Trong các sáng tác của mình, Nguyễn Khải đã dành công sức và tâm huyết rất lớn cho thể loại truyện ngắn vì thế ở mảng này có một sức hấp dẫn đặc biệt, thu hút nhiều sự chú ý từ giới nghi
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
CAO THỊ KIM ANH
TÌM HIỂU ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO VÀ CHỨC NĂNG CỦA ĐOẠN VĂN TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN KHẢI
LUẬN VĂN THẠC SỸ NGỮ VĂN
VINH – 2004
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
CAO THỊ KIM ANH
TÌM HIỂU ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO VÀ CHỨC
NĂNG CỦA ĐOẠN VĂN TRONG TRUYỆN NGẮN
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Nguyễn Khải là nhà văn nhiều tài năng, thường có mặt ở vị trí hàng đầu
của đời sống văn học Với sức lao động bền bỉ, khả năng sáng tạo dồi dào, một
phong cách độc đáo, lối viết trí tuệ giàu tính triết lí, khả năng phân tích tâm lí sắc
sảo Nguyễn Khải đã để lại dấu ấn của mình trên từng trang viết và trong lòng
độc giả
Trong các sáng tác của mình, Nguyễn Khải đã dành công sức và tâm huyết
rất lớn cho thể loại truyện ngắn vì thế ở mảng này có một sức hấp dẫn đặc biệt,
thu hút nhiều sự chú ý từ giới nghiên cứu, phê bình văn học Ở đề tài này chúng
tôi cũng đi tìm hiểu truyện ngắn của ông nhưng dưới một góc độ mới hơn - góc
độ ngôn ngữ: “Đặc điểm cấu tạo và chức năng đoạn văn trong truyện ngắn
Nguyễn Khải” với mong muốn làm rõ đặc trưng của đơn vị này và qua đó hiểu
thêm những nét riêng trong phong cách của ông ở thể loại truyện ngắn
Ở đề tài này, bản thân người nghiên cứu đã hết sức cố gắng nhưng vì thời
gian có hạn và những hạn chế chủ quan nên không tránh khỏi những khiếm
khuyết Chúng tôi mong nhận được sự góp ý và chỉ bảo để khắc phục trong
nghiên cứu khoa học
Nhân dịp này, chúng tôi xin đặc biệt bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới
PGS- TS Phan Mậu Cảnh- người trực tiếp hướng dẫn tận tình, cảm ơn các thầy,
cô giáo đã trực tiếp giảng dạy, các bạn bè đồng nghiệp đã góp ý, động viên để
chúng tôi hoàn thành luận văn này
Vinh, tháng 12 năm 2004
Tác giả
Cao Thị Kim Anh
Trang 4
MỤC LỤC
3 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu 6
1 Vài nét về tác giả và tác phẩm của Nguyễn Khải 8
2 Đoạn văn và việc phân loại đoạn văn trong truyện ngắn 14
Chương II: Các kiểu đoạn văn xét về cấu tạo trong truyện ngắn Nguyễn Khải 35
1 Khảo sát các kiểu đoạn văn về cấu tạo trong truyện ngắn Nguyễn Khải 35
2 Nhận xét các kiểu đoạn văn về cấu tạo trong truyện ngắn Nguyễn Khải 56
Chương III: Các kiểu đoạn văn xét về chức năng trong truyện ngắn Nguyễn Khải 64
1 Khảo sát các kiểu đoạn văn chức năng trong truyện ngắn Nguyễn Khải 64
2 Nhận xét các kiểu đoạn văn chức năng trong truyện ngắn Nguyễn Khải 88
Trang 5MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nguyễn Khải là gương mặt văn xuôi tiêu biểu, sắc sảo, đa dạng, ông thường có mặt ở vị trí hàng đầu trong đời sống văn học Nguyễn Khải thuộc số ít nhà văn sớm xác định cho mình một quan điểm độc đáo về nghệ thuật, về vai trò của văn học và trách nhiệm của người cầm bút Với sức viết dẻo dai, bền bỉ, khả năng sáng tạo dồi dào, ông đã để lại dấu ấn của mình trên từng trang viết và trong lòng độc giả Nói đến Nguyễn Khải người ta thường nói đến một nhà văn hiện thực với phong cách mang tính triết lí sắc sảo, có khả năng đi sâu khám phá những bí ẩn của đời sống và những khía cạnh phức tạp của tâm lí con người
Bên cạnh các thể loại khác, Nguyễn Khải có khoảng 100 truyện ngắn trong đó có khá nhiều tác phẩm đạt đến trình độ mẫu mực về nội dung và nghệ thuật, đạt được những giải thưởng cao trong các cuộc thi của Hội Văn nghệ Việt Nam Đặc biệt truyện ngắn “Mùa lạc” của ông đã được đưa vào giảng dạy ở một
vị trí quan trọng trong chương trình PTTH Truyện ngắn của ông thực sự đã vượt qua thử thách của thời gian, thẩm định của công chúng độc giả và sẽ còn có ý nghĩa đến nhiều thế hệ mai sau Vì thế tìm hiểu truyện ngắn Nguyễn Khải là một vấn đề cần thiết đem lại nhiều lợi ích trong công tác nghiên cứu và giảng dạy
Với đề tài “Tìm hiểu đặc điểm cấu tạo và chức năng của đoạn văn trong truyện ngắn Nguyễn Khải” chúng tôi mong muốn góp phần làm rõ sự độc đáo trong quan điểm nghệ thuật của ông qua cách xây dựng đoạn văn Đồng thời góp thêm một phần vào công việc giảng dạy môn làm văn, rèn luyện khả năng sử dụng tiếng Việt được tốt hơn và có thể bình giá, thẩm định đoạn văn trong truyện ngắn nói chung và đoạn văn trong truyện ngắn Nguyễn Khải nói riêng được chính xác và có căn cứ khoa học hơn
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Theo dõi những công trình bàn về thể loại truyện ngắn của Nguyễn Khải
từ trước đến nay, chúng tôi nhận thấy tác phẩm của ông thu hút được khá nhiều bài nghiên cứu theo những hướng khác nhau
Trang 6Hướng nghiên cứu chung các sáng tác của Nguyễn Khải bao gồm: tiểu thuyết, truyện vừa, kịch, tạp văn trong đó có cả truyện ngắn Ở hướng này có những bài viết tiêu biểu sau:
“Đặc điểm ngòi bút hiện thực của Nguyễn Khải” của tác giả Chu Nga
(Tạp chí văn học số 2.1974); “Vài đặc điểm phong cách nghệ thuật Nguyễn
Khải” trích chương XV sách Văn học Việt Nam 1954 - 1975 tập II - Nhà xuất
bản Giáo dục, H, 1990; Ở bài “Cảm nhận về con người trong sáng tác của
Nguyễn Khải những năm gần đây” của Nguyễn Thị Hụê (Tạp chí Diễn đàn Văn
nghệ Việt Nam, tháng 10 - 1999); “Thế giới nhân vật của Nguyễn Khải trong
cảm hứng nghiên cứu phân tích” của Đào Thủy Nguyên (Tạp chí Văn học, số
11, 2001) và một số bài nghiên cứu của tác giả khác Điểm chung của những bài viết này là thường nghiên cứu sáng tác của Nguyễn Khải dưới góc độ lý luận văn
học Chúng tôi trích dẫn một vài nhận xét sau: “Ở Nguyễn Khải nổi bật lên
khuynh hướng văn xuôi hiện thực tỉnh táo giàu yếu tố chính luận và tính thời sự Cách viết của Nguyễn Khải nói chung là linh hoạt, năng động không bị gò bó, phụ thuộc nhiều vào khuôn mẫu sẵn có”.[17]
Hướng nghiên cứu riêng về thể loại truyện ngắn của Nguyễn Khải:
Hướng này cũng có một số bài nghiên cứu và cũng chỉ dừng lại ở góc độ
lý luận văn học Có thể kể tên những bài viết sau: “Giọng điệu trần thuật trong
truyện ngắn Nguyễn Khải” của Bích Thu(Tạp chí Văn học, số 10,1997); Hay ở
mục riêng dành cho truyện ngắn trong bài nghiên cứu “Đọc truyện ngắn và tạp
văn của Nguyễn Khải” của Nguyễn Hữu Sơn (Báo Nhân dân,1999) Và một số
bài nghiên cứu các truyện ngắn cụ thể như: “Mùa lạc” của Hà Minh Đức (Bình giảng và Phân tích, Nhà xuất bản Văn học Hà Nội,2001); “Mùa lạc một thành
công mới của Nguyễn Khải” của tác giả Nguyễn Thành Duy (Tạp chí nghiên cứu
Văn học, số6,1961); “Phương pháp tìm tòi của Nguyễn Khải qua tập Mùa lạc”
của Như Phong (Bình luận Văn học, Nhà xuất bản Hội Nhà văn Hà Nội,1977)
Chẳng hạn có tác giả nhận xét về truyện ngắn Nguyễn Khải như sau: “Văn
Nguyễn Khải không màu mè, không thiên về tả trời mây non nước Bắt đầu vào trang viết là gặp ngay nhân vật, biến cố , sự kiện theo đó là sữ giăng sắc suy tưởng, ký ức, cảnh ngộ, những lẽ đời, lòng mình và lòng người Văn ông vì thế thật giàu chiêm nghiệm sự lịch lãm trải đời”.[36]
Trang 7Tuy chưa hẳn có một công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ toàn
diện về truyện ngắn của Nguyễn Khải, đặc biệt ở phương diện ngôn ngữ Song
qua các bài viết trên, chúng tôi nhận thấy tác phẩm của ông đã thu hút được khá
nhiều nhà nghiên cứu và họ đã nhận ra những nét đặc sắc, độc đáo trong các sáng
tác của ông nói chung và truyện ngắn nói riêng Trên cơ sở đánh giá của những
người đi trước, chúng tôi thấy cần thiết phải nghiên cứu thêm về truyện ngắn
Nguyễn Khải để góp một tiếng nói cụ thể khẳng định tài năng của ông trong thể
loại này Cụ thể là “Tìm hiểu đặc điểm cấu tạo và chức năng đoạn văn trong
truyện ngắn Nguyễn Khải”
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Trên cơ sở vận dụng các kiến thức lý thuyết ngôn ngữ, lý luận văn học,
