Khi bàn đến hiện tượng Văn - Sử - Triết bất phân trong văn học trung đại chính là nói đến hiện tượng đan xen giữa hai hình thái tư duy luận lý và hình tượng; cũng chính là nói đến trạng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH *****************
Trang 2MỤC LỤC
Trang
Mục lục 1
MỞ ĐẦU Lý do chọn đề tài 2
Lịch sử vấn đề 8
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 16
Phương pháp nghiên cứu
16
Chương 1 Tính nguyên hợp của tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí nhìn từ góc độ tác giả và nhân vật 1.1 Khái niệm tính nguyên hợp trong văn học Việt Nam trung đại 18
1.2 Kiểu tác giả văn học trung đại và tác giả Hoàng Lê nhất thống chí
22 1.3 Hình tượng nhân vật trong tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí 29
1.4 Tiểu kết 40
Chương 2 Tính nguyên hợp của tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí nhìn từ góc độ thể loại
2.1 Khái niệm tiểu thuyết và tiểu thuyết chương hồi 42
2.2 Hoàng Lê nhất thống chí và thể loại tiểu thuyết chương hồi trong văn học Việt Nam trung đại 49
2.3 Hoàng Lê nhất thống chí và thể loại biên niên sử
65 2.4 Tiểu kết 75
Chương 3 Tính nguyên hợp của tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí nhìn từ góc độ nội dung tư tưởng
3.1 Hoàng Lê nhất thống chí, một tác phẩm mang tư tưởng triết học
77 3.2 Hoàng Lê nhất thống chí và những vấn đề của triết học phương Đông 86
3.3 Hoàng Lê nhất thống chí và tư tưởng thiên mệnh của Nho giáo 90
3.4 Tiểu kết 94
KẾT LUẬN 9
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Hoàng Lê nhất thống chí là một tác phẩm văn xuôi lớn của văn học
Việt Nam trung đại Nội dung của tác phẩm là một bức tranh rộng lớn, mô tả khá đầy đủ lịch sử của một thời đại vừa đau thương vừa hào hùng của dân tộc - giai
đoạn cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX Tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí là sự
kết hợp tài tình giữa bút pháp nghệ thuật sinh động và công việc chép sử, mà sự thành công đã vượt ra ngoài sự mong đợi của tác giả Cùng với qui mô hoành tráng,
tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí đã đạt tới trình độ phản ánh của sử thi, đồng
thời khẳng định sự trưởng thành của văn xuôi trong tiến trình phát triển của văn học
dân tộc Tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí đã được nhiều thế hệ người Việt Nam
quan tâm, đón đọc, nghiên cứu và tất cả đều nhận thấy ở tác phẩm này có sức cuốn hút kỳ lạ Nhiều người cho rằng đây là một cuốn tiểu thuyết chương hồi nổi tiếng bằng văn xuôi đầu tiên trong lịch sử văn học Việt Nam
Với truyền thống lâu đời của một dân tộc vốn coi trọng thơ phú, xem nhẹ văn
xuôi, thì việc Hoàng Lê nhất thống chí hấp dẫn người đọc qua nhiều thế hệ là dấu
hiệu cho thấy tác phẩm này đã vượt qua những quan niệm bảo thủ kia và thực sự
phải là một tác phẩm có giá trị cả về nội dung và nghệ thuật Hoàng Lê nhất thống
chí là một cuốn tiểu thuyết chương hồi có sự thành công của cả khoa học lịch sử và
nghệ thuật văn chương Nó được xem là một hiện tượng độc đáo của văn học Việt Nam trong bối cảnh các nền văn học trong khu vực cùng chịu ảnh hưởng của nền văn học Hán Cũng lấy đề tài về lịch sử như nhiều tiểu thuyết lịch sử khác, nhưng
đề tài mà Hoàng Lê nhất thống chí phản ánh chính là lịch sử đương thời của tác
giả
Là người đang trực tiếp giảng dạy ở trường phổ thông, chúng tôi thấy tác
phẩm Hoàng Lê nhất thống chí có một giá trị đặc biệt cả về nội dung tư tưởng,
Trang 4nghệ thuật cũng như lịch sử Việc tìm hiểu kĩ càng một tác phẩm như Hoàng Lê
nhất thống chí là một việc làm hết sức cần thiết
1.2 Tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí là sản phẩm của nền văn học Việt
Nam trung đại, lại là một tác phẩm tiêu biểu, nên hội đủ những đặc trưng của văn
học giai đoạn này Trong đó, đặc điểm nổi bật nhất là tính nguyên hợp, biểu hiện
sự giao thoa giữa Văn, Sử và Triết học mà ta vẫn quen gọi là hiện tượng Văn - Sử -
Triết bất phân Một đặc trưng của thời kỳ văn học chưa có sự tách biệt rõ ràng giữa
nghệ thuật, khoa học lịch sử và triết học
Trước đây đã từng có chuyện, người ta không biết nên gọi tác phẩm Hoàng
Lê nhất thống chí là văn học hay là sử học, thậm chí có nhiều người đã cố công
chứng minh cho nó là tác phẩm sử học hay tác phẩm văn học Việc đó là cần thiết nhưng sẽ không đi đến chân lý cuối cùng, bởi làm sao có thể tách chiết một cách rõ ràng trong khi bản thân tác phẩm là sự hội tụ của cả Văn, Sử và Triết học Chính
tính chất giao thoa đó đã làm nên sức hấp dẫn của Hoàng Lê nhất thống chí Thực
ra không phải chỉ có văn học thời kỳ này mới có hiện tượng Văn - Sử - Triết bất phân mà trong văn học hiện đại sau này chúng ta vẫn bắt gặp đâu đó những câu thơ mang tính triết lý, thể hiện tư tưởng triết học sâu xa, nhưng đó không phải là hiện tượng phổ biến
Trong văn học Việt Nam trung đại, người ta thấy không chỉ có hiện tượng Văn - Sử - Triết bất phân, hiện tượng Văn - Sử bất phân, Văn- Triết bất phân mà
còn có cả hiện tượng văn học và y lý như "Ngư Tiều y thuật vấn đáp" của Nguyễn
Đình Chiểu chẳng hạn Vấn đề không phải là đi tìm những tác phẩm văn học
"không thuần tuý văn học" mà là tìm hiểu nó để có một cái nhìn khoa học về một
hiện tượng mang tính đặc thù của văn học trung đại Tác phẩm Hoàng Lê nhất
thống chí là một trong nhiều tác phẩm văn học Việt Nam trung đại mang đặc trưng
này Đây chính là sự giao thoa giữa các hình thức phản ánh trong một tác phẩm
Trang 5Từ thực tế sáng tác của các nhà văn trung đại, chúng ta thấy bản thân các tác giả không chỉ là "nhà Nho đơn thuần" mà có thể vừa là nhà Nho vừa là bậc danh y lại vừa là người có tâm hồn và tài năng của nghệ sĩ lớn Có thể do mô hình đào tạo nhân tài thời kỳ đó, khi yêu cầu nhà Nho phải là người "Thượng thông thiên văn,
hạ tường địa lý" và cũng có thể do qui luật hỗn hợp vốn là đặc trưng của văn hoá trung đại Hiện tượng Văn - Sử - Triết bất phân, nhất là Văn- Triết bất phân vốn là sản phẩm của trình độ tư duy nghệ thuật mà trong đó sự phân hoá giữa hai hình thái
tư duy: luận lý và hình tượng chưa tách rời nhau như thời hiện đại sau này Khi bàn đến hiện tượng Văn - Sử - Triết bất phân trong văn học trung đại chính là nói đến hiện tượng đan xen giữa hai hình thái tư duy luận lý và hình tượng; cũng chính là nói đến trạng thái trong sáng tác văn chương, khi tư duy hình tượng chưa lấn át
được hoàn toàn tư duy luận lý, Hoàng Lê nhất thống chí là một ví dụ cụ thể
1.3 Lâu nay, chúng ta vẫn hay nói đến đặc trưng của văn học trung đại như tính qui phạm, tính tượng trưng, ước lệ, tính sùng cổ, tính phi ngã Nhưng ít có
người nói tới tính nguyên hợp như một đặc trưng của văn học trung đại Trong thực
tế, tính nguyên hợp là một hiện tượng mang tính phổ biến và phải được xem như một đặc trưng của văn học trung đại Nghiên cứu tính nguyên hợp trong tác phẩm
Hoàng Lê nhất thống chí chính là để góp phần hiểu thêm những đặc trưng của văn
học trung đại nói chung và văn học trung đại Việt Nam nói riêng Khảo sát tính
nguyên hợp trong Hoàng Lê nhất thống chí là mở đường cho những công trình
nghiên cứu có qui mô lớn hơn sau này
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Văn học Việt Nam trung đại có nhiều đặc trưng tạo nên tính khu biệt so
với văn học hiện đại, những đặc trưng như tính phi ngã, tính ước lệ tượng trưng,
tính sùng cổ, tính qui phạm và tính nguyên hợp Nhưng lâu nay ít có người chú ý
đến tính nguyên hợp như một đặc trưng của văn học trung đại Trong nghiên cứu,
Trang 6người ta cũng chưa quan tâm mấy đến vấn đề tính nguyên hợp của văn học trung đại, cái tạo nên tính phức tạp trong việc phân loại tác phẩm cũng như đánh giá nội dung nghệ thuật Xét về phong cách ngôn ngữ, có nhiều tác phẩm không chỉ mang một phong cách diễn đạt và có hiện tượng không biết xếp nó là thể loại phong cách nghệ thuật hay thể loại thuộc phong cách chính luận Trong thực tế, văn học trung đại được sản sinh trong môi trường văn hoá trung đại với đầy đủ tính phức tạp của
nó đã tạo nên những tác phẩm văn học mang đặc trưng tính nguyên hợp Việc nghiên cứu văn học trung đại có tính tới đặc trưng tính nguyên hợp là một việc hết sức cần thiết Từ đó sẽ tránh được những vướng mắc khi gặp hiện tượng Văn - Sử - Triết bất phân trong một tác phẩm văn học
Khi nghiên cứu văn học trung đại, chúng tôi nhận thấy rằng, đặc trưng tính
nguyên hợp là một hiện tượng mang tính phổ biến và tác phẩm Hoàng Lê nhất
thống chí không phải là một hiện tượng hiếm hoi mang đặc trưng này Theo nhiều
người, nhất là các nhà nghiên cứu lịch sử, Hoàng Lê nhất thống chí là một tác
phẩm lịch sử trước khi nó là một tác phẩm văn học Nhưng theo chúng tôi, đây là một tác phẩm tiêu biểu trong hệ thống những sáng tác văn xuôi, nhất là những tiểu thuyết chương hồi của văn học Việt Nam trung đại, đã được đánh giá là thành công
về nhiều mặt Và quan trọng hơn, nó là một tác phẩm tiêu biểu cho hiện tượng Văn
- Sử - Triết bất phân
Từ lâu, Hoàng Lê nhất thống chí đã được nhiều người quan tâm, nghiên cứu
Có thể mức độ quan tâm không thống nhất, nhưng tất cả đều đánh giá rất cao tác
phẩm Hoàng Lê nhất thống chí cả về mặt cứ liệu lịch sử và giá trị nghệ thuật Cho
đến nay đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu mang tính lý thuyết về văn học Việt Nam trung đại của các học giả trong nước và ngoài nước được giới thiệu trên các tạp chí chuyên ngành hoặc các sách chuyên khảo Trong đó có các công trình
nghiên cứu về Hoàng Lê nhất thống chí trên các phương diện: Văn học, lịch sử,
Trang 7chính trị, triết học Có khi vấn đề mà tác giả nghiên cứu quan tâm là giá trị hiện thực của tác phẩm, cũng có thể là những lời bàn về tính cách nhân vật điển hình hoặc về một nhân vật cụ thể như Nguyễn Hữu Chỉnh, Nguyễn Huệ
