1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phong cách nghệ thuật nguyễn tuân trong các tác phẩm yêu ngôn

85 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phong Cách Nghệ Thuật Nguyễn Tuân Trong Các Tác Phẩm “Yêu Ngôn”
Tác giả Phạm Thị Phương
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lý Luận Văn Học
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ Ngữ Văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 899,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Và trên cơ sở khảo sát về nghệ thuật Nguyễn Tuân "dựa trên hai yếu tố chính: tạo hình bằng thủ pháp chơi chữ và tạo không khí bằng thuật pháp tối sáng, hư ảo", Thuỵ Khuê đã chứng minh kh

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

-

PHẠM THỊ PHƯƠNG

PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT NGUYỄN TUÂN TRONG CÁC TÁC PHẨM “YÊU NGÔN”

Chuyên ngành: LÝ LUẬN VĂN HỌC

Mã số : 60 22 32

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Nguyễn Tuân (1910 - 1987) thuộc số ít những tài năng độc đáo và

đa dạng của văn giới Việt Nam Sinh thời ông sống và hoạt động trên nhiều lĩnh vực nghệ thuật, ở lĩnh vực nào ông cũng hoạt động say sưa và thể hiện hết cái "tôi" tài hoa của mình Nhớ Nguyễn Tuân, trước hết là nhớ đến một nhà văn uyên bác và đặc biệt tài hoa ở cả cách nghĩ và cách viết Suốt cuộc đời, bằng lao động nghệ thuật nghiêm túc, bằng tài năng và tấm lòng, Nguyễn

đã để lại một khối lượng tác phẩm không phải là đồ sộ nhưng lại rất độc đáo

về phong cách, khẳng định được vị trí vững vàng trên văn đàn Việt Nam Ông

là một trong mấy nhà văn lớn mở đường và đắp nền cho văn xuôi thế kỷ XX Cùng với những bạn cùng thời như Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Thạch Lam, Nguyễn Tuân đã “đặt viên đá riêng vào cái nền còn mới mẻ của văn xuôi tiếng Việt ta, và viên đá của Nguyễn Tuân là một hòn đá tảng, mà tôi tin là sẽ chắc bền trong thời gian" (Nguyễn Đình Thi [36, 20]) Hòn đá tảng ấy nặng lắm, không phải một lúc cầm lên mà thấy được nó vuông bằng sắc cạnh hay tròn méo ở chỗ nào Do đó ông trở thành một hiện tượng đặc biệt trên văn đàn, một hiện tượng khó phẩm bình và đánh giá thoả đáng ở mọi thời

1.2 "Yêu ngôn" - một mảng sáng tác của Nguyễn Tuân ra đời trước cách

mạng tháng tám, chủ yếu được viết vào giai đoạn khủng hoảng nhất đối với một văn sỹ giàu tinh thần dân tộc nhưng chưa tìm được một hướng đi thích

hợp cho mình (1943) Sự xuất hiện của "yêu ngôn" đã thổi vào văn đàn thời

ấy một bầu không khí lạ được bao bọc bởi những yếu tố hoang đường, huyễn hoặc vừa thu hút vừa kích thích trí tò mò của độc giả Và khi chúng ta đến với

Trang 3

nó, thì nhận được một ám ảnh, một dư ba Nó vừa đánh dấu khả năng tìm tòi sáng tạo, vừa đánh dấu đậm nét thời kỳ khủng hoảng trong cuộc đời nhà văn

Nghĩa là, "yêu ngôn" vừa là một hiện tượng độc đáo vào bậc nhất lại vừa

là một hiện tượng phức tạp vào bậc nhất trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn

Tuân Đến "yêu ngôn", Nguyễn đã tìm được cho mình một bản lĩnh nghệ thuật vững vàng, một cá tính sáng tạo độc đáo Dù viết theo lối "yêu ngôn"

thì nó cũng là văn Nguyễn Tuân, là một tinh thể cấu tạo nên hòn đá tảng đặt nền móng cho văn xuôi Việt Nam hiện đại, do đó nó rất cần được khảo sát và nghiên cứu, để ta có được cái nhìn toàn vẹn hơn về con người và văn nghiệp của ông

1.3 Khám phá, cắt nghĩa về thế giới nghệ thuật của nhà văn đồng nghĩa với việc khám phá, cắt nghĩa một cái nhìn, một quan niệm về cuộc đời, về con người Phong cách học với tư cách là một phạm trù nghệ thuật với hướng tiếp cận của nó là chìa khóa để chúng ta đi sâu khám phá những đặc trưng mang tính thống nhất chỉnh thể của nhiều hiện tượng nghệ thuật Đến nay, người ta nói nhiều, bàn nhiều về phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân, nhưng vẫn chưa

có được một công trình nào nghiên cứu phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân, với tư cách như một đối tượng chuyên biệt Đi sâu tìm hiểu về phong cách

nghệ thuật Nguyễn Tuân trong "yêu ngôn", là góp phần cắt nghĩa một cách

đầy đủ hơn về một phong cách rất mực tài hoa và độc đáo trên con đường tìm tòi và sáng tạo

1.4 Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Đình Thi gọi quá trình hành hương

về xứ sở nghệ thuật của Nguyễn Tuân là "đi tìm cái đẹp, cái thật" Cũng không phải ngẫu nhiên mà văn Nguyễn Tuân được giới thiệu giảng dạy trong nhà trường

ở cả hai giai đoạn trước và sau cách mạng Tìm hiểu về phong cách nghệ thuật

Nguyễn Tuân trong "yêu ngôn", vì vậy còn mang một ý nghĩa thiết thực trong việc

vận dụng vào thực tiễn giảng dạy tác phẩm Nguyễn Tuân trong nhà trường

Trang 4

2 Lịch sử vấn đề

Chúng thuỷ giai đông tẩu,

Đà giang độc bắc lưu

Hai câu thơ chữ Hán ấy không chỉ đáng làm đề từ cho bài viết ở cuối tập

"Sông Đà" mà có thể làm đề từ cho mọi sáng tác ký tên Nguyễn Tuân và cho

toàn bộ cuộc đời con người ấy nữa ( theo Vương Trí Nhàn [36, 119]) "Trong cái thế giới hỗn độn" là đời sống văn học trước 1945, hiện tượng " độc Bắc lưu", hiện tượng văn học Nguyễn Tuân trở thành một trong những hiện tượng khiến giới phê bình nghiên cứu tập trung mổ xẻ, khai thác và tìm hiểu

Tuy nhiên với "yêu ngôn", do trước cách mạng tháng tám xuất hiện trên

các báo một cách không tập trung, nên chưa có ai đề cập đến vấn đề nghiên

cứu "yêu ngôn" một cách thoả đáng Sau cách mạng, cũng với tình trạng ấy,

lại thêm cái không khí mới của cách mạng khiến người ta dễ quên đi những

điều tưởng như đối lập với sự tốt đẹp trong văn học hiện tại, nên "yêu ngôn"

vẫn chưa có dịp trở lại trên văn đàn Mãi đến năm 1998, khi Nguyễn Đăng

Mạnh sưu tầm và xuất bản thì mới có một bài viết khá đầy đủ về "yêu ngôn", thì đó chính là lời giới thiệu của ông về "Nguyễn Tuân và yêu ngôn", trong

đó bàn về ba vấn đề chính sau:

- Nói lên cái sở nguyện của Nguyễn Tuân sinh thời muốn cho ra mắt bạn đọc những thiên truyện theo lối Liêu trai, ông dự định tập trung lại và in thành

tập “Yêu ngôn” nhưng rồi không làm kịp

- Cắt nghĩa nguyên nhân dẫn đến việc Nguyễn Tuân đi vào thế giới của hoang đường, ma quỷ

-Tìm ra nét độc đáo về nội dung tư tưởng và nghệ thuật trong mạch

truyện "yêu ngôn" của Nguyễn Tuân

Trang 5

Nếu xét cho kỹ, thì không phải không có ai chú ý đến những tác phẩm

"yêu ngôn", nhưng sự chú ý đó cũng rất mờ nhạt: hầu hết các bài nghiên cứu

chỉ đề cập đến "yêu ngôn" nhân bàn luận về sáng tác của Nguyễn Tuân nói

chung

Vương Trí Nhàn trong "Nhà văn Nguyễn Tuân " (tạp chí Sông Hương -

số 31, tháng 5-6/1988) cho đó là một biểu hiện của sự "hết lòng làm nghề, nhập thân với nghề" và trong quá trình nhập thân đó, "người ta còn bắt gặp những khi Nguyễn Tuân như mê đi trong ma lực của ngôn ngữ, ngòi bút như

bị ốp đồng để rồi viết ra những áng văn rờn rợn một thứ chất kỳ quái Trước cách mạng, cộng với những bế tắc trong tìm tòi nghệ thuật, những giây phút

mê hoặc này đã làm nảy sinh những trang yêu ngôn như "Xác ngọc lam",

"Đới Roi", "Rượu bệnh" và đỉnh cao là "Chùa Đàn" [36,117]

Còn Giáo sư Phong Lê trong "Tác giả văn xuôi hiện đại sau 1945" (Nhà

xuất bản khoa học xã hội, Hà Nội, 1997) nhìn nhận một cách nghiêm khắc hơn: "Đào bới mãi trong cái tôi cô đơn, ích kỷ, mặc kệ cuộc đời, đi mãi vào chủ nghĩa cá nhân hưởng lạc, thế giới Nguyễn Tuân hoàn toàn tách biệt với cuộc sống nhân dân Rồi không tránh khỏi có lúc nhà văn đi lạc sang một thế

giới khác, cái thế giới kinh dị ma quái như " Trên đỉnh non Tản" ;"Báo oán";

"Loạn âm" và sau này là " Chùa Đàn"

Rốt cuộc thì dù có muốn buông thả cho chủ nghĩa cá nhân tung hoành ngang dọc, muốn xê dịch trong không gian hoặc muốn tiến lui theo thời gian, muốn đi lên "non Tản" hoặc xuống cõi âm, thế giới Nguyễn Tuân vẫn chỉ là một thế giới tù túng, chật hẹp, thiếu khí trời và thiếu hơi người

Có thể nói, đó là cả một sự bế tắc chung của nền văn học công khai, dưới ách thống trị của thực dân trong xã hội cũ" [36,141]

Trang 6

Và gần đây nhất (2003), Thuỵ Khuê trong quá trình tìm hiểu "Thi pháp

Nguyễn Tuân" cũng đã dừng lại ở "yêu ngôn" và có những suy nghĩa khá sâu

sắc về mảng sáng tác này Thuỵ Khuê cho rằng "yêu ngôn" lộ rõ chủ đích

Nguyễn Tuân muốn tìm mối liên lạc siêu hình giữa sống, chết, tình yêu và nghệ thuật, đưa ra quan niệm "Tài, tình tương đố" như một đối xứng với thuyết " Tài, mệnh tương đố" của Nguyễn Du Và trên cơ sở khảo sát về nghệ thuật Nguyễn Tuân "dựa trên hai yếu tố chính: tạo hình bằng thủ pháp chơi chữ và tạo không khí bằng thuật pháp tối sáng, hư ảo", Thuỵ Khuê đã chứng

minh khá thuyết phục, rằng "yêu ngôn" viết đã 60 năm, không được rộng rãi biết được như Vang bóng một thời, nhưng vẫn còn nguyên tính cách tinh lọc,

hàm súc về một chủ đề tư tưởng độc đáo với thi pháp đặc biệt, một mình một cõi" [20]

Nhưng dù là để lý giải, nhìn nhận một cách nghiêm khắc hay đề cao, thì những sáng tác này của Nguyễn Tuân vẫn gây được ấn tượng và nhận được sự cảm thông nơi họ