chúng tôi tập trung nghiên cứu đặc điểm đoạn văn ở 25 truyện ngắn tiêu biểu rút
trong “Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Khải” nhà xuất bản Hội Nhà văn 2002
bao gồm các truyện sau:
10 Hậu duệ dòng họ Ngô Thì
11 Chuyện tình của mỗi người
25 Sư già Chùa Thắm và ông đại tá về hưu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 8Có nhiều vấn đề đặt ra cần tìm hiểu về đoạn văn, nhưng trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi xác định nhiệm vụ giới hạn khảo sát đoạn văn vào 2 nội dung cơ bản:
- Khảo sát, phân tích các đặc điểm về mặt cấu tạo của các loại đoạn văn trong truyện ngắn Nguyễn Khải Đồng thời tìm hiểu một số kiểu đoạn văn có chức năng mở đầu, triển khai, chuyển tiếp, kết thúc trong truyện ngắn của ông
- Luận văn cũng bước đầu so sánh đặc điểm đoạn văn trong truyện ngắn Nguyễn Khải với đoạn văn của một số nhà văn khác cùng thời
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp thống kê phân loại
- Phương pháp phân tích tổng hợp
- Phương pháp so sánh đối chiếu
5 CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương I: Những giới thuyết chung
Chương II: Các kiểu đoạn văn xét về cấu tạo trong truyện ngắn Nguyễn Khải Chương III: Các kiểu đoạn văn xét về chức năng trong truyện ngắn Nguyễn Khải
Trang 9
CHƯƠNG I NHỮNG GIỚI THUYẾT CHUNG
1 VÀI NÉT VỀ TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM
1.1 Về tác giả Nguyễn Khải
Nguyễn Khải tên khai sinh là Nguyễn Mạnh Khải Ông sinh ngày 3 tháng 12 năm 1930 tại Hà Nội, trong một gia đình viên chức Quê nội ông ở phố Hàng Than, thành phố Nam Định; quê ngoại ở xã Hiếu Nam, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên
Theo Nguyễn Khải, ông vốn là "một giọt máu" nhà quan nhưng là "giọt máu rơi" bởi ông là một đứa con thêm bị sỉ nhục, bị bỏ rơi bởi một ông bố thiếu tình thương và trách nhiệm Tuổi thơ của Nguyễn Khải cũng lắm điều cay đắng Nhưng cuộc đời của ông đã bước sang một trang mới khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ Ông tham gia kháng chiến rồi trở thành một y tá lúc 18 tuổi Trong thời gian này, ông đã thử viết bài cho tờ "Dân quân Hưng Yên" Nhờ chút năng khiếu ấy, năm 19 tuổi, ông được điều lên làm phóng viên cho tờ báo này Cũng từ đó, Nguyễn Khải đã được nhiều lần cử đi dự các lớp nghiên cứu văn nghệ, ở đây ông được gặp và làm quen nhiều nhà văn lớn như Nguyễn Tuân, Nam Cao, Nguyễn Huy Tưởng họ đã trở thành người thầy, người bạn văn chương tâm huyết của ông Người săn sóc, động viên, chỉ bảo trên từng trang viết cho ông trong những ngày chập chững vào nghề đó là nhà văn Nguyễn Tuân Năm 26 tuổi Nguyễn Khải được điều về công tác tại tổng cục chính trị (sau 1956 là tạp chí Văn nghệ Quân đội) Liên tục trong hai năm (1957
- 1958) ông lần lượt đưa in các tập trong phần đầu của tiểu thuyết "Xung đột" - một tác phẩm được đánh giá cao Với tác phẩm này, Nguyễn Khải "bắt đầu ý thức về chức năng người cầm bút và thật sự bước vào con đường viết truyện"
Nguyễn Khải trở thành hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam (1957 - 1989), là uỷ viên BCH rồi uỷ viên thường vụ Hội Nhà văn Việt Nam Năm 1985
và năm 1988 ông nhận giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam Năm 2000 nhận giải thưởng văn học ASEAN Đặc biệt ngày 1 - 9 - 2000 Nguyễn Khải đã được phong tặng giải thưởng Hồ Chí Minh (đợt II) cho chùm tác phẩm "Gặp gỡ cuối năm, Xung đột, Cha và con và "
Trang 10Cho đến bây giờ Nguyễn Khải vẫn tâm niệm và bày tỏ lòng biết ơn sâu xa
đối với cách mạng (trong hồi ký và tự truyện của ông) "Nếu không có cách mạng
thì mãi hắn sẽ bị ám ảnh là một đứa trẻ bị ruồng bỏ chỉ xứng đáng có một thân phận hèn mọn Chính cách mạnh đã cho hắn có lòng tự tin, biết lãng mạn, biết mộng mơ và biết xây đắp chí hướng" Và Nguyễn Khải không những đã vươn
lên, khẳng định mình mà còn để lại danh tiếng của mình cho hậu thế
1.2 Về tác phẩm và truyện ngắn Nguyễn Khải
1.2.1 Về tác phẩm Nguyễn Khải
Hơn 50 năm cầm bút, với sức lao động bền bỉ Nguyễn Khải đã có một sự
nghiệp văn chương khá đồ sộ Ông sáng tác trên nhiều thể loại và ở thể loại nào cũng để lại dấu ấn của mình trên từng trang viết và trong lòng độc giả Có thể phân chia các sáng tác của ông thành 2 mảng: mảng tác phẩm văn chương và mảng văn nghị luận
- Các tác phẩm văn chương của Nguyễn Khải bao gồm các thể loại: tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn, kịch, bút ký, tuỳ bút…
Đây là mảng văn chương chiếm ưu thế về số lượng và thể hiện rõ nhất phong cách của Nguyễn Khải - một “Chế Lan Viên trong văn xuôi” Tính từ tác phẩm xuất bản đầu tay của ông là truyện ngắn “ Ra ngoài ” ( 1951) cho đến nay với cuốn tiểu thuyết “ Thượng Đế thì cười” (2004) Nguyễn Khải đã có khoảng:
100 truyện ngắn và truyện vừa, trên 10 cuốn tiểu thuyết, 50 bài bút kí và tùy bút,
10 vở kịch…
Có thể kể tên một số tác phẩm xuất sắc và đạt giải cao của ông:
+ Xây dựng: Truyện vừa - giải khuyến khích về truyện và kí 1951 - 1952 của Hội Văn Nghệ Việt Nam
+ Mùa lạc: Truyện ngắn (1959) đã được đưa vào chương trình sách giáo khoa Văn 12
+ Một cặp vợ chồng: Truyện ngắn - giải nhất cuộc thi truyện ngắn báo Văn học (1959-1960)
+ Gặp gỡ cuối năm : Tiểu thuyết - giải A, giải thưởng về văn xuôi của Hội Nhà văn Việt Nam
Trang 11+ Nhiều tập truyện ngắn giai đoạn 1990-1996: “Một người Hà Nội”; “Sư già chùa Thắm và ông đại tá về hưu”; “Một thời gió bụi”
+ Đất mỏ: Truyện ngắn nhận giải thưởng năm 1996 của báo Văn nghệ Quân đội + Truyện ngắn và tạp văn - giải B, giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 1998 + Đàn bà: Truyện ngắn - giải nhất cuộc thi truyện ngắn và ký, giải cây bút vàng do Bộ nội vụ và Hội Nhà văn Việt Nam đồng tổ chức
+ Chùm tác phẩm : Gặp gỡ cuối năm, xung đột, cha và con và … nhận giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2000
+Thượng Đế thì cười (2004): Tiểu thuyết đang được giới nghiên cứu và bạn đọc quan tâm
- Mảng văn nghị luận
Ở mảng này cũng là một thế mạnh của Nguyễn Khải Theo thống kê chưa thật đầy đủ thì ông có khoảng trên 100 bài báo, tham luận, báo cáo, các ý kiến, thư ngỏ, trả lời phỏng vấn…được đăng trên các tờ báo thuộc chuyên ngành văn học nghệ thuật
Các ý kiến, các lời đề xuất, các nhận định của ông được nhiều người đánh giá cao, đồng tình và ủng hộ Có thể kể tên một số bài tiêu biểu trong mảng sáng tác này
+ Nhìn lại những trang viết của mình: bài tham luận trong hội thảo Việt Nam - nửa thế kỷ văn học (1995)
+ Hãy biết cống hiến bạn đọc cái phần mạnh nhất của mình (1998)
1.2.2 Về truyện ngắn Nguyễn Khải
Trong các sáng tác của mình, Nguyễn Khải đã dành công sức và tâm huyết rất nhiều cho thể loại truyện ngắn Khoảng 100 truyện ngắn ra đời trong quãng thời gian hơn 50 năm cầm bút Trong đó, có nhiều tác phẩm đạt giải cao trong các cuộc thi viết truyện ngắn hay của Hội nhà văn, có nhiều tác phẩm khi ra đời đã khơi gợi được hứng thú tranh luận, trở thành nơi “nơi giao tiếp đối thoại” của đông đảo bạn đọc và giới nghiên cứu Đặc biệt tác phẩm “Mùa lạc” của ông đã được nhiều thế hệ bạn đọc biết đến khi đưa vào giảng dạy ở trường PTTH Truyện ngắn Nguyễn Khải cũng như các tác phẩm trong các thể loại khác của ông thường
Trang 12giàu tính triết lí Có những nhận xét, đánh giá đặt ra trong truyện ngắn đã trở thành những “tuyên ngôn về lẽ sống” làm cho người đọc vỡ lẽ ra được nhiều điều
Chẳng hạn “sự sống nảy sinh từ trong cái chết, hạnh phúc hiện hình từ trong
những hi sinh, gian khổ, ở đời này không có con đường cùng, chỉ có những ranh giới, điều cốt yếu là phải có sức mạnh để bước qua những ranh giới ấy” (Mùa
lạc)
Những điều may mắn ấy không phải đến với ông ngay từ đầu, mà khi bắt đầu viết truyện ngắn, tác phẩm của ông không mấy thành công, bạn đọc ít chú ý thậm chí có những tác phẩm sau này Nguyễn Khải nhìn lại cũng thấy “non nớt”
vô cùng như truyện ngắn “Ra ngoài” (1951), “Gặp mẹ” (1952) “Người con gái quang vinh” (1956) Khi đó Nguyễn Khải cảm thấy mình không có chút duyên nào với nghề văn chương