Qua tập hợp, thống kê, chúng tôi thấy những công trình nghiên cứu này ít nhiều đã nhắc đến mối quan hệ Văn - Sử - Triết trong văn học Việt Nam trung đại,
nhưng bàn về mối quan hệ Văn - Sử - Triết bất phân trong tác phẩm Hoàng Lê nhất
thống chí thì chưa có công trình hoặc bài viết nào đi sâu nghiên cứu một cách thấu
đáo Phải đến bài viết của Giáo sư Nguyễn Đình Chú với nhan đề: "Hiện tượng
Văn - Sử - Triết bất phân trong văn học Việt Nam thời trung đại " vấn đề mối quan
hệ Văn - Sử - Triết bất phân trong tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí mới được đề
cập đến
2.2 Trên tạp chí NCVH (số 7 - 1961), trong bài viết có nhan đề "Mối quan
hệ lâu đời và mật thiết giữa văn học Việt nam và văn học Trung Quốc", Giáo sư
Đặng Thai Mai đã cho rằng: "Văn học Việt Nam chịu ảnh hưởng Nho học rất sâu sắc Một trong những ảnh hưởng ấy chính là chủ nghĩa duy tâm trong Khổng học Nhưng chính các thi sĩ, văn sĩ của nước ta có thể gạt bỏ những độc tố của huyền học và tư tưởng duy tâm để tiếp thu những yếu tố lành mạnh của tư tưởng Trung Quốc, phát huy tinh thần dân tộc, chủ nghĩa nhân đạo, và tính nhân dân trong tác phẩm chữ Hán của họ thì văn thơ của họ, mặc dù viết bằng tiếng nước ngoài, vẫn
có một giá trị rõ rệt về nội dung cũng như hình thức" [29, 8] Trong bài viết này, khi nhận xét về các nhà văn cổ điển Việt Nam, Giáo sư Đặng Thai Mai cho rằng:
"Các nhà văn cổ điển nước ta cũng đã có những cố gắng để viết những truyện ngắn, truyện dài Lối viết truyện ngắn theo thể "truyền kỳ" đã thành hẳn một truyền
thống Một tập "ký sự" như cuốn Hoàng Lê nhất thống chí là một tập sáng tác có ý
nghĩa tiểu thuyết lịch sử viết theo kiểu tiểu thuyết chương hồi của văn học Trung
Trang 8Hoa Văn tự, văn thể là của Trung Quốc, nhưng nội dung là của Việt Nam " [29, 10]
Từ ý kiến trên đây của Giáo sư Đặng Thai Mai, chúng ta có thể nhận thấy
rằng, tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí vừa là một tập ký sự lịch sử vừa là một tập
sáng tác có ý nghĩa tiểu thuyết lịch sử Vấn đề đặt ra là tìm hiểu xem Hoàng Lê
nhất thống chí là một tiểu thuyết lịch sử hay chỉ là một ký sự lịch sử Để trả lời câu
hỏi này, đòi hỏi phải có những bằng chứng cũng như lập luận chắc chắn, khách quan và khoa học Hy vọng ở luận văn này, chúng tôi sẽ đưa ra được câu trả lời thoả đáng
2.3 Trên TCVH (số 11 - 1966), trong bài viết "Tìm hiểu giá trị hiện thực của
Hoàng Lê nhất thống chí, một tác phẩm văn xuôi cổ điển tiêu biểu", tác giả Mai
Quốc Liên và Kiều Thu Hoạch đã có bàn đến giá trị hiện thực của tác phẩm Hoàng
Lê nhất thống chí Theo các tác giả của bài viết này thì "Hoàng Lê nhất thống chí là
một tác phẩm có qui mô, phản ánh hiện thực của một thời đại vừa đau thương vừa hùng tráng của lịch sử nước ta Bằng sự kết hợp tài tình giữa bút pháp lịch sử và nghệ thuật mô tả sinh động đã làm cho tác phẩm có được cả chiều sâu lẫn chiều
rộng của sự phản ánh hiện thực Tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí là bằng chứng
về sự trưởng thành chất sử thi của văn học Việt Nam trung đại, đồng thời cũng cho thấy một sự nhìn nhận mới về văn xuôi của cha ông ta trong truyền thống trọng văn vần hơn văn xuôi Thực ra, văn xuôi nước ta đã từng có những tác phẩm có giá trị
như: Lĩnh Nam chích quái, Việt điện u linh, Truyền kỳ mạn lục, Thượng kinh ký sự,
Vũ trung tuỳ bút, Tang thương ngẫu lụcv.v nhưng so với tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí thì chưa thể sánh bằng cả về qui mô và giá trị nghệ thuật" [26, 77]
Tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí được viết ra bởi chính những người sống
cùng thời (hoặc ngay sau đó không lâu) và chính điều này làm cho tính hiện thực của tác phẩm là rất đáng tin cậy Tất nhiên, tính hiện thực còn phải xem xét một
Trang 9cách khoa học, bởi các soạn giả Ngô gia văn phái viết Hoàng Lê nhất thống chí
dưới sự thôi thúc của tư tưởng trung quân Với các tác giả này, lập trường tư tưởng chính thống là của họ Lê, cho nên không tránh khỏi việc họ gọi nghĩa quân Tây
Sơn là "giặc" Những gì mà Hoàng Lê nhất thống chí phản ánh khá trung thực với
lịch sử, con người và sự kiện lịch sử, qua nghiên cứu, đối chiếu, đều phù hợp với các tư liệu lịch sử khác
2.4 Trên TCVH (số 9 - 1968), nhà nghiên cứu văn học Đỗ Đức Dục đã có
bài viế về tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí với nhan đề: "Tính cách điển hình
trong Hoàng Lê nhất thống chí" Theo như nội dung bài viết này thì rõ ràng các
nhân vật trong tác phẩm đã mang "tính cách" và các nhân vật lịch sử đã trở thành các nhân vật văn học, đồng thời trở thành những nhân vật có "tính cách điển hình" Ông Đỗ Đức Dục cho rằng: "Điều đặc sắc nhất của chủ nghĩa hiện thực trong
Hoàng Lê nhất thống chí là ở sự mô tả những nhân vật, những tính cách con người"
[12, 58] Trong tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí, hệ thống nhân vật được xây
dựng một cách khá chặt chẽ và thống nhất Có nhóm nhân vật của tập đoàn phong kiến nhà Lê, nhà Trịnh, của nghĩa quân Tây Sơn và cả của chúa Nguyễn ở đàng trong Dù mô tả theo quan điểm nào, chính thống hay đối lập, thì những nhân vật
trong tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí cũng mang tính cách riêng của mình Các
nhân vật đều được giới thiệu lai lịch, có quá trình phát triển tính cách không lặp lại
Về điểm này, Hoàng Lê nhất thống chí đã thể hiện một cách sinh động các nhân vật
thuộc tầng lớp thống trị với đủ hạng người khác nhau, tiêu biểu cho tất cả thứ bậc trong hệ thống quan lại của tập đoàn phong kiến Trên ngôi cao nhất có vua, những ông vua bạc nhược, đớn hèn Một ông vua như Lê Chiêu Thống vừa tàn ác, đê hèn vừa cam tâm bán nước; Một chúa Trịnh Sâm là kẻ tham quyền, hám sắc, sống xa hoa, hay những bậc kế nghiệp chúa như Trịnh Tông hèn hạ mà tham quyền cố vị, như Trịnh Bồng bất tài, mù quáng Trong triều đình phong kiến lúc bấy giờ, từng
Trang 10tồn tại nhiều kiểu quan lại, có những ông quan hội đủ tính cách của một kẻ lưu manh có học thức như Bằng Lĩnh hầu Nguyễn Hữu Chỉnh Ông ta vốn xuất thân trong một gia đình giàu có, quan hệ mật thiết với những quan lại quyền uy trong triều đình Bản thân Nguyễn Hữu Chỉnh lại là kẻ có trí tuệ hơn người, được học chữ thánh hiền, thông kinh sử, giỏi thơ văn, lại có tính hào hiệp nên có mối quan hệ rộng khắp thiên hạ, "được xem là tay phong lưu bậc nhất ở đất Tràng An hồi ấy" [31, 58(tập1)] Con người như Chỉnh nhiều thủ đoạn, lắm mưu mô, có tính phiêu lưu, với quan điểm sống "được ăn cả, ngã về không", cơ hội và phản chủ Nguyễn Hữu Chỉnh đã từng tự hào "nhân tài đất Bắc Hà không ai bằng mình", nhưng Chỉnh lại không thể sống được ở đất Bắc, ban đầu Chỉnh thờ chúa Trịnh, nhưng khi thấy
cơ đồ nhà Trịnh không còn vững chắc, Chỉnh bỏ nhà Trịnh chạy theo Tây Sơn, khi
đã đủ lông đủ cánh Chỉnh lại mưu toan nắm cái quyền làm chủ thiên hạ Nhưng một kẻ cơ hội, phản chủ như vậy cuối cùng cũng bị quân Tây Sơn phanh thây, ném xác cho chó ăn thịt
Có thể nói, cái hiện thực sinh động nhất trong Hoàng Lê nhất thống chí chính
là những cuộc hoán đổi ngôi vị của các tập đoàn phong kiến, cho thấy việc tranh giành địa vị đứng đầu thiên hạ, luôn là nguyên nhân của mọi sự bất hoà trong xã hội phong kiến thời bấy giờ Trong bối cảnh lịch sử nhiều rối ren ấy, bóng dáng của quần chúng nhân dân, lực lượng nòng cốt của mọi cuộc cách mạng chưa được nhìn nhận một cách đúng mức Họ chỉ được xem như là những người giúp sức cho những vị quan lại, các vị tướng cầm quân trong trận mạc Cũng có lúc họ thể hiện được vai trò, sức mạnh của mình, nhưng chỉ được xem là một đám "kiêu binh", trong thực tế kiêu binh không phải là nhân dân Thực tế lịch sử cho ta thấy, quần chúng nhân dân luôn luôn là lực lượng chính trong mọi cuộc cách mạng và chỉ có
họ mới đủ sức làm việc đó Chỉ một cuộc nổi dậy của "kiêu binh" đã làm cho thành luỹ của chế độ phong kiến lúc bấy giờ hầu như sụp đổ hoàn toàn Những người
Trang 11luôn bị quyền uy thống trị, đè nén đã dám đứng lên chống lại lũ cường quyền, và tưởng như đã nắm được chính quyền trong tay Tinh thần của kiêu binh trong cuộc nổi loạn đã khiến cho quan quân triều đình vô cùng khiếp đảm, mặc dù cuối cùng những người dân này cũng chỉ nhận được những ân huệ chẳng đáng là bao
2.5 Trên TCVH (số 3 - 1974), ông Vũ Đức Phúc có bài viết nhan đề "Hoàng
Lê nhất thống chí và sự thực lịch sử chung quanh việc Quang Trung phá quân Thanh" để giới thiệu một số nhân vật quan trọng của triều đại nhà Lê và nghĩa quân
Tây Sơn Trong bài viết này, ông Vũ Đức Phúc đã tranh luận với tác giả Lê Sỹ
Thắng về những vấn đề có liên quan đến tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí cũng
như những nhà văn thời Tây Sơn Ông Phúc cho rằng: "Không ai phủ nhận Hoàng
Lê nhất thống chí là một kiệt tác văn học, đồng thời là một cuốn sách căn bản được
xây dựng trên sự thực lịch sử Đó là một cuốn có nhiều sự kiện lịch sử chính xác, bất kỳ nhà sử học nào cũng phải coi trọng Tuy nhiên tôi cũng hơi hoảng khi thấy
người ta quá tin vào Hoàng Lê nhất thống chí đến nỗi trích dẫn lan tràn và cho là
đúng cả nhiều đoạn rõ ràng là trái với sự thực Chúng ta không thể quên rằng
Hoàng Lê nhất thống chí dù sao cũng còn nhiều tính chất một cuốn tiểu thuyết kiểu Tam quốc chí" [33, 107] Từ ý kiến trên, có thể hiểu rằng Hoàng Lê nhất thống chí
là một cuốn tiểu thuyết chương hồi kiểu như Tam quốc chí của Trung Quốc và vấn
đề mà tác giả Vũ Đức Phúc quan tâm là mức độ tin cậy của các sự kiện, cũng như nhân vật lịch sử được phản ánh trong tác phẩm Trong bài viết của mình, tác giả cũng đã bàn đến nhiều vấn đề thuộc nội dung và dặc biệt là tính trung thực của các
nhận định của tác giả Hoàng Lê nhất thống chí về các nhân vật trong tác phẩm của
