Giơnevơ
về chấm dứt chiến tranh và lập lại hoà bình ở Đông D-ơng" vẫn mang ý nghĩa
thời sự nóng hổi
Trang 5Từ những lý do trên, chúng tôi đã mạnh dạn chọn đề tài "Tác động của
Chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954 và chiến thắng Điện Biên Phủ đến Hội
nghị Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh và lập lại hoà bình ở Đông D-ơng "
làm khoá luận tốt nghiệp
2 Lịch sử vấn đề
Đề tài "Tác động của Chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954 và chiến thắng
Điện Biên Phủ đến Hội nghị Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh và lập lại hoà
bình ở Đông D-ơng", nhằm làm rõ hơn mối quan hệ giữa đấu tranh quân
sự với đấu tranh ngoại giao và vai trò của đấu tranh quân sự trong cuộc
kháng chiến chống Pháp Đây là một trong những vấn đề lịch sử rất cơ
bản và lý thú, thu hút nhiều nhà nghiên cứu quan tâm.Vì vậy đã có
những công trình nghiên cứu, sách, báo, tạp chí đề cập tới ở những mức
độ khác nhau Nhất là trong dịp kỷ niệm 50 năm chiến thắng lịch sử
Điện Biên Phủ đã có rất nhiều hội thảo trong và ngoài n-ớc với nhiều bài
viết có giá trị Những công trình đó đã làm sáng tỏ hơn nhiều vấn đề của
chiến thắng Điện Biên Phủ và ý nghĩa thời đại, ảnh h-ởng to lớn của nó.,
về mặt trận ngoại giao và hội nghị Giơnevơ về Đông D-ơng Đó là
những thành quả để chúng tôi kế thừa và vận dụng trong quá trình thực
hiện đề tài
Tác phẩm "T- t-ởng ngoại giao của Hồ Chí Minh" của tác giả Nguyễn Duy
Niên đã đề cập tới đ-ờng lối, sách l-ợc, nghệ thuật và ph-ơng pháp ngoại giao
Hồ Chí Minh một cách khái quát, có ý nghĩa lý luận sâu sắc
Trong tác phẩm "Tổng kết kháng chiến chống Pháp- thắng lợi và bài học"
cũng đã trình bày một cách khái quát những vấn đề cơ bản của cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp: Nguyên nhân, các giai đoạn của cuộc kháng
chiến, đ-ờng lối kháng chiến Trong đó cũng đã khái quát về những thắng lợi
to lớn trên cả hai mặt trận quân sự và ngoại giao trong từng giai đoạn lịch sử
của cuộc kháng chiến
Trang 6Ngoài ra gần đây, có nhiều bài khóa luận tốt nghiệp viết về giai đoạn lịch sử
này nh- bài "ngoại giao Việt Nam từ năm 1950 - 1954" hay "Dĩ bất biến ứng
vạn biến" của tác giả Nguyễn Thị Hà,
Nhìn chung, trong các công trình nghiên cứu trên, các tác giả mới chỉ
đ-a ra đ-ợc mặt này hay mặt kia với những nhận định mang tính khái
quát, tổng hợp Cho đến nay chứ ch-a có một công trình nghiên cứu nào
đi sâu tìm hiểu để làm nổi bật tác động của Chiến cuộc Đông Xuân 1953
- 1954 và chiến thắng Điện Biên Phủ đến Hội nghị Giơnevơ
Nh-ng, trên cơ sở thừa kế các thành quả nghiên cứu, đồng thời dựa vào
một phần sự hiểu biết và đam mê của bản thân tác giả sẽ cố gắng giải
quyết vấn đề khoa học này mà ch-a đ-ợc làm sáng tỏ
3 Đối t-ợng và phạm vi nghiên cứu
Đối t-ợng nghiên cứu:" Tác động của Chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954
và chiến thắng Điện Biên Phủ đến Hội nghị Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh
và lập lại hoà bình Đông D-ơng"
Phạm vi nghiên cứu: Về phạm vi không gian đề tài tập trung làm sáng tỏ:
"Tác động của Chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954 và chiến thắng Điện Biên
Phủ đến Hội nghị Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh và lập lại hoà bình ở
Đông D-ơng"
Về phạm vi thời gian: từ ngày 19 tháng 12 năm 1946 đến ngày 21
tháng 7 năm 1954'
4 Ph-ơng pháp nghiên cứu
Cơ sở ph-ơng pháp luận của đề tài: lí luận chủ nghĩa Mác - Lênin, t- t-ởng
Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về công tác nghiên cứu khoa học
Ph-ơng pháp nghiên cứu: trong suốt quá trình nghiên cứu khoá luận, đề tài
ngoài việc sử dụng ph-ơng pháp lịch sử và ph-ơng pháp lôgic còn sử dụng các
ph-ơng pháp bổ trợ khác nh- mô tả, nhận xét
5 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục khoá luận gồm 2 ch-ơng
Trang 7Ch-ơng 1 Khái quát cuộc kháng chiến chống Pháp từ ngày toàn quốc
kháng chiến (19/12/1946) đến tr-ớc Chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954
Ch-ơng 2 Tác động của Chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954 và chiến
thắng Điện Biên Phủ đến Hội nghị Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh và lập lại
hoà bình ở Đông D-ơng
Trang 8Ch-ơng 1:
Khái quát cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp từ ngày Toàn quốc
kháng chiến (19/12/1946) đến tr-ớc Chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954
1.1 Kháng chiến toàn quốc bùng nổ và đ-ờng lối kháng chiến
1.1.1 Kháng chiến toàn quốc bùng nổ
Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, n-ớc Việt Nam Dân chủ Cộng
hoà ra đời đã mở ra cho lịch sử dân tộc một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc
lập dân tộc, đ-a nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành ng-ời làm chủ đất
n-ớc Nh-ng ngay sau khi mới thành lập, Nhà n-ớc còn rất non trẻ của chúng
ta đã đối mặt với những khó khăn chồng chất: Giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại
xâm Cách mạng Việt Nam bị hãm trong vòng vây trùng điệp của chủ nghĩa
đế quốc Ch-a bao giờ trong lịch sử dân rộc, cùng một lúc phải đối phó với
nhiều kẻ thù, lại là những đế quốc to lớn, hung bạo Đó là 20 vạn quân T-ởng,
tay sai của Mỹ ở miền Bắc Từ vĩ tuyến 16 trở vào Nam là thực dân Anh Ngày
23/9/1945, đ-ợc quân Anh hỗ trợ, thực dân Pháp nổ súng ở Nam Bộ, mở màn
cuộc chiến tranh xâm l-ợc Việt Nam lần thứ hai Lợi dụng tình thế ấy, các thế
lực tay sai nh- : Việt Cách, Việt Quốc, Đại Việt đã ngóc đầu dậy cấu kết với
các thế lực bên ngoài nhằm chống phá nhằm bóp chết chính quyền cách
mạng non trẻ, bóp chết những thành quả Cách mạng Tháng Tám năm 1945,
tiếp tục nô dịch dân tộc ta, nhân dân ta Về mặt ngoại giao, ch-a có một quốc
gia nào trên thế giới cộng nhận nền độc lập và chính thể n-ớc Việt Nam Dân
chủ Cộng hoà Quả thật "ch-a bao giờ trên đất n-ớc ta có nhiều kẻ thù đến thế
hiểm hoạ đất n-ớc nh- ngàn cân treo sợi tóc Đây là một tình thế đặc biệt
hiểm nghèo của cách mạng n-ớc ta " [1;39]
Đứng tr-ớc tình thế đó, Đảng và Chính phủ, đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí
Minh, đã thực hiện những chính sách và biện pháp đúng đắn, sáng tạo để đ-a
con thuyền cách mạng v-ợt qua bão tố Tr-ớc 6/3/1946, ta chủ tr-ơng hoà
hoãn với quân T-ởng ở miền Bắc để tập trung lực l-ợng đánh Pháp ở miền
Nam Từ ngày 6/3/1946, ta lại thực hiện sách l-ợc hoà hoãn với Pháp Đảng,
Chính phủ và Hồ Chí Minh đã tiến hành nhiều cuộc đàm phán và ký kết các
Trang 9hiệp định nh- : Hiệp định Sơ bộ (6/3/1946), Tạm -ớc (14/9/1946) Với các
hiệp định này, ta đã có những nhân nh-ợng cần thiết nhằm cứu vãn hoà bình
Nh-ng Đảng và Chính phủ ta cũng nhận định: Không thể dựa vào sơ bộ ngày
6/3/1946 để mang lại hoà bình cho dân tộc, mà đó chỉ là b-ớc hoà hoãn tranh
thủ thời gia hoà bình để chuẩn bị lực l-ợng
Đúng nh- vậy, sau khi mang quân ra miền Bắc, thực dân Pháp đã không
thực thi những gì đã cam kết, mà nhanh chóng bội -ớc lấn dần từng b-ớc ở
miền nam, chúng thành lập " Nhà n-ớc Nam Kỳ tự trị " thuộc Pháp, mở rộng
đánh chiếm ra các vùng tự do nhằm bình định toàn bộ miền Nam Việt Nam
ở miền Bắc, chúng ngày càng ngang ng-ợc khiêu khích trắng trợn
Ngày18/12/1946, sau hàng loạt hành động khiêu khích ta ngay giữa Thủ đô
Hà Nội, chúng gửi tối hậu th- đòi ta giải tán lực l-ợng tự vệ và giao cho
chúng quyền kiểm soát Thủ đô
''Chúng ta thực lòng muốn tránh đổ máu, tìm hết cách đẩy lùi cuộc chiên
tranh, chúng ta nhiều lần nhân nh-ợng , nh-ng chúng ta càng nhân nh-ợng
thực dân Pháp càng lấn tới'' [1;40]
Tối hậu th- của thực dân Pháp đã đặt nhân dân Việt Nam đứng tr-ớc sự
lựa chọn giữa một trong hai con đ-ờng: hoặc là nhân nh-ợng thêm một b-ớc
nữa để dân tộc ta lai tiếp tục chịu kiếp ngựa trâu cho thực dân đế quốc; hoặc là
toàn thể quốc dân đồng bào ta đứng lên cầm vũ khí chống lại thực dân Pháp
bảo vệ độc lập dân tộc, bảo vệ thành quả của Cách mạng Tháng Tám '' Dân
tộc Việt Nam nay bị đặt tr-ớc hai con đ-ờng: Một là khoanh tay cuối đầu
làm nô lệ; Hai là đấu tranh đến cùng để giành lấy độc lập ,tự do''
Tr-ớc tình thế lâm nguy của vận mệnh Tổ quốc, sau khi mọi sự cố gắng tìm
kiếm hoà bình không có kết quả vì tham vọng của thực dân Pháp, kế thừa
truyền thống đánh giặc giữ n-ớc của dân tộc, căn cứ vào điều kiện cụ thể của
đất n-ớc,Đảng ta đứng đầu là Hồ Chủ Tịch, thể theo ý chí và quyết tâm của
toàn dân đã quyết đinh phát động toàn quốc kháng chiến Ng-ời nói:Đồng bào
tôi và tôi thành thực muôn hoà bình , chúng tôi không muốn chiến tranh Tôi
biết là nhân dân Pháp không muốn chiến tranh Cuộc chiến tranh này chúng
Trang 10tôi muốn tránh đủ mọi cách Nh-ng nếu cuộc chiến tranh ấy ng-ời ta buộc
chúng tôi phải làm thì chúng tôi làm" [ ]
Đêm 19/12/1946, Hồ Chí Minh đọc "Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến" -
kháng chiến toàn quốc bùng nổ, bắt đầu từ Thủ đô Hà Nội
" Chúng ta muốn hoà bình , chúng ta phải nhân nh-ợng Nh-ng chúng
ta càng nhân nh-ợng thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm c-ớp
n-ớc ta một lần nữa !