Nhưng sự kiên nhẫn, bền bỉ của Nguyễn Khải đã mang lại thành công khi truyện ngắn “Nằm vạ” và tiểu thuyết “Xung đột” ra đời (1956) Ông xem đó là bước khởi nghiệp cho nghề văn của mình
Rồi các truyện ngắn khác của ông lần lượt ra đời Có những loạt tác phẩm
là kết quả của những chuyến đi thực tế (Mùa lạc, Đứa con nuôi, Hai ông già ở Đồng Tháp Mười…), có những loạt tác phẩm là những câu chuyện viết về người thân bạn bè của ông (Một người Hà Nội, Nắng chiều, Mẹ và bà ngoại…), có những tác phẩm lại phản ánh những vấn đề mang tính thời sự của xã hội (Người ngu, Đổi đời, Anh hùng bĩ vận…)
Một đặc điểm rất riêng trong truyện ngắn của ông là nhân vật Nguyễn Khải - chính nhân vật nhà văn luôn thấp thoáng trong mỗi tác phẩm Nguyễn Khải viết văn không bao giờ bắt đầu từ sự tưởng tượng hư cấu về những điều chưa “mắt thấy tai nghe”, ông chỉ có thể đặt bút viết khi được chạm vào người, vào việc, những cảnh ngộ có thật trong cuộc sống Vì thế các nhân vật, các sự kiện…trong truyện đều “dính líu” ít nhiều đến tiểu sử của ông Đó là những kỉ niệm, những khao khát, mơ ước thời trai trẻ, những băn khoăn day dứt vì cuộc
sống hôm nay… “Tôi chỉ mượn có cái vỏ, cái xác của người này người kia còn
cái hồn phải là của chính mình” Ở cô Đào (Mùa Lạc), cái Tấm (Đứa con nuôi), Hòa (Bố con) đều có một phần tôi trong đó Trong truyện ngắn “Hai ông già ở Đồng Tháp Mười” phần nào ao ước của tôi là ông già trưởng trạm máy kéo,
Trang 13phần đã có những năm tháng trải qua là ông già thư kí gặp nhiều bất hạnh Trong “Lãng tử”, hình ảnh một anh chàng lãng du, thích sống cuộc đời phiêu lưu, tự do, nhàn tản cũng là tôi nốt nhưng là cái tôi của ao ước, của mộng mơ bởi cuộc sống hàng ngày quá buồn quá nhạt …” [1,7]
Truyện ngắn của Nguyễn Khải có một phong cách riêng, không phải bạn đọc nào cũng thích, nói chung truyện của ông kén người đọc Chỉ ở những người
ưa thích sự tìm tòi, khám phá những bí ẩn của lòng mình lòng người và cuộc sống…thì mới cảm thụ tốt tác phẩm của ông Bởi văn ông thấm đượm chất triết
lí, những chiêm nghiệm về lẽ đời, về thời cuộc hôm nay và hôm qua
1.3 Những đánh giá về tác phẩm của Nguyễn Khải
Năm 2000, Nguyễn Khải được vinh dự nhận giải thưởng Hồ Chí Minh (đợt 2) - giải thưởng cao quí nhất đối với giới văn nghệ sĩ Điều đó đã khẳng định, tôn vinh vị trí và những kết quả sáng tạo nghệ thuật của ông trong nền văn học nước nhà Các sáng tác của ông kể cả trước và sau thời kì đất nước hòa bình luôn nhận được sự quan tâm chú ý từ phía bạn đọc và giới nghiên cứu Các ý kiến đánh giá có cả khen lẫn chê, nhưng dù khen hay chê thì tác phẩm của ông vẫn hấp dẫn người đọc bởi văn của ông có một sự độc đáo không lẫn với ai được Những ý kiến đánh giá về tác phẩm của Nguyễn Khải xuất hiện ở các ấn phẩm khác nhau: tạp chí Văn học, tạp chí Ngôn ngữ, báo Văn nghệ… Đặc biệt trong cuốn “Nguyễn Khải về tác gia và tác phẩm” đã tập hợp tương đối đầy đủ các bài nghiên cứu, ý kiến phê bình bàn về nội dung tư tưởng, giá trị nghệ thuật trong sáng tác của Nguyễn Khải từ những năm 60 của thế kỉ XX cho đến nay Trong lời giới thiệu về tác phẩm, cuốn sách đã có nhận định khái quát về tác
phẩm Nguyễn Khải như sau: “Nguyễn Khải thường hướng cho sáng tác của
mình thể hiện những mảng hiện thực lớn có ý nghĩa tiêu biểu cho hiện thực đời sống cách mạng của đất nước Tác phẩm của ông thường gắn với những vấn đề thời sự - chính trị, thường bám sát những nhiệm vụ cơ bản của mỗi một giai đoạn cách mạng đồng thời lại đi sâu nghiên cứu, khám phá những bí ẩn của cuộc sống và những khía cạnh phức tạp của tâm lí con người Thế giới nhân vật của ông thực sự phong phú, đa dạng Với cái nhìn sắc sảo, tinh tế và sự nhạy cảm của một nghệ sĩ, Nguyễn Khải luôn luôn thể hiện trong tác phẩm những vấn
đề của hôm nay và từ đó rút ra những ý nghĩa mang tính triết lí sâu sắc về cuộc
Trang 14sống con người Tác phẩm của ông vì thế thường mang tính vấn đề, giàu tính
triết luận…” [16,5]
Có nhiều nhà nghiên cứu lại đi vào đánh giá những phương diện khác như: phong cách, đề tài, giọng điệu, cốt truyện, ngôn ngữ, nhân vật…Đoàn Trọng Huy
(1990) đã bàn về đặc điểm phong cách nghệ thuật Nguyễn Khải: “Ở Nguyễn Khải,
người ta thấy nổi bật lên khuynh hướng văn xuôi hiện thực tỉnh táo, giàu yếu tố chính luận và tính thời sự Ở Nguyễn Khải không bao giờ hoàn toàn chịu sáng tác với ý đồ minh họa mà lại cảm thụ cuộc sống với một thái độ nghiên cứu, phân tích nghiêm túc Tác phẩm của ông vì vậy là một sự nhận thức, một sự khám phá, phát hiện cuộc sống…Cái tạo nên sự hấp dẫn trong tác phẩm của ông là sức thuyết phục của lí lẽ Nguyễn Khải không có ý định làm người đọc đắm chìm trong cảm xúc, mê muội đi về tình cảm mà chú ý đánh thức trí tuệ họ Nên nhiều khi ta có cảm tưởng như nhân vật Nguyễn Khải chuyên chở một triết lí nhân sinh nào đó Các nhân vật thường hay tranh cãi, lí sự, suy đoán, phán xét, bình luận, bình phẩm…Và nhân vật có mặt trong tác phẩm, quan hệ với nhau cũng bằng lí lẽ Vì thế nhân vật Nguyễn Khải dù sắc sảo nhưng đôi khi vẫn gây nên cảm giác nặng nề cho người đọc Nói chung các sáng tác của Nguyễn Khải có quy mô vừa và nhỏ, cách viết linh hoạt năng động, không bị gò bó, phụ thuộc nhiều vào khuôn mẫu đã
có Kết cấu truyện kí thường thường gây ấn tượng không có kết thúc hoặc kết thúc
bỏ ngỏ, nhiều khi không tránh khỏi sự hụt hẫng cho người đọc Ngôn ngữ Nguyễn Khải giàu chất sống, chất văn xuôi là ngôn ngữ hiện thực Đặc biệt là tính chất nhiều giọng Chữ nghĩa thường chứa ngầm nhiều ngụ ý và sắc thái khá phong phú (Văn học Việt Nam 1945- 1975 tập II nhà xuất bản Giáo dục, H, 1990)
Các tác giả Lại Nguyên Ân, Trần Đình Sử (1983) nhận xét:
"Đề tài nhằm thẳng vào đời sống hiện tại - đó là điều kiện đầu tiên khiến
cho sáng tác của anh có độc giả Tác phẩm của anh trở thành nơi giao tiếp đối thoại với bạn đọc, những người đang sống cùng thời với tác giả Cũng viết về đề tài như các nhà văn khác nhưng sáng tác của Nguyễn Khải có được thành công hơn có lẽ do 2 đặc điểm chính của anh với tư cách một nghệ sĩ: cảm hứng nghiên cứu và sự phân tích tâm lý Tinh thần nghiên cứu khác hẳn với cảm hứng minh họa nó có nội dung nhận thức sắc sảo và đến nay vẫn còn ý nghĩa Tôi thấy văn xuôi ở nước ta có nhiều nhà văn miêu tả tâm lí giỏi, nhưng phân tích
Trang 15tâm lí thì ít ai làm được như anh Khải Đi trước anh, về mặt này, có thể chỉ là Nam Cao Ngôn ngữ của Nguyễn Khải rất đặc sắc, ngôn ngữ văn xuôi: nó không ưa nống lên thống thiết mà thường pha ngang sang giọng tưng tửng, đùa đùa Thêm nữa là tính chất nhiều giọng Cách viết của anh Khải thường là nói các lí lẽ, ý kiến nhiều hơn là kể việc và cũng thường có nguy cơ đơn điệu Tác phẩm của Nguyễn Khải thường không phức tạp về mặt hư cấu ”(Văn học và Phê bình, nhà xuất bản Tác phẩm mới, Hà Nội,1994)
Tóm lại: Tác phẩm của Nguyễn Khải giàu chất trí tuệ Văn phong của ông tạo nên phong cách giàu tính triết lý Vì thế có nhiều người đồng tình với nhận
xét “Nguyễn Khải là một Chế Lan Viên trong văn xuôi”
2 ĐOẠN VĂN VÀ VIỆC PHÂN LOẠI ĐOẠN VĂN TRONG TRUYỆN NGẮN
- Tiêu chí dựa vào hình thức:
Đại diện hướng này có Diệp Quang Ban, ông cho rằng “Đoạn văn thông
thường được hiểu là một phần của văn bản tách từ chỗ viết hoa, thường lui vào
ở đầu dòng cho đến chỗ chấm xuống dòng” [19,203]
Và trong cuốn Từ điển - sách tra cứu các thuật ngữ ngôn ngữ học do Nhà
xuất bản Giáo dục Liên Xô ấn hành, đoạn văn được định nghĩa “Là một đoạn
của văn bản viết hoặc in nằm giữa hai chỗ thụt đầu dòng, thường bao gồm một
chỉnh thể trên câu hoặc một bộ phận của nó, đôi khi bao gồm một câu đơn hoặc một câu phức” [20,127]
- Tiêu chí dựa vào nội dung:
Giáo trình cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt (Bùi Tất Tươm, Nguyễn Văn
Bằng, Hoàng Xuân Tâm - Nhà xuất bản Giáo dục 1997) quan niệm: “Đoạn văn
là một tập hợp nhiều câu thể hiện một chủ đề.”