họ Rõ ràng từ những băn khoăn và tranh luận của ông Phúc và ông Thắng, có thể hiểu được tầm quan trọng của tính trung thực lịch sử, để từ đó thấy được mối quan
hệ giữa một tác phẩm văn học và những sự kiện lịch sử trong nghiên cứu những tác phẩm văn học lấy đề tài từ lịch sử
Trang 122.6 Trong bài viết "Góp phần xác định tác giả Hoàng Lê nhất thống chí" in
trên TCVH (số 4 - 1981), tác giả Kiều Thu Hoạch đã đi tìm lời giải đáp cho vấn đề
tác giả của Hoàng Lê nhất thống chí Theo ông, lâu nay người ta chưa thực sự quan tâm đến vấn đề tác giả của Hoàng Lê nhất thống chí Nhà nghiên cứu Dương
Quảng Hàm và dịch giả Ngô Tất Tố có lẽ là người đầu tiên quan tâm và nêu lên
những nghi vấn xung quanh vấn đề tác giả của Hoàng Lê nhất thống chí Song hai
ông chỉ đặt vấn đề mà không giải quyết vấn đề Sau này, cũng có vài công trình
nghiên cứu về Hoàng Lê nhất thống chí, thì phần tác giả cũng chỉ được xem như
những phụ lục nhân khi tìm hiểu về nội dung, hình thức và giá trị của tác phẩm mà
thôi Theo nghiên cứu của tác giả Kiều Thu Hoạch, Hoàng Lê nhất thống chí có ba
người được ghi tên là tác giả là Ngô Thì Chí (Học Tốn), Ngô Thì Du (Trưng Phủ)
và Ngô Thì Thiến Nhưng cho đến nay chưa có tài liệu nào chứng minh Ngô Thì
Thiến là tác giả Hoàng Lê nhất thống chí, chỉ có một bản chép tên Ngô Thì Thiến
và theo phán đoán của Kiều Thu Hoạch thì đó chỉ là việc chép nhầm tên mà thôi Trong bài viết này tác giả Kiều Thu Hoạch đã đưa ra khá nhiều dẫn chứng chứng
minh rằng Ngô Thì Thiến không phải là tác giả của Hoàng Lê nhất thống chí Qua
khảo sát nhiều tài liệu chúng ta thấy rằng chỉ còn lại hai người là Ngô Thì Chí và
Ngô Thì Du chính là tác giả của Hoàng Lê nhất thống chí
2.7 Với bài viết "Hoàng Lê nhất thống chí và truyền thống tiểu thuyết Viễn
đông" đăng trên TCVH (số 2 - 1984), B L Rip-tin đã đưa ra những đối sánh và
nhận định về tiểu thuyết của các nền văn học Viễn Đông, trong đó có Việt Nam Và
tác phẩm được ông lấy làm dẫn chứng để nghiên cứu là Hoàng Lê nhất thống chí
Theo Rip-tin: "Tiểu thuyết Viễn Đông cũng như tiểu thuyết châu Âu là một hiện tượng mới về nguyên tắc trong quá trình phát triển lịch sử của sáng tạo nghệ thuật" Ông cho rằng: " Về nguyên tắc, tiểu thuyết miêu tả trên nền lớn những sự kiện lịch
sử, những thời kỳ trong cuộc sống của đất nước Trong tiểu thuyết, cuộc sống được
Trang 13thể hiện ở mức độ cao hơn hẳn truyện vừa, thậm chí cả truyện dân gian; ở đây cả môi trường vây quanh con người, cả những quan hệ xã hội của anh ta cũng được miêu tả, tất nhiên ở bước đầu thì sự miêu tả ấy còn chưa hoàn chỉnh và còn đơn điệu Những số phận của các nhân vật tiểu thuyết thường lướt qua mắt ta trên cái nền của những sự kiện lớn có ý nghĩa xã hội" [35, 32-33] Và Rip- tin cũng cho rằng, tiểu thuyết mang trong mình những khả năng miêu tả cuộc sống với tất cả chiều sâu và sự phức tạp của nó mà từ xưa tới nay chưa có thể loại nào làm được
Với tiểu thuyết Hoàng Lê nhất thống chí, B L Rip-tin cho rằng: "Đây là một
tác phẩm nổi tiếng của các nhà văn họ Ngô Cuốn tiểu thuyết này viết về những sự kiện vũ bão ở nửa sau thế kỷ XVIII Đấy là thời kỳ của những cơn lốc chính trị và một loạt những cuộc khởi nghĩa nông dân nối tiếp nhau Trong thời kỳ ấy, Việt Nam bị chia thành hai nửa: Bắc và Nam Ngoài Bắc chúa Trịnh trị vì còn trong Nam là chúa Nguyễn Vua Lê thực chất không còn một chút quyền lực nào Cuộc chiến tranh liên miên giữa họ Trịnh và họ Nguyễn để giành quyền lực đã làm cho đất nước suy yếu và đã trở thành một gánh nặng đè lên vai những người lao động Cùng lúc đó, "kẻ bóc lột mới" xuất hiện và đang củng cố vị trí của mình - đó là bọn địa chủ chiếm ruộng đất công và ruộng của bà con nông dân, cũng như những chức
vụ chính quyền" [35, 34-35]
Phương diện thể loại của Hoàng Lê nhất thống chí là một vấn đề rất phức
tạp, nhiều lần đã trở thành đối tượng thảo luận trong giới nghiên cứu văn học Việt
Nam hiện đại Có người đã cho rằng đó là cuốn tiểu thuyết lịch sử loại như Tam
quốc diễn nghĩa của La Quán Trung hay Thuỷ hử của Thi Nại Am Đấy là nhận xét
của nhà nghiên cứu văn học Dương Quảng Hàm, trong lời giới thiệu bản dịch
Hoàng Lê nhất thống chí B L Rip-tin không đồng ý với cách gọi Hoàng Lê nhất thống chí là một cuốn tiểu thuyết lịch sử, ông cho rằng: "Điều này chỉ đúng với
người đọc hiện đại, vì đối với chúng ta, sách phản ánh thời đại lịch sử đã qua từ
Trang 14lâu, nhưng đối với bản thân các tác giả và người đọc cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX, nó là tác phẩm viết về hiện thực đương thời với họ" Về điểm này, Rip-tin có
cùng quan điểm với Giáo sư Nguyễn Lộc khi ông cũng không coi Hoàng Lê nhất
thống chí là một tiểu thuyết lịch sử mà chỉ gọi nó là một tác phẩm ký sự [27, 240]
Giáo sư Nguyễn lộc cho rằng, ngay cả cách gọi này cũng chưa thoả đáng, cả khái
niệm lịch sử và từ ký sự trong trường hợp này đều không hợp Tác giả lại đưa ra
một cách gọi khác, một thuật ngữ mới: "tiểu thuyết - biên niên sử" để giải thích cho bản chất thể loại của tác phẩm này Thuật ngữ trên nhằm chỉ sự ghi chép tuần tự những sự kiện cuộc sống đương thời đang diễn ra trước mắt tác giả
Tuy nhiên, một vấn đề lại được đặt ra là tại sao các tác giả thuộc dòng họ Ngô lại cần đến hình thức tiểu thuyết chương hồi của Viễn Đông để miêu tả những
sự kiện bão táp của thời đại mình? Rõ ràng là có thể dùng phương pháp chép sử quen thuộc với độc giả để mà thuật lại những sự kiện ấy B L Rip-tin cho rằng:
"Sự lựa chọn này của các tác giả họ Ngô không phải tình cờ, nó phù hợp với phương châm mỹ học của tác giả đầu tiên trong nhóm đó là Ngô Thì Chí, người mà
rõ ràng có ý định xây dựng một tác phẩm văn xuôi nghệ thuật chứ không phải là sự ghi chép bình thường các sự kiện như nhà chép sử thường làm" [46, 40]
Đối với một nhà chép sử, cơ sở để sắp xếp câu chuyện bao giờ cũng là thời gian Viện sĩ D X Li-kha-tsốp cho rằng: "Việc ghi chép các sự kiện chỉ đòi hỏi sự sắp xếp tuần tự về mặt hình thức" Những tài liệu cần "xâu chuỗi" lại, mỗi chuỗi như thế là hình thức bề ngoài của các biên niên sử: "Sự tuần tự nghiêm nhặt về tháng năm, sự phân chia những bảng ghi chép thành từng năm" Năm tháng như là dấu hiệu thời gian dùng để sắp xếp các tài liệu Trước tiên là phải ghi năm - trong truyền thống của các nước Viễn Đông còn phải ghi thêm triều vua này hay triều vua khác - rồi sau đó mới thông báo thứ tự những sự kiện xảy ra trong năm ấy
Trong Hoàng Lê nhất thống chí thì khác, ở đây cái chính không phải là ngày tháng
Trang 15mà là những sự kiện được miêu tả Biểu hiện bề ngoài của hiện tượng đó là; khác với biên niên sử, năm tháng không phải bao giờ cũng đặt trước những sự kiện được miêu tả, mà thường là đặt sau đó như là để kết thúc một đoạn và để gắn nó với thời gian hiện thực lịch sử [35, 40]
Như vậy, vấn đề tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí là một tiểu thuyết lịch sử hay chỉ là một ký sự lịch sử, còn cần phải bàn thêm và thực sự không phải là vấn đề
đơn giản Nhưng dù sao, những công trình nghiên cứu trên cũng mở ra một hướng
đi và những cách tiếp cận đúng đắn Tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí được sinh
ra trong một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, cho nên những vấn đề liên quan đến nó cũng không kém phần phức tạp, đòi hỏi phải có cái nhìn khách quan, khoa học trong đánh giá
2.8 Phải đến bài viết "Hiện tượng Văn - Sử - Triết bất phân trong văn học
Việt Nam thời đại trung đại" in trên TCVH (số 5 - 2002) của Giáo sư Nguyễn Đình
Chú, vấn đề mới phần nào được sáng tỏ và đặt ra một hướng nghiên cứu mới Trong bài viết của mình, Giáo sư Nguyễn Đình Chú đã xem hiện tượng Văn - Sử - Triết bất phân như là một đặc trưng không chỉ của văn học Việt Nam trung đại mà còn là đặc trưng mang tính thế giới Nó là một phương diện để khu biệt văn học trung đại với văn học hiện đại Khi xem hiện tượng Văn - Sử - Triết bất phân như là một đặc trưng và là hệ quả của thời kỳ chưa có sự phân biệt rõ ràng giữa nghệ thuật
và khoa học lịch sử cũng như triết học, Giáo sư Nguyễn Đình Chú đã đưa ra những
nhận định về tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí và ông cho rằng tác phẩm của nhóm nhà văn họ Ngô Thì chỉ là hiện tượng Văn - Sử bất phân: "Bởi Hoàng Lê
nhất thống chí trước hết là một thành tựu sử học, chép về công cuộc nhất thống của
nhà Lê diễn ra trong quãng thời gian hơn 30 năm từ ngày Trịnh Sâm lên ngôi chúa (1768) đến lúc Gia Long lên ngôi vua (1802) trong đó nổi lên: một mặt là cuộc khủng hoảng nặng nề, triền miên, dẫn tới sụp đổ của triều đại Lê - Trịnh Mặt khác
Trang 16là sự vùng dậy oai hùng của phong trào khởi nghĩa Tây Sơn, nhất thời chiến thắng thù trong giặc ngoài, thu non sông về một mối nhưng rút cục đã thất bại, để lịch sử
chịu rơi vào trạng thái bi kịch oái oăm Nhưng Hoàng Lê nhất thống chí cũng là
một kiệt tác văn chương mà ở đây yếu tố văn được thể hiện trước hết bằng hình thức thể loại tiểu thuyết chương hồi có nguồn gốc từ Trung Hoa, đặc biệt là với tiểu
thuyết Minh - Thanh Về bút pháp, Hoàng Lê nhất thống chí là một cuộc giao
duyên tuyệt đẹp giữa văn bút và sử bút Bút pháp này thể hiện rõ việc khắc hoạ tính cách các nhân vật và trong việc miêu tả sự kiện" [10, 41] Theo Giáo sư Nguyễn Đình Chú: "Trong lịch sử văn học Việt Nam xưa nay hiếm có tác phẩm nào lại có
một khối lượng nhân vật lớn như Hoàng Lê nhất thống chí và các nhân vật đều có
hành động và tính cách riêng Nếu chỉ viết bằng lối chép sử thông thường thì không thể có được những thành công như vậy Rõ ràng ở đây, vai trò của bút pháp nghệ thuật đã góp phần làm nên thành công của tác phẩm "Văn bút" giúp nhà văn không chỉ nắm bắt mà quan trọng hơn là thể hiện bằng nghệ thuật ngôn từ cốt cách, cá tính nhân vật, thông qua việc lựa chọn, tạo dựng những chi tiết có hàm lượng tư tưởng tưởng thẩm mỹ cao" [10, 41]