Không ! chúng ta thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất n-ớc,
nhất định không chịu làm nô lệ Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên!" "
Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là lời hịch
cứu n-ớc, lời kêu gọi thiêng liêng của non sông đất n-ớc, thôi thúc, dục dã và
soi đ-ờng cho nhân dân ta đứng lên kháng chiến vì độc lập, tự do
Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
phát động toàn quốc kháng chiến vào ngày 19 tháng 12 năm 1946 là một
quyết định lịch sử kịp thời, đúng đắn sáng tạo, tạo điều kiện cho cả n-ớc giành
thế chủ động khi bắt đầu cuộc chiến tranh Đại t-ớng Võ Nguyên Giáp nhận
định rằng: Việc quyết định phát động toàn quốc kháng chiến ngày 19 tháng 12
năm 1946 đó là một quyết định chính xác kịp thời sáng tạo Với quyết định đó
ta đã giành đ-ợc -u thế về mặt tinh thần là lợi thế duy nhất mà ta có đ-ợc khi
phát động chiến tranh
Với quyết định lịch sử đó đã chấm dứt giai đoạn đàm phán ngoại giao giữa
ta và Pháp, mở ra một giai đoạn mới với sự kết hợp chật chẽ giữa đấu tranh
quân sự và đấu tranh ngoại giao của cuộc kháng chiến, trong tình thế một
mình chiến đấu giữa vòng vây của cách mạng Việt Nam
1 1.2 Đ-ờng lối kháng chiến
Khi bắt đầu cuộc kháng chiến, so sánh t-ơng quan lực l-ợng giữa ta và
thực dân Pháp rất chênh lệch Về mặt ngoại giao, Chính phủ Việt Nam dân
chủ cộng hoà ch-a nhận đ-ợc sự công nhận cũng nh- giúp đỡ của các lực
l-ơng dân chủ bên ngoài và đang bị các lực l-ợng đế quốc và tay sai bao vây,
cô lập Thực lực kinh tế, quốc phòng của ta còn nghèo nàn, lạc hậu Trong khi
đó, thực dân Pháp lại có tiềm lực kinh tế, quân sự hiện đại, có kinh nghiệm
Trang 11xâm l-ợc Vì vậy, để cuộc kháng chiến đi đến thắng lơị phải có một đ-ờng
lối kháng chiến đúng đắn, phù hợp với điều kiện lịch sử Đó là nhân tố rất
quan trọng quyết định thành bại của cuộc kháng chiến
Nhận rõ điều đó, Đảng ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra đ-ờng
lối kháng chiến chống thực dân Pháp Chỉ thị "Kháng chiến kiến quốc" ngày
25 tháng 11 năm 1945 đã xác định kẻ thù chủ yếu, kẻ thù chính của nhân dân
ta là "bọn phản động thực dân Pháp xâm lăng", đồng thời nêu rõ nhiệm vụ của
nhân dân ta là phải hoàn thành giải phóng dân tộc bảo vệ thành quả của Cách
mạng Tháng Tám
Tiếp đó, ngày 5 tháng 11 năm 1946, Hồ Chí Minh viết chỉ thị "Công việc
khẩn cấp bây giờ" đã đặt cơ sở vững chắc cho đ-ờng lối kháng chiến sau này
Ngày 19 tháng 12 năm 1946, trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ nguyên nhân của cuộc kháng chiến và nêu
quyết tâm "thà hi sinh tất cả chứ không chịu mất nứơc, nhất định không chịu
làm nô lệ", đồng thời cũng nêu lên nội dung cơ bản của đ-ờng lối kháng
chiến: toàn dân, toàn diện, tr-ờng kỳ và tự lực cánh sinh
Ngày 22 tháng 12 năm 1946, Ban Th-ờng vụ Trung -ơng Đảng đã ra chỉ thị
"Toàn dân kháng chiến" Qua bản chỉ thị này đã nêu nổi bật những vấn đề cơ
bản về mục đích, tính chất, chính sách, cách đánh để tiến hành kháng chiến
Tiếp theo, Tổng Bí th- Đảng Tr-ờng Chinh đã viết một loạt bài để giải thích
đ-ờng lối kháng chiến của Đảng, đăng liên tiếp trên báo Sự thật và sau đó
đ-ợc xuất bản thành sách " Kháng chiến nhất định thắng lợi" vào năm 1947
Qua những chỉ thị, tác phẩm trên, nội dung đ-ờng lối kháng chiến bao gồm
những vấn đề sau:
Mục đích kháng chiến: Cách mạng tháng Tám thành công, chính quyền
về tay nhân dân Ng-ời dân Việt Nam thực sự trở thành chủ nhân của đất
n-ớc Nh-ng thực dân Pháp đã tiến hành vũ trang xâm l-ợc n-ớc ta một lần
nữa, n-ớc ta ch-a đ-ợc độc lập và thống nhất hoàn toàn Chế độ dân chủ cộng
hoà ch-a đ-ợc vững chắc và ch-a hoàn chỉnh Vì vậy, kháng chiến là để hoàn
thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc và phát triển chế độ dân chủ nhân dân, bảo
vệ thành quả và kế tục sự nghiệp của Cách mạng Tháng Tám
Trang 12Tính chất của cuộc kháng chiến: Cuộc kháng chiến của quân và dân ta
là cuộc kháng chiến cứu n-ớc vĩ đại Bởi thế, nó mang tính chất của một cuộc
chiến tranh chính nghĩa chống lại cuộc chiến tranh xâm l-ợc phi nghĩa của đế
quốc và thực dân, điều đó đã thế hiện qua các mặt sau đây: Đây là cuộc chiến
tranh yêu n-ớc hoàn thành giải phóng dân tộc và bảo vệ độc lập dân tộc.Đồng
thời, cuộc chiến tranh này nhằm bảo vệ và xây dựng chế độ mới - chế độ dân
chủ cộng hoà để tiến tới xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản; Nó là
cuộc chiến tranh có sự liên minh giữa ba dân tộc Việt Nam, Lào, Campuchia
đ-ợc nhân loại tiến bộ trên thế giới ủng hộ nhiệt tình Điều đó biểu hiện tình
đoàn kết quốc tế trong sáng Là một bộ phận của cuộc chiến tranh cách mạng
mà nhân loại tiến bộ trên thế giới đang đấu tranh bảo vệ hoà bình thế giới, vì
thế cuộc chiến tranh này đã góp phần bảo vệ hoà bình trong khu vực và trên
thế giới
Nhiệm vụ của cuộc kháng chiến: Một là, tập trung lực l-ợng đánh đuổi
bọn thực dân Pháp cùng với bè lũ tay sai của chúng giành độc lập dân tộc
thống nhất tổ quốc Đây là nhiệm vụ hàng đầu, là nhiệm vụ vô cùng to lớn
Hai là, sau khi đã thực hiện đựơc nhiệm vụ giải phóng dân tộc sẽ tiến hành
thực hiện triệt để nhiệm vụ dân chủ xóa bỏ mọi tàn d- của chế độ cũ xây dựng
một chế độ mới, thực hiện khẩu hiệu " ng-ời cày có ruộng.Tiếp tục thực hiện
tốt nhiệm vụ củng cố vững chắc khối liên minh công nông Ba là, cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp của dân tộc ta góp phần vào cuộc đấu tranh chung
của nhân loại nhằm chống chiến tranh bảo vệ hoà bình trên thế giới cổ vũ và
thúc đẩy các phong trào đấu tranh và giải phóng dân tộc
Ph-ơng châm kháng chiến: Kháng chiến toàn dân, đây là nội dung t-
t-ởng chiến tranh nhân dân đã đ-ợc Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên
T- t-ởng chiến tranh nhân dân là t- t-ởng chỉ đạo và xuyên suốt trong mọi
chủ tr-ơng chính sách của Đảng để xây dựng, phát triển lực l-ợng kháng
chiến Nó có tác dụng động viên quần chúng để thực hiện cuộc kháng chíên vì
mục đích giải phóng dân tộc và dân chủ T- t-ởng này còn thể hiện sự kết hợp
cuộc đấu tranh giành độc lập hoàn toàn, giành quyền tự do dân chủ thực sự
của nhân dân Việt Nam Nó thể hiện đ-ợc tình đoàn kết của toàn dân tộc đoàn
Trang 13kết quốc tế của Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam trong khi tiến hành
kháng chiến để nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp cho cuộc kháng chiến giành
thắng lợi hoàn toàn Với t- t-ởng này, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp
tục kế thừa những bài học từ Cách mạng Tháng Tám rằng tin t-ởng vào lực
l-ợng của quần chúng, tin t-ởng vào sức mạnh của nhân dân, của dân tộc
Kháng chiến toàn diện, thực dân Pháp vũ trang xâm l-ợc n-ớc ta Chúng
tiến hành chiến tranh trên mọi lĩnh vực: quân sự, kinh tế, chính trị, văn hoá,
Vì thế, để tiến hành kháng chiến chống thực dân Pháp, ta cũng phải kháng
chiến trên mọi lĩnh vực, nhằm phát huy mọi khả năng, phát huy mọi sức
mạnh, sử dụng và kết hợp mọi hình thức đâu tranh, liên hiệp với mọi lực l-ợng
cách mạng và tiến bộ trên thế giới để đánh bại kẻ thù
Tr-ờng kì kháng chíên, từ so sánh lực l-ợng giữa ta và địch, Đảng ta đã đề
ra ph-ơng châm tr-ờng kì kháng chíên để đối phó với âm m-u "đánh nhanh
thắng nhanh" của kẻ thù Tr-ờng kì kháng chiến là chiến l-ợc của chiến tranh
nhân dân Việt Nam chống kẻ thù xâm lựơc có -u thế về sức mạnh quân sự,
nên tr-ờng kì kháng chiến là nhằm mục đích vừa đánh vừa xây dựng lực
l-ợng, vừa bồi d-ỡng sức dân, củng cố hậu ph-ơng Tr-ờng kì là để đánh
thắng từng b-ớc, đánh bại từng kế hoạch của địch để cuối cùng chiến thắng kẻ
thù xâm l-ợc
Tự lực cánh sinh là chính, t- t-ởng này nhằm khơi dậy truyền thống yêu
n-ớc, tránh t- t-ởng ỷ lại vào bên ngoài, đồng thời t- t-ởng này ra đời trong
hoàn cảnh đất n-ớc ta chiến đấu trong vòng vây của kẻ thù, ch-a có một dân
tộc nào, một quốc gia nào trên thế giới công nhận chính phủ Việt Nam dân
chủ cộng hoà Tuy đ-a ra t- t-ởng tự lực cánh sinh, nh-ng chúng ta cũng phải
tranh thủ sự giúp đỡ của bên ngoài khi có điều kiện
Đ-ờng lối kháng chiến do Đảng, Chính phủ và Hồ Chí Minh đề ra là hết
sức đúng đắn, sáng tạo và kịp thời Đây là một thành công lớn, là một nhân tố
đảm bảo cho cuộc kháng chiến giành thắng lợi cuối cùng có ý nghĩa to lớn
cho cả quá trình kháng chiến chống thực dân pháp, đồng thời nó là nhân tố
quyết định đến thắng lợi to lớn trong cuộc kháng chiến của nhân dân ta sau
này
Trang 141.2 Những thắng lợi về mặt trận quân sự
1.2.1 Cuộc chiến đấu ở các đô thị năm 1946
Đêm 19/12/1946, cuộc chiến đấu ở các đô thị bùng nổ mở đầu cho cuộc
kháng chiến chống Pháp trong toàn quốc Ta đã chủ động nổ súng tấn công
trứơc, tạo thế bất ngờ, rồi liên tục tiêu hao sinh lực địch, giam chân chúng ở
trong các đô thị nhằm tạo điều kiện cho cơ quan đầu não và lực l-ợng của ta
về căn cứ địa Việt Bắc an toàn, đồng thời để cho cả n-ớc đi vào kháng chiến
lâu dài Những thắng lợi của ta ở đô thị đã bứơc đầu làm phá sản kế hoạch
"đánh nhanh thắng nhanh" cuả thực dân Pháp, đồng thời tạo ra b-ớc ngoặt cho
cuộc kháng chiến, tạo cơ sở cho những thắng lợi to lớn sau này
1.2.2 Chiến thắng Việt Bắc năm 1947
Sau khi đã chiếm đ-ợc các đô thị lớn, các đầu mối giao thông, nh-ng thực
dân Pháp vẫn không thực hiện đ-ợc âm m-u tiêu diệt lực l-ợng vũ trang và cơ
quan đầu não của ta kết thúc chiến tranh Để thực hiện âm m-u đó, tháng 4
năm 1947, chính phủ Ramadie đã cử Bôlaec sang làm Cao uỷ Pháp ở Đông
D-ơng thay cho Đácgiăngliơ Sau khi đến Đông D-ơng, Bôlaec đã tiến hành
tập hợp các phần tử tay sai để nhằm lập ra cái gọi là "Mặt trận quốc gia thống
nhất", tiến tới thành lập một chính phủ bù nhìn trung -ơng làm tay sai cho
Pháp hòng lừa bịp d- luận Đồng thời, Bôlaec vạch ra kế hoạch tấn công lên
căn cứ điạ cách mạng Việt Bắc nhằm kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh xâm