- Tiêu chí dựa vào hình thức và nội dung:
Trang 16Hướng này có nhiều nhà ngôn ngữ nhất trí Trần Ngọc Thêm cho rằng
“Đoạn văn là một bộ phận của văn bản, gồm một chuỗi phát ngôn được xây dựng theo một cấu trúc và mang một nội dung nhất định (đầy đủ hoặc không đầy đủ), được tách ra một cách hoàn chỉnh về hình thức: ở dạng nói, nó có kiểu ngữ điệu nhất định và kết thúc bằng quãng ngắt hơi dài; ở dạng viết, nó bắt đầu bằng dấu mở đoạn (gồm thụt đầu dòng, viết hoa) và kết thúc bằng dấu ngắt đoạn (gồm dấu ngắt phát ngôn)” [21]
Theo Phan Mậu Cảnh : “Đoạn văn là một bộ phận của văn bản do câu tạo thành
theo một cấu trúc nhất định, biểu thị một nội dung tương đối độc lập, có hình thức tương đối rõ ràng”.[41, 21]
Trong văn bản nghệ thuật, đoạn văn có biểu hiện rất đa dạng và phức tạp đặc biệt là về mặt kích thước và cấu tạo Việc chia tách đoạn văn ngắn dài khác nhau nhằm tạo ý nghĩa sắc thái bổ sung có tính chất tu từ học, tức là thông qua việc chia
tách đoạn văn mà đưa thêm vào văn bản những “ý ngoài lời”, những sắc thái ý nghĩa tình cảm hoặc nhận thức không được diễn đạt bằng từ ngữ tường minh
Trong văn bản nghệ thuật còn có những phần thoại (là lời trao đáp của các nhân vật và cả lời của tác giả) Trong phần thoại có nhiều đoạn, một lượt lời có dấu hiệu hình thức nằm giữa hai chỗ ngắt dòng được tính là một đoạn Do đặc thù của thể loại truyện ngắn nên chúng tôi quan niệm một phần thoại được tính là một đoạn văn dù trong đó có một hay nhiều lượt lời Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi vẫn thống kê phần đoạn như thế trong tổng số đoạn được tính đến
ở truyện ngắn Nguyễn Khải
Như vậy, là đơn vị có tính chất trung gian giữa câu và văn bản, đoạn văn
có hình thức xác định (lùi vào trong phần đầu của dòng chữ, ngắt dòng cuối đoạn; một hoặc tổ hợp câu nằm giữa hai chỗ ngắt dòng), diễn đạt một nội dung nhất định Đoạn văn luôn định hướng về đích giao tiếp và quan hệ chặt chẽ với tổng thể văn bản
Tóm lại có thể hiểu cách chung nhất về đoạn văn như sau:
Đoạn văn là một bộ phận của văn bản gồm một câu hoặc một chuỗi câu được xây dựng theo một cấu trúc và mang nội dung nhất định (đầy đủ hoặc không đầy đủ), được tách ra một cách rõ ràng về mặt hình thức
Trang 172.2 Việc phân loại đoạn văn trong truyện ngắn
Truyện ngắn cũng là một loại văn bản - nhưng là văn bản nghệ thuật Vì thế đoạn văn trong truyện ngắn vừa mang những đặc điểm của loại văn bản nói chung vừa mang những đặc điểm riêng mà chỉ ở loại văn bản nghệ thuật mới có Việc phân loại đoạn văn trong truyện ngắn dựa vào các tiêu chí như cấu tạo, quan hệ, chức năng, kiểu lời…
2.2.1 Dựa vào cấu tạo: Xét về mặt cấu tạo của bản thân đoạn văn ta có thể
nhận thấy hai kiểu: Đoạn văn bình thường và đoạn văn đăc biệt
2.2.1.1 Đoạn văn bình thường
Là đoạn văn có nội dung tương đối trọn vẹn và có hình thức tương đối ổn định (có từ hai câu trở lên) Đoạn văn bình thường chiếm số lượng chủ yếu trong thể loại truyện ngắn
Ví dụ:
“Cái nhà anh Hoàng ở nhờ có thể gọi là rộng rãi Ba gian nhà gạch sạch
sẽ Hàng hiên rộng ở ngoài, sân gạch, tường hoa Một mảnh vườn giồng rau tươi rười rượi, xinh xắn lắm”
(Đôi mắt - Nam Cao) Trong đoạn văn bình thường, các câu có cấu tạo đa dạng : câu phức, câu đơn, câu đặc biệt (như đọan văn trên), câu ghép…
Giữa các câu trong đoạn văn bình thường có mối liên hệ chặt chẽ theo những kiểu cấu trúc nhất định Xét từ góc độ quan hệ đó ta có thể thấy loại đơn vị ngôn ngữ này gồm có các kiểu: song hành, móc xích, diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp
- Đoạn văn song hành
Là đoạn văn mà các câu trong đoạn ngang hàng với nhau về mặt nội dung
và giống nhau về mặt chức năng đều hướng tới bộc lộ một tiểu chủ đề Đây là đoạn văn không có câu chủ đề vì thế mỗi câu trong đoạn có độ độc lập khá cao
Ví dụ:
“Lúc ấy, trong nhà đã tối bưng, Mị rón rén bước lại, A Phủ vẫn nhắm mắt, nhưng Mị tưởng như A Phủ đương biết có người bước lại…Mị rút con dao
Trang 18nhỏ cắt lúa, cắt nút dây mây A Phủ cứ thở phè phè từng hơi, không biết mê hay tỉnh Lần lần đến lúc gỡ được hết dây trói ở người A Phủ thì Mị cũng hốt hoảng,
Mị chỉ thì thào được một tiếng “Đi ngay…” rồi Mị nghẹn lại A Phủ bỗng khụy xuống, không bước nổi Nhưng trước cái chết có thể đến nơi ngay, A Phủ lại quật sức vùng lên, chạy”
(Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài)
Đây là đoạn văn mà các câu trong đó sắp xếp theo kiểu liệt kê diễn đạt quan hệ thời gian trước sau Các câu trong đoạn văn có vai trò ngang nhau và đều hướng tới bộc lộ tiểu chủ đề: bằng lòng thương cảm và khát vọng sống mãnh liệt đã thôi thúc Mị giải thoát cho A Phủ
Ngoài kiểu liệt kê diễn đạt quan hệ thời gian còn có kiểu liệt kê diễn đạt quan hệ đồng thời, liên tưởng…
- Đoạn văn móc xích
Là đoạn văn mà một hoặc một số bộ phận ở câu trước sẽ được lặp lại ở câu sau Sự lặp lại đó được biểu hiện bằng phép lặp từ hoặc phép thế đại từ Với kiểu đoạn này các câu dường như móc nối vào nhau, câu sau làm nhiệm vụ phát triển
tư tưởng cho những câu trước
Ví dụ:
“Làng ở trong tầm đại bác của đồn giặc Chúng nó bắn, đã thành lệ, mỗi
ngày hai lần, hoặc buổi sáng sớm hoặc xế chiều, hoặc đứng bóng và sẩm tối, hoặc nửa đêm và trở gà gáy Hầu hết đạn đại bác đều rơi vào ngọn đồi xà nu cạnh con nước lớn Cả rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào không bị thương Có những cây bị chặt đứt ngang nửa thân mình, đổ ào ào như một trận bão Ở chỗ vết thương, nhựa ứa ra, tràn trề, thơm ngào ngạt, long lanh nắng hè gay gắt, rồi dần dần bầm lại, đen và đặc quện lại thành từng cục máu lớn”
(Rừng xà nu - Nguyễn Trung Thành) Cũng như đoạn văn song hành, đoạn văn móc xích không có câu chủ đề Các câu ở đoạn văn trên móc nối với nhau bằng các phép thế, phép lặp Câu sau triển khai ý, bổ sung hoặc giải thích ý cho câu trước và đều hướng tới bộc lộ tiểu
Trang 19chủ đề: sức sống tràn trề, mãnh liệt của rừng xà nu dù phải chịu sự tàn phá khốc liệt bởi đạn đại bác của giặc
- Đoạn văn diễn dịch
Là đoạn văn trình bày theo cách đi từ khái quát đến cụ thể, từ cái chung đến cái riêng Câu đầu là nòng cốt, là câu chủ đề, là đầu mối của mọi liên kết (nhất là nội dung) trong toàn đoạn Những câu sau là sự phát triển chủ đề theo hướng cụ thể hóa
Ví dụ:
“Tôi thương hai cô như hai con vật ngẩn ngơ trong rừng lạnh, khi chiều
giăng lưới qua muôn gốc cây.(1) Buổi chiều của hai cô mờ nhạt và kéo dài; hai cô lẫn trong mù sương.(2) Đáng tội nghiệp nhất là hai cô không sầu tư, không có một nỗi buồn chán nản ghê gớm, nó xui ta cầu xin cái chết.(3) Không hai cô là hai
cô gái, chỉ biết buồn mờ , buồn lặng nhưng buồn lâu.(4) Hai cô là hai cánh
đồng”.(5)
(Tỏa nhị Kiều - Xuân Diệu)
Ở đoạn văn trên, câu đầu tiên là câu chủ đề, câu khái quát nội dung toàn
đoạn: “Tôi thương hai cô như hai con vật ngẩn ngơ trong rừng lạnh, khi chiều
giăng lưới qua muôn gốc cây.” Đó là nỗi lòng thương cảm của Xuân Diệu trước
cuộc sống buồn tẻ, mờ nhạt của hai cô gái Các câu sau làm nhiệm vụ triển khai làm rõ cho nội dung này Trong đó có những từ ngữ biểu hiện rõ nhất để hướng tới chủ đề như: mờ nhạt và kéo dài; lẫn trong mù sương(2); đáng tội nghiệp nhất, không sầu tư, không có một nỗi buồn chán nản ghê gớm, xui ta cầu xin cái chết(3); buồn mờ, buồn lặng, buồn lâu(4); hai cánh đồng(5)
- Đoạn văn quy nạp
Đoạn văn quy nạp được thiết lập ngược chiều với đoạn văn diễn dịch Nghĩa là những ý nghĩa riêng, cụ thể được trình bày ở những câu đứng trước Câu cuối cùng là tiêu điểm hướng về của các câu trước nó Như vậy câu cuối cùng là câu chủ đề là câu nòng cốt
Ví dụ:
Trang 20“Tràng cầm đôi đũa, gợt một miếng bỏ vội vào miệng.(1) Mặt hắn chun
ngay lại, miếng cám đắng chát và nghẹn bứ trong cổ.(2) Bữa cơm từ đấy không
ai nói câu gì, họ cắm đầu ăn cho xong lần, họ tránh nhìn mặt nhau.(3) Một nỗi tủi hờn len vào tâm trí mọi người”.(4)
(Vợ nhặt - Kim Lân) Câu cuối của đoạn văn trên mang ý nghĩa khái quát nội dung toàn đoạn
“Một nỗi tủi hờn len vào tâm trí mọi người” Ba câu trước là những biểu hiện cụ thể “nỗi tủi hờn” của các thành viên trong gia đình ấy: câu (1),(2) là của Tràng;
câu (3) là của cả 3 người Những từ ngữ ở 3 câu trên biểu hiện rõ nhất cho nội dung ở câu chủ đề là: gợt một miếng bỏ vội vào miệng (1); mặt hắn chun ngay lại, miếng cám đắng chát, nghẹn bứ trong cổ (2); không ai nói câu gì, cắm đầu ăn cho xong lần, tránh nhìn mặt nhau(3)
- Đoạn văn tổng - phân - hợp