Với một nhà sử học hay một công trình lịch sử, thì sự kiện là vấn đề cốt tử, bởi sự kiện mới là cái mà người đọc cần Còn đối với nhà văn hay tác phẩm văn học, cái đáng chú ý chính là các chi tiết của sự kiện Bởi chính nó sẽ tạo ra tính sinh
động, hấp dẫn của tác phẩm, với nhà văn, sự kiện chỉ là phương tiện Hoàng Lê
nhất thống chí cũng chẳng khác gì nhiều so với các tiểu thuyết lịch sử trong văn
học hiện đại, chỉ khác nhau ở cơ sở xuất hiện Hoàng Lê nhất thống chí là sản phẩm
của hiện tượng Văn - Sử - Triết bất phân nên ở đây giá trị lịch sử và giá trị văn học
được coi như bình đẳng Các sử gia vẫn có quyền khai thác sử liệu trong Hoàng Lê
nhất thống chí như ở bất kỳ tác phẩm sử học nào khác, nhưng với tiểu thuyết lịch
sử của thời hiện đại, yếu tố lịch sử đã nằm ngoài sự chú ý của các sử gia bởi vì sự
Trang 17kiện lịch sử có mặt trong tác phẩm chỉ với tư cách phương tiện đơn thuần của nhà tiểu thuyết Với nhà tiểu thuyết, trong khi viết về đề tài lịch sử, tuy vẫn sử dụng những sử liệu, những sự kiện lịch sử, nhưng đã tái hiện lịch sử theo lăng kính chủ quan của nhà văn và theo những yêu cầu riêng của tiểu thuyết Về điểm này nhà văn khác xa so với nhà viết sử
2.9 Có thể nói, từ lâu việc nghiên cứu tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí đã
được nhiều người quan tâm Nhưng nghiên cứu nó trong môi trường quan niệm của mối quan hệ Văn - Sử - Triết bất phân thì chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ Tác phẩm chỉ được nhắc tới như những dẫn chứng trong khi bàn về văn học Việt Nam trung đại, về thể loại tiểu thuyết chương hồi hay đơn giản hơn là
về văn xuôi Việt Nam trung đại mà thôi Vì vậy, nghiên cứu tác phẩm trong môi trường của văn học Việt Nam trung đại với đặc trưng "Văn - Sử - Triết bất phân" là cách để làm nổi bật giá trị nội dung tư tưởng tưởng cũng như nghệ thuật của tác
phẩm Hoàng Lê nhất thống chí Với luận văn này, chúng tôi hy vọng sẽ làm sáng tỏ
tính nguyên hợp trong Hoàng Lê nhất thống chí như một chỉnh thể và cũng là đánh
giá một cách đầy đủ hơn về giá trị nội dung tư tưởng cũng như giá trị nghệ thuật của tác phẩm
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Luận văn sẽ hệ thống những lại những công trình, bài viết nghiên cứu để làm sáng tỏ những nhận định một đặc trưng văn học Việt Nam trung đại qua một
tác phẩm cụ thể: Hoàng Lê nhất thống chí
3.2 Luận văn hướng tới giải quyết những thắc mắc xung quanh vấn đề tác
phẩm Hoàng Lê nhất thống chí là một "tác phẩm văn học" hay là một "tác phẩm
lịch sử" và quan niệm đúng đắn về "tính nguyên hợp" trong tác phẩm này
3.3 Luận văn sẽ đi sâu nghiên cứu tính nguyên hợp của tác phẩm Hoàng Lê
nhất thống chí như một chỉnh thể, ở góc độ tác giả, thể loại và nội dung tư tưởng
Trang 183.4 Từ những nghiên cứu trên, luận văn sẽ góp phần hiểu sâu hơn giá trị nội
dung tư tưởng và giá trị nghệ thuật của tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí, để vận
dụng trong học tập, nghiên cứu và phục vụ công tác giảng dạy ở trường phổ thông
4 Phương pháp nghiên cứu
"Tính nguyên hợp tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí" là một đề tài liên quan
đến nhiều vấn đề; về tác giả, nhân vật, thể loại, nội dung tư tưởng Vấn đề nghiên
cứu không chỉ bó hẹp trong tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí mà liên quan đến
nhiều tác phẩm khác của văn học Việt Nam trung đại Để hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra, chúng tôi áp dụng những phương pháp nghiên cứu sau:
4.1 Phương pháp thống kê, tổng hợp; nhằm tập hợp các ý kiến của các nhà nghiên cứu trong các bài viết, công trình nghiên cứu, các sách chuyên khảo đã có
để làm tư liệu phục vụ cho việc khảo sát một số tiểu thuyết chương hồi của văn học
trung đại Việt Nam, đặc biệt là tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí
4.2 Phương pháp so sánh đối chiếu; nhằm tìm hiểu nguyên nhân, nguồn gốc lịch sử của một đặc trưng mang tính qui luật của văn học trung đại: "Tính nguyên
hợp" của tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí
4.3 Trong luận văn này chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích văn học; phương pháp loại hình, phương pháp khái quát hoá và một số phương pháp khác
Trang 19CHƯƠNG 1
TÍNH NGUYÊN HỢP CỦA HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ
NHÌN TỪ GÓC ĐỘ TÁC GIẢ VÀ NHÂN VẬT
1.1 Khái niệm tính nguyên hợp trong văn học Việt Nam trung đại
1.1.1 "Theo nghĩa rộng, thuật ngữ "Nguyên hợp" (hoặc tính nguyên hợp)
trỏ sự hoà lẫn làm một ban đầu của các loại hình sáng tạo văn hoá; đây là đặc tính của các giai đoạn sớm nhất trong sự phát triển của nó; áp dụng vào nghệ thuật, tính nguyên hợp chỉ tình trạng chưa phân chia của các loại hình nghệ thuật khác nhau, các thể loại thi ca, văn nghệ khác nhau Với sự phức hoá dần dần của tồn tại xã hội
và ý thức xã hội, khối nguyên hợp dần dần mất đi tính chất phổ quát; các loại hình nghệ thuật và các thể loại thi ca được phân chia, tách ra và phát triển độc lập với nhau Tuy vậy, folklore một thời gian dài vẫn bảo lưu tính nguyên hợp và có những hình thức mới cho tính nguyên hợp của nó" [3, 239]
1.1.2 Trong bài viết "Hiện tượng Văn - Sử - Triết bất phân trong văn học
Việt Nam thời đại trung đại" đăng trên TCVH (số 5 - 2002), Giáo sư Nguyễn Đình
Chú cho rằng: "Văn - Sử - Triết bất phân là một hiện tượng mang tính đặc trưng, cũng có thể nói là một qui luật đặc thù không chỉ ở Việt Nam mà còn là ở thế giới nói chung Khi đã mang tính đặc trưng như vậy có nghĩa là một tiêu chí để phân biệt văn học trung đại với văn học hiện đại Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới vẫn gọi văn học trung đại bằng những cái tên như: Văn học hành chức, văn học chức năng, văn học cận văn học, văn học phi văn học " [10, 41] Đồng thời ông cũng cho rằng hiện tượng Văn - Sử - Triết bất phân hay Văn - Sử bất phân, Văn - Triết bất phân trong văn học trung đại trước hết là thuộc qui luật hỗn hợp vốn
là đặc trưng của văn hoá trung đại nói chung một khi mà khối lượng tri thức xã hội chưa phong phú tới độ đòi hỏi phải có sự phân ngành rạch ròi như về sau ở thời hiện đại Hơn nữa, các bậc nho sĩ thời trung đại là mẫu người trí thức mang tính
Trang 20chất hỗn hợp, họ có thể vừa là nhà nho vừa là bậc danh y, vừa là nhà lý số; là nhà thơ nhưng cũng là nhà quân sự đại tài, nhà tư tưởng hay chí ít cũng là một ông quan trong bộ máy chính quyền Từ kiểu tác giả nhà nho mang tính hỗn hợp như thế sẽ
có những tác phẩm mang tính hỗn hợp, giao thoa Hiện tượng Văn - Sử - Triết bất phân trong văn học trung đại cũng từ đấy mà sinh ra và tồn tại
Theo Giáo sư Nguyễn Đình Chú: "Hiện tượng Văn - Sử - Triết bất phân, đặc biệt là Văn - Triết bất phân vốn là sản phẩm của trình độ tư duy nghệ thuật mà trong đó sự phân hoá giữa hai hình thái tư duy: luận lý (cũng gọi là khái niệm, lôgic) và tư duy hình tượng chưa được tách biệt nhau như về sau trong thời hiện đại Nói đến hiện tượng Văn - Sử - Triết bất phân trong văn học trung đại chính là nói tới hiện tượng đan xen giữa hai hình thức tư duy luận lý và tư duy hình tượng, đồng thời cũng là nói đến trạng thái trong sáng tác văn chương, tư duy hình tượng chưa lấn át được hoàn toàn tư duy luận lý Với văn học trung đại, nội dung các ý tưởng, các khái niệm mang tính chất triết học, nói chung vẫn tồn tại trong tác phẩm một cách trực diện bằng tư duy luận lý trong khi ở văn học hiện đại, chúng đã tồn tại theo kiểu gián tiếp, tan biến vào trong hình tượng" [10, 41-42]
Hiện tượng Văn - Sử - Triết bất phân có liên quan mật thiết với quan niệm
văn chương thời trung đại, trong đó khái niệm văn vừa có nghĩa rộng vừa có nghĩa hẹp nhưng nhìn chung là được hiểu theo nghĩa rộng Hẹp là trong trường hợp văn được đặt trong quan hệ đối xứng với chất để chỉ hình thức trong khi chất là thuộc
nội dung: văn chất bân bân (nội dung và hình thức đều hoàn mỹ) Rộng là trong
trường hợp văn gần như đồng nhất với văn hoá, văn hiến, với học thuật nói chung Chữ văn trong luận đề "Tiên học lễ, hậu học văn" cũng có nghĩa rộng như thế Thời
trung đại, một khi quan niệm văn chương còn được mở rộng như thế thì có hiện tượng Văn - Sử - Triết bất phân là chuyện dễ hiểu Khác với thời hiện đại sau này,
dù trong nội hàm của khái niệm văn (literature) vẫn có nghĩa rộng, do đó vẫn có thể
Trang 21bao gồm cả sử, địa, triết, y lý (literature histoty, literature geography, literature philosophy, literatre medical ), nhưng chủ yếu lại đã thiên vào nghĩa hẹp, tức là văn mỹ thuật Khi nghiên cứu về văn chương trung đại, lâu nay vẫn tồn tại những quan niệm "văn dĩ tải đạo" (văn để chở đạo), "văn dĩ quán đạo" (văn để quán triệt đạo), "văn dĩ minh đạo" (văn để làm sáng tỏ đạo), "thi ngôn chí" (thơ để nói chí) Với những quan niệm như thế thì trong sáng tác văn chương, chức năng giáo huấn
sẽ được đặt lên hàng đầu, lấn át chức năng thẩm mỹ, chức năng nhận thức, chức năng phản ánh là điều dường như tất yếu Và chính điều đó cũng liên quan tới hiện tượng Văn - Triết bất phân bởi nội dung triết (cần hiểu theo nghĩa rộng là tư tưởng) chính là nội dung giáo huấn được tồn tại trực hiện như đã nói Trong thời trung đại, bên cạnh quan niệm coi văn chương là phương tiện chở đạo đã thành chính thống, không phải không xuất hiện quan niệm về tính độc lập tương đối của văn Ở Trung Quốc, cùng với quan niệm "văn dĩ tải đạo", "văn dĩ quán đạo", cũng có quan niệm "văn thị văn, đạo thị đạo" (văn là văn, đạo là đạo) Với quan niệm này, ý thức
về tính độc lập tương đối của văn đã nảy sinh Khi Nguyễn Đình Chiểu viết:
"Văn chương ai cũng muốn nghe
Phun châu nhả ngọc báu khoe tinh thần."