l-ợc Việt Nam.Tấn công Việt Bắc, âm m-u của thực dân Pháp là:
Phá căn cứ địa chính của nứơc ta, tiêu diệt cơ quan đầu não của ta, tiêu
diệt lực l-ợng cách mạng, chiếm đóng vùng biên giới Việt Trung, ngăn chặn
con đ-ờng liên lạc quốc tế của cách mạng n-ớc ta
Phá hoại hậu ph-ơng kháng chiến của ta nh- các cơ sở kinh tế các kho
tàng, các nhà máy,
Giành thắng lợi về mặt quân sự sẽ tập hợp đ-ợc lực l-ợng bọn tay sai,
thành lập đ-ợc một chính phủ bù nhìn thân Pháp
Để thực hiện âm m-u nói trên, thực dân Pháp đã huy động 12 000 quân,
chia làm ba h-ớng bao vây và tấn công Việt Bắc Tr-ớc âm m-u và cuộc tấn
Trang 15công quy mô lớn của thực dân Pháp Từ ngày 27 - 29/9/1947, Hội nghị Quân
sự toàn quốc lần thứ t- đã nhận định: " Bắc Bộ sẽ là chiến tr-ờng chính, nếu
địch không mạo hiểm thì đánh đồng bằng, nếu mạo hiểm thì chúng sẽ đánh
Việt Bắc" Hội nghị chủ tr-ơng nắm vững bộ đội, giữ gìn chủ lực, tiêu diệt
từng bộ phận quân địch, bảo vệ căn cứ; thực hiện phối hợp giữa các khu và
phối hợp chiến l-ợc toàn quốc, phá tan âm m-u lập nguỵ quyền của địch; kiên
quyết thực hiện đánh du kích chiến và vận động chiến, "dùng đơn vị bộ đội để
hoạt động trên chiến tr-ờng của mỗi địa ph-ơng", "tập trung từng tiểu đoàn cơ
động đánh vận động chiến", "tránh phòng ngự chính diện, bộ đội phải ở lại
sau l-ng địch, hoá chỉnh vi linh, hoá linh vi chỉnh, hoá trang lẫn vào dân khi
cần', " bao giờ cũng lấy bảo tồn lực l-ợng chứ không phảo giữ đất làm chủ"
[17; 47)
Ngày 15 tháng 10 năm 1947, Th-ờng vụ Trung -ơng Đảng ra chỉ thị "Phải
phá tan cuộc tấn công mùa đông của giặc Pháp" Chỉ thị nêu rõ "giam chân
địch tại mâý căn cứ chúng vừa chiếm, bao vây những căn cứ đó, chặt đứt
giao thông liên lạc giữa các căn cứ điểm của địch và không cho chúng tiếp tế
với nhau phải giữ gìn chủ lực, nh-ng đồng thời cũng phải nhằm những chỗ
yếu của địch mà đánh, đánh những trận vang dội, những trận tiêu diệt" [ ]
Những vấn đề lớn của ta là đánh địch nh- thế nào? Thực tế chiến tr-ờng
cũng nh- kế hoạch hành quân của địch cho thấy: ta không thể đ-a bộ đội chủ
lực quy mô lớn ra đối mặt với pháo binh cơ giới của địch Nghiên cứu thế và
lực của ta và địch trên chiến tr-ờng, Bộ Tổng chỉ huy quyết định tập trung
khoảng 20 tiểu đoàn chủ lực hình thành nên 3 mặt trận Dùng lực l-ợng nhỏ là
chủ yếu, dùng chiến thuật phục kích là chủ yếu, đánh thẳng vào nh-ợc điểm
cơ bản của địch là phải cơ động tiếp tế tăng viện bằng đ-ờng và đ-ờng thuỷ
trên một kkhông gian rộng, rừng núi hiểm trở Bằng ph-ơng pháp tác chiến
này, ta sẽ vô hiệu hoá, tiến tới bẻ gãy từng gọng kìm của địch
Để phối hợp và giúp sức cho hoạt động của các tiểu đoàn chủ lực, Bộ Tổng
chỉ huy điều một số đại đội độc lập về các huyện trọng điểm của miền Bắc,
làm hạt nhân cho phong trào chiến tranh du kích Ph-ơng châm " đại đội độc
lập - tiểu đoàn tập trung" bắt đầu đ-ợc thử nghiệm
Trang 16Thực hiện chỉ thị của Trung -ơng Đảng, trải qua 75 ngày đêm chiến đấu từ
ngày 7 tháng 10 năm 1947 đến ngày 21 tháng 12 năm 1947, quân và dân ta đã
đập tan cuộc tiến công chiến l-ợc đại quy mô của địch, giành thắng lợi vẻ
vang Việt Bắc thực sự trở thành "mồ chôn giặc Pháp"
Với chiến thắng Việt Bắc thu đông 1947, quân và dân ta đã loại khỏi vòng
chiến đấu hàng ngàn quân địch, phá huỷ và thu nhiều ph-ơng tiện chiến tranh
của chúng Cơ quan đầu não của ta, bộ đội chủ lực của ta chẳng những không
bị tiêu diệt mà còn phát triển về mọi mặt, tr-ởng thành qua thực tiễn chiến
tranh đ-ợc tôi luyện trong chiến đấu
Thắng lợi này có ý nghĩa vô cùng quan trọng, nó thể hiện sự phát triển về
chất của cuộc kháng chiến Chiến thắng Việt Bắc là một đòn quyết định làm
thất bại hoàn toàn chiến l-ợc "đánh nhanh thắng nhanh" của thực dân Pháp,
buộc chúng phải chuyển sang đánh lâu dài với ta, là mốc khởi đầu cho sự thay
đổi so sánh lực l-ợng giữa ta và địch
1;2;3 Chiến thắng Biên giới Thu - Đông 1950
Sau chiến dịch Việt Bắc đến tr-ớc thu đông 1950, tình hình thế giới cũng
nh- trong n-ớc có nhiều thuận lợi cho cuộc kháng chiến của nhân dân ta
Cách mạng Trung Quốc thắng lợi, n-ớc Cộng hoà Dân chủ Nhân dân
Trung Hoa ra đời (1/10/1949 Thực dân Pháp thì đang gặp nhiều khó khăn và
thách thức trứơc cuộc kháng chiến của nhân dân Đông D-ơng, phải dựa vào sự
viện trợ của Mỹ, lệ thuộc vào Mỹ để tiếp tục thực hiện cuộc chiến tranh "bẩn
thỉu" của chúng ở Đông D-ơng
Trong lúc này, sau khi cách mạng Trung Quốc thành công, đế quốc Mỹ đã
thay đổi chiến l-ợc toàn cầu từ Tây âu sang Châu á Thái Bình D-ơng Để
ngăn ngừa sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội ở Đông Nam á, Mỹ đã can thiệp
vào cuộc chiến tranh ở Đông D-ơng, viện trợ cho pháp, công nhận chính
quyền Bảo Đại (7/2/1950) Ngày 8 tháng 5 năm 1950, Mỹ đồng ý viện trợ
kinh tế và quân sự cho pháp ở Đông D-ơng bắt đầu khoản viện trợ là 10 triệu
đô la "[7;266-267]
Trang 17Nhờ sự viện trợ của Mỹ, thực dân Pháp thực hiện kế hoạch Rơve nhằm khoá
chặt biên giới Việt - Trung, cô lập căn cứ điạ Việt Bắc với liên khu 3 và liên
khu 4 bằng cách thiết lập hành lang Đông Tây, tạo thế bao vây, cô lập cách
mạng Việt Nam cả bên trong và bên ngoài
Bứơc sang năm 1950, cách mạng Việt Nam đã có sự thay đổi về mọi mặt,
thế và lực của cuộc kháng chiến ngày càng lớn mạnh ở trong n-ớc, trên mặt
trận quân sự, quân và dân ta đã đẩy mạnh chiến tranh du kích nhằm tiếp tục
tiêu hao sinh lực địch, phát triển lực l-ợng ở bên ngoài, hầu hết các nứơc dân
chủ trên thế giới nh-: Trung Quốc, Liên Xô, và các n-ớc Đông Âu đã công
nhận và đặt quan hệ ngoại giao với chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
Thế bao vây, cô lập đối với cách mạng Việt Nam đã bị phá vỡ
Tr-ớc tình hình trong thế giới và trong nứơc, đòi hỏi khách quan của cuộc
kháng chiến lúc này là phải khắc phục những khó khăn mà kế hoạch Rơve đã
tạo nên, đánh thông biên giới Việt -Trung, tranh thủ sự giúp đỡ của các n-ớc
anh em bên ngoài, tạo thế phát triển mới cho cuộc kháng chiến Vì thế, Thu -
Đông năm 1950, Trung -ơng Đảng và Bộ Tổng t- lệnh quyết định mở chiến
dịch Biên giới " Đảng và Chính phủ ta quyết định mở chiến dịch Biên giới,
nhằm mục đích tiêu diệt sinh lực địch, khai thông đ-ờng biên giới liên lạc
quốc tế giữa n-ớc ta và Trung Quốc mở rộng căn cứ địa Việt Bắc, tạo điều
kiện đẩy mạnh cuộc kháng chiến tiến lên" [7;267] Trong chiến dịch này, t-
t-ởng chỉ đạo của Đảng ta là "đánh thắng không thể thua" Đại t-ớng Võ
Nguyên Giáp làm chỉ huy tr-ởng, Hoàng Văn Thái làm Tổng tham m-u Ta đã
huy động một lực l-ợng lớn tham gia vào chiến dịch nh-: Đại đoàn 308,
Trung đoàn 209, Trung đoàn 174, Trung đoàn 95 pháo binh và 3 tiểu đoàn địa
ph-ơng và dân quân du kích ở vùng Cao Bằng, Lạng Sơn Các ngành, các địa
ph-ơng đều huy động lực l-ợng phục vụ cho chiến dịch đến toàn thắng "Để
bảo đảm đánh chắc thắng, Bộ chỉ huy chiến dịch đã chủ tr-ơng tập trung một
lực l-ợng mạnh tiến công tiêu diệt địch, giải phóng một đoạn biên giới từ Cao
Bằng đến Thất Khê" [1;164]
Trang 18Lúc đầu, ta định đánh địch ở Cao Bằng, để kéo quân viện lên đánh Sau khi
xem xét kĩ l-ỡng thì Bộ chỉ huy thay đổi mục tiêu tấn công mở đầu cho chiến
dịch từ mục tiêu đánh Cao Bằng chuyển sang đánh Đông Khê mở đầu cho
chiến dịch biên giới So với Cao Bằng, thì Đông Khê lực l-ợng địch đ-ợc bố
trí sơ hở hơn, vừa đảm bảo chắc thắng, vừa cô lập đ-ợc Cao Bằng, lại vừa tạo
đ-ợc điều kiện để diện viện của địch "Đông Khê là nơi địch yếu nh-ng lại có
vị trí hết sức quan trọng, nếu mất Đông Khê, địch sẽ mang quân ứng cứu, tạo
điều kiện cho quân ta tiêu diệt chúng trong vận động" [1;165]
Sau một thời gian chuẩn bị, ngày 16 tháng 9 năm 1950, ta quyết định tấn
công Đông Khê mở màn cho chiến dịch Sau 54 giờ chiến đấu hết sức gay go,
quyết liệt và đã kết thúc thắng lợi Trứơc nguy cơ lớn đang bị đe doạ và từ
tr-ớc đã có ý định rút khỏi Cao Băng, nay mất Đông Khê, Bộ chỉ huy của
Pháp quyết định "rút khỏi Cao Bằng theo đ-ờng số 4, đồng thời lệnh cho quân
pháp ở Thất Khê tiến công chiếm lại Đông Khê và đón quân từ Cao Bằng rồi
cùng rút về xuôi" [7;264]
Đoán trứơc ý đồ của địch, quân ta đã tổ chức dàn trận mai phục các cánh
quân tiến lên và rút về của địch và tiêu diệt cánh quân từ Thât Khê lên do
Lơpagiơ chỉ huy và cánh quân từ Cao Bằng rút về do Sactông chỉ Thất bại đó
đã làm cho quân Pháp ở khắp các cứ điểm trên đ-ờng số 4 lâm vào tình thế
hoang mang bị động Ngày 7 tháng 10, quân địch ở Đông Đăng rút chạy, ngày
18 tháng 10, quân địch ở Lạng Sơn, Lộc Bình, Đình Lập, An Châu đã phải
tháo chạy, đến ngày 22 tháng 10 đ-ờng số 4 do quân ta làm chủ hoàn toàn
Chiến dịch Biên giới kết thúc với thắng lợi vang dội của quân và dân ta
Chúng ta đã làm thiệt hại lớn không chỉ về ng-ời hay về ph-ơng tiện chiến
tranh mà là đòn đánh chí tử vào ý chí xâm l-ợc của kẻ địch
Thắng lợi trên có ý nghĩa chiến l-ợc hết sức quan trọng đối với kẻ thù của
dân tộc ta là sự thất bại nặng nề nhất, nhục nhã nhất ch-a từng thấy trong lịch
sử chiên tranh Đông D-ơng Sự thất bại của chiên dịch Biên giới năm 1950
đồng nghĩa với sự phá sản hoàn toàn của kế hoạch Rơve, thêm một lần nữa kẻ
thù bị giáng một đòn nghiêm trọng vào ý chí xâm l-ợc của chúng Chiến
thắng Biên giới đã mở ra một cục diện mới của cuộc kháng chiến, "Quyền chủ
Trang 19động trên chiến tr-ờng chính đã về tay ta" [1;167], tuyến biên giới Việt -
Trung đ-ợc khai thông, thế bao vây cả trong lẫn ngoài của địch đã bị phá vỡ,
căn cứ địa Việt Bắc đ-ợc củng cố và mở rộng Đồng thời, ta có thêm điều kiện
thuận lơị để phát triển lực l-ợng về mọi mặt, đẩy mạnh cuộc kháng chiến đến
thắng lợi hoàn toàn
Chiến thắng Biên giới 1950 là một bằng chứng nghệ thuật quân sự điển
hình thành công về đánh tiêu diệt lớn, đánh dấu b-ớc tiến lên của ta về chỉ đạo
chiến l-ợc và nghệ thuật chiến dịch: "trong chiến tranh, khi cục diện ở chiến
tr-ờng ở vào thế giằng co, địch có thể biểu hiện lúng túng về chiến l-ợc, mặc