Kiểu trình bày của đoạn văn này bắt đầu bằng việc nêu vấn đề có tính chất tổng hợp, khái quát (tổng), tiếp theo là lời phân tích hoặc giải thích hoặc nêu ra các dẫn chứng minh họa cụ thể (phân), cuối cùng lại tổng hợp khái quát nâng cao hoặc mở rộng thêm vấn đề được nêu ra ban đầu (hợp) Như thế ở đoạn văn tổng -phân - hợp sẽ có trên 2 câu chủ đề Các câu chủ đề được sắp xếp liên tiếp hoặc gián cách Tuy nhiên các câu chủ đề này không hoàn toàn giống nhau về ý mà câu chủ đề sau thường được mở rộng và khái quát hơn về ý so với câu nêu chủ đề trước
Ví dụ:
“Tỉnh dậy hắn thấy hắn già mà vẫn còn cô độc.(1) Buồn thay cho đời!(2)
Có lí do nào như thế được?(3) Hắn đã già rồi hay sao?(4) Ngoài bốn mươi tuổi đầu…(5) Dẫu sao, đó không phải tuổi mà người ta mới bắt đầu sửa soạn.(6) Hắn
đã tới cái dốc bên kia cuộc đời.(7) Ở những người như hắn, chịu đựng biết bao nhiêu là chất độc, đày đọa cực nhọc, mà chưa bao giờ ốm, một trận ốm có thể gọi là dấu hiệu báo rằng cơ thể đã hư hỏng nhiều.(8) Nó là một cơn mưa gió cuối thu cho biết trời gió rét, nay mùa đông đã đến.(9) Chí Phèo hình như đã trông trước thấy tuổi già của hắn, đói rét và ốm đau, và cô độc, cái này còn đáng sợ hơn đói rét và ốm đau.’’(10)
Trang 21(Chí Phèo - Nam Cao)
Trong đoạn văn trên câu đầu tiên “Tỉnh dậy hắn thấy hắn già mà vẫn còn
cô độc” là câu mang nội dung khái quát Những câu tiếp theo (từ câu (2) đến câu
(9)) có nhiệm vụ phân tích, giải thích cho câu đầu Còn câu cuối cùng “Chí Phèo
hình như đã trông trước thấy tuổi già của hắn, đói rét và ốm đau, và cô độc, cái này còn đáng sợ hơn đói rét và ốm đau” có nhiệm vụ tổng hợp lại và mở rộng
thêm nội dung mà câu đầu đã nêu Ngoài nỗi sợ già nua và cô độc Chí còn sợ đói rét ốm đau và trong những cái đó thì cái đáng sợ nhất là cô độc Câu chủ đề này vừa để mở rộng ý vừa để nhận xét đánh giá Như vậy, đoạn văn trên có 2 câu chủ đề: câu(1) và câu (10) 2 câu này không phải thể hiện 2 chủ đề mà cùng thể hiện một chủ đề Chí Phèo đã thức tỉnh về mặt tâm lí Chí đã biết sợ: già nua, đói rét,
ốm đau và cô độc
Trong các văn bản khác như văn bản khoa học, văn bản nghị luận … người ta hay sử dụng đoạn văn kiểu này còn ở văn bản nghệ thuật mà cụ thể trong thể loại truyện ngắn các nhà văn rất ít sử dụng đoạn văn tổng - phân - hợp Bởi trong đoạn văn kiểu này thường thể hiện chất “lí trí”, sự chính xác nhiều hơn
là những cảm xúc mang tính đặc trưng của văn chương
2.2.1.2 Đoạn văn cấu tạo đặc biệt
Khác với đoạn văn bình thường, đoạn văn đặc biệt chỉ được cấu tạo từ 1 câu: câu bình thường hoặc câu đặc biệt ( câu đặc biệt này cấu tạo từ 1 cụm từ hoặc 1 từ) đứng tách ra trong hình thức một đoạn văn Trong văn bản chúng xuất hiện bất thường, đứng tách biệt nhằm những mục đích khác nhau của người viết Đoạn văn này xuất hiện nhiều nhất trong văn bản nghệ thuật và thường mang đậm màu sắc phong cách của tác giả
- Đoạn văn đặc biệt một câu
Ví dụ:
“Cánh cửa đề lao mở rộng
Sáu người né mình tiến vào như một bọn thợ nề, thận trọng khiêng cái thang gỗ đặt ngang trên vai
Trang 22Trái với phong tục nhận tù mỗi ngày, hôm nay viên quan coi ngục nhìn sáu tên tù mới vào với cặp mắt hiền lành Lòng kiêng nể tuy cố giữ kín đáo mà cũng đã rõ quá rồi Khi kiểm điểm phạm nhân, ngục quan lại còn có biệt nhỡn đối riêng với Huấn Cao ”
(Chữ người tử tù - Nguyễn Tuân)
Ví dụ trên có 3 đoạn văn Hai đoạn văn đầu là hai đoạn văn đặc biệt - cấu tạo từ một câu bình thường (đoạn văn thứ nhất cấu tạo từ 1 câu đơn 2 thành phần, đoạn văn thứ 2 được cấu tạo từ 1 câu ghép) Dụng ý nghệ thuật đằng sau việc tách thành hai đoạn văn là để nhấn mạnh sự đối lập giữa hoàn cảnh tù đày
“cánh cửa đề lao mở rộng” với tư thế đàng hoàng bình thản của sáu người tù
“sáu người tù né mình tiến vào như một bọn thợ nề, thận trọng khiêng cái thang
gỗ đặt ngang vai” Nghệ thuật tương phản, đối lập được Nguyễn Tuân sử dụng
triệt để ngay cả ở cách dùng đoạn văn đặc biệt nhằm mục đích đề cao khí phách của Huấn Cao
Như vậy trong văn bản có sự đan xen giữa đoạn văn bình thường và đoạn văn đặc biệt (như ví dụ trên) Sự xuất hiện ít hoặc nhiều một kiểu loại đoạn văn xét về mặt cấu tạo là do sự chi phối của đặc trưng thể loại và phong cách tác giả
- Đoạn văn đặc biệt là một câu đơn đặc biệt
Chẳng hạn, có những đoạn văn được cấu tạo là một câu đặc biệt có dạng
là một cụm từ (cụm danh từ, cụm tính từ, cụm động từ…)
Ví dụ:
“Vì thế mà sinh sự đánh nhau ở Hồng Ngài
Khi đó đang đói rừng Hổ, gấu cứ từng đêm ra phá rừng, bắt mất nhiều bò ngựa Nhà thống lí Pá Tra lúc nào cũng đầy ngựa trong tàu trước cửa, đầy lưng trâu bò đứng chen chân trong cột cửa, và dê, chó, lợn nằm quanh nhà, ngày nào cũng lũ lượt hàng mấy chục con đi nương ăn, bây giờ gặp khi rừng đói thế này, mỗi khi bò ngựa đi nương, A Phủ phải ở lại trông A Phủ phải ở lều luôn hàng tháng ngoài nương, đêm đến lại dồn bò ngựa về nằm chầu nhau ngủ xung quanh lều”
(Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài)
Trang 23Đoạn văn thứ nhất được cấu tạo từ một câu đơn đặc biệt chỉ có 1 cụm
động từ “sinh sự đánh nhau ở Hồng Ngài”, và có thêm quan hệ từ “ vì thế mà”
đứng trước Đó là một câu đặc biệt đứng tách ra thành một đoạn văn phục vụ cho
ý đồ nghệ thuật của tác giả Việc “sinh sự đánh nhau ở Hồng Ngài” vừa là kết
quả của “mâu thuẫn” của trai làng này làng khác Vừa để người đọc ghi nhớ tới nguyên nhân khiến A Phủ phải đi ở trừ nợ Đồng thời ẩn ý sự thua thiệt của người dân trong mối quan hệ với kẻ thống trị
Có thể, đoạn văn đặc biệt có dạng là một từ
Đây là đoạn văn có cấu tạo với hình thức câu là một từ: từ đơn, từ ghép, từ láy… đứng tách ra dưới hình thức một câu - đoạn văn
(Anh Sẩm - Nguyễn Công Hoan)
Ví dụ trên có 4 đoạn văn thì 3 đoạn văn sau là đoạn văn đặc biệt câu - một
từ Trong đó, có hai đoạn văn được cấu tạo từ một câu - một từ đơn “Gió”,
“Mưa” và một đoạn văn được cấu tạo từ một câu đơn đặc biệt - một từ láy “Não nùng” Dụng ý của tác giả là muốn tập trung khắc họa về sự khắc nghiệt, lạnh giá, não nùng của mưa của gió của thiên nhiên nhằm gây ấn tượng cho người đọc ngay từ đầu tác phẩm về một điều gì đó không bình thường sẽ xảy ra Đó là dự cảm về cuộc mưu sinh khốn khổ bi đát của anh Sẩm mù trong một xã hội thiếu tình người
2.2.2 Dựa vào chức năng đoạn văn
Mỗi văn bản thường chứa nhiều đoạn văn Trong đó có những đoạn văn chỉ giữ một chức năng riêng, nhưng cũng có nhiều đoạn văn cùng thực hiện một
Trang 24chức năng nhất định Chức năng của đoạn văn phụ thuộc vào vị trí, vào dụng ý nghệ thuật của tác giả Nhìn chung, nhiều nhà ngôn ngữ học đồng ý với cách phân loại đoạn văn trong văn bản nói chung và trong văn bản nghệ thuật nói riêng (trong đó có truyện ngắn) là: đoạn văn mở đầu, đoạn văn triển khai, đoạn văn chuyển tiếp và đoạn văn kết thúc
2.2.2.1 Đoạn văn mở đầu
Đoạn văn mở đầu là nơi mở ra thế giới nghệ thuật của tác phẩm Ấn tượng ban đầu của người đọc đối với tác phẩm chính là đoạn mở đầu Không chỉ có chức năng tạo ấn tượng như tạo tình huống đặc biệt, dẫn dắt câu chuyện có duyên… gợi sự hứng thú khám phá cho người đọc mà câu đoạn mở đầu còn có chức năng tạo khung - nền chung cho truyện (giới thiệu hoàn cảnh, khung cảnh,
sự kiện, nhân vật…)
- Các kiểu mở trong đoạn văn mở đầu
Thông thường ở thể loại truyện ngắn, đoạn văn mở đầu có hai kiểu: kiểu
mở đầu trực tiếp và kiểu mở đầu gián tiếp
+ Kiểu mở trực tiếp
Là kiểu mở truyện đi thẳng vào vấn đề của cốt truyện Ở kiểu này đoạn
mở đầu có thể trùng với phần trình bày của cốt truyện như phần cao trào của truyện, điểm mở nút của truyện, hay một thời điểm đặc biệt nào đó của nhân vật…
Ví dụ:
“Hắn vừa đi vừa chửi Bao giờ cũng thế, cứ rượu xong là hắn chửi Bắt
đầu hắn chửi trời Có hề gì? Trời có của riêng nhà nào? Rồi hắn chửi đời Thế cũng chả sao: đời là tất cả nhưng chẳng là ai Tức mình, hắn chửi ngay tất cả làng Vũ Đại, nhưng cả làng Vũ Đại ai cũng nhủ: “chắc nó trừ mình ra!” Không
ai lên tiếng cả Tức thật!…Có trời mà biết! Hắn không biết, cả làng Vũ Đại cũng không ai biết…”
(Chí Phèo - Nam Cao) Đây là đoạn văn mở đầu theo lối vào ngay cao trào của cốt truyện Đi vào
độ căng nhất của cốt truyện Chí Phèo đã rơi vào “vòng tròn bội bạc” hắn không
Trang 25còn là con người và hắn không nhận ra sự tồn tại xung quanh hắn Cách đặt vấn
đề ở đoạn mở đầu như thế vừa tạo được sự chú ý đặc biệt của người đọc và giúp người đọc nhanh chóng nhận ra những vấn đề mà tác giả muốn đề cập