cũng là tỏ ra đã thấy được cái vẻ đẹp cần có về hình thức song song với giá trị quí báu trong nội dung của văn chương Tuy nhiên, mức độ tự giác về tính độc lập tương đối của văn chương ở đây vẫn chưa đủ để vươn tới trình độ của thời hiện đại một khi mà chức năng thẩm mỹ của văn chương đã được nhận thức sâu sắc, những thuộc tính mang tính đặc trưng của văn chương so với các loại hình nghệ thuật khác, các loại hình văn hoá khác đã được phát hiện tường minh Trạng thái đó dĩ nhiên liên quan tới hiện tượng Văn - Sử - Triết bất phân, nhưng mặt khác, cũng chính trạng thái này sẽ là mầm mống báo hiệu khả năng tách văn khỏi sử, khỏi triết
và thực tế đã được thể hiện ở thời hiện đại sau này [10, 42]
Trang 22Hiện tượng Văn - Sử - Triết bất phân trước hết được thể hiện trong hệ thống thể loại của văn học trung đại gồm hai loại hình chính là văn vần và văn xuôi Trên đại thể, hiện tượng Văn - Sử - Triết bất phân thể hiện ở phạm vi văn xuôi rõ nét hơn
ở văn vần Bởi bản chất trữ tình vốn là thuộc tính nổi trội của loại hình văn vần nên
tự nó đã có khả năng hạn chế sự xâm lấn của sử và triết nếu so sánh tương đối với loại hình văn xuôi Mặc dù trong loại hình văn vần có thể loại diễn ca lịch sử được coi như là một hiện tượng Văn - Sử bất phân không chỉ thể hiện đặc trưng văn học trung đại mà còn có khả năng tồn tại lâu dài, ngay ở thời hiện đại Trong loại hình văn xuôi của thời trung đại, các thể loại của nó, có thể chia làm hai bộ phận: Bộ phận thứ nhất bao gồm các thể loại cụ thể như chiếu, chế, biểu, bi, minh, kí, văn sách, luận thuyết, triết lý, tự, bạt là những thể loại - nói như thuật ngữ hiện nay là thuộc văn chính luận - đều được viết bằng tư duy khái niệm Tư duy hình tượng nếu có thì chỉ ở cấp độ chi tiết mà thực ra cũng chẳng có nhiều Với bộ phận này, hiện tượng Văn - Triết bất phân trở thành đặc trưng thể loại Bộ phận thứ hai gồm các thể loại cụ thể như tiểu truyện, liệt truyện, truyện, tiểu thuyết chương hồi, kể cả các thể loại thuộc văn học Phật giáo như truyện truyền đăng, truyện thần kỳ, truyện các thánh, hoặc các thể loại gắn với nghi lễ tôn giáo như thần tích, thần phả đều ít nhiều đã có yếu tố truyện, có nghĩa là đã có yếu tố văn hơn, nhưng vẫn chưa đủ để tách khỏi sử, khỏi triết Thể liệt truyện, tiểu thuyết chẳng hạn, đầu tiên vẫn có mặt trong các sách sử Có thể nói, các thể loại này là sản phẩm của qui luật Văn - Sử bất phân Bởi thế mà sau này, các sử gia vẫn khai thác nội dung các liệt truyện như khai thác bất kỳ công trình sử học nào khác Trong khi các nhà văn học sử, nói đến
sự ra đời của thể loại truyện ngắn, vẫn không quên nhắc đến tiểu truyện, liệt truyện, các loại truyện ngắn với việc tuyên truyền Phật giáo, coi như là một trong những mầm mống ban đầu Tất nhiên, ngay ở thời trung đại, trong thể loại truyện cũng đã
có một bộ phận về cơ bản tách khỏi sử, khỏi triết Nhưng ngay ở đây, dấu vết của
Trang 23quan hệ Văn - Triết bất phân, Văn - Sử bất phân, Văn - Sử - Triết bất phân không
phải không còn Thực tế, nó vẫn in dấu vết trong cơ chế nghệ thuật, trong bút pháp
của tác phẩm Xét cơ chế nghệ thuật của nhiều truyện trung đại, ở cả hai loại hình
văn xuôi và văn vần (truyện thơ), nhiều nhà nghiên cứu từng nói đến tính tiên
nhiệm Điều đó không gì khác, chính là dấu vết chi phối của hiện tượng Văn - Triết
bất phân trong cơ chế nghệ thuật của tác phẩm [10, 42-43]
1.1.3 Hiện tượng Văn - Sử - Triết bất phân có thể xem như một đặc trưng
của văn học trung đại, ngoài tính ước lệ tượng trưng, qui phạm, điển cố, phi ngã
trong mỗi một tác phẩm cụ thể, mối quan hệ Văn - Sử - Triết bất phân mang tính
đặc trưng này biểu hiện khá sinh động, không có một cơ chế thống nhất Trong văn
học Việt Nam trung đại có nhiều tác phẩm thể hiện khá rõ đặc trưng này, xin nêu
một vài ví dụ điển hình như: "Chiếu dời đô" của Lý Công Uẩn, "Nam quốc sơn hà"
của Lý Thường Kiệt là những tác phẩm thể hiện rõ mối quan hệ Văn - Triết bất
phân Tác phẩm "Bình Ngô đại cáo" của Nguyễn Trãi, "Hoàng Lê nhất thống chí"
của Ngô Gia văn phái là điển hình cho hiện tượng Văn - Sử - Triết bất phân Trong
luận văn này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu tính nguyên hợp trong tác phẩm
Hoàng Lê nhất thống chí trên những phương diện như tác giả, nhân vật, thể loại,
nội dung tư tưởng triết học Tính nguyên hợp trong Hoàng Lê nhất thống chí được
nhìn nhận như một chỉnh thể của một tác phẩm văn học
1.2 Kiểu tác giả văn học Việt Nam trung đại và tác giả
Hoàng Lê nhất thống chí
1.2.1 Hiện tượng Văn - Sử - Triết bất phân trong văn học trung đại trước hết
là thuộc qui luật hỗn hợp vốn là đặc trưng của văn hoá trung đại nói chung, trong
bối cảnh khối lượng tri thức của xã hội chưa phong phú tới độ đòi hỏi phải có sự
phân ngành rạch ròi như thời đại chuyên nghiệp, chuyên môn hoá như ngày nay
Như đã trình bày ở trên, các tác giả văn học trung đại, có thể vừa nhà Nho vừa là
Trang 24nhà quân sự, thầy địa lý, vừa là một danh y, cho nên tác phẩm của họ cũng nằm trong cái qui luật hỗn hợp đó Tuy nhiên, trong thời hiện đại mức độ và tính chất của hiện tượng này lại được hiểu khác, nghĩa là trong văn học vẫn có tư tưởng triết học nhưng nó không phải là sự hoà đồng mà chỉ là phương tiện thẩm mỹ Ngày nay các nhà tư tưởng có những tác phẩm triết học riêng của mình chứ không phải như hiện tượng Văn - Sử - Triết bất phân trong văn học trung đại
Tính chân thực của các sự kiện, các nhân vật lịch sử trong bất kỳ một tài liệu
nào cũng hết sức cần thiết Đối với một tác phẩm lấy đề tài từ lịch sử như Hoàng
Lê nhất thống chí thì lại càng cần thiết Lịch sử là cái đã xảy ra, cái thuộc về quá
khứ, nên đối với những thế hệ sau không phải bao giờ lịch sử cũng là sự thật Sự thật nhiều khi khác xa so với những gì mà tư liệu lịch sử cung cấp Nhưng với một
tác phẩm như Hoàng Lê nhất thống chí thì có thể tin đó là những gì chân thực bởi
tác giả của nó là những người sống cùng thời Các sự kiện lịch sử mà tác phẩm nêu lên là hiện thực đương thời của tác giả, hơn nữa họ lại là những người tham gia vào những sự kiện đó, hay ít ra cũng được chứng kiến Các tác giả không chỉ là những nhà chép sử mà họ còn là nhân chứng lịch sử Mặc dù cho đến nay, tác giả của
Hoàng Lê nhất thống chí là những ai? vẫn chưa có sự thống nhất, nhưng theo
những tư liệu lịch sử hiện có, chúng tôi cho rằng, tác giả của Hoàng Lê nhất thống
chí là những người đã sống trong thời kỳ sôi động đó
Hiện tượng các tác giả văn học Việt Nam trung đại vừa là nhà Nho, nhà vua, tướng lĩnh, nhà Sư là rất phổ biến trong Khi đã là những người tiêu biểu cho xã hội, họ thường sáng tác thơ văn để bộc lộ tư tưởng của mình trước thời cuộc và những sáng tác đó nhiều khi là những tác phẩm có giá trị tư tưởng nhiều hơn giá trị nghệ thuật Tư tưởng ở đây là tư tưởng của thời đại, tư tưởng triết học và các tác
giả văn học cũng là những nhà tư tưởng Trong cuốn Lịch sử tư tưởng Việt Nam
văn tuyển do Viện triết học - Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia
Trang 25biên soạn, Nxb Chính trị Quốc gia, năm 2002 (dự kiến 5 tập, tập 1 xuất bản năm
2002, tập 2 xuất bản năm 2004), các soạn giả đã chọn rất nhiều tác giả, bao gồm các bậc quân vương và các nhà tư tưởng Trong số họ, có nhiều người đã rất quen thuộc với bạn đọc như Lý Công Uẩn, Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, Trần Thánh Tông, Trần Quốc Tuấn, Lê Văn Hưu, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Trương Hán Siêu, Hồ Tông Thốc, Phạm Sư Mạnh, Trần Nguyên Đán, Nguyễn Phi Khanh, Nguyễn Trãi, Nguyễn Đình Chiểu Theo PGS - TS Trần Ngọc Vương, chính tính nguyên hợp của loại hình trí thức đã dẫn đến tính nguyên hợp của loại hình tác phẩm Ông cho rằng: "Không thể không tính đến đặc điểm này khi tìm hiểu văn học trung đại, của Việt Nam cũng như của thế giới Ở Trung Quốc từ rất sớm đã có một sự phân hoá mạnh mẽ đội ngũ trí thức thành môn đồ của rất nhiều học phái, học thuyết, "giáo" khác nhau Tuy nhiên sự phân hoá dựa trên một trục đối lập chủ yếu là trục "lưu, phái, thuyết, giáo" Thắng lợi của Nho giáo trên cương
vị ý thức hệ từ đời Hán đã "nguyên hợp hoá" trở lại đội ngũ trí thức ấy Lối hình dung "tam giáo đồng nguyên", "tam giáo tịnh hành", "Nho pháp tĩnh dụng", châm ngôn thuộc nằm lòng của các nhà Nho "Nhất nghệ bất tri Nho giả sở sỉ" v.v đã kìm hãm có kết quả quá trình chuyên môn hoá" [45, 29] Trong thực tế đã xảy ra khó khăn khi cần xác định một cá nhân nào đó là mẫu nhà nho này hay mẫu nhà nho kia và hơn nữa là coi cá nhân nào đó là thuộc về Nho, thuộc về Đạo hay thuộc Phật giáo Cũng theo Trần Ngọc Vương: "Sản phẩm của hoạt động tinh thần của những trí thức "nguyên hợp" như vậy dĩ nhiên cũng mang tính nguyên hợp Đối diện với một văn bản của một tác giả như vậy, các nhà khoa học thuộc nhiều chuyên ngành khác nhau và nhiều lúc rất xa nhau của các khoa học hiện đại đều
cảm thấy có đủ thẩm quyền coi đó là đối tượng nghiên cứu original của mình
"Tham đồ hiển quyết" trước khi là một tác phẩm văn chương, hẳn có quyền được coi là một văn kiện tôn giáo, một sự trình bày triết học "Xuân thu quản kiến" chắc
Trang 26chắn là một công trình nghiên cứu theo lối học thuật nhưng cũng là một thứ văn kiện trình bày những kiến giải chính trị của tác giả trước thời cuộc Kệ là thơ mà kệ cũng là sự khải thị tôn giáo Nhà chùa mời nhà Nho hay chữ viết bi ký dĩ nhiên trước hết để xiển dương công đức và giáo lí của tôn giáo mình thì nhà Nho "tiện thể" cảm thán về thế đạo nhân tâm và không từ cả việc phê phán luôn Phật giáo
1.2.2 Về tác giả Hoàng Lê nhất thống chí cũng có nhiều vấn đề cần phải bàn Là một tác phẩm lớn mà giá trị tiềm tàng của Hoàng Lê nhất thống chí ngày
càng được khám phá, vì vậy những người viết nên nó đương nhiên cũng cần được coi là những nhà văn lớn Xác định được ai là tác giả, đi sâu vào cuộc đời họ để nghiên cứu các tác phẩm thơ văn khác của họ sẽ càng có điều kiện hiểu kỹ hơn về
tác phẩm chính, từ đó mà hiểu thêm giá trị văn chương trong Hoàng Lê nhất thống