Ngoài ra, còn có những công trình nghiên cứu riêng về tác phẩm "Chùa

Đàn"

- Hoàng Như Mai - " Tác phẩm Chùa Đàn của Nguyễn Tuân"

- Nguyễn Đăng Mạnh - " Đọc lại Chùa Đàn của Nguyễn Tuân"

Cả hai công trình này đều nằm trong cuốn "Chùa Đàn" (Nhà xuất bản văn học, thành phố Hồ Chí Minh - 1989) đều cho rằng " Chùa Đàn" là "Một truyện

luận đề" dẫn giải một vấn đề triết lý " Tự huỷ diệt để tái sinh" [theo 36, 261 – 269]

Như vậy cho đến nay thì những đánh giá về "yêu ngôn" của Nguyễn

Tuân vẫn còn một khoảng trống lớn Đi vào khảo sát phong cách nghệ thuật

của Nguyễn Tuân trong các tác phẩm "yêu ngôn", chúng tôi gặp rất nhiều khó

Trang 7

khăn Song với lòng yêu mến và thái độ trân trọng đối với những tìm tòi sáng tạo của cố nhà văn, chúng tôi muốn lấp đi một phần khoảng trống đó, góp phần đem lại cái nhìn toàn vẹn hơn về một phong cách nghệ thuật lớn trên văn đàn Việt Nam thế kỷ XX

3 Giới hạn của đề tài

Để làm sáng tỏ đề tài, chúng tôi tập trung khảo sát các truyện ngắn in

trong tập "Yêu ngôn" của Nguyễn Tuân (Nhà xuất bản hội nhà văn, tháng 9

năm 1998) Đây là tập sách do nhà văn Nguyễn Đăng Mạnh sưu tầm và xuất bản đúng như nguyện vọng của nhà văn lúc sinh thời

Ngoài ra chúng tôi còn khảo sát thêm một tác phẩm nữa, ra đời sau ngày

đất nước đã dành được độc lập, đó là cuốn "Chùa Đàn" (Nhà xuất bản Quốc văn Hà Nội, 1946) để hiểu đầy đủ hơn về mạch văn "yêu ngôn" cũng như sự chuyển biến về mặt tư tưởng của nhà văn Chúng tôi cũng nghĩ rằng “Yêu

ngôn” của nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh có thể còn bỏ sót một vài

truyện trong mạch “yêu ngôn” của Nguyễn Tuân, hoặc có thể chưa làm thật khớp với ý tưởng của nhà văn lúc sinh thời Nhưng chúng tôi nghĩ rằng điều

ấy – nếu xảy ra thì cũng không làm ảnh hưởng đến những nhận định, những đánh giá trong luận văn này

Hơn nữa, cái phức tạp về mặt văn bản của "Yêu ngôn" là nó ra đời sau

khi tác giả đã mất hơn 10 năm có lẻ (1987 - 1998), mà trong đó lại có sự kết hợp giữa sáng tác của ông trước cách mạng với dấu - gạch - nối mà nhà văn

đã đặt ra trong quá trình chuyển biến tư tưởng của mình để "Lột xác" đi theo cách mạng Trong “Yêu ngôn”, nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh chỉ trích một phần của “Chùa đàn”, vì thế chúng tôi thấy cần thiết phải đưa vào phạm

vi khảo sát toàn bộ tác phẩm “Chùa đàn”- một sáng tác quan trọng của mạch

“yêu ngôn”

Trang 8

3.2 Phạm trù phong cách mà luận văn khảo sát, đúng như tên gọi của đề tài, là phạm trù phong cách nghệ thuật, tức phạm trù thẩm mĩ, khác với phạm trù phong cách ngôn ngữ Nghĩa là, với quan niệm phong cách nhà văn như một chỉnh thể bao gồm nhiều thành tố trong mối liên hệ thống nhất và phụ thuộc nhau, ngôn ngữ chỉ là một trong nhiều yếu tố được khảo sát bên cạnh bút pháp, giọng điệu, cách cảm nhận về con người và thế giới

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Xác lập khái niệm phong cách nghệ thuật, xác định những nhân tố

(khách quan và chủ quan) dẫn đến sự ra đời của các tác phẩm "yêu ngôn", nhằm nhận diện và khu biệt các tác phẩm "yêu ngôn" như một hiện tượng độc

đáo và phức tạp vào bậc nhất trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Tuân, từ

đó xác định ý nghĩa của việc nghiên cứu phong cách nghệ thuật của Nguyễn

Tuân trong "yêu ngôn"

4.2 Đi sâu vào các tác phẩm "yêu ngôn", khảo sát, phân tích, khái quát,

xác định hệ thống các yếu tố chủ đạo trong cấu trúc phong cách Nguyễn Tuân

trong "yêu ngôn", thể hiện ở cách cảm nhận độc đáo của tác giả về con người

và thế giới

4.3 Phân tích, khái quát nét độc đáo của phong cách Nguyễn Tuân trong

"yêu ngôn" qua hệ thống bút pháp, giọng điệu và ngôn ngữ nghệ thuật của tác

giả

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn phối hợp vận dụng nhiều phương pháp nghiên cứu: Phương pháp cấu trúc - hệ thống, phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp

Trang 9

phân loại - thống kê; phương pháp lịch sử - so sánh nhằm làm rõ phong cách

nghệ thuật của Nguyễn Tuân trong "yêu ngôn"

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được triển khai trong ba chương

Chương 1: Khái niệm phong cách nghệ thuật và ý nghĩa của việc nghiên

cứu phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân trong "yêu ngôn"

Chương 2: Cảm nhận độc đáo về con người và thế giới của Nguyễn Tuân

trong "yêu ngôn"

Chương 3: Bút pháp, giọng điệu, ngôn ngữ nghệ thuật của Nguyễn Tuân

trong "yêu ngôn"

Cuối cùng là phần tài liệu tham khảo

Trang 10

CHƯƠNG 1

KHÁI NIỆM PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT NGUYỄN TUÂN

TRONG "YÊU NGÔN"

1.1 - Về khái niệm phong cách nghệ thuật

1.1.1 - Phong cách là một trong những khái niệm được sử dụng rộng rãi

và được bàn luận đến nhiều nhất không chỉ trong sáng tác và nghiên cứu văn học, trong các lĩnh vực khoa học khác mà cả trong đời sống xã hội Tuỳ theo đối tượng của từng ngành khoa học mà khái niệm phong cách mang những nội dung, ý nghĩa khác nhau Tuy nhiên có thể thấy được nét nghĩa có tính phổ quát của phong cách là chỉ "kiểu", "dáng" riêng, chỉ đặc trưng ổn định mang tính độc đáo của đối tượng được bàn đến

Trong sáng tác và nghiên cứu văn học, khái niệm phong cách được vận dụng từ rất sớm, ngay từ thời cổ đại với các đại biểu như Platon (428 - 348, trước CN), Arixtôte (348 - 322 trước CN) và cùng với thời gian, khái niệm phong cách ngày càng được quan tâm và được tiếp cận từ nhiều hướng khác nhau Người ta nhận ra mối liên hệ tất yếu giữa văn và người: "Văn như kỳ nhân" (Văn như con người) ( thế kỷ VII ở Trung Quốc) hay " Phong cách chính là bản thân con người" (Quan niệm của Bup - phông, thế kỷ XVIII ở Châu Âu) Sang thế kỷ XIX và đặc biệt ở thế kỷ XX, phong cách cùng với những yếu tố liên quan là những vấn đề được bàn luận hết sức sôi nổi, theo

thống kê của M - Khrapchencô trong "Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự

phát triển văn học" đã có tới gần 20 cách hiểu khác nhau về phong cách

[22,129 –152] Ở Việt Nam, sau bao nhiêu trăn trở vì "phong cách học đang thiếu một lý luận nhất quán để có thể khẳng định nó như một khoa học thực sự" [37, 6] đã có nhiều công trình nghiên cứu bàn về phong cách Đó là công trình của Nguyễn Thái Hoà [17,14], Hữu Đạt [6,7–14], Phan Ngọc [37,6–14]

Trang 11

Tuy nhiên, chung quy có hai hướng nhìn nhận chủ yếu đối với phạm trù phong cách: một từ góc độ ngôn ngữ học, một từ góc độ nghệ thuật Với tư cách là một phạm trù ngôn ngữ, có thể hiểu "Khái niệm phong cách trỏ những

hệ thống các yếu tố ngôn ngữ, các phương thức lựa chọn, sử dụng và kết hợp chúng; tức là trỏ những dạng thức chức năng ngôn ngữ văn học" [1, 262]; Còn với tư cách là một phạm trù nghệ thuật, phong cách lại là "những nét chung, tương đối bền vững của hệ thống hình tượng, của các phương thức biểu hiện nghệ thuật, tiêu biểu cho bản sắc sáng tạo của một nhà văn, một tác phẩm, một khuynh hướng văn học, một nền văn học dân tộc nào đó" [1, 263] Tuy nhiên, cũng cần phải thấy được giữa hai phạm trù phong cách có sự liên quan hữu cơ, bởi văn học là một loại hình nghệ thuật ngôn từ, chính từ ngôn ngữ mà chúng ta có thể lần tìm ra được phong cách nghệ thuật Có lẽ vì thế

mà V.V.Vinograđôp mới khẳng định rằng: "Các lĩnh vực nghiên cứu của phong cách học văn học và phong cách học ngôn ngữ có những phần trùng nhau và có những phần chính khác nhau" (dẫn theo [8,12])

Nhưng vấn đề của phong cách vẫn chưa dừng lại ở đó khi mà giới nghiên cứu chú ý nhiều đến thi pháp Không thể đồng nhất và cũng không thể đối lập tuyệt đối giữa phong cách và thi pháp, bởi thi pháp nếu hiểu theo nghĩa rộng thì phong cách là một bộ phận cơ bản có tính chất độc lập tương đối Nếu thi pháp chủ yếu "nghiên cứu các phương thức và phương tiện thể hiện cuộc sống bằng nghệ thuật" [21,18], từ hình thức lần tìm hiểu nội dung thì phong cách tiếp cận thế giới nghệ thuật một cách uyển chuyển hơn, trong

sự thống nhất hữu cơ giữa nội dung và hình thức Có thể thấy bất cứ nhà văn nào cũng có những "phương thức", "phương tiện" nghệ thuật riêng, nhưng không phải nhà văn nào cũng có phong cách riêng Phong cách chỉ có được ở những nhà văn nào tài năng, có được một bản lĩnh và cá tính sáng tạo riêng

Trang 12

Vậy phong cách nghệ thuật là gì? "Là cấu trúc hữu cơ của tất cả các kiểu lựa chọn tiêu biểu, hình thành một cách lịch sử và chứa đựng một giá trị lịch

sử có thể cho phép ta nhận diện một thời đại, một thể loại, một tác phẩm hay một tác giả" [37,31] Từ dẫn giải của Phan Ngọc [37], ta có thể nhìn thấy được nhiều cấp độ của phong cách Nhưng nếu xem phong cách là biểu hiện độc đáo của tài năng sáng tạo nghệ thuật, có tính thống nhất và tương đối ổn định, được lặp đi lặp lại trong nhiều tác phẩm của nhà văn thì rất có lý khi xác định phong cách cá nhân nhà văn là khái niệm cơ bản và quan trọng nhất của phạm trù phong cách nghệ thuật

Mà nói đến phong cách tác giả - là nói đến đặc trưng độc đáo, có ý nghĩa thẩm mỹ và mang tính quy luật, thể hiện qua hệ thống sáng tác của nhà văn Cần phải nhìn nhận phong cách ở tính "tổng hợp", ở quy luật thống nhất chặt chẽ biện chứng giữa nội dung và hình thức trong sáng tác nghệ thuật của ông

ta Có như thế ta mới thấy được "trong nghệ thuật, có được một phong cách là một hiện tượng đáng quý "[37, 31]