Nội dung trong đoạn văn mở trực tiếp thường gắn bó chặt chẽ với chủ đề của truyện mà đoạn văn trên là một ví dụ
+ Kiểu mở gián tiếp
Là kiểu mở không đi thẳng vào vấn đề của cốt truyện mà dẫn dắt người đọc bằng những lời giáo đầu, bằng dòng suy tưởng của nhân vật, những sự kiện, tình huống, bối cảnh, thiên nhiên có tính chất làm nền chung cho truyện
Ví dụ:
“Vào một chiều trung tuần tháng giêng, chàng trai ấy lang thang trong những ngỏ hẻm trong làng Chàng đi không mục đích, hồn lặng thấm cái êm ả của những cuối ngày thôn dã Chàng đi và nghĩ đến trăm điều vu vơ, những ý nghĩ thoáng qua trong trí rồi vỗ cánh bay đi, như những con bướm đa tình vội hôn đóa hoa này để đến với hoa kia”
(Chiều sương - Bùi Hiển) Truyện ngắn “Chiều sương” của Bùi Hiển miêu tả về cuộc lao động kiếm sống trên biển vô cùng nhọc nhằn nguy hiểm của người dân chài Mở đầu tác giả không đi ngay vào cốt truyện ấy mà chỉ giới thiệu về thời gian, không gian, cảnh thiên nhiên và những ý nghĩ vu vơ của người dẫn truyện Vậy mục đích của đoạn văn mở đầu này là tạo ấn tượng cho người đọc về một câu chuyện hấp dẫn sắp được kể ra
- Kiểu cấu tạo trong đoạn văn mở đầu
Để tạo ấn tượng cho người đọc ngay ở đoạn mở đầu, các nhà văn không chỉ chú ý ở phần trình bày nội dung, cách sử dụng từ ngữ… mà các nhà văn cũng chú ý đến cấu tạo của nó Có những tác phẩm mở đầu bằng một đoạn văn có cấu tạo đặc biệt, có những tác phẩm mở đầu bằng đoạn văn bình thường Vậy cấu tạo đoạn văn bình thường hay đặc biệt đều có tính mục đích nghệ thuật
+ Đoạn mở đầu có cấu tạo bình thường
Trang 26Là đoạn văn có từ hai câu trở lên Đoạn văn đó sẽ là một trong năm kiểu kết cấu: móc xích, song hành, diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp
Ví dụ:
“Ngọn bấc cháy đã gần lụi, chợt bùng lên nổ lép bép trong chiếc ống bơ sữa bò đựng dầu cặn Ngoài rừng sâu tĩnh mịch vọng lại tiếng suối chảy và tiếng kêu khắc khoải tha thiết của đôi chim trống mái”
(Mảnh trăng cuối rừng - Nguyễn Minh Châu) Đây là đoạn văn có kết cấu song hành Nội dung trong đoạn văn trên được trình bày theo kiểu liệt kê các sự việc xảy ra trong cùng một phạm vi thời gian Đoạn văn mở đầu có cấu tạo bình thường thì độ dồn nén về nội dung không nhiều bằng đoạn văn đặc biệt Vì thế để hiểu được mục đích của người viết có phần đơn giản hơn so với đoạn văn có cấu tạo đặc biệt Trong truyện ngắn, kiểu đoạn văn mở đầu có cấu tạo bình thường có số lượng nhiều hơn so với đoạn văn
có cấu tạo đặc biệt
+ Đoạn mở đầu có cấu tạo đặc biệt
Đoạn văn kiểu này được cấu tạo từ một câu bình thường hoặc một câu đặc biệt Kiểu đoạn văn này thường ngầm chứa nội dung nhiều hơn so với số lượng
từ ngữ của đoạn Vì thế xét về mặt ý nghĩa đoạn văn có cấu tạo đặc biệt thường mang nghĩa hàm ẩn, có độ dồn nén cao và xuất hiện không nhiều ở đoạn mở đầu trong thể loại truyện ngắn
Ví dụ:
“Vì mới chết lần này là lần đầu, nên anh Xích chưa có lịch duyệt về khoản
ấy
Thực vậy, nếu chết ở tỉnh, thì ai cáu, nên chọn vào đêm thứ sáu Như vậy
vợ con có vừa vặn thì giờ để cáo phó lên báo cáo Và đến chủ nhật cất đám có
đủ các cụ, các quan các ông, các bà, thân bằng cố hữu để đi đưa đông Ở nhà quê, nếu chết vì tai nạn, người khôn ngoan bao giờ cũng tránh ngày chủ nhật hoặc ngày lễ, thì sự khám xét, tống táng mới mong chóng được”
(Thịt người chết - Nguyễn Công Hoan)
Trang 27Đoạn văn thứ nhất là đoạn văn đặc biệt cấu tạo từ một câu ghép Xét về nghĩa trên mặt câu chữ thì đoạn văn có nội dung thông báo về cái chết của anh Xích Nhưng đằng sau thông báo ấy ẩn chứa một lượng hàm nghĩa lớn đó là những rắc rối, nhiễu sự phát sinh ra sau cái chết của anh Xích (vì anh chết lần này là lần đầu nên chưa có dịp để rút kinh nghiệm chết vào ngày nào để được tống táng cho mau chóng) Đồng thời thấy được nỗi đau của Nguyễn Công Hoan khi nhìn thấy giá trị con người thời bấy giờ (1938) “rẻ rúng” quá Cái chết của con người ở đây không còn là nỗi mất mát, nỗi bất hạnh mà trở thành sự khôi hài
2.2.2.2 Đoạn văn triển khai
Đoạn văn triển khai hay còn gọi là đoạn văn luận giải Trong thể loại truyện ngắn, đoạn văn triển khai làm nhiệm vụ triển khai phần nội dung chính của truyện Đoạn văn triển khai có thể tương ứng với một sự kiện, một tình tiết hoặc để làm rõ một đặc điểm nào đó của nhân vật như một trạng thái tâm lí, ngoại hình, tính cách…Trong truyện ngắn cùng làm nhiệm vụ này thường có nhiều đoạn văn (đoạn văn cấu tạo bình thường, đoạn văn đặc biệt, đoạn độc thoại, đoạn đối thoại…)
- Chức năng đoạn văn triển khai
+ Đoạn văn triển khai một sự kiện
Sự kiện trong truyện ngắn rất được coi trọng bởi nó là yếu tố quan trọng nhất làm nên cốt truyện Mỗi sự kiện có ý nghĩa ít nhiều trong sự phát triển hoặc chuyển hướng cốt truyện Sự kiện có khi là bước ngoặt trong cuộc đời của mỗi nhân vật hoặc tạo ra một tình huống để nhân vật bộc lộ tính cách, nội tâm nhân vật
Ví dụ:
“Cô Mị về làm dâu nhà Pá Tra đã mấy năm Từ năm nào cô không nhớ,
cũng không ai nhớ Nhưng người nghèo ở Hồng Ngài thì vẫn còn kể lại câu chuyện Mị về làm người nhà quan thống lí Ngày xưa bố Mị lấy mẹ Mị không có
đủ tiền cưới, phải đến vay nhà thống lí, bố của thống lí Pá Tra bây giờ Mỗi năm đem nộp lãi cho chủ nợ một nương ngô Đến tận khi hai vợ chồng về già mà cũng chưa trả được nợ Người vợ chết cũng chưa trả hết nợ”
Trang 28(Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài) Đoạn văn trên diễn giải sự kiện tại sao Mị lại về làm con dâu nhà thống lí
Pá Tra Do bố mẹ Mị nghèo phải vay tiền nhà thống lí nên bây giờ Mị phải làm con dâu gạt nợ Sự kiện này làm thay đổi cuộc đời Mị
+ Đoạn văn triển khai thể hiện diện mạo, tính cách, hành động của nhân vật
Đoạn văn kiểu này xét về ý, nó sẽ nhỏ hơn đoạn văn triển khai sự kiện Trong truyện ngắn thường xuất hiện nhiều đoạn văn loại này
Ví dụ:
“Anh Hoàng đi ra Anh vẫn bước khệnh khạng, thong thả bởi vì người khí
to béo quá, vừa bước vừa bơi, cánh tay kềnh kệnh ra hai bên, những khối thịt ở bên dưới nách kềnh ra và trông tủn ngủn như ngắn quá Cái dáng điệu nặng nề
ấy, hồi còn ở Hà Nội anh mặc quần áo tây cả bộ, trông chỉ thấy là chững chạc
và hơi bệ vệ Bây giờ nó lộ ra khá rõ ràng, trong bộ áo ngủ màu xanh nhạt, phủ một cái áo len trắng nó nịt người anh đến nỗi không còn thở được”
(Đôi mắt - Nam cao) Đây là đoạn văn miêu tả dáng vẻ bên ngoài của nhân vật Một dáng vẻ đặc biệt, béo đến mức kì dị không thể không tạo ấn tượng cho người đọc Cùng với các đoạn văn khác, đoạn văn trên cũng góp phần thể hiện tính cách và lối sống của nhân vật Hoàng
- Cấu tạo đoạn văn triển khai
Trong đoạn văn triển khai thường xuất hiện đoạn văn có cấu tạo bình thường và đoạn văn cấu tạo đặc biệt
Ví dụ:
“…
A Phủ chợt hiểu
Người đàn bà chê chồng đó vừa cứu sống mình
A Phủ nói: “Đi với tôi” Và hai người lẳng lặng đỡ nhau lao chạy xuống dốc núi”
Trang 29(Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài)
Ở ví dụ trên có ba đoạn văn, hai đoạn văn trước là hai đoạn văn có cấu tạo đặc biệt, mỗi đoạn là một câu văn ngắn nhằm nhấn mạnh một tình huống bất ngờ nhưng là sự thực đã xảy ra mà A Phủ chưa bao giờ nghĩ tới Đối với người đọc cách ngắt đoạn như thế có tác dụng nhấn mạnh một sự kiện rất quan trọng xảy ra
và báo hiệu sự thay đổi số phận nhân vật Đoạn văn thứ 3 là đoạn văn có cấu tạo bình thường
Ở đoạn văn triển khai dù được cấu tạo từ cấu trúc bình thường hay đặc biệt, tái hiện sự kiện hay diện mạo tính cách, tâm trạng thì nó cũng hướng về mục đích chung: duy trì sự phát triển của cốt truyện và thể hiện dụng ý nghệ thuật của tác giả
2.2.2.3 Đoạn văn chuyển tiếp
- Chức năng đoạn văn chuyển tiếp
Đoạn văn chuyển tiếp là đoạn văn trung gian có nhiệm vụ chuyển ý từ phần trước sang phần sau; có khi đoạn văn chuyển tiếp khép lại ý đã bàn ở phần trước hoặc mở ra ý mới sẽ bàn ở phần tiếp theo (thường là nêu đề tài mới), hoặc cùng lúc làm cả hai nhiệm vụ Bên cạnh chức năng chuyển ý, đoạn văn chuyển tiếp còn tạo nên sắc thái có ý nghĩa tu từ trong diễn đạt như gây sự chú ý cho nội dung sẽ được trình bày ở phần tiếp theo và biểu hiện những ẩn ý nghệ thuật của người viết - đây cũng là chức năng nổi bật của đoạn chuyển tiếp trong văn bản nghệ thuật nói chung và truyện ngắn nói riêng
Ví dụ 1:
“Nơi sông rạch, cá sấu là giống hung hăng nhứt Có điều đáng chú ý là
chúng không thích những chốn sông nước chảy, có sóng gió Chúng lên tận ngọn cùng, tìm nơi yên tịnh, chật hẹp Vùng U Minh Hạ, sấu thường đi ngược sông Ông Đốc, rạch cái tàu vào giữa rừng tràm
Tại sao vậy?