chí Cho đến nay có nhiều giả thiết khác nhau về tác giả của Hoàng Lê nhất thống chí, những ý kiến tựu trung xoay quanh bốn người là Ngô Thì Chí, Ngô Thì Du,
Ngô Thì Nhậm và Ngô Thì Thiến Có 4 bản chép tay Văn tịch chí trong Lịch triều
hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, có 1 bản ghi tác giả Ngô Thì Ức và 1 bản
ghi tác giả là Ngô Thì Sĩ, nhưng có lẽ là do chép nhầm Qua quá trình nghiên cứu các tư liệu lịch sử và thư tịch cổ, nhà nghiên cứu Phạm Tú Châu cho rằng: "Cho tới
nay, chúng tôi vẫn phải để tác giả Hoàng Lê nhất thống chí gồm cả bốn người nói
trên, sắp xếp theo thứ tự trước sau và mức độ chắc chắn là Thì Chí, Thì Du, Thì Nhậm và Thì Thiến" PGS-TS Phạm Tú Châu cũng nhấn mạnh thêm rằng: "Chưa
có lý do gì chắc chắn để loại trừ một người nào trong số 4 người trên Cấu trúc của tác phẩm cùng cách viết của các hồi cũng chứng tỏ ít nhất có 3 người trở lên tham
gia viết Hoàng Lê nhất thống chí Còn vấn đề họ viết nhiều hay viết ít, sửa chữa,
thêm bớt của nhau, và sử dụng tài liệu của người khác như thế nào, cũng như những người đọc sửa chữa thêm bớt vào cuốn sách như thế nào, thì ngoài những
Trang 27điều chúng tôi đã tìm ra và trình bày, các tài liệu hiện chưa cho phép ta khẳng định một cách thật dứt khoát, mặc dù ta biết chắc chắn là có những việc đó" [6, 111]
Theo tác giả Mai Quốc Liên và Kiều Thu Hoạch trong bài viết "Góp phần
xác định tác giả Hoàng Lê nhất thống chí" in trên TCVH (số 4 - 1981), tác giả của Hoàng Lê nhất thống chí chỉ có thể là hai người, đó là Ngô Thì Chí và Ngô Thì Du
Ngô Thì Chí tên tự là Học Tốn, hiệu là Uyên Mật, là con thứ hai của Ngô Thì
Sĩ và là em ruột của Ngô Thì Nhậm, ông đỗ Á nguyên hương tiến, làm quan đến chức Thiêm thư Bình chương tỉnh sự Về năm sinh của ông, gia phả không ghi,
nhưng căn cứ vào bài thơ khai bút năm Ất tị (1785) của ông ghi trong Học Phi thi
tập có câu "Ngô niên tam thập tam" (Tuổi ta năm nay ba mươi ba) mà suy ngược
lên thì có thể đoán ông sinh vào khoảng năm 1752 Năm 1784, Nguyễn Huệ sai Võ Văn Nhậm ra Bắc diệt Nguyễn Hữu Chỉnh, trong khi Ngô Thì Nhậm ở lại cộng tác với nhà Tây Sơn thì Ngô Thì Chí bỏ Thăng Long chạy theo Lê Chiêu Thống Lê
Chiêu Thống đóng tại vùng Chí Linh, Hải Dương, Ngô Thì Chí dâng bản Sách lược
trung hưng tỏ ra rất tha thiết với công cuộc phục hưng cơ nghiệp nhà Lê Sau đó,
ông được Lê Chiêu Thống cử đi công cán ở Lạng Sơn, nhưng mới tới huyện Phượng Nhãn thì bị ốm nặng, sau cáng về đến huyện Gia Bình thì chết, lúc đó vào
khoảng năm 1788 Những sự việc này, chính hồi 10 và 11 trong Hoàng Lê nhất
thống chí đã ghi khá rõ ràng Ngô Thì Chí là một người có tài thơ văn, lại làm quan
"nội hàn viện", chức quan văn trong nội các, do đó ông có điều kiện để sáng tác thơ
văn Ông còn để lại Học Phi thi tập, Học Phi văn tập, Hào mân khoa sở, được tập hợp trong Ngô gia văn phái với cái tên chung là Học Tốn công di thảo Theo gia phả, ông còn viết sách Tân đàm tâm kính và gia phả cũng ghi ông viết sách An Nam
nhất thống chí 7 hồi Từ thực tiễn sáng tác của Ngô Thì Chí như vậy càng cho phép
chúng ta tin rằng điều mà gia phả ghi và Vũ trung tuỳ bút đã ghi không phải là
không có căn cứ Hơn nữa, có một số bản sao cũng đều ghi rõ Ngô Thì Chí là tác
Trang 28giả của Hoàng Lê nhất thống chí cũng là một căn cứ Như vậy, Ngô Thì Chí là một trong số các tác giả của Hoàng Lê nhất thống chí
Ngô Thì Du tự xưng là Trưng Phủ, hiệu là Văn Bác, sinh năm 1772 , mất năm 1840, là con Ngô Thì Đạo và cháu của Ngô Thì Sĩ , ông từng làm đốc học Hải
Dương vào đầu thời Gia Long, là tác giả của Trưng Phủ thi văn tập trong Ngô gia
văn phái và cũng chính là người soạn Ngô gia thế phả ký Ngô Thì Du cũng là đồng
tác giả của Hoàng Lê nhất thống chí, mà nếu Ngô Thì Chí là tác giả của phần chính
biên thì Ngô Thì Du là tác giả của phần tục biên Nhưng do gia phả chỉ ghi ông viết 7 hồi mà không ghi rõ là 7 hồi nào cho nên nhà nghiên cứu văn học Dương Quảng Hàm và dịch giả Ngô Tất Tố đều có thắc mắc là không biết Ngô Thì Du có phải là tác giả của phần tục biên hay không? Sở dĩ như vậy là vì phần tục biên có những 10 hồi chứ không phải là 7 hồi Nếu Ngô Thì Du là tác giả của 7 hồi thì 3 hồi còn lại do ai viết? Điều này là một hoài nghi khoa học rất đáng lưu ý và cần phải tìm hiểu [19, 33-36]
Từ những băn khoăn của các nhà nghiên cứu trong việc trả lời câu hỏi ai là
tác giả Hoàng Lê nhất thống chí, ngày nay chúng ta vẫn hay sử dụng cách gọi chung là Ngô gia văn phái để thay thế cho tên tác giả cụ thể Đấy là cách làm hợp
lý cho đến khi chúng ta tiến thêm được một bước mới trong việc xác định tác giả
Hoàng Lê nhất thống chí, nếu không, chỉ còn cách là nêu tên cả 4 người mà như
vậy thì không tiện lợi
1.2.3 Có thể nói, nội dung của tác phẩm chính là hiện thực lịch sử mà tác phẩm đã phản ánh thông qua các hình tượng Trước hết, phải nói toàn bộ tác phẩm
là sự vạch trần với một tinh thần phê phán cương trực một xã hội đầy rẫy những mặt đen tối và đau thương; trong đó nổi bật lên bộ mặt của một guồng máy thống trị thối nát Những sự tranh giành, cướp giật quyền bính giữa các phe phái trong tập đoàn phong kiến Lê - Trịnh, những âm mưu đen tối, những cuộc chém giết, những
Trang 29vụ nổi loạn, trộm cướp, giết người, hãm hiếp và đàn áp dư luận, v.v Tất cả những vết thương trên tấm thân già gần kiệt sức của chế độ phong kiến đã được tác giả giải phẫu một cách tinh tế Qua việc mô tả những sự kiện ấy một cách sinh động, tác giả đã tỏ rõ sự chán ghét, sự bất mãn và sự phẫn nộ của chính mình Những biến động của dòng lịch sử đang chảy xiết, sức vang dội của những trào lưu tư tưởng tiến bộ đã làm cho tác giả nhìn thấy sự mong manh, lung lay và sự sụp đổ không gì cứu vãn nổi của những thiết chế xã hội xây dựng lên từ bao thế kỷ Vì điều khiển cái xã hội ấy là những tên hoang dâm, xa xỉ như Trịnh Sâm, hèn nhát như Trịnh Tông, một ông vua cam tâm nhận một số phận bù nhìn như Lê Cảnh Hưng, một tên bán nước, ti tiện và tàn ác như Lê Chiêu Thống Tác giả đã không giấu nổi sự khinh
bỉ của mình khi nói về những nhân vật đó, mặc dù ở đây sự tác động của tư tưởng chính thống cũng mạnh mẽ hơn bao giờ hết Con người Trịnh Sâm tuy được tác giả khen là "bậc cương minh, anh đoán, trí tuệ hơn người", nhưng cũng chính con người ấy đã bị tác giả vạch ra một cách quá rõ ràng rằng y chỉ là một tên nô lệ của
mụ đàn bà họ Đặng, cũng dâm đãng không kém Còn Trịnh Tông, kẻ may mắn là con trưởng, kẻ được lũ kiêu binh kia tung hô trên chiếc mâm bày cỗ cũng chỉ là một con rối trong tay mấy viên quan trung thành với chúa Trịnh Trước thái độ luồn cúi ti tiện của Lê Chiêu Thống đối với giặc Mãn Thanh, tác giả đã mượn lời một người dân thốt lên: "Nước Nam ta từ khi có đế, có vương đến nay chưa bao giờ có ông vua đê hèn khuất phục như thế" Chỉ qua việc mô tả những vụ trả thù man rợ của y đối với những người trong hoàng tộc đã chót gả con gái cho Tây Sơn, hay thái độ của y trong những vụ cướp giật tài sản giữa ban ngày, thì ngàn năm sau hỏi
có kẻ hôn quân nào có thể biện bạch cho những tội ác của y
Một xã hội như vậy sẽ là nơi cho những kẻ hung bạo, ác ôn như Đặng Mậu Lân tác oai tác quái, là điều kiện thuận lợi cho những vụ nổi loạn của đám kiêu binh Tác giả đã nhìn thấy hết cảnh lầm than của nhân dân và cũng nhận thấy sức
Trang 30mạnh như vũ bão của họ khi kết thành một khối dưới sự lãnh đạo của một minh quân Những lời đe doạ, những hình phạt dã man cũng không ngăn cản được làn sóng phản kháng ngày một mạnh mẽ của những người dân đen Tất cả những sự kiện lớn nhỏ đã cho ta thấy bóng dáng của lực lượng quần chúng nhân dân đông đảo bắt đầu quan tâm đến những vấn đề thuộc về vận mệnh của chính mình, của quốc gia dân tộc Một hiện thực hào hùng nhất chính là những chiến thắng của nghĩa quân Tây Sơn Tác giả đã không che giấu lòng thán phục của mình đối với lực lượng đối lập của triều đình mình Có lẽ lòng nhiệt tình yêu nước, ý thức tự tôn
về một dân tộc vốn được sinh ra từ một bọc trứng, đã chiến thắng phần nào những định kiến giai cấp mù quáng Một mặt, do ngọn cờ mà nghĩa quân Tây Sơn giương lên khi tiến quân ra bắc là "phù Lê, diệt Trịnh", nhưng quan trọng hơn, những chiến thắng của quân Tây Sơn là những chiến thắng của người Việt Nam chúng ta trước
kẻ thù ngoại xâm Vì thế mà chưa bao giờ ngòi bút của các tác giả Hoàng Lê nhất
thống chí lại sảng khoái đến như vậy, niềm hân hoan, sự hả hê như chính họ là
người chiến thắng Lúc này lập trường của các tác giả đã đứng hẳn về phía nghĩa quân Tây Sơn, về người anh hùng Nguyễn Huệ, bởi chiến thắng này là chiến thắng của dân tộc Việt Nam trước quân xâm lược nhà Thanh Đó là một hiện thực mà không một ngòi bút có lương tri nào lại có thể xuyên tạc [26, 78-81]
1.3 Hình tượng nhân vật trong tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí
1.3.1 Xét về cách xây dựng nhân vật, có thể nói rằng, tác phẩm Hoàng Lê
nhất thống chí đã đem đến cho chúng ta một ấn tượng mạnh mẽ khi tác giả đã rất
thành công trong việc đưa những nhân vật của lịch sử vào trong tác phẩm văn học Trong lịch sử văn học dân tộc, chưa có tác phẩm nào có được cái qui mô hoành
tráng và hệ thống nhân vật như Hoàng Lê nhất thống chí và đặc biệt nhất là những
nhân vật này đều là những nhân vật có thật trong lịch sử Trong việc xây dựng nhân vật, các tác giả đã chú ý đến những diễn biến tâm lý, sự thoát khỏi cách mô tả diện
Trang 31mạo theo lối truyền thống, ước lệ; lối văn tự sự bậc thầy; lời văn xúc tích và giàu hình ảnh, nhất là những đoạn đối thoại bộc lộ rõ tính cách nhân vật; lối kể truyện hấp dẫn: nhân vật này xuất hiện liền kéo theo nhiều nhân vật khác