1.1.2 Nguyễn Tuân là một phong cách lớn trong lịch sử văn học dân

tộc, nhưng ông đồng thời cũng là một hiện tượng văn học "phức tạp" (chữ

Nguyễn Đăng Mạnh) vào bậc nhất trong lịch sử văn học nước nhà Đến với

"yêu ngôn", người viết hiểu rằng đang đối đầu với một vấn đề không hề đơn

giản Hiểu được "yêu ngôn" đã khó, từ "yêu ngôn" mà hiểu Nguyễn Tuân lại

càng khó hơn Nhưng vói lòng yêu mến và thái độ trân trọng đối với những sáng tác của cố nhà văn, chúng tôi muốn đi vào phân tích, khám phá cái

huyền bí trong "yêu ngôn", góp phần mang lại cái nhìn toàn vẹn hơn về sự

nghiệp sáng tác cũng như quá trình hình thành và phát triển của một phong cách nghệ thuật độc đáo, tài hoa

Trang 13

1.2 Ý nghĩa của việc nghiên cứu phong cách nghệ thuật Nguyễn

Tuân trong "yêu ngôn"

1.2.1 Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Tuân và quá trình hình thành một phong cách nghệ thuật lớn - một cái nhìn khái quát

1.2.1.1 Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Tuân

Nguyễn Tuân không phải là nhà văn thành công ngay từ tác phẩm đầu tay Ông đã thử bút qua nhiều thể loai: thơ, bút ký, truyện ngắn, hiện thực trào phúng Nhưng mãi đến đầu năm 1938, ông mới nhận ra sở trường của mình

và thành công xuất sắc với các tác phẩm "Một chuyến đi " (1938 ), "Vang

bóng một thời" (1939 ),"Thiếu quê hương" (1940), Có thể hình dung quá

trình sáng tác của Nguyễn Tuân qua hai giai đoạn: trước và sau cách mạng tháng tám

Trước cách mạng tháng tám, Nguyễn Tuân chủ yếu viết về ba đề tài: Chủ nghĩa xê dịch, vang bóng một thời và đời sống truỵ lạc Điều đặc biệt là

ở đề tài nào ông cũng gặt hái được nhiều thành công Nếu chủ nghĩa xê dịch

và đời sống truỵ lạc với những tác phẩm có giá trị đặt nền móng cho sự

nghiệp tuỳ bút của Nguyễn Tuân thì "Vang bóng một thời" đem lại cho ông

một vị trí vững chãi trong lịch sử văn học Nếu chủ nghĩa xê dịch và đời sống

truỵ lạc cho ta thấy một giọng văn ngông nghênh, khinh bạc thì "Vang bóng

một thời" lại cho ta thấy một giọng văn đôn hậu, ngậm ngùi

"Chủ nghĩa xê dịch" vốn là một lý thuyết vay mượn của phương Tây, chủ trương đi không mục đích, chỉ luôn luôn thay đổi chỗ ở để săn tìm những cảm giác mới lạ và thoát ly mọi trách nhiệm với gia đình và xã hội Nguyễn Tuân đã tìm đến lý thuyết này trong tâm trạng bất mãn và bất lực trước thời cuộc Chính thế nên ông xem nó như một căn bệnh, hơn nữa lại là một căn bệnh di truyền: "Ngày trước, vì có một cái tên đặt theo bộ thuỷ, mà ông nội

Trang 14

tôi đã là một người hành nhân đi theo một phái bộ qua sứ tàu ( ) và hình như

có ý muốn ở luôn bên ấy không về ( )

Đến lượt thầy tôi

Thừa tự được cái tính ấy, thầy tôi đã có một dĩ vãng "lang bạt kỳ hồ" mà ngày nay, mỗi lúc nhắc tới, mẹ tôi chỉ biết có kêu giời vào khoảng giữa hai ngụm rượu thuốc

Và tôi, đêm nay thiếp giấc trên tập du ký cắt ở báo cũ ra sửa chữa lèm nhèm, tôi lại vẫn nằm mơ thấy cái viễn tượng tương lai mình, chứa đựng vào một lá buồm phồng trắng lừ đừ trên một vùng nước xanh rờn không đầu không cuối và không có tuổi"

Đi - với Nguyễn - đó là cả một sự đam mê, bởi Nguyễn luôn muốn "mỗi ngày trong cuộc sống phải cho tôi cái say của rượu tối tân hôn Mỗi một ngày tới lại đem cho ta một ngạc nhiên nó bắt trí tò mò làm việc " (tuỳ bút) Nguyễn thật thà: "Đi bao giờ cũng vui, chỉ đến lúc ngừng mới là hết thú" Trên con đường xê dịch của mình, Nguyễn đã ghi lại không ít những câu chuyện lý thú về cuộc đời, hơn hết Nguyễn đã có dịp bày tỏ tấm lòng gắn bó tha thiết của ông đối với cảnh sắc và phong vị đất nước qua những trang viết

đầy tài hoa Có thể hình dung bước đường xê dịch của Nguyễn qua "Một

chuyến đi" (1938), "Thiếu quê hương" (1940 ), "Nhà bác Nguyễn" (1940)

Sống trong thời buổi Ta - Tây nhố nhăng, Nguyễn Tuân không tìm thấy được niềm tin ở hiện tại và tương lai, ông đi tìm vẻ đẹp của quá khứ xưa nay chỉ còn vang bóng Ấy là thời phong kiến đã qua nhưng dư âm còn vang vọng lại Ông không viết về trật tự xã hội, về tư tưởng đạo đức cũ, mô tả vẻ đẹp riêng của thời xưa với những phong tục đẹp, những thú tiêu dao hưởng lạc lành mạnh và tao nhã, những cách ứng xử giữa người với người đầy nghi lễ

nhịp nhàng Đó là một cụ Sáu (Những chiếc ấm đất ), cụ Ấm (Chén trà

Trang 15

sương)- những người đã nâng việc uống trà thành một thứ nghệ thuật thanh

quý, tao nhã; cụ Kép với cái thú chơi hoa, uống rượu Thạch Lan Hương,

thưởng thức văn chương trong ngày xuân sớm (Hương Cuội); là vợ chồng

Phó Sứ - Mộng Liên, một cặp phong lưu tài tử, đào hoa, du ngoạn khắp sơn

cùng thuỷ tận đánh bạc bằng thơ (Đánh thơ); là Huấn Cao- một tử tù hơn người về khí phách, tài hoa và thiên lương (Chữ người tử tù ); là cụ Thượng,

ông Cử Hai, hai bố con cùng cốt cách thanh cao, coi công danh phú quý như áng phù vân, dồn cả cảm hứng và tài hoa vào những chiếc đèn xẻ rãnh, đèn

kéo quân trung thu (Đèn đêm thu) tất cả được thể hiện thông qua những con

người thuộc lớp nhà nho bất đắc chí, không chịu làm lành với xã hội thực dân Nhưng rồi, việc tìm về với nguồn cội, náu mình trong những vẻ đẹp của

dĩ vãng cũng không phải là cách khả dĩ có thể quên đi những nhố nhăng, kệch cỡm của xã hội kim tiền, Nguyễn hoang mang bế tắc Và trong những tháng ngày chán nản ấy, Nguyễn đưa người đọc về với đời sống hiện tại trong khung cảnh của những nhà chứa, xóm hút, sống cùng với bàn đèn và chiếu

rượu, với những "Ngọn đèn dầu lạc", "Tàn đèn dầu lạc ", nâng niu một

"Chiếc lư đồng mắt cua" đã từng chứng kiến cuộc đời một con người tài hoa

sa ngã Có thể nói Nguyễn Tuân đã ghi lại khá đầy đủ và chân thực cuộc sống

bê tha, truỵ lạc của mình trong những ngày mới ở tù về

Vào những ngày cuối cùng của chế độ thuộc địa Pháp ở nước ta, Nguyễn Tuân rơi vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc cả trong cuộc sống lẫn trong sáng tạo nghệ thuật Và khi "một năm giam buộc đủ tạo nên mặt tôi những nét

chắc chắn của hoài nghi" (Chiếc lư đồng bắt cua), khi con người phụng thờ

cái đẹp và nghệ thuật ấy cảm thấy cả đến lĩnh vực này cũng bị đồng tiền, tính

vụ lợi con buôn xâm chiếm, ông lạc lối vào cả chốn ma quái rùng rợn Thêm

một mạch cho sáng tác của Nguyễn Tuân trước cách mạng: đó là mạch "yêu

ngôn"

Trang 16

"yêu ngôn" như một thứ cây gỗ lạ và quý mọc lên trong rừng văn của

Nguyễn Chỉ bảy truyện ngắn thôi nhưng nó toả ra một mùi hương độc đáo vừa thu hút vừa kích thích trí tò mò của độc giả Và khi chúng ta đến nó thì nhận được một ám ảnh, một dư ba Nó vừa đánh dấu khả năng tìm tòi sáng tạo vừa đánh dấu đậm nét thời kỳ khủng hoảng trong cuộc đời nhà văn

Cách mạng tháng tám đã nổ ra Ông tuyên bố "lột xác" để trở thành nhà văn - công dân, nhà văn chiến sĩ Thật khó mà hình dung được một anh chàng Nguyễn kiêu ngạo, lãng mạn thuở nào nay lại "bằng lòng ở lại giữa cuộc đời này ", có thể " thuộc giá lên xuống của hạt gạo và để ý đến chung quanh chàng nhiều lắm" Cách mạng đã làm thức dậy trong lòng Nguyễn Tuân niềm tin yêu đối với cuộc đời, đối với con người: "Đời sống thật là muôn vẻ

Nguyễn thấy cái gì cũng thú vị cả" (Lột xác) Giờ đây, Nguyễn Tuân không

còn là một nghệ sĩ bàng quan, đứng bên lề cuộc sống Ông hăng hái đi thực tế chiến đấu và sản xuất, đi để viết phục vụ công cuộc kháng chiến và xây dựng đất nước Những trang viết của Nguyễn Tuân sau cách mạng có một cái gì phơi phới, vui tin, một tình cảm chân thành đến hồn nhiên đối với quê hương đất nước mình, với không khí náo nức của cách mạng và kháng chiến hồi ấy Nguyễn Tuân mang lại cho chúng ta niềm tự hào về tổ quốc trù phú và đẹp đẽ với một dòng sông Đà "tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai

và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân"; một châu Than Uyên đèo heo hút gió nhưng giàu có với "nhiều thứ mỏ" Nguyễn Tuân còn dụng công

đi tìm cả cái "chất vàng mười " trong tâm trí những con người đang nhiệt tình gắn bó với công cuộc xây dựng cho tổ quốc thêm sáng sủa, tươi vui và vững bền: Từ các chị công nhân làm đường Phù Yên, các anh chiến sỹ làm đường Điện Biên, những cán bộ địch hậu Tây Bắc cũ cho đến ông lái đò trên sóng nước Đà Giang Có thể nhận thấy "nhân tố tư tưởng cốt yếu làm nên phần

Trang 17

giá trị chân chính của tác phẩm Nguyễn Tuân sau cách mạng là tình yêu đất

nước, tinh thần dân tộc" (33, 57) trong "Đường Vui"(1949); "Tình chiến dịch" (1950); "Tuỳ bút kháng chiến và hoà bình" (tập I-II, 1955- 1956); "Sông

Đà"(1960); "Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi" (1972)

Như vậy cả trước và sau cách mạng tháng tám, Nguyễn Tuân tuy viết về nhiều mảng đề tài khác nhau nhưng ở mảng đề tài nào ông cũng thể hiện đươc hết cái tài hoa uyên bác, cái độc đáo ngông nghênh, cái bản sắc riêng biệt, cái giọng nói không thể lẫn với bất kỳ ai, "đặc biệt không giống ai và không cho

ai bắt chước được mình" Đọc Nguyễn Tuân, thấy ông ca ngợi cái đẹp như một người theo chủ nghĩa duy mĩ, chỉ biết đến hình thức bên ngoài, nhưng đồng thời cũng thấy hàm ẩn một tinh thần dân tộc, lòng yêu nước, căm thù bọn thực dân tàn bạo, phi nhân tính và nhất là căm ghét cái phàm tục, thô lậu Ông vừa muốn gắn bó với quê hương, viết về cảnh sắc hương vị đất nước, vừa muốn chối bỏ thực tại, tìm đến những cõi mơ xa xôi, hấp dẫn hơn đối với ông

1.2.1.2 Quá trình hình thành một phong cách nghệ thuật lớn

Nói đến Nguyễn Tuân, người ta nghĩ ngay đến một phong cách nghệ thuật rất mực tài hoa và độc đáo Nền văn học hiện đại nước ta, nếu không có Nguyễn Tuân, chắc sẽ mất hẳn đi một màu sắc, một hương vị đậm đà không

gì thay thế được Phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân, không phải độc một lối thuần hậu, nhẹ nhàng như Thạch Lam, không chứa đựng một chủ nghĩa nhân đạo thống thiết như Nguyên Hồng, cũng không lạnh lùng tỉnh táo mà đằm thắm yêu thương như Nam Cao Có thể nói phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân khác hẳn với các cây bút cùng thời Đó là một phong cách linh hoạt, luôn luôn biến đổi và mang những nét riêng độc đáo cả về cách nhìn và lối thể hiện

Trang 18

Nhưng phong cách nghệ thuật - nét riêng trong cá tính sáng tạo của mỗi nhà văn - không phải là một cái gì nhất thành bất biến mà luôn có sự biến đổi, phát triển qua từng giai đoạn sáng tác Phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân cũng vậy Có thể hình thành và phát triển phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân qua những tác phẩm chính của ông

"Một chuyến đi" - bước đầu hình thành phong cách nghệ thuật Nguyễn

Tuân

Vào những năm đầu của thập kỷ 30, người ta thấy xuất hiện trên Trung

Bắc Tân Văn, Đông Tây, An Nam tạp chí, Tiểu thuyết thứ bảy một số bản

tin ngắn, một số bài thơ, truyện ngắn trào phúng ký tên Ngột Lôi Quật, Thanh

Hà, Nhất Lang, Tuân Nhưng thực sự để lại dư âm trong lòng người đọc về

một Nguyễn Tuân, phải đến "Một chuyến đi" (1938)

Tập du ký "Một chuyến đi" là một tập hợp gồm nhiều bài viết của

Nguyễn Tuân trong những ngày ông sống ở Hương Cảng Ở đây cảnh sắc, con người nơi đất khách quê người, tâm trạng của kẻ xa quê khi năm hết tết đến đã được bộc lộ hết sức sống động dưới ngòi bút tài hoa của ông Cũng chính ở đây, người đọc đã được làm quen với một cái "tôi" cá nhân phóng túng, lấy sự "xê dịch" làm cảm hứng sáng tác của mình Và giữa những sự việc có vẻ xô bồ, lộn xộn của sự ghi nhận tuỳ hứng, người đọc nhận thấy cái

"chất" Nguyễn Tuân: khinh bạc, hoài nghi mà vẫn tha thiết với cuộc đời "Một

chuyến đi" đã hé mở cho ta về một tâm hồn ham mê thanh sắc cuộc đời, và nó

cũng chính là khúc dạo đầu đầy ấn tượng của nhiều tác phẩm viết về đề tài xê dịch sau này

Tìm thấy được sở trường của mình, nhưng cá tính và yêu cầu của nghệ thuật không cho phép Nguyễn Tuân dừng lại ở đấy Và trên con đường tìm tòi nghệ thuật, Nguyễn Tuân tiếp tục thành công với những đề tài mới

Trang 19

"Vang bóng một thời" - Sự định hình một phong cách

Khi "Vang bóng một thời" xuất hiện trên văn đàn, người ta vui mừng

nhận ra "trong cái vội vàng, cái cẩu thả của những tác phẩm xuất bản gần đây, những sản phẩm đã hạ thấp văn chương xuống mức giá trị của một sự đua đòi, người ta lấy làm sung sướng khi thấy một nhà văn kính trọng và yêu mến cái đẹp, coi việc sáng tạo là công việc quý báu và thiêng liêng" [Thạch Lam, 33,229]

Và cùng với ý thức lao động say mê, nghiêm túc, cùng với sự sáng tạo

trong tìm tòi đề tài và cách thể hiện, "Vang bóng một thời" đã được xem như

những "nén tâm hương nguyện cầu cho cái đẹp cổ truyền Việt Nam" [Văn Tâm, 36,243], bởi đó là một tác phẩm "gần đạt tới sự toàn thiện toàn mỹ" [Vũ

Ngọc Phan, 36, 24] Nhưng đọc "Vang bóng một thời", cũng không ít người

nghĩ Nguyễn Tuân đã đi tìm thú vui trong lối sống tiêu dao nhàn tản, những

cuộc hành lạc đài các, tao nhã thời xưa để rồi đi đến kết luận "Vang bóng một

thời" có tính chất "tiêu cực", "nó đưa ra một hướng thoát ly hấp dẫn" Thật ra,

nhà văn không muốn nêu một cái gương nào để mọi người bắt chước,

"Nguyễn Tuân chỉ là một con người tài hoa, gặp những người tài hoa thì mến

trọng, thế thôi" [Trương Chính, 36,233] Và cũng bởi thế nên qua "Vang bóng

một thời", người ta biết thêm về một nhà văn biết yêu mến, trân trọng cái đẹp,

cái tài hoa và thiên lương con người

"Tàn đèn dầu lạc", "Chiếc lư đồng mắt cua" - một số nét bổ sung

trong phong cách Nguyễn Tuân

Tìm về nguồn cội, náu mình trong những vẻ đẹp dĩ vãng xét đến cùng cũng chính là sự chối bỏ, phủ nhận thực tại xã hội Nhưng đi đâu rồi cũng không thể quên được cái nhố nhăng của xã hội kim tiền Một Nguyễn Tuân chán nản, hoài nghi, bất lực đã đưa ta đến với đời sống hiện tại của nhà chứa

Trang 20

và xóm hút Đó là tâm trạng của một thanh niên trí thức yêu nước nhưng không biết làm gì để chống trả lại Và ông, với quan niệm thẩm mĩ riêng, đã

bổ sung vào thế giới những con người tài hoa, tài tử của mình một ông Thông Phu, cô Đào Tâm đầy ngông nghênh kiêu bạc Chính họ là "những lời tự thú", là sự "sám hối" chân thành của một thanh niên sa ngã vì đã sống không

lý tưởng [36,42 – 43]

"Yêu ngôn" - dấu hiệu khủng hoảng và nét độc đáo của một phong

cách

Đến "Tàn đèn dầu lạc", "Chiếc lư đồng mắt cua" ta đã bắt gặp một

Nguyễn Tuân hoài nghi, chán nản và rơi vào khủng hoảng Nhưng biểu hiện

rõ nhất của sự khủng hoảng trong đời sống và trong nghệ thuật Nguyễn Tuân

phải đến những năm 1943, khi ông cho ra đời loạt truyện "yêu ngôn" Người

ta có thể cắt nghĩa về nhiều nguyên nhân xuất hiện "yêu ngôn" và có những

đánh giá, nhìn nhận khác nhau về mảng sáng tác này Nhưng có điều không

thể phủ nhận, là "yêu ngôn" rất độc đáo Nó là sản phẩm của trí tưởng tượng

tuyệt vời và một nghệ thuật thể hiện cũng không kém phần sâu sắc từ đề tài đến sự thể hiện nhân vật, cách lựa chọn không gian, thời gian nghệ thuật

"Sông Đà" và các tác phẩm ký sau cách mạng - sự biến đổi của một

phong cách

Cách mạng tháng tám đã thực sự giải phóng Nguyễn Tuân và nghệ thuật của ông: Nguyễn Tuân trở thành nhà văn - công dân, nhà văn - chiến sỹ Nguyễn Tuân đi thực tế nhiều nơi, viết nhiều về đề tài chống giặc cứu nước cũng như về cảnh sắc và hương vị đất nước Vẫn cái nhìn hướng thiện, hướng

mỹ, Nguyễn đi tìm cái đẹp, cái tài hoa, cái thiên lương trong cuộc đời mới, và thực sự ông đã có nhiều đóng góp quý báu cho cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc cũng như cho nền văn nghệ nước nhà Phong cách Nguyễn Tuân

Trang 21

đã có sự biến đổi trên cơ sở kế thừa và phát huy những nét độc đáo trong cá tính sáng tạo của chính nhà văn trước cách mạng Có thể nói bối cảnh mới và

ý thức sáng tạo của người nghệ sĩ Nguyễn Tuân đã góp phần hoàn thiện hơn một phong cách nghệ thuật độc đáo

Như vậy là với ý thức cao về trách nhiệm của người cầm bút, Nguyễn Tuân đã không ngừng tìm tòi sáng tạo, và trên mỗi tác phẩm của mình, ông đều đã có sự khắc chạm rất riêng; và những hoạ tiết riêng biệt của Nguyễn đã

để lại cho lịch sử văn học nước nhà không chỉ một phong cách độc đáo mà còn là bài học về quá trình sáng tạo của người nghệ sỹ

1.2.2 Ý nghĩa của việc nghiên cứu phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân trong "yêu ngôn"

1.2.2.1 Nguyên nhân của việc xuất hiện mạch sáng tác" yêu ngôn "

1.2.2.1.1 Nguyễn Tuân sinh ra trong một gia đình nhà nho khi Hán học

đã tàn, thân sinh là cụ Tú An Lan, tức ông Tú Hải Văn, một nhà nho tài hoa đậu khoa thi Hán học cuối cùng và cũng là một nhà nho bất đắc chí dưới chế

độ phong kiến

Tuy quê ở Hà Nội, nhưng thời thanh thiếu niên, Nguyễn Tuân đã cùng

gia đình sống ở nhiều nơi, từ Thanh Hoá, qua các tỉnh miền Trung cho đến Đà

Nẵng, Hội An, Khánh Hoà Gắn bó với gia đình thuở thiếu thời, với những sinh hoạt và những thú chơi tao nhã của lớp nhà nho cuối mùa, có thể nói ông

đã được nuôi trong nền văn hoá cổ truyền của dân tộc với những phong tục,

nề nếp, với cách ăn mặc, vui chơi từ một thời xưa đang tàn dần và biến đổi, ngổn ngang vì sự xâm nhập của văn minh máy móc và hàng hoá từ phương Tây ào đến Có lẽ vì thế mà ở Nguyễn Tuân mới có tính ngông nghênh bất mãn vừa kiêu ngạo vừa bất lực tự cho mình thuộc lớp người sinh nhầm thế

Trang 22

kỷ Cuộc chạy tiếp sức của những bậc tài tử như Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ , Tú Xương, Tản Đà cuối cùng có thêm anh chàng Nguyễn

Và khát vọng đầu tiên của chàng thanh niên ấy là tìm mọi cách bứt đi bằng bất cứ giá nào để thoát khỏi cảnh sống ngột ngạt nô lệ Nhưng càng vùng vẫy ông như càng bị thít chặt hơn bởi lao tù của chế độ thuộc địa: Ông

bị bắt và ngồi tù đến hai lần

Không hoà mình được vào không khí sôi sục của cách mạng, cũng không hào tan vào dòng chảy chung của chủ nghĩa lãng mạn, Nguyễn Tuân chọn cho mình một lối riêng Trên con đường đi "thay đổi thực đơn cho giác quan", ông đã tìm thấy cho mình một chỗ dựa vững chắc: Đó là những giá trị văn hoá tinh thần truyền thống đẹp đẽ của cha ông Rồi từ đó mà nhìn rộng ra: xã hội ngày càng đảo lộn, "lạc mất cả lề thói cũ" Ông đâm ra khao khát được chơi bời, cảnh bất cứ chỗ nào của thiên nhiên, người bất cứ là ai, bất cứ hạng nào

Và trong những ngày "phóng túng hình hài" ấy, ông sống bên những "Ngọn

đèn dầu lạc" nâng niu một "Chiếc lư đồng mắt cua" đã chứng kiến cuộc đời

của những con người tài hoa tài tử lâm vào cảnh bê tha truỵ lạc Trong khi

đó hai thằng đế quốc Nhật - Pháp vẫn gầm ghè nhau, các phe phái thân Nhật, thân Pháp luôn rình mò nhau, tìm cơ hội để hất cẳng nhau, tiêu diệt nhau Bão táp chính trị lung lay dữ dội đến cả những tháp ngà cao nhất và kín đáo nhất

"Am Sông Tô" của Nguyễn Tuân là một thứ tháp ngà như thế Thành ra

những ngày ẩn náu ở "Am Sông Tô" để viết những "Rượu bệnh","Xác Ngọc

Lam", "Đới Roi" , đối với Nguyễn Tuân là những ngày hết sức hoang mang,

tâm thần bất định" Nằm trong căn nhà vắng, phút nào tôi cũng như chờ đón một cái gì ghê buồn thế nào cũng xảy đến chẳng chóng thi chầy - Nằm ngửa nhìn suông cái trần nhà, nhiều hôm tôi tự bảo tôi rằng: Này này, nó sắp sập xuống đây này! Sự bất định của tâm thần đã là một thói quen "Ai động trước

Trang 23

vào nhà là thớ thịt giật mạnh" [46,7] Có lẽ vì thế mà Nguyễn Tuân cảm thấy quanh mình toàn là ma quỷ chăng?

1.2.2.1.2 Nhưng Nguyễn Tuân tìm vào thế giới yêu ma có lẽ còn do một nhu cầu khác Trong cảnh sống ngột ngạt nô lệ của xã hội Việt Nam tiền cách mạng, chủ nghĩa cá nhân vị kỷ của A Gide nấp dưới những khẩu hiệu rất hào nhoáng: "Sống một cách nhiệt thành", "sống triệt để", "phải dám là mình" trở thành những khẩu hiệu hấp dẫn đối với nhiều văn nghệ sỹ lúc bấy giờ - trong

đó có Nguyễn Tuân Đọc những "Thực phẩm trần gian", "Kẻ vô luân"của

A.Gide, Nguyễn Tuân đã gặp gỡ với một cái tôi đầy ích kỷ, cái tôi đầy mâu thuẫn, cái tôi vừa đi tìm hoan lạc vừa tố cáo chủ nghĩa cá nhân quá mức [33-98] Và theo cảm giác của mình, Nguyễn Tuân đã đề cao nhu cầu thoả mãn các giác quan qua nhiều cuộc xê dịch Nguyễn luôn thèm khát những cảm giác mới lạ và mãnh liệt: "Tôi muốn mỗi ngày trong cuộc sống phải cho tôi cái say của rượu tối tân hôn" Với Nguyễn Tuân, phải làm sao cho cuộc sống của mình hoặc trắng hẳn hoặc đen hẳn, không nên làm cái đám chúng nhân

mờ mờ xam xám ở giữa Thà cứ vụt loé lên rồi vụt tắt còn hơn kéo dài một cuộc sống vô vị tẻ nhạt, xám xịt, sống "dai dẳng mà bêu rướu cái hình hài tầm thường"

Vậy tìm đâu cho ra những cảm giác như thế ? Không thể trông mong ở cái nhân loại quanh mình, ở thời hiện tại, ở sự sống nhỡn tiền được, bởi bước chân ra đi là đồng nghĩa với lao tù của chế độ thuộc địa Ông tìm vào cõi âm, cõi ma, và ông đã gặp Bồ Tùng Linh ở đấy:

Chuyện đời hẳn chán không buồn nhắc Thơ thẩn nghe ma đọc mấy lời [27- 5]

Cũng cần phải nói thêm rằng sinh thời Nguyễn Tuân rất mê "Liêu trai

chí dị" của Bồ Tùng Linh, thậm chí ông còn ấp ủ viết một bài về giá trị hiện

Trang 24

thực của "Liêu trai" Điều đó không phải là không có những ảnh hưởng nhất định đối với Nguyễn khi ông cầm bút viết những đoản thiên theo lối của "Liêu

trai" Sẽ không quá hồ đồ khi nói rằng thời gian ẩn náu ở ''Am Sông Tô",

cuốn Liêu Trai đã hiện ra trước mắt như một thứ hồ ly, lạ lùng bí hiểm, đầy mùi hương xạ và nó trở thành ám ảnh nghệ thuật thôi thúc ông cầm bút để

viết về toàn những chuyện ma quỷ hoang đường (in trên tờ "Thanh Nghị" và

"Trung bắc chủ nhật") Cùng một lúc, cũng trên những tờ báo ấy, người ta thấy quảng cáo một đầu sách của Nguyễn Tuân có tên là "Yêu ngôn" Ấy là

vào khoảng năm 1943 Sau này, người ta còn thấy thêm một tác phẩm nữa, ra đời sau ngày đất nước đã dành được độc lập cũng theo lối ấy: Tác phẩm

"Chùa Đàn" với phần "Tâm sự của nước độc" (NXB Quốc Văn Hà Nội, 1946

chúng ta có hôm nay là do công lao sưu tầm và xuất bản của giáo sư Nguyễn

Đăng Mạnh đúng như nguyện vọng của tác giả Cầm "Yêu ngôn", chúng ta

nhớ Nguyễn Tuân mà cũng không quên người đã giúp ông hoàn thành sở nguyện

Như vậy là "sự hoang mang bất định "trong tinh thần và tư tưởng, cộng

với sự thèm khát cái mới lạ đã khiến ngòi bút Nguyễn Tuân tìm đến với "yêu

ngôn" như một điều tất yếu Đọc "yêu ngôn", ta bắt gặp sự giao thoa giữa hai

luồng văn hoá Đông - Tây, giữa truyền thống và hiện đại, nhưng ta cũng bắt gặp ở đó cái dấu ấn riêng của nhà văn in đậm trong từng tác phẩm Và dù cắt

Trang 25

nghĩa như thế nào, thì "yêu ngôn" cũng là kết quả của một quá trình tìm tòi

sáng tạo không mệt mỏi mà Nguyễn Tuân đã để lại cho chúng ta

1.2.2.2.''Yêu ngôn" - mảng sáng tác bị "phân biệt đối xử" một thời

Có một thời gian dài chúng ta quan niệm văn học phải phản ánh hiện thực theo hình thái của bản thân nó, những chuyện hoang đường, quái đản là thuộc về chủ nghĩa duy tâm, chủ quan, là thoát ly chối bỏ hiện thực Nhưng nay đọc lại những tác phẩm truyền kỳ - chí dị - ta lại nghĩ khác Trong văn

học cổ ta đánh giá cao"Liêu Trai chí dị" (Bồ Tùng Linh).Trong văn học kim

ta đánh giá cao "Trăm năm cô đơn" (Mác Két) Lại có thêm khái niệm về chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Vậy thì những "yêu ngôn" của Nguyễn Tuân cũng

cần được đánh giá lại để trả nó về với phẩm chất nghệ thuật đích thực mà nó

đã đạt tới

Năm 1943, cả dân tộc đang sống trong một khí thế đau thương nhưng vô cùng quật khởi chuẩn bị cho cuộc kháng chiến thần thánh dành lại độc lập tự

do từ tay thực dân Pháp

Cũng vào năm ấy, người ta thấy xuất hiện trên tờ Thanh Nghị và Trung

Bắc chủ nhật một số đoản thiên của Nguyễn Tuân viết theo lối Liêu trai của

Bồ Tùng Linh: toàn là những chuyện ma quỷ hết sức kỳ quái, hoang đường Khách quan mà nói, đó là một thời điểm bất lợi cho cả hai: cả tác giả và

công chúng tiếp nhận Chính vì thế nên "yêu ngôn" đã không nhận được sự đánh giá đúng mức khi đứng bên những "Một chuyến đi","Vang bóng một

thời" Nhiều người khẳng định "yêu ngôn" là kết quả của một "nguồn sống

bồng bột tắc lối thoát ", là một trong những lý do khiến người ta cho rằng Nguyễn Tuân đã chạy trốn, chối bỏ thực tại, tách biệt với cuộc sống của nhân dân và trong khi cả nước đang sôi sục cho cuộc khởi nghĩa tháng tám vĩ đại thì ông cứ ẩn náu một nơi mà tưởng tượng ra những chuyện trên trời, dưới

Trang 26

đất, những chuyện chẳng ăn nhập gì với thời cuộc, không mang lại ý nghĩa tích cực gì - ngay cả đối với bản thân nhà văn

Nói như thế, không phải là không có hạt nhân hợp lý của nó, nhưng rõ

ràng "yêu ngôn" chưa được nhìn nhận một cách khách quan và đúng mức

Rồi cách mạng tháng tám thành công, giới văn nghệ sỹ đã thật sự nhận ra con đường đi đúng đắn, phù hợp với yêu cầu thời đại Khác với nền văn học

cũ, văn học cách mạng phát triển dưới sự lãnh đạo của Đảng Thấm nhuần lời dạy của chủ tịch Hồ Chí Minh: "Văn hoá cũng là một mặt trận, anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy", cả một thế hệ nghệ sỹ - với tất cả lòng tự hào và tự nguyện - trở thành nhà văn - công dân, nhà văn - chiến sỹ Hiện thực cách mạng nóng hổi trở thành nguồn cảm hứng chính và là đối tượng phản ánh chủ yếu của nhiều tác phẩm văn chương Không khí văn nghệ mới dễ khiến cho người ta quên đi những điều tưởng như đối lập với sự tốt đẹp của văn học

hiện tại Mảng sáng tác "yêu ngôn" của Nguyễn Tuân, mỗi khi nhắc đến,

không phải không khiến người ta ngại ngùng Mãi sau này, khi giang sơn đã

thu về một mối, nhìn lại "yêu ngôn" có chăng vẫn là những đánh giá rụt rè cho

đó là "những gì kỳ lạ, oái ăm, cầu kỳ rắc rối" là "thần bí, bệnh hoạn" [36- 62]

Có lẽ chỉ đến khi Nguyễn Đăng Mạnh sưu tầm và xuất bản cuốn "Yêu ngôn",

mới thực sự có những nhìn nhận mang một sắc thái khác Ngoài lời giới thiệu

"Yêu ngôn" của Nguyễn Đăng Mạnh, đáng chú ý là bài viết của Thụy Khuê về

"thi pháp nghệ thuật Nguyễn Tuân", trong đó tác giả đặc biệt chú ý về mảng

sáng tác này: "Yêu ngôn viết đã 60 năm - không được rộng rãi biết đến như

"Vang bóng một thời", nhưng vẫn còn nguyên tính cách tinh học, hàm súc về

một vấn đề tư tưởng độc đáo với thi pháp đặc biệt, một mình một cõi" [20 11]

-"Yêu ngôn"- mảng sáng tác bị "phân biệt đối xử " một thời - nay đã được

trả về với những phẩm chất nghệ thuật đích thực mà nó vốn có Chúng ta có

Trang 27

quyền hi vọng về những bài viết đủ đầy và sâu sắc hơn về giá trị của "yêu

ngôn"

1.2.2.3 Ý nghĩa của việc nghiên cứu phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân trong "yêu ngôn"

''Yêu ngôn" mặc dù "lập dị" nhưng nó là một mảng sáng tác của Nguyễn

Tuân bởi "yêu ngôn" cũng là một tinh thể cấu tạo nên hòn đá tảng đặt nền móng cho văn xuôi Việt Nam hiện đại Đến "yêu ngôn", Nguyễn Tuân đã xác

lập được cho mình một phong cách nghệ thuật độc đáo, thể hiện một bản lĩnh nghệ thuật vững vàng Tìm hiểu phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân trong

"yêu ngôn" sẽ giúp cho ta nhiều điều bổ ích trong quá trình khám phá thế giới

nghệ thuật của ông cũng như hiểu hơn về một tâm hồn tinh tế nhưng không kém phần "phức tạp"

Tác phẩm văn học là con đẻ tinh thần của nhà văn, phản ánh tư tưởng, quan niệm của nhà văn về con người và thế giới Hơn một lần chúng tôi đã

khẳng định "yêu ngôn" ra đời trong thời điểm Nguyễn Tuân rơi vào khủng

hoảng sâu sắc cả trong cuộc sống cũng như trong nghệ thuật Tìm hiểu phong

cách nghệ thuật Nguyễn Tuân trong "yêu ngôn", sẽ giúp cho ta hiểu hơn tâm

hồn hoang mang bất định trong giai đoạn khủng hoảng nhất trong cuộc đời nhà văn, cũng như hiểu hơn những tìm tòi, khám phá của ông trên con đường sáng tạo nghệ thuật

Bối cảnh lịch sử với những áp lực ghê gớm của thời kỳ tiền khởi nghĩa không phải là điều dễ dàng cho sáng tác của bất cứ nhà văn nào Vì thế việc Nguyễn Tuân tìm đến với thế giới của yêu ma không phải là điều khó lý giải

Điều đáng nói là dẫu viết theo lối "yêu ngôn" thì Nguyễn Tuân vẫn giữ được nét riêng trong cá tính sáng tạo của mình Đọc "yêu ngôn" người ta nhận ra

thế giới nhân vật quen thuộc với những con người tài hoa tài tử, nhưng ta

Trang 28

cũng không khỏi ngỡ ngàng trước những tìm tòi mới lạ của Nguyễn Tuân trong cách thể hiện Chính điều đó làm cho ta yêu mến và trân trọng hơn tài năng và tấm lòng của một nghệ sỹ lớn

Hơn nữa "yêu ngôn" là một mảng sáng tác vừa độc đáo vừa phức tạp vào

bậc nhất trong sự nghiệp văn chương của Nguyễn Tuân Về mặt lý luận,

nghiên cứu phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân trong "yêu ngôn" còn giúp

cho ta hiểu hơn về tính chỉnh thể trong sáng tác

Với những ý nghĩa trên, chúng tôi thấy tìm hiểu phong cách nghệ thuật

Nguyễn Tuân trong "yêu ngôn" là điều thiết thực và cần thiết, góp phần mang

lại cái nhìn toàn vẹn hơn về sự nghiệp sáng tác cũng như về một phong cách rất mực tài hoa và độc đáo trên con đường tìm tòi và sáng tạo

CHƯƠNG 2 CẢM NHẬN ĐỘC ĐÁO VỀ CON NGƯỜI VÀ THẾ GIỚI

CỦA NGUYỄN TUÂN TRONG "YÊU NGÔN"

2.1 Quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Tuân

2.1.1 Nguyễn Tuân - người suốt đời đi tìm cái đẹp

Nước Việt Nam ta vào giai đoạn 1930 - 1945, xét về mặt lịch sử, có rất nhiều sự kiện đáng ghi nhận: sự ra đời của Đảng cộng sản, sự lớn mạnh của

Trang 29

phong trào công nhân và đỉnh cao là sự thành công của cách mạng tháng 8 -

1945 Đó cũng là thời kỳ văn học Việt Nam thu được nhiều thành tựu rực rỡ, thực sự chuyển sang phạm trù hiện đại

Người ta căn cứ vào sự lớn mạnh của ba trào lưu văn học và một số lượng nhà văn, nhà thơ hết sức đông đảo đương thời để đánh giá bộ mặt văn chương dân tộc Trong khi các nhà thơ lãng mạn đang mải mê với cái "tôi" cá nhân đầy nhục cảm - do ảnh hưởng của văn hoá phương Tây; các nhà văn hiện thực phê phán đang lo lắng cho số phận của những kẻ khốn cùng và văn chương cách mạng đang ra sức kêu gọi tinh thần yêu nước, cứu nước của mỗi công dân thì nhà văn Nguyễn Tuân giống như một "linh hồn cô đơn" bất đắc chí, quay về sống với vẻ đẹp của một thời "vang bóng" Bản thân điều đó đã chứa đựng một sự khác thường, mới lạ so với tình hình chung lúc bấy giờ Nguyễn không bám gót hiện thực được chăng? Không phải thế Bởi trước đó,

Nguyễn đã có "Một vụ bắt rượu lậu", đã có "Một chuyến đi" đầy day dứt với

bao câu hỏi trước cuộc đời

Điều ấy, chỉ có thể cắt nghĩa bằng một lý tưởng thẩm mỹ riêng, một quan niệm nghệ thuật riêng của ông về cuộc đời, con người

Bạn bè của Nguyễn Tuân, với những trang hồi ký đầy xúc động từng kể

về một già Tuân trong văn phòng "rất bé, thân mật ấm cúng, hơi 'bình dân"" ở Matxcơva (năm 1978) sẵn sàng bỏ ra 9 Rúp nhờ cô phiên dịch Tônhia mua

hộ "ba đoá hoa hồng rực rỡ, đỏ như ba ngọn lửa, bọc trong giấy bóng óng

ánh" giữa mùa mưa tuyết để về tặng chính ''Thiên thần hộ mệnh" của mình

- là cô Tônhia xinh đẹp (theo Nguyên Ngọc [36, 406]); một Nguyễn Tuân vào ngày tết, cứ thấy "thiêu thiếu cái gì đó" và bỗng nhận ra đó chính là "sương!", tiếc nuối thở dài và hứa hẹn với chính mình: "Đành vậy, sang năm phải tìm cách đón giao thừa ở ngoại thành, may chăng còn có thể gặp lại nó" (theo Vũ Thư Hiền, [36,434-435])

Trang 30

Nguyễn Tuân chơi ngông chăng? Quả có những điều khác người thật, nhưng những chuyện như thế, không phải chỉ là một, đôi lần Đó là những biểu hiện của một con người luôn có ý thức vươn tới một lối sống đẹp, luôn luôn muốn gìn giữ những gì thanh quý, tao nhã có được trong cuộc đời

Đó là con người suốt đời đi tìm cái đẹp

Để hiểu hơn quan niệm về cái đẹp của Nguyễn Tuân, chúng ta cần trở lại thời đại của ông trước cách mạng tháng tám Đây là thời kỳ mà xã hội Việt Nam có nhiều sự phân hoá Đại bộ phận tri thức, văn nghệ sỹ không có điều kiện tiếp thu được tư tưởng cách mạng, mặc dù có tinh thần dân tộc nhưng không biết làm gì khác ngoài viết văn, làm báo đặng xây đắp nền văn hoá nước nhà Nguyễn Tuân cũng vậy Ông không chấp nhận cái xã hội "ối a ba phèng", nhưng để phản ứng lại cái trật tự xã hội đầy nghịch cảnh và phi lý ấy, ông chỉ còn cách đi tìm những vẻ đẹp còn lưu giữ trong vốn văn hoá mà cha ông để lại, thông qua những sinh hoạt hàng ngày của họ như uống trà, thả thơ, chơi hoa hoặc là chủ trương xê dịch, giang hồ Đi là một cách quay lưng với những cái tầm thường, nhỏ nhặt của đời sống thường nhật Nhưng với Nguyễn Tuân, đi còn là một cứu cánh: Đi để kiếm tìm cái đẹp

Và trong cái nhìn khao khát đầy khám phá của Nguyễn Tuân, cái đẹp không phải bao giờ cũng là cái có ích Ông ước mơ "được viết để ca ngợi những cái gì mà người khác đều gọi là vô ích Ca ngợi một thân cây to già

nhưng hoàn toàn không ứng dụng được vào kỹ nghệ làm đồ gỗ " (Những

đứa con hoang) Chính vì thế mà trong thế giới nghệ thuật Nguyễn Tuân, bên

cạnh vẻ đẹp của những thú chơi tao nhã, những thiên nhiên mỹ lệ hay dữ dội,

ta còn bắt gặp những lúc Nguyễn Tuân say sưa ca ngợi mái tóc của một người

thiếu nữ, và thậm chí cả những cái đẹp nằm ngoài đạo lý với một ngón "bút

chì " của Lý Văn; tài "Chém treo ngành " của Bát Lê Cái đẹp trong quan

niệm của Nguyễn Tuân, nhiều khi thật lông bông phù phiếm, không có ý

Trang 31

nghĩa xã hội gì đáng kể Có lẽ vì thế mà nói đến Nguyễn Tuân, "người ta thường nghĩ đến một nhà văn của quan điểm duy mỹ, chỉ trọng cái đẹp hình thức không cần nội dung, chủ trương viết văn không khuynh hướng, nghĩa là muốn đặt nghệ thuật lên trên mọi thứ thiện ác ở đời" [33, 91]

Nhưng đấy không phải là tất cả quan điểm nghệ thuật của Nguyễn Tuân

Là một nhà văn tài hoa, Nguyễn Tuân còn suốt đời săn tìm cái tài hoa của con người Tài hoa cũng là một mặt của cái đẹp Nguyễn Tuân trân trọng những con người tài hoa và say mê miêu tả, chiêm ngưỡng, nâng niu họ Cái tài hoa

ấy có khi là tài pha trà, là tài "đánh thơ", "thả thơ" mà mỗi chữ là một sự đánh

thức không chỉ trí nhớ mà cả tư duy con người Cái tài ấy mà đi với một nhân cách cao thượng thì càng đáng kính trọng Đó là cái tài viết chữ đẹp của Huấn

Cao trong "Chữ người tử tù" Chữ của ông "đẹp lắm, vuông lắm", và quý đến

mức "có được chữ ông Huấn mà treo như có một vật báu trên đời" Nguyễn vui sướng biết bao khi trong xã hội mà mọi thứ đều đã "lạc mất cả lề thói cũ", vẫn còn một cậu Cử Hai coi công danh phú quý như áng phù vân, để hết tâm

cho cái lối sống tài hoa thanh bạch (Một cảnh thu muộn)

Và cũng bởi yêu quý, trân trọng cái đẹp, cái thiên lương nên Nguyễn căm ghét vô cùng những kẻ hãnh tiến phàm tục dám chà đạp lên cái đẹp Ông

dè bỉu hết lời những bọn lái buôn "cứ đòi đốt trần nắn phím" và đau lòng trước "những cuộc tàn sát thi ca của những ông lãnh binh sính làm thơ"

(Nguyễn) Chính những yếu tố tích cực này trong quan điểm nghệ thuật đã

giúp cho Nguyễn Tuân có được nét riêng bất biến của một phong cách nghệ thuật đầy tài hoa

Sau cách mạng, vẫn là một Nguyễn Tuân ngày trước, nhạy cảm với cái đẹp và nhìn sự vật nghiêng về góc độ thẩm mỹ Nhưng không còn là một Nguyễn Tuân nghệ thuật vị nghệ thuật nữa Ông đã nhìn cái đẹp dưới ánh sáng của quan điểm giai cấp, dưới góc độ của những vấn đề xã hội, bởi "cái

Trang 32

đẹp bây giờ có thật và cái có thật bây giờ đẹp" [36 - 22] Nguyễn Tuân bước

trên "Đường vui" tự hào khi "Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi" Và trên mỗi bước

đường đi qua, vẫn những quan sát tinh tế về thiên nhiên tạo vật đã để lại cho người đọc niềm tự hào vô biên về Tổ quốc trù phú và đẹp đẽ với một dòng sông "độc bắc lưu" vừa thi vị trữ tình vừa hoang sơ hùng vĩ, một mỏ than Quỳnh Nhai giàu có; và đi liền với những phong cảnh tuyệt mĩ là những anh

bộ đội trai trẻ của nông trường Điện Biên, những anh nông dân mặc quân phục, "những con người làm ruộng xã hội chủ nghĩa, làm đường xã hội chủ nghĩa" Họ là những con người tài hoa, là sức trẻ, là niềm tin của Tổ quốc tương lai Nếu trước cách mạng, Nguyễn Tuân là một lữ khách say sưa ngắm cảnh, là kẻ đi chiêm ngưỡng thì sau cách mạng, ông thực sự là người trong cuộc, nhiệt tình tham gia vào sự nghiệp đấu tranh của cách mạng Hành trình

đi đến cái đẹp, đến với chân lý của Nguyễn Tuân cũng là hành trình nhà văn trở về với nhân dân, với dân tộc, chính ở đây, nhà văn đã được tiếp nhận thêm một nguồn sinh lực mới, để vươn xa hơn trên con đường sáng tạo của mình [36, 214])

Nguyễn Tuân mất 1987, trong niềm tiếc thương của các văn nghệ sỹ và tất cả bạn đọc mến mộ ông Cuộc sống riêng của nhà văn trải qua ba phần tư thế kỷ làm người, trong đó có nửa thế kỷ cầm bút Và trong nửa thế kỷ ấy, "ở đằng sau những sự ngoa ngoắt và cả khinh bạc của một thời ngột ngạt, quẩn quanh, tù túng, bế tắc, là sự đi tìm cái đẹp và đi tìm cái thật, là nỗi khao khát cái đẹp và nỗi khao khát cái thật, là lòng yêu cái đẹp và yêu cái thật với sức mạnh muốn phá hết mọi ràng buộc, khuôn sáo có sẵn, sáng suốt, lạnh lùng, tàn nhẫn với cả chính mình” [36, 21] Và để đưa cái đẹp thăng hoa, người nghệ sỹ ấy đã không ngừng trau dồi một vốn liếng ngôn ngữ giàu có, một vốn tri thức uyên bác đủ mọi lĩnh vực Có lẽ chính thế mà Nguyễn Tuân không bao giờ phải bất lực khi tái tạo lại vẻ đẹp của cuộc đời

Trang 33

2.1.2 Cái đẹp trong "yêu ngôn" - Cái đẹp đến từ những miền xa lạ

Là một đại diện tiêu biểu của văn học lãng mạn Việt Nam nửa đầu thế kỷ

XX, quan điểm nghệ thuật của Nguyễn Tuân không phải là hoàn toàn xa lạ so

với các tác giả lãng mạn đương thời Từ bản nhạc dạo đầu của "Cây đàn muôn

điệu" Thế Lữ, người ta đã nghe thấy những thanh âm của quan điểm nghệ

thuật vị nghệ thuật:

"Không chuyên tâm, không chủ nghĩa, nhưng cần chi?

Tôi chỉ là một khách tình si

Ham cái đẹp muôn hình, muôn vẻ "

Hay Khái Hưng trong cuốn tiểu thuyết "Đẹp" (1941), cũng cho nghệ

thuật là vô tư lợi, không cần phục vụ một mục đích nào cả: "Vẽ để vẽ Đó là nguyên tắc của chàng về hội họa Được vẽ là đủ rồi Chàng không cần phải hỏi và phải biết: Vẽ để làm gì ? "(theo [12, 523- 524] )

Khởi nguồn từ quan điểm mỹ học có những điểm gần gũi nhau như thế , cộng với hiện thực xã hội ngột ngạt bế tắc nên trong "lời ca","nét vẽ"của dòng văn học lãng mạn Việt Nam hồi nửa đầu thế kỷ, không phải thanh âm nào, nét

vẽ nào cũng có mối liên hệ bền chặt với hiện thực Bởi thế ta gặp nhiều những biến thái sinh động khác nhau của sự thoát ly: Thế Lữ thoát lên tiên hoặc mơ

ước hình ảnh người khách chinh phu "Dấn bước truân chuyên khắp hải hồ"

Huy Thông đi tìm những giấc mộng anh hùng trong lịch sử (Kinh Kha, Hạng

Vũ, Phan Bội Châu) Xuân Diệu mê man trong tình yêu say đắm Huy Cận tìm về những nét đẹp xưa của dân tộc hoặc hoà vào vũ trụ, trăng sao Còn Lưu

Trọng Lư "ngoảnh mặt lại với mọi sự đau khổ ", "hướng cái nhìn vào một thế

giới mơ màng " [12, 525] Nghĩa là không phải chỉ có một mình Nguyễn

Tuân đi săn tìm cái đẹp hay cảm giác từ những miền không gian xa lạ không thể có ở cuộc đời thực Nhưng đối với con người suốt đời chỉ biết lấy nghệ

Trang 34

thuật làm lẽ sống cho mình, một con người ý thức sâu sắc rằng nghệ thuật là một thú chơi tao nhã nhưng đầy khổ hạnh ấy không thể tuỳ tiện mà vung bút được, nghĩa là Nguyễn Tuân không tự ý cho phép mình viết gì cũng được Mà mỗi lúc cầm bút, ông lại đặt ra cho mình yêu cầu: Phải thể hiện cho được cái

tài hoa độc đáo của mình Viết "yêu ngôn", Nguyễn Tuân cũng không quên điều đó Vì thế chúng ta có quyền khẳng định rằng "yêu ngôn" đã làm phong

phú thêm cái độc đáo, mới lạ của văn Nguyễn Tuân khi ông mở rộng cõi nhìn

ra ngoài dương thế; và cái đẹp trong "yêu ngôn" là cái đẹp đến từ những miền

xa lạ

Nếu trong " Vang bóng một thời" Nguyễn Tuân tập trung tái tạo và thể hiện vẻ đẹp xưa nay chỉ còn vang bóng; trong "Một chuyến đi" ông góp nhặt những câu chuyện thú vị của cuộc đời thì ở "yêu ngôn", Nguyễn không chỉ

dừng lại ở đó Dường như những cát bụi đời thường với những cái lèm nhèm, lẹt đẹt không đủ sức hấp dẫn, lôi cuốn đối với một ngòi bút thiên về những cảm giác dữ dội, những cảnh trí thiên nhiên tuyệt mĩ Nguyễn mơ màng đến một thế giới riêng: thế giới của thần tiên, ma quỷ, thế giới của những chuyện

kỳ quái, hoang đường Thực ra đây không phải là một điều gì quá mới mẻ trên văn đàn thời ấy, bởi loại truyện truyền kỳ chí dị vốn đã rất quen thuộc với người phương Đông từ thuở xưa Hơn nữa trước Nguyễn Tuân, ngọn cờ đầu

của phong trào thơ mới Thế Lữ với "Vàng và máu" (1934) , " Trại Bồ Tùng

Linh" (1941) cũng đã từng đưa người đọc đến với một không khí rờn rợn, ly

kỳ, huyền bí với đầy những bất ngờ bí ẩn Có chăng, người đọc cảm thấy ngạc nhiên, thú vị khi bắt gặp những câu chuyện lý thú, sâu sắc, dẫu hoang đường,

kỳ ảo, thì vẫn theo kiểu riêng của Nguyễn Tuân thật khó lẫn lộn: chuyện ma

tài hoa tài tử và là chuyện ma của cái thuở "Vang bóng một thời"

2.2 Quan niệm nghệ thuật về con người

Trang 35

Xưa nay, chúng ta vẫn tâm niệm "Văn học là nhân học" - là khoa học về con người Đến với tác phẩm văn chương, là đến với sự miêu tả, sự kể về con người Cũng có thể nhà thơ, nhà văn tả cảnh để ngụ tình, gửi gắm tâm sự của mình vào những trang viết thấm đẫm vẻ đẹp thiên nhiên, cây cỏ Nhưng con người mới là đối tượng trung tâm của văn học, là nơi ký thác một cách bền vững nhất nhận thức, quan niệm của nhà văn về con người, về thế giới

Vậy thế nào là quan niệm nghệ thuật về con người?

Quan niệm nghệ thuật về con người là hạt nhân của quan niệm nghệ thuật của nhà văn trong quá trình chiếm lĩnh thực taị Đó là "sự lý giải, cắt nghĩa, sự cảm thấy con người đã được hoá thân thành các nguyên tắc, phương tiện, biện pháp thể hiện con người trong văn học, tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ cho các hình tượng nhân vật trong đó" [42, 41]

Khám phá quan niệm nghệ thuật, nghĩa là "đi tìm cách cắt nghĩa về con người ẩn chìm trong hình thức nghệ thuật" [44, 230] Do vậy, nếu bỏ qua quan niệm nghệ thuật về con người sẽ dẫn đến cách hiểu giản đơn bản chất phản ánh cuả văn nghệ và chúng ta sẽ không thể có được cái nhìn đầy đủ, toàn vẹn về một phong cách nghệ thuật

Khám phá nguyên tắc lý giải, cảm thụ và miêu tả con người trong các tác

phẩm "yêu ngôn" sẽ giúp ta hiểu hơn quan niệm nghệ thuật về con người của

một phong cách nghệ thuật độc đáo

2.2.1 Quan niệm nghệ thuật về con người của Nguyễn Tuân trong "yêu ngôn"

2.2.1.1 Con người tài hoa tài tử

Trang 36

Ở phần quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Tuân, chúng ta đã có dịp bàn

về cái cảm hứng nhiệt thành và cái hứng thú đặc biệt của ông khi miêu tả những hạng người tài hoa tài tử với những lối sống đẹp thể hiện những nhân cách đáng trọng ở đời Và đi liền với họ, bao giờ cũng là những phong cách đẹp trữ tình hoặc dữ dội, những đồ vật đẹp theo một quan niệm rất riêng của ông Rõ ràng là nhà văn không muốn làm cái việc phản ánh bản chất đời sống trong sự đa chiều muôn mặt của nó, mà chủ yếu hướng ngòi bút của mình tới những cảm nhận hết sức chủ quan về "một vùng đời sống" mà ở trong ông được sống với thế giới của cái đẹp Dễ thấy điều ấy xuyên suốt trong toàn bộ

sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Tuân

Nguyễn Tuân bước vào nghề văn như để chơi ngông với thiên hạ Ngông

là một sự chống trả với mọi nề nếp, phép tắc, mọi đạo lý thông thường của xã hội bằng cách làm ngược lại với thái độ ngạo đời Nhưng muốn ngông thì phải có tài Làm khác đời mà không tài, người ta gọi là cái gì đó chứ không phải là ngông Vì thế, nhân vật của Nguyễn Tuân thuần một loại tài hoa tài tử,

dù là nam hay nữ, già hay trẻ, dù là nghề nghiệp gì Từ những ông Nghè, ông

Cử, ông Huấn Cao trong "Vang bóng một thời", ông Thông Phu, cô Đào Tâm trong "Chiếc lư đồng mắt cua" đến anh chàng Hổ chữa xe đạp trong "Hai tấm

vé số" "chơi đàn cải lương nổi tiếng" hay viên thư ký dây thép mỗi khi xuân

tới, thu về, nhìn những phong bì đẹp và thơ của những cặp tình nhân gửi cho nhau, lại nổi hứng "muốn lấy sơn tàu mà đóng niên hiệu cho họ" chứ không

nỡ "đóng cái mực đen nhà nước" Nói cho cùng, tất cả cũng chỉ là những hoá thân khác nhau của anh chàng Nguyễn đó mà thôi - "con người sinh ra để mà

thờ nghệ thuật với hai chữ viết hoa" (Đôi tri kỷ gượng)

Nhân vật trong "Yêu ngôn" cũng vậy, đó là những nhân vật tài hoa tài tử,

dù là thần tiên, ma quỷ hay kẻ phàm trần Nó đánh dấu sự tìm tòi của tác giả khi thế giới nhân vật được mở rộng thêm, làm phong phú hơn những gương

Trang 37

mặt tài hoa mà chúng ta đã bắt gặp trong sáng tác của Nguyễn Tuân trước cách mạng

Đó có thể là cái tài hoa, nghệ sĩ của một khách làng chơi "tài tình" nổi tiếng một thời dám "đánh lừa vị trưởng họ mở nhà thờ" để "thó ngay được bộ chén ngọc liệu" đem bán đắt bán rẻ để sắm giường, uống rượu với tình nhân, đến cuối đời lại sống bằng "nghề chuốt roi chầu và vót gọng ô nan hoa xe

đạp" (Đới Roi); là Bá Nhỡ ý thức được đánh đàn của Chánh Thú là "đánh cả

đời mình vào đấy" mà vẫn phải "đánh lên thành tiếng, dẫu rằng đời chơi đàn

của ta chỉ vẳng lên có một lần" (Tâm sự của nước độc); là cụ Lê Bích Xa đã

bỏ ra hàng đống tiền để cầu "một bức tranh cổ cũ nát" (Lửa nến trong

tranh) Đó cũng có thể là những người trẻ tuổi như hai anh em ông Đầu Xứ

Ngoạt "nổi tiếng cả vùng Sơn Nam Hạ", như cậu Dăng trong Lửa nến trong

tranh "là người ít tuổi nhưng sức học nặng lắm Không rõ cậu học môn khảo

cổ từ bao giờ mà môn học so sánh của cậu rộng đến nỗi các niên hiệu, các tên vua lịch triều bất kể nước nào và tên các nghệ sỹ bất kể thời gian nào, xứ nào cậu nhớ vanh vách, rồi thì là kê khai, so sánh, suy luận Giá có viết ra thì thành pho sách được đấy "

Tất cả họ đều tài hoa và mỗi cái tài hoa mang một vẻ khác nhau Họ đều được người đời tôn trọng và ngưỡng mộ Mà không cứ người trần, ngay cả thần tiên ma quỷ cũng vậy như Cô Dó, như vị Quan Ôn, hồn Chánh Thú

Nếu như ở "Vang bóng một thời" ta gặp con người sống trong cảnh yên

ổn, nhàn hạ thì ở tập truyện "Yêu ngôn" dường như mở ra theo một xu hướng

mới Con người ở đây dù vẫn giữ được bản chất tốt đẹp, tài hoa nhưng lại gắn với thế giới huyền thoại, được nuôi dưỡng trong một môi trường không bình thường Môi trường đó thường nhuốm màu sắc ma quái dù nhiều hay ít Người ta không thể hình dung được bên cạnh những cụ Kép "nguyện đem cái quãng đời xế chiều của một nhà nho để phụng sự lũ hoa thơm cỏ quý Gọi là

Trang 38

kiếm một công việc nhàn nhã cho quãng chót một kiếp dư sinh" (Hương

Cuội), lại có kẻ nghiện rượu đến nỗi cả thân xác biến thành một khối men bốc

lửa không gì dập tắt nổi Cũng không ai hình dung ra đâu đó, trên ngàn, một cây dó cổ thụ thành tinh có người con gái áo chàm từ gốc cây đi ra dạo chơi thơ thẩn trong rừng và cất tiếng hát, giọng hát khi thì "bi tráng" như "của người khách hiệp gặp đường cùng", khi thì "trong trẻo như pha lê và vui như tiếng thông reo giữa trời nổi gió", khi lại" rờn rợn" "như lối ma hời đưa võng

ru con"; hay một ấp Mê Thảo với một tửu phần chôn vô số rượu mà mỗi vò lại gắn với một cái tên chứa đầy nỗi niềm

Cho hay ngòi bút lãng mạn Nguyễn Tuân quả hết sức phong phú Ông không chịu dừng lại trước những hành vi đẹp, lối sống đẹp, nhân cách đẹp ở cõi trần mà còn đi tìm những vẻ đẹp lạ lùng "ngoài thế giới" Nó thể hiện sự nhất quán trong phong cách nghệ thuật của ông: là nhà văn của những nhân vật tài hoa.Cũng chính bởi tấm lòng thiết tha với cái đẹp, cái tài hoa của con người mà Nguyễn dành hết cho nhân vật của mình biết bao mến yêu và trân trọng Ngay cách gọi tên nhân vật, cũng thể hiện được lòng yêu kính mà không xa cách, ngưỡng mộ mà hết sức gần gũi: hai ông Đầu Xứ, cậu Ấm Đái, ông cụ Phó Sần, cô Dó, bố Ô, cụ Lê Bích Xa, Nguyễn cũng không chú trọng việc khắc hoạ ngoại hình nhân vật Nhưng ông đã thể hiện lòng yêu mến của mình với nhân vật bằng cách đặc tả hậu hĩnh những điều mà nhìn vào đó người ta nhận ra họ Đó là cái tài hoa, nghệ sỹ của một khách làng chơi lúc xế chiều còn cố giữ cho mình chiếc roi gỗ Nguyệt Quế khắc một câu Thiên Thai

"Thanh đài bạch thạch dĩ thành trần" (Đới Roi); là ông Đầu Xứ Anh vùng Sơn

Nam Hạ dám "tuyên bố rất to rằng ông là thí sinh của một khoa thi thôi"

(Khoa thi cuối cùng)

Và cái tài hoa của con người trong "yêu ngôn" còn được đề cao một cách

hiếm thấy

Trang 39

Chẳng hạn như trong truyện ngắn "Trên đỉnh non Tản", nhà văn vừa đề

cao cái tài giỏi của những người thợ mộc làng Chàng Thôn ''không những được người trần biết đến mà thỉnh thoảng cứ dăm bảy năm một, lại có người tiên trên núi Hạ Sơn cầu đến" vừa hướng cảm thức của người đọc vào một xứ

sở hoàn toàn đối lập với cõi trần phàm tục Ở đó mang vẻ đẹp hết sức lý tưởng, gần như là cõi sống mà con người vĩnh hằng mơ ước, khát khao Có cả hình bóng của một thiên tình sử trong huyền thoại từ ngàn xưa hoà quyện với cuộc sống muôn màu muôn sắc của một làng quê bình lặng dưới chân núi Tản Mượn câu chuyện những người thợ mộc được thần non Tản triệu lên xây đền, Nguyễn Tuân như muốn nhắc nhở rằng cái sức mạnh hơn bốn nghìn năm của dân tộc, thường gọi là khí - thiêng - sông - núi vẫn còn đó, vẫn lẫm liệt,

uy nghi muôn đời Những người thợ mộc trẻ trung kia là những bàn tay lao động có " hoa tay đẹp" Họ bổ sung cho những người tài hoa của Nguyễn Tuân thêm phần phong phú, sinh động

Rõ ràng là con người trong "yêu ngôn" là con người được tôn vinh,

nhưng nó không phải như con người đứng bậc trong văn học trung đại Cái

riêng của nhân vật trong "yêu ngôn": họ được tôn vinh bởi họ là những con người tài hoa nghệ sĩ Cái đẹp tài hoa của nhân vật trong "yêu ngôn" thực ra

rồi cuối cùng cũng chính là sự phân thân của ước mơ, của niềm tin của một con người dường như được sinh ra "để mà thờ nghệ thuật với hai chữ viết hoa" Cái đẹp ấy, không phải chỉ có ở nơi kẻ phàm trần với những biểu hiện hơn đời, hơn người mà ngay cả những con người ấy, khi thác đi, khi được lên tiên hay về âm phủ thì cũng vẫn giữ được những nét tính cách đẹp đẽ ấy, lối sống khảng khái ấy và tình yêu nghệ thuật ấy cũng không bao giờ mất

Và xưa nay tài vẫn thường đi với tình Ấy là những kẻ thuộc "nòi tình" Cuộc đời của họ nếu có đau khổ bất hạnh thì cũng bởi trót đắm đuối trong bể

tình, dù là kẻ phàm trần như cậu Lãnh trong "Loạn âm" hay người thần người

Trang 40

tiên như cô Dó trong "Xác ngọc lam"

Có đọc "yêu ngôn", có tìm thấy được vẻ đẹp trong thế giới nhân vật của

"yêu ngôn" mới thấy được sâu sắc cái thiên lệch, cái ưu ái mà Nguyễn dành

cho cái đẹp Chẳng thế mà Nguyễn Đình Thi gọi Nguyễn Tuân là "Người suốt đời săn tìm cái đẹp, cái thật" [36, 21], và hiểu hơn rằng, ông "viết là để tìm nhân loại, tìm ở trong tôi và tìm ở trong các người Tìm nhau để cho được hiểu nhau trong đời sống đầy mâu thuẫn oan khiên và tủi khuất này Chúng ta thấy đều là những cái muôn - vàn gồm trong cái chỉ - có - một" Và trong cái

"Chỉ - có - một" ấy mà Nguyễn Tuân hướng tới, tôi tin chắc đó là cái đẹp, đẹp của tài hoa, nhân cách, đẹp của thiên lương con người

Nguyễn Tuân được sinh ra và lớn lên trong nền văn hoá cổ truyền của dân tộc, nên dấu ấn của những gì đẹp đẽ của một thời vang bóng vẫn còn là

dư ảnh Đó là cái thời còn có những anh khoá văn hay chữ tốt nhưng trời

không cho đỗ đạt nên bị hồn ma báo oán giữa trường thi (Khoa thi cuối cùng);

cái thời mà sơn thần Tản Viên thường xuống cõi trần gọi thợ lên sửa đền trên

đỉnh Ba Vì (Trên đỉnh non Tản); cái thời mà lò giấy làng Hồ Khẩu bên Hồ

Tây chuyên chế loại giấy ngự chỉ tiến vua và giấy đóng quyển thi cho các sỹ

tử (Xác ngọc lam); cái thời mà sách vở thánh hiền còn in bản gỗ, bìa đánh

cậy, gáy sơn son, và người có chữ nghiêm trang ngồi đọc bên chiếc lư trầm toả làn khói nhạt Trong cái thời ấy, những bậc chính nhân quân tử luôn có khát vọng bày tỏ cho người đời thấy được cái tài và cái tâm của mình, và những bậc chí sĩ dẫu đã phất áo ra đi vẫn không thể làm ngơ trước những bất công ngang trái của cuộc đời

Nguyễn Tuân được nuôi trong nền văn hoá cổ truyền của dân tộc, đau xót trước thời cuộc đảo điên, hẳn trong lòng chàng thanh niên ấy cũng đã nuôi nhiều ước vọng Nhưng thực tế chàng đã làm được gì ngoài việc cố níu giữ những gì đẹp đẽ của cha ông nay chỉ còn vang bóng?

Ngày đăng: 27/07/2021, 16:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w