Tuy là thích ăn thịt người, loại sấu vẫn tìm cá làm món ăn chánh Rừng U Minh Hạ thuộc về loại trầm thủy, cá sanh sôi nảy nở rất nhanh chóng: lên đó tha
hồ mà ăn”
Trang 30(Bắt sấu rừng U Minh Hạ - Sơn Nam)
Ví dụ trên có ba đoạn văn Đoạn văn thứ hai “Tại sao vậy” là đoạn văn có
chức năng chuyển tiếp Nó vừa khép lại ý đã trình bày ở đoạn văn trước: cá sấu
là giống hung hăng nhất và có những đặc tính, sở thích riêng, vừa mở ra một nội dung khác sẽ được trình bày ở phần tiếp theo, đó là lời giải đáp cho những đặc tính, sở thích của cá sấu Ngoài chức năng chuyển ý, đoạn văn chuyển tiếp còn tạo ra sự hấp dẫn, hướng sự chú ý đặc biệt cho người đọc về lời giải thích cho vấn đề đặt ra
Ví dụ 2:
“…Sau nhiều lần tra tấn bằng các thứ thuốc, bác sĩ kết luận: “Tên tù này
câm thật!” Chúng đánh người cốt để moi lấy lời khai, người tù này câm rồi, đánh nữa chỉ mệt xác, bỏ tù tốn cơm, chúng thả anh ra Anh Ba Hoành vốn là con người lực lưỡng, một tay phát thế nổi tiếng Ở nhà tù về anh chỉ còn bộ xương, lại câm Anh không thể cầm nổi cái phảng được nữa Nhưng nếu còn sức cầm phảng, thì anh cầm phảng nữa làm gì, ba công đất của anh bị giật rồi
Anh câm, anh hết cả sức lực, nhưng anh còn sống, anh sống vì người vợ,
vì ba đứa con, và vì cái gì nữa ai mà biết được
…Mãi đến năm 1950 anh mới cưới vợ Đó là một cô gái dở dang, ba mươi tuổi mà chưa chồng Chị bị hư hỏng không phải vì hư hỏng, vì xấu hay vô duyên Chị bị dở dang vì người yêu của chị là một anh vệ quốc đoàn bị hi sinh Ba mươi sáu tuổi anh mới lấy vợ Năm năm đẻ liền ba cháu…”
(Quán rượu người câm - Nguyễn Quang Sáng)
Ở ví dụ trên có ba đoạn văn Đoạn văn thứ hai là đoạn văn có chức năng
chuyển tiếp Vừa khép lại ý ở phần trên “Anh câm, anh hết cả sức lực, nhưng
anh còn sống” Và mở ra ý cho phần sau “anh sống vì người vợ, vì ba đứa con,
và vì cái gì nữa ai mà biết được”.Đây là đoạn văn chuyển tiếp với đầy đủ chức
năng của nó trong văn nghệ thuật Đoạn văn chuyển tiếp trên có chứa đựng một
ẩn ý nghệ thuật “vì cái gì nữa ai mà biết được” Đó chính là một hàm ý, một sự
đề cao, ngưỡng mộ mà chỉ khi đọc hết câu cuối cùng của truyện mới hiểu được
Trang 31Đó là vì lí tưởng của anh, anh phải sống, sống để trả mối thù cho dân tộc và cho
cả riêng anh
- Cấu tạo đoạn văn chuyển tiếp
Trong văn bản nói chung và truyện ngắn nói riêng, đoạn văn chuyển tiếp thường có cấu tạo đặc biệt
+ Đoạn kết có cấu tạo bình thường
Là đoạn văn có từ 2 câu trở lên, có sự liên kết với nhau theo một cấu trúc nhất định
Ví dụ:
“Thanh nghĩ đến căn nhà như một nơi mát mẻ và sung sướng để chàng
thường về nghỉ sau việc làm Và Thanh biết rằng Nga sẽ vẫn đợi chàng, vẫn nhớ mong chàng như ngày trước Mỗi mùa, cô lại giắt hoàng lan trong mái tóc để tưởng nhớ mùi hương”
(Dưới bóng hoàng lan - Thạch Lam) Đoạn văn ở ví dụ trên được kết cấu theo kiểu móc xích Đoạn văn kết có cấu tạo bình thường chiếm số lượng nhiều hơn đoạn văn kết đặc biệt trong thể loại truyện ngắn
+ Đoạn kết có cấu tạo đặc biệt
Ví dụ:
“Khổ thật! Thuốc thang chịu uống đến thế mà bà ấy không đỡ cho
Bà ấy chỉ thèm ăn được”
Trang 32(Hai cái bụng - Nguyễn Công
Hoan) Đoạn kết ở ví dụ trên được cấu tạo từ một câu đơn Trong truyện ngắn có khi đoạn kết chỉ được cấu tạo từ một câu đơn đặc biệt có dạng là 1 từ hoặc 1 cụm từ
- Nội dung đoạn kết
Nói đến các kiểu nội dung kết thúc trong truyện ngắn, có nhiều nhà nghiên cứu đưa ra những quan niệm riêng:
Lê Thị Hường cho là có 4 kiểu: kết thúc để ngỏ, kết thúc có nhiều đoạn kết, kết thúc đối nghịch, loại truyện có mở đầu mà không có kết thúc.[25]
Bùi Việt Thắng quan niệm có 4 kiểu: kết khép, kết mở, kết bất ngờ, kiểu kết không có kết.[40]
Đoạn văn kết thúc biểu lộ những nội dung khác nhau, song có một điểm chung là ngưng tóm vấn đế đã trình bày Nên ở đây, chúng tôi xem chỉ có 2 kiểu kết: kiểu kết khép và kiểu kết mở
+ Đoạn kết khép lại một lớp truyện, số phận nhân vật
Kiểu đoạn kết này trùng với kết cục của truyện, nó cho người đọc thấy rõ tương lai, số phận nhân vật Có thể gọi đoạn kết kiểu này là đoạn kết đóng
Ví dụ:
“Qua giây phút hãi hùng đó, ban nhạc sực tỉnh, chợt một khúc quân hành rời rạc Theo truyền thống nghề xiếc, bất cứ lâm vào tình trạng nào vẫn tiếp tục trình diễn Nhưng không còn ai muốn xem, không còn ai muốn diễn Cuối cùng ban nhạc cũng dừng Rồi thì cả rạp yên lặng như một nhà mồ Mọi người đều trông tin từ bệnh viện Một giờ sau nàng qua đời Tôi lê ra sàn diễn nghẹn ngào báo tin Khán giả không ai chịu ra về Bao nhiêu là hoa đặt vào nơi nàng đã ngã xuống Mấy anh chàng hề mắt đỏ hoe thất thểu ra sân…”
(Mùi cọp - Quý Thể)
Ở đoạn kết này, ta có thể thấy số phận nhân vật đã khép lại “một giờ sau
nàng qua đời” Đó là “cái giá quá đắt” cho cho hành động nàng đã thay mùi cọp
bằng mùi hương hoa hồng để làm vui lòng người chồng mình Chính vì mùi
Trang 33hương lạ đó mà con cọp (do nàng huấn luyện) đã không nhận ra nàng Bao nhiêu nỗi đau đớn, tiếc thương của những người chứng kiến hôm ấy đã khép lại câu chuyện về môt nữ diễn viên nổi tiếng về tiết mục biểu diễn với cọp
+ Đoạn kết có ý nghĩa gợi mở, định hướng
Ở kiểu đoạn kết này thường chỉ kết thúc văn bản về mặt ngôn từ nhưng chưa kết thúc những suy đoán, những sự liên tưởng của độc giả Đoạn kết này thường được gọi là kiểu kết mở và là kiểu đoạn kết phổ biến trong truyện ngắn hiện đại
Ví dụ:
“Đột nhiên thị thoáng thấy hiện ra một cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa và vắng người qua lại”
(Chí Phèo - Nam Cao)
Ở đoạn kết này có thể gợi ra cho người đọc những sự liên tưởng khác nhau Liên tưởng về số phận nhân vật sau khi Chí Phèo bị chết: nhân vật Thị Nở
sẽ ra sao, có thể có thêm một nhân vật Chí Phèo con hay không Có thể liên tưởng về ý đồ nghệ thuật của Nam Cao trong việc phản ánh giá trị nhân đạo của tác phẩm: thông cảm, xót xa trước cái chết của Chí Phèo mà hình ảnh cái lò gạch
cũ bỏ không là nơi sinh ra Chí; nó còn có ý nghĩa tố cáo sâu sắc cho: cuộc đời con người trong xã hội ấy luẩn quẩn bế tắc trong một vòng khép kín, cuộc đời sau lặp lại như cuộc đời trước, mâu thuẫn giai cấp lại nối tiếp mâu thuẫn giai cấp…
Với đoạn kết kiểu này tạo cho người đọc những nỗi suy tư, trăn trở, xót xa
về số phận những người bị áp bức trong xã hội nông thôn Việt trước và sau cách mạng tháng 8
3 TIỂU KẾT
Ở chương I, chúng tôi đã trình bày những nét cơ bản nhất về tác giả, về sự nghiệp văn chương nói chung và thể loại truyện ngắn nói riêng của Nguyễn Khải Chúng tôi cũng đã trình bày khái quát về cách hiểu đoạn văn, cách phân loại đoạn văn dựa vào đặc điểm cấu tạo và chức năng của nó trong thể loại truyện ngắn Những cơ sở về lí thuyết và thực tiễn của đoạn văn nói chung và
Trang 34đoạn văn trong truyện ngắn nói riêng là cơ sở quan trọng giúp chúng tôi phân tích, so sánh, đối chiếu để tìm ra đặc điểm cấu tạo và chức năng của đoạn văn trong truyện ngắn Nguyễn Khải cũng như phong cách Nguyễn Khải trong truyện ngắn
Trang 35CHƯƠNG II CÁC KIỂU ĐOẠN VĂN XÉT VỀ CẤU TẠO TRONG TRUYỆN NGẮN
1.1 Đoạn văn có cấu tạo bình thường
Theo số liệu thống kê, đoạn văn trong 25 truyện ngắn của Nguyễn Khải có cấu tạo bình thường chiếm tỷ lệ 94,8% (419/442) Dựa vào kiểu quan hệ của các câu trong đoạn, chúng tôi nhận diện các kiểu đoạn văn sau: Đoạn văn có kết cấu song hành, đoạn văn có kết cấu móc xích, đoạn văn có kết cấu diễn dịch, đoạn văn có kết cấu quy nạp, đoạn văn có kết cấu tổng - phân - hợp
1.1.1 Đoạn văn kết cấu song hành
Đoạn văn có cấu trúc song hành chiếm tỷ lệ rất cao tới 78,5% (329/419) Điều đó cho thấy ưu thế của đoạn văn song hành trong thể loại truyện ngắn Nguyễn Khải Do đặc trưng của thể loại truyện ngắn có sự dồn nén các sự kiện trong một dung lượng ngắn nên đoạn văn song hành có thể liệt kê cùng lúc nhiều
sự kiện, chứa đựng nhiều lượng thông tin, có thể mở rộng nhiều đề tài trong một đoạn Đoạn văn song hành trong truyện ngắn Nguyễn Khải nằm trong quy luật
ấy: "Sức hấp dẫn của truyện ngắn Nguyễn Khải là nhờ vào tính thời sự nhạy bén
của các sự kiện và ý nghĩa lâu dài của các vấn đề đặt ra"[16,5] Nét tiêu biểu trong phong cách Nguyễn Khải là cách tái hiện hiện thực tỉnh táo, luôn coi trọng tính khách quan của sự kiện vì thế ta thường gặp các đoạn văn trình bày theo phép liệt kê sự kiện
* Phân loại đoạn văn kết cấu song hành