Trong bối cảnh lịch sử của những năm cuối thế kỷ XVIII, tình hình xã hội nước ta vô cùng phức tạp, những cuộc nổi dậy của nông dân trong nước và sự xâm lược của phong kiến nước ngoài, đang đe doạ đến sự tồn vong của quốc gia dân tộc Trong cơn bão táp của lịch sử, những luồng tư tưởng mới đã xuất hiện, làm lung lay những thành trì tư tưởng hàng ngàn năm của một đất nước nghèo nàn và lạc hậu Những con người mới của lịch sử đã xuất hiện, họ đã trở thành tín hiệu dự báo sự cáo chung của triều đại phong kiến cũ nát, rệu rã, đến lúc phải phá bỏ để xây dựng một xã hội mới tươi đẹp hơn Những cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra liên tiếp, cùng với sự suy vong không gì cứu vãn nổi của triều đình phong kiến đã gây nên bao nhiêu cảnh đau thương tang tóc cho nhân dân, những cuộc tranh giành quyền bính giữa các tập đoàn phong kiến đã gây ra cảnh "nồi da xáo thịt", cảnh
"huynh đệ tương tàn" và nguy cơ mất nước cũng từ đây mà ra Trong hoàn cảnh
như vậy, tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí ra đời và trở thành nơi hội tụ của các
nhân vật lịch sử mà nhiều người trong số họ chúng ta đã được nghe tên
1.3.2 Sức mạnh của một tác phẩm văn học có liên quan đến lịch sử, có lẽ không có gì thuyết phục hơn chính là những sự kiện và nhân vật lịch sử Với tác
phẩm Hoàng Lê nhất thống chí, lần đầu tiên công chúng bạn đọc được tiếp cận với
những chuyện được gọi là "thâm cung bí sử" của các vua chúa cũng như triều đình phong kiến Điều thú vị nhất của tác phẩm chính là ở chỗ nó đã xây dựng được một
hệ thống nhân vật đa dạng, muôn hình muôn vẻ và cực kỳ sinh động Chưa bao giờ trong lịch sử văn học dân tộc lại có một tác phẩm có số lượng nhân vật đông đảo
như vậy Các nhân vật trong Hoàng Lê nhất thống chí được kể với lý lịch rõ ràng,
có hành động, có tính cách và nhiều nhân vật đạt đến độ điển hình, không còn là
Trang 32một nhân vật lịch sử đơn thuần mà thực sự đã trở thành nhân vật văn học Có thể
nói, điều đặc sắc nhất trong Hoàng Lê nhất thống chí là việc thể hiện những nhân
vật thuộc hàng ngũ các tầng lớp thống trị phong kiến Thật là đủ hạng người khác nhau, tiêu biểu cho nhiều thứ bậc từ trên xuống dưới của cái xã hội phong kiến thối nát đang trên đà suy vong, sụp đổ trước sức tấn công như vũ bão của những cuộc khởi nghĩa nông dân ở trong nước, cũng như trước sự xâm lược của thế lực phong kiến nước ngoài Từ những kẻ mang nặng tính chất lưu manh côn đồ, cơ hội, đục nước béo cò như Đặng Mậu Lân, ỷ thế chị là Tuyên phi Đặng Thị Huệ được chúa sủng ái, mà trở nên ngông cuồng, càn rỡ Một tên tuần huyện Trang, vốn là học trò của Lý Trần Quán, đã phản thầy, hại chúa với câu nói "Sợ thầy chưa bằng sợ giặc, yêu chúa chưa bằng yêu thân mình" Và đây nữa, quan trấn thủ Nguyễn Cảnh Thước, nhân lúc hỗn quân hỗn quan đã cướp tiền vàng và lột cả ngự bào của vua đang mặc trên người Nhưng đáng kể nhất là những quan đại thần quyền cao chức trọng, những bậc phong lưu công tử trong trốn cung đình lại trở thành những kẻ đốn mạt nhất Một bậc công tử phong lưu và hèn yếu như quốc sư Nguyễn Khản; ngu xuẩn, bỉ ổi và bất tài như quốc cữu Dương Khuông Đặc biệt là những bậc danh tướng, những người được coi là trụ cột triều đình thì bè phái, gian hùng, lộng quyền như quận Huy Hoàng Đình Bảo, huênh hoang giả dối mà tàn bạo như Đinh Tích Nhưỡng, khoác lác mà ngả nghiêng, mưu mô quyền vị như Hoàng Phùng Cơ
Và trên đỉnh cao nhất của quyền lực thiên hạ chính là những bậc vua, chúa, những người được coi là "mẫu nghi thiên hạ", đại diện cho lợi ích của toàn quốc gia, dân tộc, cũng chính là những kẻ tột cùng của sự tàn bạo, đê hèn Trịnh Sâm là ông chúa đầu tiên được nhắc tới, mặc dù được khen "là người cứng rắn, thông minh, quyết đoán sáng suốt, trí tuệ hơn người, có đủ tài về văn lẫn võ, đã xem khắp kinh sử, biết làm văn thơ", nhưng cũng chính con người này là một kẻ chuyên quyền, tàn bạo và hoang dâm, xa xỉ Đến lượt mình, kẻ nối nghiệp chúa bằng một cuộc bạo loạn của
Trang 33kiêu binh, Trịnh Tông cũng là một kẻ hèn hạ mà tham quyền cố vị, rồi một Trịnh Bồng bất tài, mù quáng, đi tu chẳng chót đời, cố đấm ăn xôi bám lấy ngôi chúa Những bậc cao danh của triều đình nhà Lê cũng chẳng hơn gì, một ông vua Lê Cảnh Hưng nhu nhược, đớn hèn, suốt một đời "chỉ còn biết chắp tay rủ áo" để hoàng gia mỗi ngày một suy yếu dần và tồn tại như một cái bóng bên cạnh nhà chúa Đời vua cuối cùng của nhà Lê chính là Lê Chiêu Thống, kẻ khép lại những trang sử oai hùng của các bậc tiền bối nhà Lê bằng hành động rước voi về dày mả
tổ, ông vua duy nhất trong lịch sử mang đất nước trao vào tay giặc để mong giữ được cái ngai vàng đã không còn chút giá trị nào Một ông vua như thế ắt phải nhận cái kết cục bi thảm, phải sống kiếp lưu vong xứ người, ôm hận chết nơi đất khách, may còn nắm xương tàn mang về cố quốc Tất cả những nhân vật ấy, tuy rất khác nhau về địa vị cũng như tính cách nhưng đều như những con rối múa may quay cuồng trên sân khấu triều đình trong buổi hoàng hôn nhá nhem của ngày tàn Trong cái xã hội phong kiến thối nát và đồi bại ấy lại vẫn còn một số ít nhân vật bảo thủ,
cố chấp bám lấy cái thành trì phong kiến đã mục ruỗng từ lâu, trở thành những kẻ lỗi thời trong những hành động trung nghĩa Trong cách nhìn của chúng ta ngày nay, hành động tự chôn sống của Lý Trần Quán, cái chết của Triêm Vũ hầu, Trần Công Xán vì để tỏ lòng trung thành với vua, chúa, các bậc minh quân của mình, không khỏi mang tính chất bi hài Họ đã được các tác giả ca ngợi hết lòng và nêu lên như những tấm gương sáng của tinh thần trung quân, nhưng đấy là nhìn theo quan điểm chính thống Tuy nhiên, trong cảnh tối tăm của xã hội bấy giờ, vẫn còn những nho sĩ thức thời, đã kịp nhận ra đâu là lực lượng tiến bộ và nhanh chóng đứng vào hàng ngũ ấy, để đem hết tài năng và đức độ ra mà phục vụ như Phan Huy Ích, Ngô Thì Nhậm và họ đã trở thành những người phò tá đắc lực của Nguyễn Huệ trong công cuộc chống quân xâm lược nhà Mãn Thanh, bảo vệ đất nước
Trang 34Có thể nói, ngọn bút hiện thực sắc bén của các tác giả Hoàng Lê nhất thống
chí đã xây dựng được một hệ thống nhân vật đa dạng với những nét tính cách tiêu
biểu nhất thể hiện trong hành động hay trong lời nói của nhân vật trong những hoàn cảnh đặc biệt, với những quan hệ phức tạp, bằng phong cách mô tả đơn giản mà cô
đọng, hàm súc Với cách mô tả nhân vật theo lối tự nhiên, các tác giả của Hoàng Lê
nhất thống chí đã khắc hoạ được những hình ảnh khá ấn tượng về những nhân vật
của mình, với những nét tính cách đặc sắc Nhân vật mà ta bắt gặp ngay đầu tác phẩm là tuyên phi Đặng Thị Huệ, ái phi của chúa Trịnh Sâm, mụ đàn bà này quả là biết cách để làm cho chúa phải sủng ái mình Thị ném viên ngọc mà chúa rất quí và luôn giữ bên mình xuống đất rồi trách chúa là "quí ngọc hơn người", rồi thị khóc lóc tìm cách để chúa lập con trai mình làm thế tử, mong sau này hưởng cái phúc đứng đầu muôn dân Đứa em trai của thị Huệ là Đăng Mậu Lân mới thật là kẻ vũ phu, càn rỡ, hắn từng thét vào mặt Sử Trung hầu rằng: "- À mày đem chúa để doạ tao phỏng? Chúa là cái quái gì?" và tuốt gươm chém Sử Trung hầu chết ngay tại chỗ Một nhân vật khác là viên Phó đô ngự sử Nguyễn Đình Giản, là kẻ "cuồng trực" mà tính cách nổi bật lên chỉ bằng một lời kể lại của người khác: "Ông chẳng thấy quận Hoàn là bố vợ hắn, vậy mà hắn còn ngồi lại giữa triều kể tội ông ta rằng quỳ gối theo giặc, huống chi là người khác? " Đặc sắc nhất là cái chết bi hài của trung thần Lý Trần Quán: "Quán sai đào huyệt ở ngay vườn sau nơi nhà mình ở, đặt sẵn chiếc quan tài xuống đó Lấy vải trắng xé ra làm một chiếc khăn đội đầu và một chiếc dây lưng Sau đó, đội mũ mặc áo chỉnh tề, hướng về phía nam lạy hai lạy Lạy xong, lại bỏ mũ, lấy khăn trắng chít lên đầu, lấy dải lưng trắng thắt ngang lưng: rồi nằm vào trong quan tài, bảo chủ nhà đậy nắp lại khi người nhà đặt tấm ván lên, Quán ở trong áo quan còn nói vọng ra, còn một câu chưa nói, và nói rằng:
"Tam niên chi hiếu dĩ hoàn
Thập phần chi trung vị tận” [31, (tập1)132]
Trang 35Thật là một sự tận trung mù quáng
Xét ở khía cạnh xây dựng nhân vật, chúng tôi cho rằng, tác phẩm Hoàng Lê
nhất thống chí đã đạt được những thành công mà không phải tác phẩm văn xuôi
trung đại nào cũng có được Những nhân vật trong tác phẩm thực sự trở nên sống động khi nó được chính những người sống cùng thời mô tả Có thể có những chỗ tác giả bị quan điểm chính trị chi phối, dẫn đến việc đánh giá không công bằng, sai lệch, nhưng nhìn một cách toàn diện thì có thể chấp nhận được Hơn nữa, nhân vật được nêu trong tác phẩm không xa lạ gì với người đương thời, nhiều cái tên còn được nhắc đến trong các tài liệu lịch sử khác
Như vậy, từ những nhân vật của lịch sử đã trở thành những nhân vật văn học
Họ vừa là con người của lịch sử vừa là nhân vật văn học Bản thân các nhân vật trong tác phẩm không phải do hư cấu mà có, các nhân vật này đều là những nhân vật lịch sử có thật Theo quan điểm của những người nghiên cứu lịch sử, họ là những con người của lịch sử Còn đối với các nhà nghiên cứu văn học, họ là những nhân vật văn học
1.3.2 Theo chúng tôi, trong số hàng trăm nhân vật của Hoàng Lê nhất thống
chí thì hình tượng nhân vật Nguyễn Hữu Chỉnh là xuất sắc hơn cả Tác giả đã khắc
hoạ tính cách nhân vật này một cách tương đối hoàn chỉnh Với hình tượng nhân
vật này, tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí đã đạt đến trình độ khá cao trong việc
xây dựng tính cách nhân vật Đồng thời cũng phản ánh bước tiến của văn xuôi trung đại thế kỷ XVIII, trong phản ánh hiện thực bằng hình tượng nhân vật Cho
dù, ban đầu các tác giả chỉ có một ý thức nhất định trong việc thể hiện nhân vật này, nhưng việc làm đó đã cho thấy trình độ xây dựng nhân vật của các tác giả đã gần đạt đến trình độ của tiểu thuyết văn học hiện đại Tính cách của Nguyễn Hữu Chỉnh được các tác giả trình bày một cách tỉ mỉ, khá khoa học, từ nguồn gốc xuất thân, thành phần xã hội, từ thành phần giai cấp, những bước đường công danh cho
Trang 36đến lúc hắn bị tướng của Tây Sơn là Võ Văn Nhậm cho quân lính phanh thây, thả cho chó ăn thịt Tính cách con người Chỉnh gói gọn trong lời kể tội của Võ Văn Nhậm: "- Mày vốn là tôi chúa Trịnh, phản chủ mà về với chúng tao để mưu đồ diệt
họ Trịnh; rồi lại phản chúng tao về Bắc, lừa dối vua Lê, chiếm lấy ngôi cả, tự tiện làm oai làm phúc, ngấm ngầm lo mưu lấn cướp để tranh giành với chủ tao Xét cuộc đời mày, toàn học thói cũ của quân giặc loạn, phải phanh gan ruột mày ra, bỏ hết những cái dơ bẩn, để người Bắc lấy mày làm răn!" [31, (tập2)73-74] Chỉnh vốn
là thuộc hạ của quận Huy, cha Chỉnh nhờ buôn bán mà trở nên giàu sang, "Chỉnh phong tư đẹp đẽ, trí tuệ hơn người Lúc nhỏ theo học nho, đã đọc khắp các kinh sử, năm mười sáu tuổi đỗ Hương cống, đã từng theo cha nương nhờ dưới cửa nhà quận Việp Chỉnh giỏi thơ văn Quốc âm Vì mến công nghiệp của Quách Tử Nhi nhà
Đường, Chỉnh có làm bài Quách lệnh công phú bằng chữ Nôm được nhiều người
trong nước truyền tụng, tính Chỉnh lại hào hiệp, giao du khắp thiên hạ Chỉnh biết soạn bài hát cho ca nhi hát để mua vui, Chỉnh lại có tài khôi hài mỗi khi bông đùa
Vì thế, Chỉnh được xem là tay phong lưu bậc nhất đất Tràng An hồi đó" [31, (tập1)57-58] Chính con người như thế đã đi vào hoạt động chính trị, bắt đầu bằng một chức nhỏ, coi đội "thiện tiểu" dưới trướng quận Việp, sau này trở thành hữu tham quân của quận Huy Bằng nhiều thủ đoạn gian hùng, vượt qua biết bao nhiêu bước chìm nổi, phiêu lưu ở một thời đại rối ren, loạn lạc, để cuối cùng leo lên chức
tể tướng Bắc hà, "quyền Chỉnh thật ngang với nhà vua, thế của Chỉnh có thể lật nghiêng cả nước"
Có thể nói rằng, Nguyễn Hữu Chỉnh là một nhân vật độc đáo, sản phẩm của thời trung đại, một thứ "chính khách kiểu mới" chưa từng có trong lịch sử Việt Nam từ trước đến thời đó, một chính khách xuất thân từ tầng lớp thị dân, theo nho học, phục vụ cho giai cấp phong kiến thống trị Chính cái nguồn gốc phú thương thị dân của Nguyễn Hữu Chỉnh đã cắt nghĩa những thủ đoạn phiêu lưu, liều mạng,
Trang 37được ăn cả ngã về không, trên bước đường leo thang chính trị của hắn Kể từ việc đánh cắp của công hàng trăm vạn, khi bị tra tấn nhất định không khai để được vô tội, khiến cho quan thầy của hắn là quận Huy Hoàng Đình Bảo không bị liên luỵ, cho đến mấy phen dám bỏ cả nhà cửa, cơ nghiệp, bỏ quê hương, bỏ cả chúa cũ đi theo Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ , hoặc những hành động táo bạo, gan góc, thậm chí cả những việc tàn ác, bất nhân, như việc chém chết em rể để được lòng chúa mới, dìm Đỗ Thế Long xuống sông vì lời nói thẳng Ngay cả việc xui Nguyễn Huệ tiến quân ra Bắc lần thứ nhất, đơn thương độc mã dám đánh chiếm Nghệ An, giả mệnh triều đình cũng đều nói lên cái bản lĩnh hơn người của Chỉnh Khi đã làm tể tướng Bắc hà, Nguyễn Hữu Chỉnh cũng có những quyết sách táo bạo: Để chống lại nạn khan tiền, Chỉnh sai người thu hết tượng đồng, chuông khánh ở các chùa, miếu, cướp chuông tượng của các thôn ấp để mở lò đúc tiền Một con người có tài và nhiều thủ đoạn như thế nếu gặp lúc hoà bình hay lúc triều đình phong kiến đang hưng thịnh, biết đâu những những mặt xấu trong tính cách của Chỉnh bị xu thế thời đại hảm bớt và cũng biết đâu Chỉnh lại chẳng làm nên một sự nghiệp lẫy lừng, chứ đâu đến nỗi phải bị phanh thây để cho chó ăn thịt
Sức hấp dẫn của nhân vật Nguyễn Hữu Chỉnh không chỉ ở chỗ được xây dựng trên mối quan hệ nhân quả với nguồn gốc giai cấp và hoàn cảnh xã hội, mà do tác giả đã biết đi sâu diễn tả tâm lý một cách tinh vi, hiểu thấu đáo cái thế giới nội tâm vô cùng phức tạp của nhân vật và chính sự phân tích tâm lý đó đã làm sáng tỏ những động cơ hành động, khiến cho nhân vật có sức thuyết phục hơn với bạn đọc Các tác giả đã thành công trong việc mô tả tính cách của Nguyễn Hữu Chỉnh thông qua những hành động của nhân vật Động cơ giết em rể làm thuyết khách, chỉ là nhằm mua chuộc lòng tin của Nguyễn Nhạc, để từ đó tiến lên thực hiện những mưu
đồ to lớn sau này Các tác giả họ Ngô Thì cũng không mô tả tâm lý nhân vật một cách đơn điệu, phiến diện mà xem xét tính cách nhân vật ở cả hai mặt của một con
Trang 38người, nhất là ở những nhân vật có nhiều mối quan hệ phức tạp, bản tính lại vô cùng gian ngoan, xảo quyệt, tàn ác như Nguyễn Hữu Chỉnh [12, 61-62]
Có thể nói rằng, Hoàng Lê nhất thống chí đã rất thành công trong việc xây
dựng hình tượng nhân vật Nguyễn Hữu Chỉnh, khắc hoạ một cách tài tình, sắc sảo tính cách, tâm lý của một kẻ gian hùng thời loạn ôm mộng bá vương Trong tác
phẩm Hoàng Lê nhất thống chí, các tác giả đã có sự chọn lựa khéo léo trong việc
thể hiện ngôn ngữ của nhân vật Các nhân vật nhiều khi chỉ nói những câu rất ngắn nhưng lại có tác dụng to lớn trong việc bộc lộ tính cách, đơn cử như khi Nguyễn Hữu Chỉnh nghe tin quận Huy bị giết, biết tình hình có thể không được an toàn cho bản thân nên tìm cách rời bỏ nước ra đi, Dao Trung hầu hỏi: "- Nhưng mà đi đâu", Chỉnh trả lời: "- Thiên hạ vạn nước, lo gì không có chỗ đi?" Khi đang ở với Nguyễn Nhạc, có người em rể nhận với chúa Trịnh vào làm thuyết khách nhằm dụ Chỉnh về Sau khi nghe người này kể lại tình hình Bắc hà, từ khi quận Huy chết, Trịnh Cán chết, tuyên phi Đặng Thị Huệ bi giáng chức, uống thuốc độc tự tử, Chỉnh đã thốt lên: "- Chết được đấy! Ta tưởng Tuyên phi chỉ có nhan sắc, không ngờ có tiết liệt như vậy" Sau khi nghe xong những điều mình cần biết, Chỉnh cười
mà rằng: "- Chú là đứa ngu, ta thực không thèm chấp Xong ta chỉ ghét cái đứa sai chú đến đây dám khinh nhờn ta Vậy ta kết quả tính mạng cho chú, nếu có oan ức thì xuống Âm phủ mà kiện cái đứa đã sai chú ấy!" Nói rồi sai tay chân mang người
ấy ra chém luôn Chừng ấy ngôn từ cũng đủ nói lên tính cách của một nhân vật lạnh lùng, tàn ác [43(tập1,2)]
1.3.3 Khi bàn về nhân vật của tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí, người ta
không thể không nhắc tới hình tượng nhân vật Nguyễn Huệ Đây là hình tượng nhân vật phần nào đã bị chi phối bởi tư tưởng chính thống, tôn phò nhà Lê của các tác giả trong quá trình phản ánh Thế nhưng, chính hình tượng nhân vật này lại để lại trong lòng người đọc những ấn tượng mạnh mẽ nhất về người anh hùng áo vải
Trang 39Quang Trung - Nguyễn Huệ, đặc biệt là trong tình trạng tư liệu về Nguyễn Huệ chẳng có bao nhiêu Hình tượng nhân vật Nguyễn Huệ được nhìn bằng con mắt khắt khe của những người thuộc phe đối lập nên chắc chắn sẽ không nhận được nhiều thiện chí Nhưng đó lại là yếu tố khách quan, để ngày nay chúng ta đánh giá đúng hơn về người anh hùng áo vải, người đã viết nên một trong những trang sử oanh liệt nhất của lịch sử đấu tranh giữ nước của dân tộc Việt Nam Trong bối cảnh của một xã hội đầy những biến động, những cuộc tranh giành quyền bính, thanh toán lẫn nhau giữa các tập đoàn phong kiến, cuộc khởi nghĩa nông dân do anh em nhà Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ khởi xướng có ý nghĩa cực kỳ quan trọng Cuộc khởi nghĩa này thể hiện sức mạnh vũ bão của quần chúng nhân dân, những người
đã đứng lên đạp đổ thành trì của triều đại phong kiến thối nát, phản động Nó cũng
là minh chứng hùng hồn cho sự chiến thắng của lực lượng tiến bộ trước những thế lực thống trị lạc hậu, đang kìm hãm bước tiến của lịch sử Và cuộc khởi nghĩa của nông dân do anh em nhà Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ lãnh đạo đã viết nên bản anh hùng ca về tinh thần dân tộc, chủ nghĩa yêu nước, yêu tự do của nhân dân ta thế kỷ XVIII, XIX
Mặc dù bị ảnh hưởng của tư tưởng chính thống, nhưng các tác giả của Hoàng
Lê nhất thống chí đã phác hoạ một phần đáng kể bức chân dung người anh hùng
Nguyễn Huệ Tài năng và khí phách của hình tượng nhân vật này nhiều khi được biểu hiện qua lời kể của người đương thời khi được tiếp xúc trực tiếp, có khi là lời nhận xét của chính các đối thủ Ngay như Nguyễn Hữu Chỉnh, một kẻ kiêu căng, tự phụ nhất đất Bắc hà mà cũng phải thừa nhận: "Bắc Bình vương là một anh hùng hào kiệt ở miền Nam" và nhìn chung thái độ của Nguyễn Hữu Chỉnh đối với Nguyễn Huệ là kính nể Một cung nhân của triều đình nhà Lê, khi nói về Nguyễn Huệ cũng có thái độ hết sức coi trọng: "Nguyễn Huệ là một tay anh hùng lão luyện, dũng mãnh và có tài cầm quân Xem hắn ra Bắc vào Nam, ẩn hiện như quỷ thần,
Trang 40không ai có thể lường biết Hắn bắt Hữu Chỉnh như bắt trẻ con, giết Văn Nhậm như giết con lợn, không một người nào dám nhìn thẳng vào mặt hắn" Người đọc ngày nay có thái độ thích thú với nhân vật Nguyễn Huệ, không chỉ vì Nguyễn Huệ
là "người anh hùng áo vải", lãnh tụ của phong trào khởi nghĩa Tây Sơn, người đã viết nên một trong những trang sử hào hùng nhất của dân tộc, mà còn vì khi đọc những trang viết về ông, người ta được gặp một con người vừa oai phong, dũng mãnh lại vừa bình dân, gần gũi Khi Nguyễn Huệ tiến quân ra Bắc lần thứ nhất, lúc vào ra mắt vua Lê ở điện Vạn thọ, đã cư xử như một quần thần có tước hầu thấp:
"Bình sụp xuống đất lạy năm lạy và rập đầu vái ba vái Hoàng thượng sai hoàng tử nâng Bình dậy và mời đến ngồi vào một chiếc sập gụ khác bên trái sập ngự Bình nhún nhường không dám ngồi Hoàng thượng phải hai ba lần dụ, Bình mới ngồi ghé vào một góc chiếu cuối sập, một chân bỏ thõng xuống đất" [31, (tập1)140] Hay là lúc hai anh em nhà Nguyễn Huệ và Nguyễn Nhạc gặp nhau khi Nguyễn Nhạc ra Bắc: "Hai người ôn tồn trò chuyện thân mật như anh em nhà thường dân vậy" Chỉ cần bấy nhiêu chi tiết cũng đủ nói lên cái nguồn gốc giai cấp xuất thân của họ là những nông dân Nhưng đấy mới chỉ là một phần của con người Nguyễn Huệ, phần chính của hình tượng nhân vật này lại ở khía cạnh khác Lâu nay người
ta chỉ biết Nguyễn Huệ với tư cách là một nhân vật lịch sử và xét công trạng của Nguyễn Huệ ở khía cạnh lịch sử, chứ chưa nhìn nhận ông như một nhân vật văn học Có lẽ là do những chiến công mà ông đóng góp cho lịch sử dân tộc là quá lớn, những chiến công đó được xem là hiển hách nhất trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta Không chỉ dẹp yên được các cuộc loạn lạc trong nước, theo đúng cái nghĩa phò Lê, mà ông và nghĩa quân Tây Sơn còn đánh tan hai mươi vạn quân xâm lược Mãn Thanh, đuổi chúng ra khỏi bờ cõi, xoá bỏ nạn cống nạp vô
lý mà triều đình phong kiến phương Bắc đặt ra cho nước ta từ trước Những lệ cống nạp nặng nề của thiên triều, mãi đến khi Quang Trung Nguyễn Huệ lên làm vua