dù lực l-ợng của ta còn hạn chế Nh-ng cần thiết phải tập trung nỗ lực chủ
quan cao độ trong mọi hoạt động tác chiến có ý nghĩa chiến l-ợc Chỉ có nh-
vậy, mới tạo sự chuyển biến mới về thế và lực đ-a kháng chiến sang một giai
đoạn mới" [6;80]
Chiến thắng Biên giới năm 1950 đã tạo thuân lợi vô cùng to lớn không chỉ
về thế và lực mà cả trên mặt tinh thần của quân và dân ta Bởi vậy, phát huy
quyền chủ động chiến l-ợc trên chiến tr-ờng chính Bắc Bộ, đẩy mạnh cuộc
kháng chiến, quân và dân ta đã liên tiếp mở ba chiến dịch tấn công địch nh-:
chiến dịch Trung du ngày 25 tháng 12 năm 1950, chiến dịch Đ-ờng số 18
ngày 23 tháng 3 năm 1951 và chiến dịch Hà Nam Ninh ngày 28 tháng 5 năm
1951 Với ba chiến dịch trên tuy ch-a đạt đ-ợc mục tiêu đề ra, song đã tạo
điều kiện để cho bộ đội của ta chiến đấu trong một môi tr-ờng mới - trung du
và đồng bằng Qua đó, quân đội ta ngày càng tr-ởng thành, đạt đ-ợc những
thắng lợi to lớn trong chiến dịch Hoà Bình (10/12/1951- 25/12/1952), chiến
dịch Tây Bắc (14/10- 10/12/1952) và chiến dịch Th-ợng Lào (13/4-
16/5/1953), đẩy quân Pháp lún sâu vào thế phòng ngự bị động
Với những thắng lợi trên mặt trân quân sự, từ ngày 19 tháng 12 năm 1946
cho đến trứơc chiến cuộc đông xuân 1953- 1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ,
một mặt thể hiện sự lớn mạnh về thế và lực của ta trong cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp, tạo điều kiện cho sự toàn thắng của cuộc kháng chiến
Mặt khác, với thắng lợi to lớn đó, đã tạo đà quan trọng và quyết định đến
thắng lợi trên mặt trận ngoại giao trong thời kì này
Trang 201.3 Những thắng lợi trên mặt trận ngoại giao
Từ những ngày đầu Khi thực dân Pháp tiến hành cuộc chiến tranh tái chiếm
Việt Nam, d-ới sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ và Hồ Chí Minh, quân và
dân ta vừa chiến đấu chống xâm l-ợc ở miền Nam, vừa mở thêm mặt trận
ngoại giao nhằm tỏ rõ thiện chí hoà bình của ta, tố cáo tội ác gây chiến tranh
của thực dân Pháp, tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân Pháp, các
lực l-ợng tiến bộ trên thế giới, đồng thời nhằm bảo vệ đ-ợc những thàng quả
của Cách mạng Tháng Tám Hồ Chí Minh đã đề ra đ-ờng lối ngoại giao hoà
bình, đầy thiện chí ph-ơng châm "thuật ngoại giao là làm cho đất n-ớc mình ít
kẻ thù hơn, nhiều bạn đồng minh hơn", chủ tr-ơng thông qua mặt trận ngoại
giao để tìm kiếm một giải pháp hoà bình cho dân tộc
Trong tình thế hiểm nghèo" ngàn cân treo sợi tóc", phải đối mặt với muôn
vàn khó khăn và thách thức, n-ớc Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời nh-ng
ch-a có bất kì một dân tộc nào trên thế giới công nhận và đặt quan hệ ngoại
giao, phải chiến đâú trong vòng vây của kẻ thù Do đó, Đảng, Chính Phủ và
Hồ Chí Minh đã tìm mọi biện pháp, cách thức nhằm mở rộng quan hệ ngoại
giao với các n-ớc, các dân tộc trên thế giới, từ đó tranh thủ đ-ợc sự giúp đỡ,
cổ vũ của họ đến cuộc chiến tranh chính nghĩa của nhân dân ta đồng thời cô
lập kẻ thù trứơc nhân loại tiến bộ trên thế giới Ta đã thực hiện sách l-ợc hoà
hoãn, nhân nh-ợng với T-ởng(tr-ớc 6/3/1946) rồi với Pháp )6/3 - 19/12/1946)
để phân hoá kẻ thù, tranh thủ thêm một thời gian hoà bình quý báu để chuẩn
bị lực l-ợng, xây dựng chính quyền, củng cố khối đoàn kết dân tộc
Cuối năm 1946 đến năm 1947, tr-ớc những âm m-u và thủ đoạn chiến
tranh trắng trợn và thâm độc của các thế lực hiếu chiến Pháp ở Việt nam, Chủ
tịch Hồ Chí Minh thay mặt Đảng, Chính phủ đã nhiều lần gửi th- và kêu gọi
Quốc hội, Chính phủ và nhân dân Pháp cứu vãn hoà bình Ng-ời đòi Pháp phải
ngừng ngay chiến sự, thực hiện th-ơng l-ợng, nêu rõ mục tiêu kháng chiến
của dân tộc Việt Nam là độc lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc, nhấn mạnh
thiện chí hoà bình của nhân dân ta, mong muốn hợp tác với nhân dân Pháp,
đồng thời đề ra những ph-ơng pháp cụ thể nhằm kết thúc chiến tranh lập lại
hoà bình cho nhân dân Việt Nam Ngày 1 tháng 1 năm 1947, trong th- chúc
Trang 21mừng năm mới Chính phủ và nhân dân Pháp, Ng-ời nhấn mạnh: mong quốc
dân Pháp hiểu rằng chúng tôi không thù địch gì với dân tộc Pháp, chúng tôi
buộc phải chiến đấu chống lại bọn thực dân phản động đang m-u mô xẻ cắt
Tổ quốc chúng tôi, đ-a chúng tôi vào vòng nô lệ và reo rắc sự chia rẽ giữa hai
dân tộc Việt - Pháp nh-ng chúng tôi không chiến đấu chống n-ớc Pháp mới
và Quốc dân pháp, chúng tôi lại muốn hợp tác thân ái
Biết rõ trong chính giới Pháp vẫn có một số ng-ời muốn gíải quyết vấn đề
hoà bình Việt - Pháp mà Lơcléc là một ví dụ Ngày 1 tháng1 năm 1947, Chủ
tịch Hồ Chí Minh thay mặt Đảng, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã
gửi th- tới t-ớng Lơcléc Trong th- Ng-ời nêu lên tính chất chính nghĩa về
cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam và khẳng định "chúng tôi đã nhất
quyết trong khối Liên hiệp Pháp, cộng tác thành thực với n-ớc Pháp, tôn
trọng quyền lợi kinh tế, văn hoá Pháp trong n-ớc chúng tôi Nh-ng chúng tôi
cũng nhất quyết chiến đấu đến cùng cho độc lập thống nhất quốc gia Tuy
nhiên, một sự hoà bình hợp công lí còn có thể cứu vãn đ-ợc tình thế N-ớc
Pháp sẽ không thu đ-ợc món lợi gì trong cuộc chiến tranh thuộc địa"
Ngoài ra, Ng-ời còn gửi nhiều bức th-, bức điện khác đến n-ớc Pháp để cố
gắng cứu vãn hoà bình, làm rõ tính chất chính nghĩa của cuộc chiến đấu của
nhân dân Việt Nam và tính chất phi nghĩa của cuộc chiến tranh xâm l-ợc Việt
nam của thực dân Pháp Trong bức th- gửi cho Mutê, Ng-ời đề nghị:
"Chấm dứt ngay chiến sự, quân đội hai bên quay về vị trí quy định trong
hiệp định
Chấm dứt mọi viện quân của Pháp
Gặp gỡ ngay giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh với Mariuyt Mutê để thông qua,
trên cơ sở các điều khoản của Hiệp định Sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946, một
dự thảo chi tiết của một hiệp -ớc vĩnh viễn
Dự án thông qua rồi thì họp hội nghị ở Pari để thảo luận hiệp -ớc chính
thức"[16;125]
Ngày 3 tháng 1 năm 1947, Hồ Chí Minh tiếp tục gửi tới Mutê thêm một
bức th- để ngỏ ý sẵn sàng gặp ông ta để thông báo thực chất diễn biến tình
hình ở chiến tr-ờng Đông D-ơng và lập tr-ờng của chính phủ Việt Nam "tôi
Trang 22rất mong và rất sung s-ớng đ-ợc hội kiến với ngài lâu một chút nêu tỏ rõ ý
muốn thành thực hoà bình và hợp tác của chúng tôi và để chuyển đến với ngài
những đề nghị của chúng tôi về việc lập lại sự giao hảo giữa hai n-ớc chúng
ta"
Tuy vậy, mọi cơ hội cứu vãn hoà bình đều bị bỏ lỡ vì những hành động
khiêu khích, bịa đặt và vu cáo của các thế lực thực dân Đác giăng liơ và bọn
phản động Pháp phải chịu trách nhiệm trứơc thực tế lịch sử này họ là thủ
phạm chính gây ra vụ xung đột tháng 12 năm 1946 và cũng chính họ là kẻ đã
gửi những tin tức sai lệch về chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà, về tình
hình ở Đông D-ơng "Ngày 25 tháng 12 năm 1946 khi Mutê đến Sài Gòn, Đác
giăngliơ đã có bản báo cáo xuyên tạc tình hình, đổ vấy trách nhiệm gây ra
xung đột cho phía Việt Nam và giữ lại tất cả các bức điện và tài liệu mà chủ
tịch Hồ Chí Minh thông qua ban liên lạc Việt - Pháp để gửi tới Mutê, tỏ ý
muốn tiếp xúc với chủ tịch Hồ Chí Minh thì Đác giăngliơ đã cảnh cáo ông ta"
[16;127] Trong khi đó Đác giăngliơ lại trả lời với phóng viên rằng: từ nay
chúng ta không thể đỉều đình đ-ợc với Hồ Chí Minh nữa, chúng ta đi tìm ra
những nhân vật khác có thể điều đình
Ngày 23 tháng 3 năm 1947, khi trả lời nhà báo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
nói: "từ ngày 19 tháng 12 đã mấy lần tôi kêu gọi Chính phủ và nhân dân Pháp
ngăn trở chiến tranh, ví dụ bức th- gửi ngày 21 tháng 12 năm 1946, ngày 23
tháng 12 năm 1946, ngày 1 tháng 1 năm 1947, Có khi nhờ các lãnh sự ngoại
giao chuyển tới cho Chính phủ Pháp thế mà Thủ t-ớng Ramađie bảo rẳng chữ
trong th- của tôi gửi cho cựu Thủ t-ớng Lêon Blum là chữ kí giả và từ đó đến
nay Chính phủ Pháp không nhận đ-ợc th- gì của tôi Nếu những đại biểu Pháp
ở đây cố ý dìm những tin tức ấy, không cho Chính phủ Pháp biết, đó là trách
nhiệm của họ"
Trong th- "gửi nhân dân Việt Nam, nhân dân Pháp, nhân dân các n-ớc
đồng minh", ngày 21 tháng 12 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đ-a ra
những bằng chứng cụ thể lên án thực dân Pháp là kẻ chủ m-u gây ra cuộc
chiến tranh này Ng-ời khẳng định: "thực dân Pháp định chiếm lấy n-ớc tôi
thật rõ rệt không thể chối cãi đ-ợc chừng nào thực dân Pháp hiểu rõ nền độc
Trang 23lập và thống nhất của chúng tôi và gọi những kẻ thực dân pháp hiếu chiến về,
thì tình hình giao hảo và sự kết hợp giữa hai dân tộc Việt - Pháp"
Song, moị cố gắng của Chính phủ và Đảng ta đã bị thực dân Pháp khứơc từ
Chúng tiếp tục mở rộng cuộc chiến tranh xâm l-ợc, đồng thời xúc tiến thiết
lập chính quyền bù nhìn tay sai Tr-ớc những thủ đoạn xảo quyệt của kẻ thù,
Chủ tịch Hồ Chí Minh nói : Bất kì thực dân Pháp có điều đình với ai nếu Tổ
quốc ta đ-ợc độc lập, thống nhất theo đúng nghĩa, đồng bào ta đ-ợc tự do thực
thì Chính phủ và quốc dân sẽ thoả thuận Bất kì ai mà phản bội lại quyền lợi
của Tổ quốc của đồng bào, thì Chính phủ và đồng bào sẽ coi là kẻ phản quốc
và cứ kháng chiến thực dân pháp đang mơ t-ởng có thể dùng vũ trang mà
chinh phục nứơc ta Vì họ ch-a hiểu rằng: toàn thể dân tộc Việt Nam đã kiên
quyết kháng chiến, để tranh lại quyền thống nhất và độc lập
Đảng và nhân dân ta đã biểu thị một thái độ rất đúng đắn trong cuộc chiến
tranh này Đối với Pháp đã phân biệt rõ, kẻ thù ở đây không phải là toàn bộ
nhân dân, dân tộc pháp, mà chỉ là bọn thực dân Pháp phản động hiếu chiến ở
Đông D-ơng - là kẻ thù chủ m-u gây ra cuộc chiến tranh này Chủ tịch Hồ
Chí Minh viết rõ rằng "mong nhân dân Pháp hiểu rằng chúng tôi không thù
hằn gì với dân tộc Pháp, chúng tôi buộc phải chiến đấu chống bọn thực dân
Pháp phản động đang m-u chia cắt Tổ quốc chúng tôi, đ-a chúng tôi vào vòng
nô lệ, gieo rắc sự chia rẽ giữa hai dân tộc Pháp và Việt Nam Nh-ng chúng tôi
không chống nứơc Pháp mới và nhân dân Pháp chúng tôi lai muốn hợp tác
thân ái" Điểu đó nói lên chúng ta không chống nhân dân Pháp mà coi họ là
những ng-ời bạn Từ đó tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân tiến bộ Pháp đối
với sự nghiệp giải phóng dân tộc Đồng thời, chúng ta đã cô lập bọn thực dân
hiếu chíên ngay trên đất n-ớc của chúng
Đối với các n-ớc trong khu vực Đông Nam á, chúng ta đã tăng c-ờng xây
dựng tình đoàn kết keo sơn, chiến đấu với nhân dân Lào, nhân dân
Campuchia Chính phủ ta đã tích cực giúp đỡ các n-ớc về mọi mặt trong cuộc
kháng chiến chống kẻ thù chung trên tinh thần quốc tế trong sáng, đồng thời
chủ tr-ơng tích cực tranh thủ xây dựng các mối quan hệ thân thiện với những
Trang 24dân tộc khác trên cơ sở độc lập dân tộc, chống chủ nghĩa thực dân và thực
hiện dân chủ Ta vừa tranh thủ sự giúp đỡ của nhân dân châu á vừa cố gắng
góp phần vào sự nghiệp đoàn kết các dân tộc châu á trong sự nghiệp giải
phóng dân tộc bảo vệ hòa bình trong khu vực Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều
lần gửi th- đến những ng-ời đứng đầu chính phủ các nứơc mới giành đ-ợc độc
lập nh-: Inđônêxia, ấn Độ, Miến Điện và lãnh tụ các phong trào giải phóng
dân tộc ở các n-ớc thuộc địa "Ngày 13 tháng 1 năm 1947, chủ tịch Hồ Chí
Minh gửi th- kêu gọi các vị lãnh tụ và toàn thể nhân dân Trung Hoa, Miến
Điện, các dân tộc thuộc địa của Pháp, các nhân sỹ dân chủ toàn thế
giới"[12;105]
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra mối quan hệ hợp tác lẫn nhau giữa các cuộc
kháng chiến của nhân dân Việt Nam với phong trào giải phóng trên thế giới,
tới vận mệnh của các n-ớc ở Châu á Muốn bảo vệ đựơc độc lập tự do cho
dân tộc mình thì cần phải bảo vệ tự do, độc lập trong khu vực, nhân dân Châu
á cần phải đoàn kết keo sơn hơn nữa để chống chủ nghĩa thực dân Ng-ời viết
" Việt Nam chỉ giữ chủ quyền độc lập của dân tộc mình chứ không xâm phạm
đến ai Thế mà thực dân Pháp bất nhân bội -ớc, đem tất cả lực l-ợng hung tàn
của chúng nhằm tiêu diệt n-ớc Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Việt Nam là
một bộ phận trong đại gia đình châu á, vận mệnh Việt Nam quan hệ mật thiết
với vận mệnh của các dân tộc ở châu á vận mệnh các dân tộc ở châu á
quan hệ mật thiết với vận mệnh của dân tộc Việt Nam Vận mệnh các dân tộc
thuộc địa Pháp cũng vậy chúng tôi mong tất cả các dân tộc giúp đỡ"[4;300]
Ngày 22 tháng 3 năm 1947, để tăng c-ờng sự đoàn kết và hiểu biết lẫn
nhau, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cử một đoàn đại biểu đến tham dự hội nghị
đoạn kết đấu tranh cho độc lập các dân tộc Châu á, đ-ợc họp ở Niuđeli (ấn
Độ) Trong Hội nghị này, chúng ta đã đ-ợc các dân tộc ở Châu á nhiệt tình
ủng hộ về sự nghiệp chính nghĩa giải phóng dân tộc của nhân dân ta Đồng
thời đã lên án gay gắt bọn thực dân đế quốc xâm lựơc
Trang 25Đối với đế quốc Mỹ, theo Th-ờng vụ Trung -ơng Đảng, ngày 12 tháng 12
năm 1947, đã nhất định: chúng ta ch-a nhận rõ tham vọng của Mỹ và nguy cơ
Mỹ, nh-ng những cái đó ch-a trực tiếp đối với ta, nên chúng ta cũng phải lợi
dụng triệt để những mâu thuẫn dù nhỏ đến mấy giữa hai tên đế quốc Mỹ
-Pháp Chúng ta vẫn tiếp tục thực hiện chính sách : muốn làm bạn với tất cả các
dân tộc các n-ớc Vì thế chúng ta vẫn tiếp tục ngoại giao tuyên bố thân thiện
với Mỹ và vẫn dùng hội Việt - Mỹ làm vũ khí tuyên truyền quốc tế Nh-ng
thời gian này, Đảng và chính phủ ta lợi dụng Mỹ nhằm tác động đến T-ởng
Giới Thạch bảo vệ biên giới phía Bắc, thêm nữa một phần nào làm cô lập thực
dân pháp làm cho mâu thuẫn trong nội bộ Mỹ- Pháp ngày càng lớn
Năm 1947, để phá vỡ kế hoạch của Mỹ và Pháp lôi kéo Bảo Đại, Đảng ta
tiến hành đàm phán với Bảo Đại - Cậu hoàng đế "việc công kích Bảo Đại nên
dè dặt một chút" phải khéo léo "li gián giữa Bảo Đại và Pháp" theo chính sách
"lúc này không nên công kích Bảo Đại hay dòng họ nhà Nguyễn" Nh-ng sau
khi Bảo Đại đã lộ rõ bộ mặt, cam tâm trở thành tay sai cho Pháp để hoàn
thành việc thiết lập chính phủ bù nhìn Th-ờng vụ Trung -ơng Đảng vạch rõ:
dù sao Chính phủ bù nhìn toàn quốc do Bảo Đại cầm đầu là thủ đoạn tấn công
chính trị đối với ta địch sẽ lợi dụng chính phủ này để tập hợp các lực l-ợng
phản động, cám dỗ bọn nhát gan và bọn cơ hội, tuyên truyền mê hoặc dân ta
hòng chia rẽ, làm suy yếu mặt trận thống nhất của ta Vì thế, Đảng ta đã chủ
tr-ơng: tích cực đấu tranh chống lại bọn phản động, vạch trần bộ mặt xaỏ
quyệt của lũ c-ớp n-ớc và lũ bán n-ớc, để cho nhân loại tiến bộ thấy đ-ợc bộ
mặt thật của chúng "Ngày 8 tháng 3 năm 1949, khi trả lời phỏng vấn tờ báo
của Trung Quốc Hồ Chí Minh đã khẳng định rằng: Vĩnh Thuỵ là tay sai của
bọn thực dân, là một tên phản quốc luật pháp Việt Nam sẽ trừng trị thẳng
tay những tên việt gian sừng sỏ bán n-ớc hại dân"[12;118]
Nh- vậy, từ khi Toàn quốc kháng chiến đến năm 1949 Trong thế bị cô lập,
ch-a có bất kì một quốc gia nào, một dân tộc nào công nhận chính phủ Việt
Nam dân chủ cộng hoà do Hồ Chí Minh đứng đầu Nh-ng chúng ta đã không
ngừng hoạt động, đấu tranh trên mặt trận ngoại giao một cách mạnh mẽ làm
cho nhân loại tiến bộ thấu hiểu đ-ợc sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân ta
Trang 26trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Mặt khác, tranh thủ sự ủng hộ
của bè bạn từ đó cô lập kẻ thù của dân tộc, kết hợp với đấu tranh quân sự,
chính trị tạo nên sức mạnh tổng hợp tân công vào kẻ thù nhằm mở ra những
bứơc thắng lợi trong giai đoạn sau
Bứơc sang năm 1950, tình hình thế giới cũng nh- trong nứơc đã có những
chuyển biến sâu sắc, tác động trực tiếp vào cách mạng Việt Nam ở Đông
Âu, hàng loạt các n-ớc đi lên chủ nghĩa xã hội, cách mạng Trung Quốc thành
công, nhà n-ớc Trung Hoa ra đời đi theo con đ-ờng chủ nghĩá xã hội do Đảng
Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo.Sự ra đời của nhà n-ớc Trung Hoa dân chủ
nhân dân tạo một b-ớc ngoặt trong tình hình châu á và thế giới, ảnh h-ởng
tích cực đến các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Đông
D-ơng
Đứng tr-ớc tình hình quốc tế có lợi cho cách mạng Việt Nam, Đảng và Chủ
tịch Hồ Chí Minh tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa về việc tăng c-ờng quan hệ
ngoại giao với các bầu bạn anh em, nhằm tranh thủ sự công nhận và viện trợ
cho cách mạng Việt Nam, tiếp tục cô lập kẻ thù
Đầu năm 1950, Chủ tich Hồ Chí Minh thay mặt cho Đảng và Chính phủ
n-ớc Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã tiến hành tham quan các n-ớc Trung
Quốc, Liên Xô, và các n-ớc dân chủ ở Đông Âu Chuyến đi này đã đạt đ-ợc
những thắng lợi to lớn về ngoại giao
"Ngày 15 tháng 1 năm 1950, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tuyên
bố công nhận n-ớc Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa và tỏ ý sẵn sàng đặt quan
hệ ngoại giao ở cấp đại sứ quán"[16;179] Ngay sau đó, ngày 18 tháng 1 năm
1950, n-ớc Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa đã tuyên bố công nhận nhà n-ớc
Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là nhà n-ớc hợp pháp đại diện cho toàn thể dân
tộc Việt Nam Từ đây, Việt Nam đã tạo đựơc b-ớc ngoặt trong quan hệ ngoại
giao, lần đầu tiên chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đ-ợc công nhận trên
ph-ơng diện quốc tế Từ đó chúng ta đã mở rộng quan hệ ngoại giao với
Trung Quốc "ngày 21 tháng 1 năm 1950 chủ tịch Hồ Chí Minh tới Băc Kinh
Trong cuộc hôị đàm với lãnh đạo Đảng, Chính phủ Trung Quốc Trung Quốc
Trang 27đã đồng tình ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân ta do Đảng lãnh đạo và
hứa hẹn tích cực giúp đỡ ta về mặt tinh thần và vật chất"[16;179-180]
Tiếp đó, "ngày 23 tháng 1 năm 1950, thay mặt chính phủ Việt Nam, Bộ
Tr-ởng ngoại giao Hoàng Minh Giám đã gửi công văn đến Bộ Tr-ởng ngoại
giao Liên Xô, chấp thuận thiết lập mối quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân
chủ Cộng hoà và trao đổi công sứ'"[16;180] Chúng ta đã nhanh chóng nhận
đ-ợc sự ủng hộ của nhân dân Liên Xô và công nhận chính phủ Việt Nam Dân
chủ Cộng hoà do Hồ Chí Minh đứng đầu Để tạo thuận lợi cho việc Trung
Quốc, Liên Xô cùng với các n-ớc dân chủ nhân dân Đông Âu công nhận Việt
Nam Dân chủ Cộng hoà, thay mặt Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra tuyên
bố "Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là Chính phủ hợp pháp duy nhất
của toàn thể nhân dân Việt Nam chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẵn
sàng đặt quan hệ ngoại giao với chính phủ n-ớc nào tôn trọng dộc lập và toàn
vẹn lãnh thổ chủ quyền quốc gia của nứơc Việt Nam, để cùng nhau bảo vệ hoà
bình, xây đắp dân chủ thế giới" Hàng loạt các nứơc công nhận n-ớc Việt
Nam Dân chủ Cộng hoà: Liên Xô (30/1/1950), Cộng hoad Dân chue Nhân
dân Triều tiên (31/1/1950), Tiệp Khắc(2/2/1950), rồi Cộng hoà dân chủ Đức,
Cộng hoà nhân dân Rumani, Cộng hoà Nhân dân Ba Lan và Cộng hoà Nhân
dân Hunggary lần l-ợt công nhận nhà n-ớc Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
Nh- vậy, đến năm 1950 với hàng loạt n-ớc trên thế giới đã lân l-ợt công
nhận Chính phủ do Hồ Chí Minh đứng đầu Đó là thắng lợi vô cùng to lớn,
một kì tích trong quan hệ ngoại giao của cách mạng Việt Nam Những thắng
lợi ấy đã tạo động lực to lớn cho cuộc kháng chiến, đồng thời phá vỡ thế bao
vây và cô lập của kẻ thù Từ đây, ta có điều kiện tiếp nhận sự giúp đỡ về vật
chất và tinh thần của Liên Xô, Trung Quốc và các n-ớc dân chủ, đ-a cuộc
kháng chiến phát triển lên một tầm cao mới Đánh giá ý nghĩa to lớn đó, Hồ
Chí Minh đã nói : "mấy năm kháng chiến đã đ-a lại cho nứơc ta một thắng lợi
to lớn nhất trong lịch sử Việt Nam tức là hai nứơc lớn trên thế giới Liên Xô và
Trung Quốc và các nứơc dân chủ mới đã thừa nhận Việt Nam Dân chủ Cộng
hoà là một n-ớc đứng ngang trong hàng ngũ đại gia đình dân chủ thế gíới
Nghĩa là ta đứng hẳn về phe dân chủ và nhập vào khối 800 triệu dân chống đế
Trang 28quốc, chắc chắn thắng lợi chính trị ngoài giao ấy là cái đà cho những thắng lợi
quân sự sau này"
Những thắng lợi đó còn là một đòn đánh vào đầu thực dân Pháp cùng với bè
lũ tay sai của chúng, cũng nh- đế quốc Mỹ với âm m-u can thiệp vào cuộc
chiến tranh Đông D-ơng
Tuy vậy, sau hàng loạt những thắng lợi của quân và dân ta trên mặt trân
quân sự và ngoại giao từ khi kháng chiến bùng nổ đến năm 1950, vẫn ch-a đè
bẹp đ-ợc ý chí xâm l-ợc của kẻ thù, cuộc chiến đấu vẫn còn tiếp diễn với
những thử thánh nặng nề hơn, khốc liệt hơn Nh-ng những thắng lợi đã đạt
đ-ợc là vô cùng to lớn Nó đã tạo nên một b-ớc tíên mới cho cuộc kháng
chiến
Từ sau chiến thắng Biên giới, đ-ợc sự tiếp sức của Mỹ, thực dân Pháp vẫn
tiếp tục cuộc chiến với những âm m-u và thủ đoạn mới Đế quốc Mỹ ngày
càng can thiệp sâu vào cuộc chiến tranh Đông D-ơng vừa để tiêu diệt Chính
phủ Hồ Chí Minh và ngăn chặn sự lan tràn của chủ nghĩa cộng sản xuống
Đông Nam á, mặt khác chuẩn bị cho việc hất cẳng Pháp nhằm độc chiếm
Đông D-ơng
Đ-ợc sự tiếp sức của Mỹ, thực dân Pháp vẫn tiếp tục cuộc chiến với những
âm m-u và thủ đoạn mới Trong nội bộ của Pháp và Mỹ đã có nhiều bất đồng
Điều đó đã đ-ợc Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với Th-ờng vụ Trung -ơng Đảng
phát hiện các bất đồng về quyền lợi lẫn nhau giữa hai tên đế quốc trong vấn đề
Đông D-ơng, cũng nh- sự lục đục tranh giành quyền lợi trong chính quyền
tay sai của chúng Pháp thì ch-a bao giờ nghĩ đến dâng Đông D-ơng cho Mỹ,
mà chỉ lợi dụng Mỹ để tranh thủ viện trợ, dựa vào Mỹ để duy trì Đông D-ơng
trong Liên hiệp pháp Trong khi đó, đế quốc Mỹ lại muốn đặt Đông D-ơng
trong khu vực ảnh h-ởng của Mỹ, biến Đông D-ơng thành thuộc địa kiểu mới
để tiếp tục thực hiện chiến l-ợc toàn cầu thống trị thế gíới của mình Vì thế
Mỹ muốn tiếp tục dùng lực l-ợng của Pháp tiếp tục tiến hành xâm l-ợc khu
vực này."[12;128] Nhận định đ-ợc khối mâu thuẫn giữa hai kẻ thù của dân
tộc một là trực tiếp, hai là gián tiếp, Đảng ta tiếp tục đẩy mạnh hoạt động
Trang 29ngoại giao nhằm khoét sâu mâu thuẫn trong nôị bộ của chúng, triệt để lợi
dụng mâu thuẫn giữa Pháp và Mỹ, giữa bọn tay sai thân Pháp và bọn tay sai
bù nhìn thân Mỹ làm cho mâu thuẫn nội bộ của chúng càng lủng củng hơn
Ngoài ra, Đảng và Chính phủ ta đẩy mạnh hơn nữa xây dựng tinh thần đoàn
kết keo sơn với nhân dân Lào và Campuchia trong cuộc đấu tranh chống kẻ
thù chung Sau chiến thắng Bên giới năm 1950, với những chuyển biến sâu
sắc, cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam b-ớc sang giai đoạn mới
Trong khi đó nhân dân Lào, Campuchia cũng đã giành đ-ợc nhiều thắng lợi
quan trọng Với tinh thần "giúp nhân dân bạn, tức là tự giúp mình", bộ đội
Việt Nam đã kề vai sát cánh cùng chiến đấu với bộ đội Lào và Campuchia
Khu giải phóng của hai n-ớc bạn ngày càng mở rộng Khối liên minh chiến
đấu giữa nhân dân ba n-ớc Đông D-ơng ngày càng đ-ợc củng cố vững chắc,
tạo ra một sức mạnh đoàn kết to lớn - một trong những nhân tố quyết định
thắng lợi của cuộc kháng chiến
Để tiếp tục tăng c-ờng hoạt động ngoại giao, Đảng ta chủ tr-ơng đ-a chiến
tr-ờng Đông D-ơng sang ngay n-ớc Pháp, để tiếp tục tranh thủ sự đồng tình
ủng hộ của nhân dân Pháp, đồng thời đánh ngay vào hậu ph-ơng và nội bộ của
kẻ thù, dân tộc Vì thế, ở ngay trong Chính phủ Pháp đã xuất hiện nhiều t-
t-ởng cần rút khỏi cuộc chiên tranh Việt Nam, trong quần chúng nhân dân đã
có nhiều phong trào chống chiến tranh đòi chính phủ rút ra khỏi cuộc chiến ở
Đông D-ơng để tiếp tục tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân Pháp, Chính phủ ta
đã quyết định trao trả cho pháp 228 tù binh và nhân viên quân sự và trao danh
sách cho Leo Figuerre về Pháp công bố
Tháng 11 năm 1950, Chủ tich Hồ Chí Minh đã gửi th- cho "các bạn nam nữ
Pháp đấu tranh cho hoà bình" và chỉ rõ rằng: "cuộc chiến tranh trên n-ớc
chúng tôi sửa soạn cho một cuộc chiến tranh đế quốc khác" Bởi vậy, "trong
khi chiến đấu bảo vệ hoà bình thế giới, các bạn làm một việc rất đúng là mở
một chíên dịch mạnh mẽ đòi đình chỉ ngay tức khắc cuộc chíên tranh ở Việt
Nam Không phân biệt nam nữ, già trẻ, thợ thuyền nông dân hay trí thức, các
bạn đã đoàn kết để cùng góp phần cố gắng và quyết tâm của mình, chúng tôi
kính phục và theo dõi các bạn"
Trang 30Trong khi đó, thực dân Pháp ngày càng sa lầy trong cuộc chiến tranh Đông
D-ơng, quân viễn chính Pháp liên tiếp thất bại trên chiến tr-ờng, hàng trăm
hàng ngàn binh lính Âu - Phi đã bỏ mạng trên chiến tr-ờng, càng làm cho sự
căm hận ngày càng cao trong d- luận nhân dân Pháp
"Trong th- gửi các bà mẹ và vợ Pháp có con và chồng chết trận ở Việt Nam,
Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: cảm ơn các bà mẹ, bà vợ ở Pháp có con, chồng
chết trận ở Việt Nam đã hăng hái đứng lên đấu tranh phản kháng cuộc chiến
tranh đem lại chết chóc mà giới cầm quyền Pháp mang lại Nhân dân Việt
Nam xin hứa sẽ bảo vệ mồ mả của các chiến binh Pháp đã phải bỏ mạng ở
chiến tr-ờng Việt Nam, và đến khi kết thúc chiến tranh các bà có thể mang hài
cốt của chồng con mình về quê cha đất tổ"[16;208] Ngoài ra, Chính phủ và
Đảng ta đã gửi nhiều bức th- tới nhân dân Pháp thể hiện sự th-ơng tiếc những
gì cuộc chiến tranh do giới cầm quyền Pháp gây ra cho nhân dân Pháp và nhân
dân Việt Nam, ng-ời chỉ rõ : Nhân dân Việt Nam muốn thân thiện hợp tác với
nhân dân Pháp, muốn tránh khỏi cuộc chiến tranh huynh đệ t-ơng tàn
Với những chính sách ngoài giao trong sáng của Đảng và Chính phủ Việt
Nam Dân chủ Cộng hoà do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, đã gây đ-ợc cảm
tình lớn đối với chính nhân dân của bọn phản động hiếu chiến Pháp Họ đã
hiểu đ-ợc tình cảnh ở chiến tr-ờng Đông D-ơng, hiểu đ-ợc dã tâm của giới
cầm quyền Pháp Từ đó đứng lên đấu tranh đòi chính giới Pháp rút ra khỏi
"cuộc chiến tranh bẩn thỉu" của chúng ở Việt Nam Những tuyên bố về hoà
bình và những hoạt động nhân đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tác động
mạnh đến d- luận tiến bộ Pháp, làm cơ sở để Đảng Cộng sản Pháp tuyên
truyền, phát động cuộc đấu tranh phản đối cuộc chiến tranh Việt Nam, đòi
công nhận độc lập dân tộc của ba n-ớc Đông D-ơng
Nh- thế, từ ngày đầu của cuộc kháng chiến bùng nổ, cách mạng n-ớc ta về
t-ơng quan lực l-ợng với địch còn hết sức chênh lệch, mọi yếu tố đều nghiêng
về kẻ thù Trong khi đó lại bị cô lập về ngoại giao, ch-a có một nứơc nào trên
thế giới công nhận Nh-ng trong quá trình lãnh đạo tài tình và sáng suốt của
Đảng cùng với truyền thống yêu n-ớc nồng nàn của nhân dân ta cách mạng
Việt Nam đã v-ợt qua mọi khó khăn, hiểm nghèo tựa thế "ngàn cân treo sợi
Trang 31tóc" để rồi từng b-ớc giành thắng lợi có ý nghĩa quan trọng nh-: Trên mặt trận
quân sự từ ngày kháng chiến toàn quốc bùng nổ cho đến tr-ớc chiến cuộc năm
1953 - 1954 quân và dân ta liên tiếp giành đ-ợc thắng lợi mà mở đầu là cuộc
kháng chiến ở đô thị vào năm 1946 đã b-ớc đầu làm phá sản kế hoạch "đánh
nhanh thắng nhanh" của Pháp Tiếp đó, quân và dân ta đã đập tan cuộc tập
kích với quy mô lớn của địch lên Việt Bắc hòng tiêu diệt cơ quan đầu não của
ta nhanh chóng kết thúc chiến tranh Nh-ng cuộc tập kích của địch hoàn toàn
bị thất bại cũng đồng nghĩa với sự phá sản hoàn toàn chiến l-ợc "đánh nhanh
thắng nhanh" buộc chúng phải chuyển sang đánh lâu dài với ta Năm 1950 với
chiến dịch Biên giới toàn thắng, lần đầu tiên trong cuộc kháng chiến quân và
dân ta đã chủ động tấn công địch trên quy mô lớn Nó xoay chuyển hoàn toàn
cục diện chiến tranh, cách mạng n-ớc ta đã giành đ-ợc quyền chủ động trên
chiến tr-ờng chính, đặt cơ sở cho những thắng lợi ở giai đoạn sau của cuộc
kháng chiến
Song song với thắng lợi trên mặt trận quân sự, trên mặt trận ngoại giao
Đảng và nhân dân ta cũng đã giàng đ-ợc những thành quả to lớn Từ một
n-ớc, một chính phủ ch-a có bất kì một dân tộc, một quốc gia nào trên thế
giới công nhận, trong khi đó lại phải đ-ơng đầu với kẻ thù xâm l-ợc chiến đấu
trong vòng vây kẻ thù Nh-ng với đ-ờng lối ngoại giao trong sáng có tính
nhân đạo cao cả Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đứng đầu là Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã nỗ lực trong hoạt động ngoại giao nhằm: tranh thủ các n-ớc
ủng hộ cách mạng Việt Nam công nhận Chính phủ Việt Nam đồng thời cô lập
kẻ thù dân tộc
Đến năm 1950, hàng lọat các n-ớc trên thế giới công nhận Việt Nam và
Chính phủ do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, đặc biệt là sự công nhận của
Trung Quốc và Liên Xô Từ nay chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã
hợp pháp quốc tế là đại diện cho toàn thể nhân dân Việt Nam, cách mạng Việt
Nam đã hoàn toàn phá vỡ thế bao vây và cô lập của kẻ thù, trở thành một bộ
phận của lực l-ợng dân chủ thế giới
Ng-ợc lại đối với thực dân Pháp, sau thất bại từ Việt Bắc, Biên giới đến
Hoà Bình, Tây Bắc, Th-ợng Lào làm cho tình thế của chúng ngày càng bị
Trang 32động lún sâu vào cuộc chiến tranh Trong lúc đó nội bộ của Pháp có nhiều bất
đồng quan điểm về cuộc chiến tranh Đông D-ơng làm cho bọn thực dân Pháp
hiếu chiến không có sự thống nhất trong hành động Vì thế cuộc chiến tranh
Đông D-ơng ngày càng lâm vào khủng hoảng không có lối thoát
Với những thắng lợi trên đã tạo điều kiện, cơ sở để chúng ta bứơc vào chiến
cuộc Đông - Xuân năm 1953- 1954 mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ
lẫy lừng năm châu, chấn động địa cầu đã tác động trực tiếp đến Hội nghị
Giơnevơ về việc lập lại hoà bình ở Đông D-ơng, nhanh chóng kết thúc cuộc
kháng chiến tr-ờng kì 9 năm chống Pháp của dân tộc ta, nhân dân ta
Trang 33Ch-ơng 2
Tác động của chiến cuộc Đông - Xuân 1953 - 1954 và chiến
thắng Điện Biên Phủ đến hội nghị Giơnevơ về chấm dứt chiến
tranh và lập lại hoà bình ở Đông D-ơng.
2.1 Chiến cuộc Đông - Xuân 1953 - 1954 và chiến thắng Điện Biên
Phủ
2.1.1 Chiến cuộc Đông - Xuân 1953 - 1954
Sau 8 năm tiến hành vũ trang xâm l-ợc n-ớc ta, thực dân Pháp tuy đ-ợc
đế quốc Mỹ "hà hơi tiếp sức", nh-ng lại đứng tr-ớc một tình thế hết sức khó
khăn và nguy khốn.Mặc dù hết sức cố gắng cùng với Mỹ chia sẻ gánh nặng
cuộc chiến tranh, nh-ng điểm yếu lớn nhất của quân đội viễn chinh Pháp mà
chúng không thể nào khắc phục đ-ợc đó là mâu thuẫn giữa tập trung và phân
tán , giữa tấn công ra các vùng tự do và phòng ngự ở những vùng chúng kiểm
soát để vừa đạt đ-ợc mục đích quân sự vừa đạt đ-ợc mục đích của chiến
tranh thuộc địa
Trong khi đó, trong quân đội Pháp đã xuất hiện sự chán nản của quân đội
viễn chinh, họ không biết mình chiến đấu cho ai ? Để làm gì ? và cuộc chiến
sẽ kéo dài đến khi nào ?
Cũng trong thời gian này, tình hình về kinh tế xã hội của n-ớc Pháp cũng
trở nên vô cùng khó khăn và phức tạp Gánh nặng của cuộc chiến tranh Đông
D-ơng ngày càng lớn, quá sức chịu đựng của ngân sách n-ớc Pháp Mâu
thuẫn trong xã hội phát triển gay gắt, mà chủ yếu là giữa nhân dân lao động
với giới cầm quyền hiếu chiến Pháp không chịu rút khỏi cuộc chiến tranh ở
Đông D-ơng Ngay cả trong chính giới Pháp từ sau thất bại trong chiến dịch
Biên giới năm 1950 đến năm 1953 đã xuất hiện nhiều t- t-ởng muốn rút khỏi
cuộc chiến tranh hoặc muốn giải quyết vấn đề Đông D-ơng bằng th-ơng
l-ợng để thiết lập quyền lợi của Pháp ở xứ sở này, có ng-ời cảnh báo rằng:
Pháp không nên giải quyết vấn đề Đông D-ơng bằng quân sự
Trang 34Sự thất bại liên tiếp về quân sự, chính trị cũng nh- khó khăn về mặt kinh tế-
tài chính đã đặt n-ớc Pháp trứơc tình thế "lửa cháy hai đầu", hoặc là bị nhân
dân Đông D-ơng đấnh bại hoặc là bị đế quốc Mỹ hất cẳng Nh-ng với chính
sách bảo thủ và bản chất của chủ nghĩa thực dân nếu có muốn rút khỏi cuộc
chiến tranh thì phải sau một trận tấn công lớn để nhằm tìm cái gọi là "lối thoát
danh dự" Bởi vậy thực dân Pháp đã có ý muôn rút khỏi cuộc chíên tranh
Đông D-ơng nh-ng chúng không muốn rút trên thế thua, nên tiếp tục dựa
vào Mỹ nhằm tìm kiếm một thắng lợi danh dự mà ng-ời khác gọi là "lối thoát
danh dự"
Đối với Mỹ, Mỹ có dã tâm tiến hành xâm l-ợc Đông D-ơng nhằm thực
hiện chiến l-ợc toàn cầu của chúng, nhằm biến Đông D-ơng thành thuộc địa
kiểu mới của Mỹ, thành "con đê" để ngăn chặn lán sóng chủ nghĩa cộng sản
lan tràn xuống khu vực Đông Nam á cũng nh- Châu á Thái Bình D-ơng Tuy
nhiên, trong thời gian này Mỹ ch-a trực tiếp vũ trang quân sự đánh chiếm
Đông D-ơng mà trực tiếp viện trợ cho Pháp tiếp tục tiến hành cuộc chiến
tranh ở Đông D-ơng Một mặt, Mĩ muốn lợi dụng Pháp tiêu diệt chính phủ
Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, ngăn chặn sự phát triển của chủ nghĩa cộng sản
Nh-ng mặt khác có âm m-u dã tâm nhằm hất cẳng Pháp độc chiếm Đông
D-ơng Vì vậy, Mỹ đã không ngừng tăng viện trợ cho thực dân Pháp đặc biệt
là năm 1954 sự viện trợ của Mỹ đã chiếm 78% ngân sách chi phí chiến tranh ở
Đông D-ơng: "cuối tháng 7 năm 1954 Aixenhao quyết định giành 400 triệu
đô la cho Đông D-ơng để "tổ chức một đội quân Việt Nam thực thụ", Pháp đề
nghị Mỹ viện trợ 650 triệu đô la cho niên khoá năm 1953 và Mỹ chấp nhận
385 triệu đô la Mỹ hứa rằng sang năm 1954 sẽ tăng viện trợ lên gấp đôi, Mỹ
cũng giao cho Pháp nhiều trang bị vũ khí trong đó có 123 máy bay, 212 tầu
chiến các loại"[8;10]
Đến tháng 5 năm 1953, với sự thoả thuận của Pháp và Mỹ, giới cầm quyền
Pháp cử t-ớng Nava - Tổng tham m-u tr-ởng lục quân bắc Đại Tây D-ơng
sang làm Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông D-ơng Sau khi khảo sát
tình hình ở chiến tr-ờng Đông D-ơng, ngày 2 tháng 7 năm 1953 Nava vạch ra
Trang 35một kế hoạch toàn diện, hệ thống để báo cáo với chính phủ Pháp Kế hoạch
này mang tên Nava, nó nhanh chóng đ-ợc giới cầm quyền Pari và Oasington
chấp nhận
Kế hoạch Nava đ-ợc chia làm hai b-ớc, kết hợp chặt chẽ với nhau, thực
hiện đ-ợc b-ớc 1 sẽ thúc đẩy thắng lợi ở b-ớc 2 Với kế hoạch này giới chính
Pháp lẫn Mỹ đều rất tin t-ởng Nava sẽ làm thay đổi cục diện trên chiến tr-ờng
chuyển bại thành thắng tìm ra một chiến thắng danh dự cho quân viễn chinh
Pháp "cả Pháp và Mỹ đều hy vọng trong 18 tháng sẽ chuyển bại thành thắng"
[1;191]
Để thực hiện đ-ợc kế hoạch Nava, Pháp tiếp tục nhận sự viện trợ của Mỹ
đồng thời Pháp ra sức cố gắng chi viện đến mức cao nhất có thể cho kế hoạch
Nava
Nh- vậy, kế hoạch Nava là sự nỗ lực, cố gắng cuối cùng và cao nhất của
liên quân Pháp - Mỹ trong cuộc chiến tranh Đông D-ơng lần thứ nhất Tuy
nhiên ta thấy rằng kế hoạch Nava đã tập trung đ-ợc một lực l-ợng quân cơ
động lớn, đó là thế mạnh là -u thế của đội quân nhà nghề Pháp Nh-ng Nava
cũng giống nh- các Tổng chỉ huy tr-ớc vẫn không giải quyết đ-ợc mâu thuẫn
giữa tập trung quân và phân tán quân, giữa chiếm đất và giữ đất
Sau 8 năm cuộc kháng chíên vĩ đại nhằm bảo vệ độc lập dân tộc và thống
nhất tổ quốc, quân và dân Việt Nam d-ới sự lãnh đạo của Đảng đứng đầu là
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thu đ-ợc nhiều thắng lợi cả trên mằt trận quân sự
lẫn mặt trận ngoại giao, làm cho t-ơng quan lực l-ợng trứơc kia luôn nghiêng
về kẻ thù thì này đã hoàn toàn có lợi cho ta, đồng thời cuộc kháng chiến của
dân tộc Việt Nam đã đ-ợc sự giúp đỡ nhiệt tình của các lực l-ợng dân chủ tiến
bộ trên thế giới
Tr-ớc kế hoạch Nava với những âm m-u và thủ đoạn chiến tranh mới của
địch, Bộ chính trị, Tổng quân uỷ và Bộ Tổng t- lệnh, Bộ Tổng tham m-u bắt
đầu nghiên cứu tình hình mới, đồng thời vạch ra kế hoạch tác chiến nhằm phá
tan kế hoạch Nava Đảng nhận định : Trung tâm kế hoạch Nava là tập trung
đ-ợc lực l-ợng quân cơ động mạnh vì thế theo kế hoạch của ta làm sao vấn đề
mấu chốt là phải phân tán lực l-ợng cơ động chiến l-ợc to lớn mà địch mới
Trang 36xây dựng nên Tuy kế hoạch Nava làm cho chúng ta nhiều khó khăn, song
chính bản thân của kế hoạch ấy có nhiều mâu thuẫn giữa phân tán và tập trung
quân, chiếm đất và giữ đất, giữa phòng thủ và tấn công
Vì thế, tháng 9 năm 1953 Bộ Chính trị Trung -ơng Đảng họp tại Tỉn Keo
thuộc căn cứ địa Việt Bắc Cuộc họp đã phân tích tình hình cục diện trên chiến
tr-ờng Đông D-ơng, vạch trần những âm m-u mới của Pháp - Mỹ, nhận định
về kế hoạch Nava với những điểm mạnh và hạn chế của nó Bộ Chính trị quyết
định mở cuộc tấn công chiến lựơc Đông - Xuân 1953 - 1594 nhằm tiêu diệt
sinh lực địch và phân tán lực l-ợng địch ra nhiều khu vực khác nhau Ph-ơng
h-ớng chiến l-ợc, chủ tr-ơng tác chiến là :"sử dụng một bộ phận lực l-ợng
chủ lực mở những cuộc tiến công vào những h-ớng địch sơ hở, đồng thời tiêu
diệt địch ở những h-ớng địch có thể đánh sâu vào vùng tự do của ta đẩy
mạnh chiến tranh du kích ở khắp các chiến tr-ờng sau l-ng địch, tích cực tiến
hành mọi sự cần thiết trong nhân dân và bộ đôị địa ph-ơng, dân quân du kích
các vùng tự do để cho chủ lực rảnh tay làm nhiệm vụ"
Đồng thời nhấn mạnh ph-ơng châm "tích cực chủ động, cơ động linh hoạt",
Bộ Chính trị vạch ra nguyên tắc về chỉ đạo chiến l-ợc và chỉ đạo tác chíến:
tiêu diệt sinh lực địch, bồi d-ỡng lực l-ợng của ta, đánh ăn chắc, đánh chắc
thắng, đánh tiêu diệt, chọn nơi địch sơ hở, nơi địch t-ơng đối yếu mà đánh,
giữ vững chủ động, kiên quyết buộc địch phải phân tán lực l-ợng mà đối phó
với ta
Theo ph-ơng h-ớng chiến l-ợc và chủ tr-ơng tác chíên nói trên, Bộ Chính
trị quyết định thông qua kế hoạch tác chiến Đông - Xuân 1953 - 1954: giữ
vững thế chủ động, đánh địch ở cả hai mặt trận chính diện và sau l-ng địch,
phối hợp trên phạm vi cả n-ớc và trên toàn Đông D-ơng
Đây là một kế hoạch bày m-u lập thế, nắm chắc khối chủ lực trong tay,
điều động địch theo h-ớng của ta làm cho địch rất khó khăn phán đoán dễ sa
vào bẫy Còn ta thì tuỳ từng tình hình mà biến động, xử trí "đây cũng là một
kế hoạch tác chíên có quy mô toàn quốc và toàn bán đảo Đông D-ơng, kết
hợp với tác chiến du kích rộng khắp trên tất cả các chíên tr-ờng với các chiến
dịch của bộ đội chủ lực trên một số h-ớng ta lựa chọn"[15;31]
Trang 37Công tác chuẩn bị để kế hoạch tác chíên Đông - Xuân 1953 - 1954 đ-ợc
triển khai một cách khẩn tr-ơng, tích cực ở khắp mọi nơi Hội đồng cung cấp
cho tiền tuyến đ-ợc thành lập do Phạm Văn Đồng làm chủ tịch, công tác sửa
sang đ-ờng xá đã đ-ợc đẩy mạnh "Tháng 6 năm 1953, Ban Bí th- Trung -ơng
Đảng ra chỉ thị cho cấp uỷ các địa ph-ơng: phải tăng c-ờng việc lãnh đạo
công tác làm đ-ờng điều động nhiều cán bộ tích cực có năng lực phụ trách
công tác này"[1;194] "Tháng 7 năm 1953, Bộ Chính trị quyết định thành lập
Uỷ ban chi viện tuyền tuyến nhằm huy động tối đa sức ng-ời, sức của của hậu
ph-ơng vào việc chuẩn bị cho Đông Xuân đánh lớn"[1;194]
Cùng với việc chuẩn bị cơ sở vật chất chúng ta còn tiếp tục huy động về
nhân lực, tiếp tục bổ sung quân, phát triển nhanh bộ đội chủ lực Đồng thời
tiến hành tuyên truyền, vận động, kêu gọi kẻ thù ra hàng, kết hợp với tân
công, bao vây và triệt để đ-ờng tiếp tế
Phối hợp với mặt trận quân sự trong chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954,
Đảng và Chính phủ chủ tr-ơng mở cuộc tấn công địch trên mặt trận ngoại
giao Tháng 10 năm 1953, quốc hội Pháp đã biểu quyết ủng hộ Lanien tìm
giải pháp th-ơng l-ợng để giải quyết cuộc chiến tranh ở Đông D-ơng bằng
con đ-ờng hoà bình Ngày 26 tháng 11 năm 1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói
rõ quan điểm của n-ớc Việt Nam Dân chủ Cộng hoà rằng :" cơ sở của việc
điều đình ở Việt Nam là chính phủ Pháp thật thà tôn trọng nền độc lập thực sự
của nhân dân Việt Nam" và khẳng định "việc th-ơng l-ợng đình chiến chủ
yếu là việc giữa chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà vơi Chính phủ Pháp"
Lời tuyên bố của chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt cho chính phủ Việt Nam dân
chủ cộng hoà đã gây nên một tiếng vang lớn trong n-ớc cũng nh- trên thế
giới, đ-ợc nhân dân tiến bộ nhân loại, yêu chuộng hoà bình cổ vũ và h-ởng
ứng Trong khi đó, thực dân Pháp đã bị lên án gay gắt không chỉ trong d- luận
nhân dân Pháp mà trong d- luận của nhân dân thế giới, yêu cầu Pháp phải rút
khỏi cuộc chiến tranh ở Đông D-ơng ở chiến tr-ờng, cỗ máy chiến tranh của
Pháp và bọn can thiệp Mỹ luôn rơi vào thế lúng túng bị cô lập
Trang 38Sau khi chuẩn bị về mọi mặt, thực hiện theo ph-ơng châm phân tán lực
l-ợng cơ động của địch đề án Đông Xuân đ-ợc Bộ Chính trị cho ý kiến và
thông qua, đã xác định Tây Bắc là h-ớng chính H-ớng Tây Bắc b-ớcđầu sử
dụng đại đoàn 316 tiêu diệt địch ở Lai Châu, giải phóng toàn bộ khu Tây Bắc,
b-ớc th- hai phối hợp giữa đại đoàn 316 với trung đoàn 148 ở khu Tây Bắc, bộ
đội ta cùng với quân giải phóng Lào tiến vào giải phóng Phongxalỳ H-ớng
này do đồng chí Lê Quảng Ba chỉ huy
H-ớng Trung Lào và Hạ Lào, lực l-ợng bao gồm trung đoàn 66, trung đoạn
101 do Hoàng Sâm chỉ huy phối hợp với quân Lào mở rộng vùng giải phóng,
đánh thông hành lang nam bắc Đông D-ơng
H-ớng Tây Nguyên lực l-ợng gồm hai trung đoàn 108 và 803 chủ lực của
liên khu 5 do đồng chí Nguyễn Chánh chỉ huy, sẽ chiếm bắc Tây Nguyên, phá
vỡ âm m-u củng cố và bình định miền Nam của Pháp
H-ớng phối hợp trung du và đồng bằng Bắc Bộ, lực l-ợng bao gồm đại
đoàn 320 và các trung đoàn liên khu 3 sẽ chiến đấu thu hẹp phạm vi chiếm
đóng của địch
Ngày 10 tháng 12 năm 1953, ta quyết định tấn công thị xã Lai Châu
mở màn cho chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954 Trải qua 12 ngày đêm chiến
đấu liên tục, truy kích và bao vây tập kích trên những vùng núi hiểm trở, quân
ta nhanh chóng giải phóng toàn bộ khu vực Lai Châu dẫn đến uy hiếp Điện
Biên Phủ từ phía bắc - đây là lòng chảo có vị trí chiến l-ợc vô cùng quan trọng
đối vơi Pháp Bởi vậy, sau khi để mất Lai Châu, Nava đã cho một lực l-ợng
lớn lên chiếm giữ Điện Biên Phủ "Bị thiệt hại nặng nề ở Lai Châu và biết
quân ta đang cơ động lên Điện Biên Phủ, Nava quyết định đ-a 6 tiểu đoàn lên
tăng c-ờng cho Điện Biên Phủ và Điện Biên Phủ trở thành điểm tập trung
quân th- hai của Pháp"[1;198] Với vịêc ta đánh lên Lai Châu, uy hiếp Điện
Biên Phủ buộc chúng phải phân tán một bộ phận lực l-ợng cơ động lên để giữ
Điện Biên Phủ, đây là một thắng lợi của quân và dân ta trong kế hoạch phân
tán từng mảng lực l-ợng trong khối cơ động mà Pháp vừa xây dựng đ-ợc
Hạ tuần tháng 12 năm 1954, quân và dân ta đã phối hợp với lực l-ợng
Phathét Lào mở chiến dịch Trung Lào, nhằm tiếp tục tiêu diệt sinh lực địch,
Trang 39củng cố và mở rộng căn cứ cách mạng, thu hút và phân tán lực l-ợng địch, tạo
điều kiện cho h-ớng tấn công khác tiêu diệt sinh lực địch Bị quân ta cùng với
lực l-ợng Lào làm cho thiệt hại nặng nề, Nava điều động một lực l-ợng lớn
sang cùng với số quân còn lại thành lập một tập đoàn cứ điểm với hàng chục
tiiểu đoàn ở Sênô Nava biến Sênô thành điểm tập trung quân thứ 3 ở Đông
D-ơng Với chiến dịch Trung Lào, quân ta kết hợp với lực l-ợng của bạn tiếp
tục tiêu diệt sinh lực địch mở rộng vùng giải phóng, đặc biệt một lần nữa buộc
địch bị động phân tán lực l-ợng để đối phó với ta
Sau chiến thắng Trung Lào, liên quân Việt - Lào tiếp tục tiến xuống Hạ
Lào giải phóng thị xã Atôpơ và toàn bộ cao nguyên Bôlôven là vị trí chiến
lựơc hết sức quan trọng
Phát huy thắng lợi, một đơn vị của ta tiếp tục tấn công xuống phía nam phối
hợp với lực l-ợng giải phóng Itxarắc của Campuchia giải phóng V-ơnsai,
Xiêm pang trực tiếp uy hiếp Stungtreng, tiến xuống sông Slông trong lúc đó
quân tình nguyện Việt Nam cùng vơi quân giải phóng Itxarắc ở Đông Băc
Campuchia đã giải phóng Côngpôngchàm nh- vậy với chiến dịch Hạ Lào và
Đông Bắc Campuchia thì căn cứ miền Đông và Đông Bắc Campuchia nối liền
với vùng giải phóng Hạ Lào, Trung Lào
Tiếp tục theo định h-ớng tấn công của Bộ chính trị ta mở tiếp cuộc tấn
công địch trên mặt trận Tây Nguyên Khi địch mở chiến dịch Atlăng với lực
l-ợng lúc đầu là 22 tiểu đoàn sau tăng lên 40 tiểu đoạn nhằm thực hiện mục
đích của kế họach Nava là chiếm đ-ợc toàn bộ vùng tự do thuộc liên khu V
Trứơc cuộc càn quét của địch, ta đã có chủ tr-ơng sử dụng một bộ phận để đối
phó với địch, bảo vệ hậu ph-ơng, còn cho một lực l-ợng lớn tấn công lên
h-ớng Kontum Chiến dịch bắt đầu vào ngày 26 tháng 1 năm 1954 và kết thúc
vào ngày 5 tháng 2 năm 1954 Ta đã giải phóng toàn bộ thị xã Kontum, đánh
quân địch ra khỏi bắc Tây Nguyên, buộc Pháp phải tiến hành ngừng chiến
dịch Atlăng ở liên khu V vội vã điều 11 tiểu đoàn ở Nam Bộ và Bình - Trị -
Thiên lên Tây Nguyên để giữ lấy hai cứ điểm An Khê và Playku để đối phó
với ta Kết thúc chiến dịch Tây Nguyên, thực dân Pháp tiếp tục phải phân tán
Trang 40lực l-ợng quân cơ động để đối phó với ta, biến Playku thành điểm tập trung
quân thứ t- trên toàn cõi Đông D-ơng
Nhằm đẩy mạnh hơn nữa, buộc địch bị động phân tán lực l-ợng, ta cùng với
bạn Lào mở tiếp chiến dịch Th-ợng Lào Để đánh lạc h-ớng phán đoán của
địch, tiêu diệt tiếp một bộ phận sinh lực địch và buộc chúng tiếp tục phân tán,
dàn mảng lực l-ợng Hạ tuần tháng 1 năm 1954, liên quân Việt - Lào tấn
công vào sông Nậm Mu Địch đã hoảng loạn và tháo chạy, ta và bạn tiếp tục
truy kích đến gần Luôngpabăng tiếp tục ta tiến giải phóng Phongxali bao vây
M-ờng Sài Trứơc tình hình Luôngpabăng và M-ờng Sài bị huy hiếp, lại sợ ta
tấn công vào kinh đô của Lào, Nava khẩn tr-ơng điều động một lực l-ợng lớn
lên giữ lấy Luôngpabăng và M-ờng sài biến nơi đây thành điểm tập trung
quân thứ 5 của Pháp trên chiến tr-ờng Đông D-ơng
Qua giai đoạn đầu của chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954 với năm đòn tấn
công chiến l-ợc của ta, chẳng những ta đã tiêu diệt đ-ợc một bộ phận sinh lực
địch và giải phóng một vùng đất rộng lớn, mà còn bứơc đầu phá vỡ tập trung
quân của kế hoạch Nava, buộc chúng phải liên tiếp bị động phân tán lực l-ợng
để đối phó với các h-ớng tấn công của ta, là một đòn giáng mạnh vào ý chí
xâm l-ợc của quân viễn chinh Pháp, tạo ra sự chán nản trong quân đội viễn
chinh và quân đội tay sai của chúng Kế hoạch Nava xây dựng tập trung một
lực l-ợng quân cơ đông mạnh b-ớc đầu bị phá sản Ta có điều kiện để phát
triển lực l-ợng rèn luyện quân đội trong chiến đấu "Cuộc tấn công chiến l-ợc
của ta thắng lợi đồng thời là sự chuẩn bị điều kiện vật chất và tinh thần cho
quân dân ta mở đợt tấn công có tính quyết định vào tập đoàn cứ điểm Điện
Biên Phủ của địch"[7;292-293]
2.1.2 Chiến thắng Điện Biên Phủ
Tr-ớc những thất bại nặng nề trong Đông Xuân 1953- 1954 và b-ớc đầu
phá sản của kế hoạch Nava, trong thế bị động, thực dân Pháp đã tăng quân
chiếm đóng và ra sức xây dựng Điện BIên Phủ, biến nơi đây từ chỗ không có
tên trong kế hoạch Nava thành trung tâm điểm của kế hoạch đó.Sau khi phát
hiện h-ớng tấn công của ta lên Lai Châu và bị đẩy lùi khỏi Lai Châu đã uy
hiếp trực tiếp đến Điện Biên Phủ từ phía bắc Nava đã quyết định điều một lực