1.1.1.1 Liệt kê diễn đạt quan hệ đồng thời
Là kiểu liệt kê các sự kiện xảy ra trong cùng một phạm vi thời gian
Trang 36Ví dụ 1:
"Tháng 7 tôi đến chào cô và Việt để dọn nhà về Hà Nội Cô nhìn tôi rơm rớm nước mắt còn Việt thì khóc oà Việt tặng tôi một cuốn sách phỏng dịch của ông Kiplinh mới xuất bản Thì ra hắn vẫn mua được sách mới, trích ra từ tiền lãi bán lạc mỗi ngày Vợ thầy nói ngậm ngùi: "Nay mai thầy biết tin con đã về
Hà Nội là thầy sẽ buồn lắm Thầy cô vẫn coi con như em Việt""
(Thầy Minh)
Các sự việc ở ví dụ trên diễn ra trong một thời điểm - “tháng 7 khi tôi đến
chào cô và Việt để dọn nhà về Hà Nội” Các câu văn trên có sứ mệnh ngang nhau
trong việc thể hiện chủ đề: Nỗi buồn lưu luyến của gia đình Thầy Minh khi tôi chuyển nhà đi nơi khác
(Hậu duệ dòng họ Ngô Thì)
Ở ví dụ trên, các sự kiện liệt kê trong cùng một thời gian " Một tối ngồi với
nhau ở làng quê" Tuy nhiên trong câu chuyện có cả chuyện quá khứ (chuyện đời
lính), chuyện hiện tại (chuyện chính trị) và chuyện tương lai Nhưng được kể bằng
thời gian hiện tại, bằng thời gian trong "một tối" Vì thế đối với kiểu đoạn văn liệt
kê diễn đạt quan hệ đồng thời là kiểu liệt kê các sự kiện xảy ra trong cùng một phạm vi thời gian nhưng là thời gian bao trùm của sự kiện
Trang 371.1.1.2 Liệt kê diễn đạt theo trật tự thời gian
- Liệt kê diễn đạt thời gian trước sau
Là phép liệt kê diễn ra theo chiều thuận của thời gian, đây là kiểu liệt kê theo trật tự tuyến tính như trong thể loại truyện cổ tích, sự kiện nào có trươc nói trước, sự kiện nào có sau nói sau Phép liệt kê này diễn ra hoàn toàn theo lô gíc hiện thực khách quan
Ví dụ:
"Tôi về Hà Nội suốt một vụ hè ngày đêm chỉ nhớ có một người bạn là Việt
và một ông thầy là thầy Minh Mỗi tuần tôi đều gửi một lá thư và Việt cũng gửi thư cho tôi đều đặn như vậy Rồi gia đình tôi dọn đến ở một phố khác Hai lá thư sau tôi gửi đi đều bị trả lại Nhà thầy Minh chắc cũng không còn ở địa chỉ cũ Và đứt liên lạc hẳn"
(Thầy Minh)
Ở đoạn văn trên, thời gian được liệt kê từ khi "tôi về Hà Nội" cho đến khi
"đứt liên lạc hẳn” - đó là thời gian trước sau Trong truyện ngắn Nguyễn Khải,
kiểu liệt kê này chiếm số lượng rất ít bởi bên cạnh việc coi trọng tính khách quan
có tính trật tự thời gian thì Nguyễn Khải thường chen vào trật tự ấy bằng nhiều câu đánh giá, những dòng suy luận
- Liệt kê diễn đạt quan hệ sau trước
Là kiểu đoạn văn thiết lập ngược chiều với kiểu liệt kê trước sau
Ví dụ:
"Hăm ba năm làm vợ Sinh, cô chỉ ở với chồng được khoảng chừng một năm (1) Đã có ba mặt con với nhau mà hình như cô vẫn chưa thuộc mặt hắn, chưa thuộc tính nết của hắn và chưa hề được hầu hắn đau ốm một ngày nào (2) Còn chiến tranh thì mỗi năm hắn về một lần, mỗi lần ở nhà từ một tuần đến mười ngày, ba lần về đẻ ba cô con gái (3) Cả nước hoà bình nhưng hắn vẫn luẩn quẩn trong khói súng ở biên giới Tây Nam (4) Rồi hắn xuất ngũ do bị thương, nhẹ thôi nhưng hắn xin về hưu non khi mới bốn mươi tuổi (5) "
Trang 38(Lãng tử)
Ở đoạn văn trên hai cầu đầu diễn đạt thời gian, đó là lời tổng kết sau hăm
ba năm làm vợ Sinh Còn các câu (3), (4), (5) diễn đạt thời gian trước hăm ba năm đó: khi còn chiến tranh, khi hoà bình, khi xuất ngũ Ở đó vai trò biểu đạt chủ đề của các câu là ngang nhau Nếu đoạn văn có kiểu liệt kê biểu đạt thời gian trước sau là một thủ pháp tuân thủ tuyệt đối hiện thực khách quan thì kiểu liệt kê biểu đạt thời gian sau - trước lại có tác dụng khắc hoạ rõ nét hơn các sự kiện để làm nổi bật tính cách nhân vật - tính cách rất "lãng tử" của nhân vật Sinh
1.1.1.3 Liệt kê bằng quan hệ liên tưởng
Là kiểu liệt kê theo cách đi từ vật, sự việc này mà liên tưởng đến sự vật sự kiện khác tương đồng hay đối lập với nó Trong truyện ngắn Nguyễn Khải loại đoạn văn này chiếm số lượng khá nhiều và dung lượng mỗi đoạn rất lớn ví dụ có đoạn văn trong truyện ngắn “ Sư già chùa thắm và ông đại tá về hưu’’ (tr 513 -
tr 514)[1]dài khoảng 150 từ Đây là kiểu đoạn văn thích hợp cho thể loại truyện ngắn nói chung và truyện ngắn Nguyễn Khải nói riêng bởi cùng một lúc,
có thể tự do lý giải nhiều sự kiện, diễn đạt sự vật sự việc trong những khoảng thời gian khác nhau, xen được nhiều giọng điệu
Ví dụ:
"Trong số các bà chị và ông anh còn đang sống ở thành phố, tôi rất thích đến thăm và tán chuyện với chị Bơ và ông chồng rất tốt bụng của chị (1) Cũng như trước đây tôi tôi đã nghiền đến chơi chị Hoàng, dầu rằng mỗi lần gặp chị, chị đều trêu chọc tôi, chửi thẳng, chửi xéo tôi vì tôi là thằng cộng sản rắn mặt như lời đồn đại trong họ (2) Chị chửi tôi nhưng chị chửi có duyên quá nên tôi vẫn năng đến (3) Đến với chị Bơ tôi lại có một nhu cầu khác (4) Tôi lặng lẽ ngắm nghía ông anh rể ngồi lọm khọm trên ghế, cây gậy kẹp trong đùi, vừa nhìn
vợ làm cơm, vừa kể chuyện Đông Tây kim cổ, chuyện vui và cả chuyện buồn, giọng kể ngọt ngào, âu yếm, còn bà vợ chạy lui chạy tới, quay trước quay sau, hai bàn tay không lúc nào nghỉ, chốc lại quay mặt về phía chồng, hỏi một câu ngây thơ, một cách nũng nịu: "lại ra thế hả ông", "con người đẹp thế, tốt thế lại bạc phận ông nhỉ?" (5) "
(Nắng chiều)
Trang 39Ở đoạn văn trên, các câu (1), (4), (5) liệt kê diễn đạt một sự việc là tôi thích đến thăm và tán chuyện với vợ chồng chị Bơ Câu (2), (3) liên tưởng sang một chuyện khác của tôi là tôi cũng nghiền đến chơi nhà chị Hoàng Dẫu nói tới hai sự kiện khác nhau nhưng các đoạn văn đều tập trung hướng tới chủ đề: Sự quý trọng của tôi đối với những anh chị thân thích trong họ hàng
Đoạn văn kết cấu song hành trong truyện ngắn Nguyễn Khải vừa mang những đặc trưng chung của loại đoạn văn này trong thể loại truyện ngắn vừa mang những đặc điểm riêng mang dấu ấn phong cách Nguyễn Khải như: dung lượng mỗi đoạn thường dài (bởi có nhiều truyện ngắn có kết cấu và hơi hướng của thể loại tiểu thuyết thu nhỏ) có khi một truyện ngắn được đánh số thứ 1, 2, 3,
4, 5, 6, 7 7 phần là 7 đoạn văn song hành, 7 đoạn văn ấy có dung lượng dài nhưng lại có độ dồn nén sự kiện rất lớn, ở những đoạn văn như thế thường sử dụng kiểu liệt kê bằng quan hệ liên tưởng
1.1.2 Đoạn văn kết cấu móc xích
Đoạn văn móc xích trong truyện ngắn Nguyễn Khải chiếm tỉ lệ 10,9% (46/419) Đây là kiểu đoạn văn mang đậm phong cách Nguyễn Khải trong truyện ngắn: thể hiện rõ nét chất triết lí, chất trí tuệ, năng lực phân tích lí giải vấn đề Đây cũng là kiểu đoạn văn góp phần rất nhiều để tạo sức hấp dẫn cho tác phẩm của ông
* Phân loại đoạn văn móc xích
1.1.2.1 Kiểu móc xích liên hoàn
Đây là kiểu đoạn văn mà câu trước là nguyên nhân câu sau là kết quả
Ví dụ:
"Tôi nín lặng, đốt đếu thuốc mới nhìn chăm chú hai cái vành tai rất rộng của ông già Mắt sáng, tai to mà tướng khổ ư? Phải sống cô độc những năm về cuối ư? Không có gì khổ hơn là phải sống cô độc, không được lo cho ai, mà
cũng không còn ai để lo lắng cho mình"
(Hai ông già ở Đồng Tháp Mười)
Ở ví dụ trên, những từ được in đậm chỉ những nguyên nhân và kết quả qua
sự lí giải, sự chiêm nghiệm của Nguyễn Khải về con người và số phận Thông
Trang 40thường sử dụng kiểu đoạn văn này khi cần nhấn mạnh một kiểu nhận định, đánh
giá của tác giả, của nhân vật hoặc khắc sâu một đặc điểm nào đó của nhân vật
đi học, lớn lên đi làm cho nhà nước, về già ăn lương hưu Sau vài chục năm, các con tôi cũng gần giống với tôi: hiền lành, chăm chỉ và hoàn toàn ỷ lại Lỗi tại tôi hết Vì tôi muốn bảo vệ chúng nó trong cái vòng thật an toàn Nhưng tôi đâu có thể nuôi được chúng như trước đây Chúng vẫn phải đi làm Rồi vừa đi làm vừa buôn bán chút ít Đã buôn bán thì bạn bè phải rộng, phải nhiều Cái vòng vây bảo vệ đã bị phá, mọi sự nguy hiểm, bất trắc của một xã hội dịch vụ sẽ tràn vào Hãy tự chống lấy các con ơi, khôn thì sống, dại thì chết, biết làm sao được bây giờ"
(Anh hùng bĩ vận)
Ở đoạn văn trên, các câu đều hướng tới chủ đề: Suy nghĩ về cách sống của tôi: viết văn - ăn lương nhà nước - sống theo một khuôn phép Nhưng ở kiểu móc xích này, câu sau không phải lúc nào cũng là nguyên nhân hoặc là kết quả của câu trước mà các câu có những mắt xích liên kết với nhau theo kiểu câu sau phát triển hoặc bổ sung thêm ý cho câu trước hoặc mở rộng nội dung, triển khai nội dung sang một tiểu chủ đề khác Trong truyện ngắn Nguyễn Khải thường sử dụng nhiều đoạn văn kiểu móc xích tự do này
Ví dụ 2: