Nguyễn Khuyến - Một mẫu hình cuối cùng của loại hình tác giả nhà nho ẩn dật trong văn học Việt Nam trung đại... Có thể nói Nguyễn Khuyến là tác giả thuộc loại hình nhà nho ẩn dật cuối c
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Tr-ờng đại học vinh
Khoa ngữ văn
********
Khát vọng Đào Tiềm và bi kịch của
"Ông Đào" Yên Đổ trong thơ Nguyễn Khuyến
SV: K42 B Văn
Vinh, 5- 2005
Trang 2Lời nói đầu
Nguyễn Khuyến là một hiện t-ợng rất độc đáo trong văn học trung
đại Việt Nam nói riêng và văn học dân tộc nói chung
ở Nguyễn Khuyến có rất nhiều vấn đề mà chúng ta cần nghiên cứu
Đó là nơi tập trung cao nhất t- t-ởng, quan niệm của Nguyễn Khuyến về dân tộc và thời đại Trong phạm vi đề tài này, khoá luận chủ yếu tập trung vào hình ảnh khát vọng Đào Tiềm và bi kịch của "ông Đào" Yên Đổ trong thơ ông
Để hoàn thành khoá luận, em đã nhận đ-ợc sự h-ớng dẫn tận tình chu đáo và có ph-ơng pháp khoa học của thầy giáo - tiến sỹ : Biện Minh
Vinh, tháng 5 năm 2005
Ng-ời thực hiện:
Trần Thị Hằng
Trang 3Mục lục
Trang
Mở đầu:
3 Đối t-ợng nghiên cứu và giới hạn của đề tài 4
2.1 Nhận diện đặc tr-ng loại hình tác giả Nguyến khuyến 14 2.2 Khát vọng Đào Tiềm hay con đ-ờng dẫn đến ẩn dật của Nguyễn Khuyến 18
3.1 Nỗi đau, thẹn với "Ông Đào" trong thơ Nguyễn Khuyến 29 3.2 Những giải thoát bi kịch của Nguyễn Khuyến 31 3.3 Nguyễn Khuyến - Một mẫu hình cuối cùng của loại hình tác giả
nhà nho ẩn dật trong văn học Việt Nam trung đại 44
Trang 4Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài:
1.1 Trong lịch sử văn học Việt Nam nói chung và văn học trung đại dân tộc nói riêng, các hiện t-ợng văn học không phải là hiếm nh-ng để đạt tới tầm lớn lao thì không có nhiều ở giai đoạn nửa sau thế kỷ - giai đoạn cuối cùng của văn học trung đại, Nguyễn Khuyến là một hiện t-ợng văn học lớn Tìm hiểu Nguyễn Khuyến là nhu cầu th-ờng xuyên và lâu dài đặt ra cho các nhà nghiên cứu Hiện còn rất nhiều vấn đề về Nguyễn Khuyến ch-a đ-ợc đề cập tới Có một vấn đề rất thú vị, mới mẻ mà luận văn này sẽ tập trung tìm hiểu Đó l¯ vấn đề “Khát vọng
Đào Tiềm và bi kịch của Ông Đào Yên Đổ trong thơ Nguyễn Khuyến"
1.2 Có thể nói Nguyễn Khuyến là tác giả thuộc loại hình nhà nho ẩn dật cuối cùng của văn học trung đại Việt Nam Bi kịch của con đ-ờng ẩn dật trong thơ Nguyễn Khuyến là một vấn đề có ý nghĩa xã hội - thẩm mỹ sâu sắc cần phải
đ-ợc tìm hiểu nghiên cứu công phu
1.3 Nguyễn Khuyến là một tác gia có vị trí quan trọng trong ch-ơng trình văn học ở học đ-ờng Việc tìm hiểu nghiên cứu Nguyễn Khuyến còn có ý nghĩa tham khảo trong hoạt động giảng dạy ở tr-ờng phổ thông
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu:
2.1 Trên lịch trình nghiên cứu ngót một thế kỷ qua, đã có hơn một trăm công trình và bài viết tìm hiểu về hiện t-ợng văn học này (ch-a kể đến những công trình tuyển tập, sáng tác về Nguyễn Khuyến) Trong đó còn rất nhiều vấn đề ch-a đ-ợc nghiên cứu Về Nguyễn Khuyến có một vấn đề rất đáng quan tâm: Khát vọng Đào Tiềm và bi kịch của "Ông Đào" Yên Đổ trong thơ văn ông
Trang 52.2 Riêng vấn khát vọng và bi kịch của ng-ời ẩn sỹ Nguyễn Khuyến trong thơ văn ông còn là vấn đề mới mẻ Cũng đã có một vài ý kiến b-ớc đầu đề cập
đến vấn đề này nh-ng ch-a đi sâu nghiên cứu Từ những năm tám m-ơi trở về tr-ớc, ng-ời ta nghiên cứu Nguyễn Khuyến chủ yếu theo ph-ơng pháp nội dung xã hội học Vấn đề khát vọng và bi kịch của ng-ời ẩn sỹ Nguyễn Khuyến trong thơ văn ông cũng đ-ợc một vài tác giả nhắc đến nh-ng chỉ nhìn nó nh- một vấn
đề ứng xử của ông tr-ớc cuộc đời
Từ 1980, nhất là từ 1985 đến nay - có thể nói đây là chặng đ-ờng có nhiều thành tựu nghiên cứu đáng kể nhất về Nguyễn Khuyến Nh-ng điều quan trọng nhất trong chặng đ-ờng nghiên cứu này là đã có một quan niệm chung rất mới
mẻ về Nguyễn Khuyến Một số tác giả đã sử dụng có hiệu quả quan điểm thi pháp học ( Có sự kết hợp ph-ơng pháp nội dung xã hội ) để nghiên cứu về Nguyễn Khuyến Thực ra vấn đề xuất, xử cũng có liên quan đến khát vọng và bi kịch của ng-ời ẩn sỹ Nguyễn Khuyến Nh-ng hình ảnh ẩn sỹ Đào Tiềm xuất hiện nhiều trong thơ văn Nguyễn Khuyễn là vấn đề ch-a đ-ợc ng-ời ta nghiên cứu sâu
2.3 Luận văn là tiểu luận đầu tiên đi sâu tìm hiểu nghiên c-ú vấn đề này với một cái nhìn hệ thống, toàn diện Chúng tôi nhận thấy đây là vấn đề rất có ý nghĩa trong thơ văn Nguyễn Khuyến Nó không chỉ phản ánh tâm t- khát vọng của ông mà còn cho thấy sự ràng buộc của cuộc sống do xã hội xô đẩy ông vào con đ-ờng phải đứng tr-ớc sự lựa chọn Nguyễn Khuyến là ẩn sỹ cuối cùng trong văn học trung đại Việt Nam
3 Đối t-ợng nghiên cứu và giới hạn đề tài.
3.1 Đối t-ợng nghiên cứu:
Luận văn n¯y chúng tôi nghiên cứu về “Khát vọng Đ¯o Tiềm v¯ bi kịch của
Ông Đ¯o Yên Đổ trong thơ Nguyễn Khuyễn”
Trang 64 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Đ-a ra cái nhìn chung về Nguyễn Khuyến trên lịch trình văn học dân tộc, xác định đặc tr-ng loại hình tác giả Nguyễn Khuyến
4.2 Tìm hiểu con đ-ờng dẫn đến ẩn dật hay là khát vọng làm một Đào Tiềm của Nguyễn Khuyến thể hiện qua thơ văn của ông
4.3 Phân tích và luận giải bi kịch của Nguyễn Khuyến tr-ớc khát vọng làm một
ẩn sỹ theo g-ơng Đào Tiềm Cuối cùng rút ra một số kết luận về bi kịch của ng-ời ẩn sỹ Nguyễn Khuyến trong thơ văn ông
5 Ph-ơng pháp nghiên cứu.
Trên cơ sở của quan điểm phong cách học nghệ thuật, quan điểm của thi pháp học kết hợp với quan điểm của loại hình học, luận văn sử dụng các ph-ơng pháp nghiên cứu sau: Khảo sát - thống kê, phân tích - tổng hợp, so sánh - loại hình, cấu trúc - hệ thống để tìm hiểu nghiên cứu vấn đề
6 Đóng góp và cấu trúc của luận văn
6.1 Đóng góp :
Lần đầu tiên luận văn đi sâu tìm hiểu một ph-ơng diện quan trọng trong t- t-ởng và phong cách nghệ thuật Nguyễn Khuyến Kết quả của luận văn có thể
Trang 7đ-ợc vận dụng vào thực tiễn giảng dạy thơ văn Nguyễn Khuyến trong nhà tr-ờng phổ thông
6.2 Cấu trúc của luận văn
Ngoài Mở đầu và Kết luận, Nội dung chính của luận văn đ-ợc triển khai trong ba ch-ơng:
Ch-ơng 1: Hiện t-ợng Nguyễn Khuyến trong lịch sử văn học dân tộc, một cái nhìn chung
Ch-ơng 2 : Khát vọng Đào Tiềm hay con đ-ờng dẫn đến ẩn dật trong thơ Nguyễn Khuyến
Ch-ơng 3: Bi kịch của "Ông Đào" Yên Đổ trong thơ Nguyễn Khuyến
Cuối cùng là Th- mục tham khảo
Trang 8Ch-ơng 1 :
Hiện t-ợng Nguyễn Khuyến trong lịch sử
văn học dân tộc, một cái nhìn chung
1.1 Cuộc đời, con ng-ời và thời đại Nguyễn Khuyến
1.1.1 Cuộc đời và con ng-ời:
Nguyễn Khuyến có tên là Nguyễn Thắng, hiệu Quế Sơn, khi thi cử, thành
đạt mới đổi ra Nguyến Khuyến, tự Miễn Chi ( Nghĩa là gắng lên, do chữ khuyến
mà ra ) Ông sinh ngày 15 tháng 2 năm 1835 ( Tức ngày 18 tháng giêng năm ất mùi, Minh Mệnh thứ 16 )
Ông xuất thân từ một gia đình nhà nho nghèo, hai bên nội ngoại đều có truyền thống khoa bảng Quê nội ở vùng Treo Vọt, Huyện Can Lộc, Hà Tĩnh, di c- ra Yên Đổ, cho đến đời nhà thơ đã đ-ợc năm trăm năm Cụ thân sinh của ông tên là Nguyễn Liễn, vẫn theo đòi nho học, đỗ ba khoa tú tài, chuyên nghề dạy học Mẹ là Trần Thị Thoan, quê làng Văn Khuê, tục gọi làng Ngòi, xã Hoàng Xá, huyện ý Yên ( nay thuộc xã Yên Trung, Huyện ý Yên, tỉnh Hà Nam) Bà là ng-ời phụ nữ mẫu mực trong khuôn khổ xã hội phong kiến Để chồng con có địa
vị trong xã hội, bà đã lam lũ, b-ơn chải kiếm sống nuôi gia đình
Năm 1843, khi cậu bé Thắng đã 8 - 9 tuổi, mới theo gia đình trở về quê cũ Năm 1852, anh lấy vợ và đi thi H-ơng lần thứ nhất cùng với cha, song không đỗ Ngay năm sau, địa ph-ơng có dịch th-ơng hàn, anh khoá Thắng mắc bệnh suýt chết Cha và em ruột, bố mẹ vợ cùng nhiều ng-ời họ hàng thân thuộc
đều qua đời vì cơn dịch bệnh khủng khiếp ấy Bấy giờ gia đình Nguyễn Khuyến càng lâm vào cảnh khốn cùng đói rét Bà mẹ phải may thuê vá m-ớn lần hồi, còn anh th-ờng phải sách đèn, nhờ bạn giúp đỡ Với lòng nhân ái bao la, chịu đựng
Trang 9vất vả để động viên ý chí của cậu con trai tên Thắng của mình học hành thành tài,
bà đã v-ợt qua tất cả những khó khăn để lo cho con
Từ năm 1854, Thắng phải nối nghiệp cha đi dạy học để lấy tiền nuôi sống bản thân, ở Lạng Long ( Huyện Nho Quan ), Kỷ Cầu ( Huyện Thanh Liêm ),
đồng thời với việc dùi mài kinh sử, tiến thân theo lối "đ-ờng mây" Song ba khoa thi H-ơng liên tiếp theo 1855, 1858, 1861 ông đều tr-ợt Ông đã thực sự nản chí trên con đ-ờng khoa cử Nh-ng nhờ sự ủng hộ của bạn bè, đặc biệt là ng-ời mẹ và đặc biệt là nhờ nỗ lực của bản thân, năm 1864 ông đỗ cử nhân đầu tr-ờng Hà Nội Cho đến khoa năm 1871, mới liên tiếp đỗ đầu thi Hội, thi Đình, khi ông đã 37 tuổi
Tuy ch-a đến nỗi trắc trở, song sự nghiệp công danh của ông cũng không mấy thuận buồn xuôi gió Trong khi ông đang dùi mài kinh sử thì năm 1858, thực dân Pháp nổ ra súng xâm l-ợc n-ớc ta Trong hoàn cảnh lịch sử ấy, Nguyễn Khuyến b-ớc vào hoan lộ, con đ-ờng duy nhất của một trí thức phong kiến muốn
đem sở học ra phò đời, giúp n-ớc Lúc đầu ông đ-ợc bổ làm ở Sứ Quán trong triều
Năm 1873 ra làm đốc học Thanh Hoá, rồi thăng nhanh lên làm án sát tỉnh Thanh Hoá Năm 1877 ông vào triều giữ chức Bố Chính Quảng Ngãi
Năm 1882, 1883 quân Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ hai Rồi Tự Đức chết ( 19 7.1883 ) Nguyễn Khuyến đã đ-ợc cử làm phó Sứ, cùng với Chánh Sứ
là Tuần Phủ Lạng - Bằng ( Lạng Sơn - Cao Bằng ) Lã Xuân Oai sang Trung Quốc Ông đã ra Bắc, nh-ng ch-a kịp qua biên giới thì chuyến đi ấy bị bãi bỏ
Ông lấy cớ đau yếu xin tạm về quê d-ỡng bệnh, thì trung tuần tháng 12 năm
1883 quân Pháp tiến công đánh chiếm Tỉnh Sơn Tây Pháp đã thúc ép triều Nguyễn thiết lập bộ máy nguỵ quyền Nguyễn Hữu Độ, tay chân đắc lực của pháp, lúc ấy đang làm Tổng đốc Hà - Ninh để cử ông làm tổng đốc Sơn - H-ng - Tuyên, nh-ng ông đã kiên quyết chối từ, lấy cớ đau mắt xin cáo về làng
Trang 10
Năm 1884, ông trở về quê Yên Đổ Cũng có một khoảng thời gian ( 1891 -
1892 ) ông phải lên Thái Hà ấp (Hà Nội) làm gia s- dạy con cả Hoàng Cao Khải
là Hoàng Mạnh Tri Trong khoảng 25 năm, ông sống ở Yên Đổ khó khăn nh-ng
c-ơng quyết kh-ớc từ mọi thủ đoạn mua chuộc, chèo kéo của thực dân Pháp Với
thái độ bất hợp tác với giặc, ông trở lại với cuộc sống bình th-ờng của ng-ời dân
mất n-ớc Nguyễn Khuyến càng thấm sâu hơn cuộc sống cực khổ, thân phận mất
n-ớc của bà con nông dân Cuộc trở về Yên Đổ (có nghĩa là lựa chọn con đ-ờng
ẩn dật) là một b-ớc ngoặt lớn trong đời và thơ ông
1.1.2.Thời đại Nguyễn Khuyến và ứng xử của nhà thơ
Nguyễn Khuyến đã từng làm quan cho triều Nguyễn, là một nhà nho,
Nguyễn Khuyến cũng thừa hiểu rằng là dân trong một n-ớc tr-ớc hết phải trung
với vua, nhất là một nho sỹ của triều đình thì phải thờ vua, giúp vua cứu n-ớc
Các thế hệ lớp tr-ớc cũng từng đi theo con đ-ờng này, huống chi Nguyễn
Khuyến lại l¯ người đỗ cao, được vua khen thưởng Cái “ ơn huệ ’’ ấy đối với
ông có nghĩa là trách nhiệm Cho nên không phải ngẫu nhiên mà sau khi thi đậu,
mặc dầu tình hình xã hội hết sức phức tạp, ông vẫn cứ ra làm quan để giúp vua,
l¯m quan l¯ con đường duy nhất để một nh¯ nho có thể thực hiện lý tưởng “ Trí
quân trạch dân’’
Chế độ thực dân nửa phong kiến là mảnh đất tốt cho văn học trào phúng
phát triển Lúc này Nguyễn Khuyến đang đứng tr-ớc sự lựa chọn Nh-ng những
năm ông ra làm quan, Pháp đã nổ súng xâm l-ợc khắp đất n-ớc Xã hội Việt
Nam đầy biến động Ngay trong tầng lớp nho sỹ đ-ơng thời "những ng-ời có khí
tiết có dũng khí, có tinh thần dân tộc sẵn sàng đứng về phía đại nghĩa của dân tộc
kháng chiến " Một bộ phận khác không có cái dũng cảm xả thân thủ nghĩa thì từ
quan về nhà, bất hợp tác với giặc Còn bộ phận tiếp tục làm quan trong thời buổi
ấy, một số không ít nh- : Nguyễn Hữu Độ, Hoàng Cao Khải, Nguyễn Thân thì là
Trang 11một ph-ờng bất l-ơng giáo dở, những tên chính cống làm tay sai cho giặc Nguyễn Khuyến không có cái dũng cảm lấy cái chết của mình để đền nợ n-ớc, nh-ng ông cũng không tiếp tục làm quan khi đất n-ớc rơi vào tay giặc Ông chọn con đ-ờng từ quan về nhà Đối với một nhà nho từng lấy việc làm quan làm con
đ-ờng thực hiện lý t-ởng nh- Nguyễn Khuyến thì việc từ quan về nhà không phải chuyện dễ ’’ [ 15, 737 ]
"Hẳn rằng Nguyễn Khuyến không phải không hay biết gì về ngọn đuốc vì nghĩa mà văn học yêu n-ớc kháng Pháp đã không ngừng thắp sáng suốt ba thập
kỷ (cũng cần chú ý sau hơn bốn thập kỷ, ngọn đuốc này mới đ-ợc thắp lại sáng hơn trong văn học dân tộc" Sẽ còn những dấu hỏi dành cho Nguyễn Khuyến ở
đây (?) Nh-ng rõ ràng ông đã không đi đ-ợc vào con đ-ờng nghĩa mà Nguyễn
Đình Chiểu tiên phong, sau đó là các nhà Cần V-ơng Và cũng rất rõ ràng vì không đi đ-ợc con đ-ờng ấy nên Nguyễn Khuyến càng day dứt, dằn vặt, càng mặc cảm tội lỗi Bi kịch ngày một thêm chua chát, não nề Thơ ông cho thấy nỗi
đau mất n-ớc, mất đạo "đạo táng ngã an quý" là cái gốc của mọi vấn đề, mọi
trạng thái xúc cảm khóc và c-ời, trữ tình và trào phúng Cũng từ đây ý thức về sự bất lực của bản thân mình, giai tầng mình, hay nói cách khác ý thức phản tỉnh trong ông càng mạnh mẽ hơn bao giờ hết" [19, 85] Đứng tr-ớc hoàn cảnh đất n-ớc nh- vậy "không theo đ-ợc cờ khởi nghĩa - và cũng đã đến lúc phải chuyển
đổi giá trị này - Nguyễn Khuyến d-ơng cao cờ tiết "Vạn lý quan quan sứ tiết
cao" Ông coi đây là một phạm trù, một giá trị đẹp nhất trong lý t-ởng thẩm mỹ
nhà nho khi mà cuộc đấu tranh trên bình diện chính trị đã chuyển sang bình diện văn hoá, lối sống, khi mà những "tiết nghĩa", "tiết tháo", "tiết hạnh", "tiết khí",
"danh tiết", "phẩm tiết" đang là bài toán phức tạp của "tâm", "đạo" nhà nho
"Há vì ham danh mà mất tiết" (Nguyễn Khuyến) Thời của Nguyễn Khuyến, Tú
X-ơng là thời của mọi xu trào cơ hội đang thắng thế, là thời của mầm tha hoá, lai căng đang mọc dậy Nó dễ dàng làm hoen ố, tiêu tán mọi danh dự, phẩm giá Nguyễn Khuyến chọn tiết là phạm trù thẩm mỹ trung tâm, chọn Đào Tiềm là tấm
Trang 12g-ơng trong Đây là kiểu lựa chọn sáng giá, vốn cũng đã đ-ợc ông chuẩn bị từ
tr-ớc khi về Yên Đổ" [19, 86]
Nh- vậy Nguyễn khuyến đã chọn con đ-ờng về ở ẩn nh- một nghĩa cử cao
đẹp, là hành động hợp thời Chỉ qua hành động đó, chúng ta cũng thấy đ-ợc lòng
nhiệt tình yêu n-ớc, th-ơng dân của ông
1.2 Vị trí và vai trò của Nguyễn Khuyến trong lịch sử văn học
Dân tộc.
1.2.1 Nhà thơ lớn cuối cùng của văn học trung đại Việt Nam
Văn học trung đại Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX có rất nhiều
nhà thơ lớn, nổi bật nh- Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân H-ơng, Cao Bá
Quát cuối cùng là Nguyễn Khuyến một ng-ời đỗ đầu ba khoa thi đ-ợc nhà Vua
ban tặng danh hiệu “Tam nguyên’’
Nguyễn Khuyễn là nhà thơ cuối cùng của văn học trung đại Một nhà thơ
có bao hoài bão lớn, từng -ớc mơ đem hết tài năng của mình để phục vụ nhân
dân Nhẽ ra, tài năng sẵn có ấy phải đ-ợc phát huy nh-ng hoàn cảnh lịch sử
không cho phép ông cống hiến, ông chọn con đ-ờng không hợp tác với giặc về ở
ẩn và sáng tác văn ch-ơng, để lại cho nền văn học n-ớc nhà những trang thơ bất
hủ "Nguyễn Khuyến là nhà thơ cổ điển lớn cuối cùng, viết d-ới ảnh h-ởng của
ý thức hệ phong kiến, bằng một văn tự vuông Song cũng lại là một thời kỳ đầu
tiên ở một thời kỳ dầu đất n-ớc lâm vào vòng luân quẩn nô lệ của chủ nghĩa đế
quốc Ph-ơng Tây Là nhà thơ cổ điển lớn, tài năng đa dạng, đa diện ở ông đ-ợc
kế thừa từ các truyền thống nhân đạo và hiện thực, với nhiều màu sắc trữ tình sâu
sắc và trào lộng chua cay của văn hiến Việt Nam, từ văn học dân gian, đến văn
học thành văn, từ Hồ Xuân H-ơng đến Nguyễn Du, bằng cả ph-ơng tiện chữ
Nôm v¯ chữ Hán ’’ [ 12, 85 ]
Trang 13Nguyễn Khuyến là nhà thơ lớn cuối cùng, kết thúc văn học trung đại Việt Nam Ông đại diện cho một mẫu nhà nho cuối cùng - nhà nho ẩn dật Mặc dù kế thừa những tinh hoa của các nhà thơ đi tr-ớc nh-ng ở Nguyễn Khuyến cũng có
sự khác biệt lớn đó chính là cái riêng độc đáo hội tụ ở ngòi bút của ông Với t- cách là một nhà nho cuối cùng của văn học trung đại, nét nổi bật ở con ng-ời ông
là luôn luôn h-ớng tới vận n-ớc Mặc dù tr-ớc đây ông cũng từng là một ông
"quan thanh liêm" nh-ng bây giờ điều đó mới thể hiện rõ nét trong thơ văn của
ông Những dòng thơ văn đó đã là nơi ẩn nấp những khát vọng hay bi kịch làm một ẩn sỹ
Nguyễn Khuyến là một nhà thơ đ-ợc đào tạo theo khuôn mẫu đạo đức của nho giáo Những sáng tác của ông luôn thể hiện một khát vọng lớn lao, giúp dân cứu n-ớc
1.2.2 Vai trò đặc biệt của Nguyễn Khuyến trong lịch sử văn học
Trong các giai đoạn phát triển của lịch sử văn học Việt Nam, ch-a có một giai đoạn lịch sử văn học nào nh- ở giai đoạn lịch sử văn học này: "Khủng hoảng về ý thức hệ xã hội, về chỗ dựa tinh thần Nho giáo tàn tạ, phá sản Lão - Trang hay phật giáo cũng không còn sức mạnh nào đáng kể Gia Tô Giáo mới
đ-ợc du nhập vào càng dị ứng với nhà Nho, thậm chí bị coi là "tà đạo" ý thức
hệ mới ch-a hề có ảnh h-ởng văn hoá ngoài khu vực (văn hoá Pháp) chủ yếu
đến theo con đ-ờng "c-ỡng hôn", vì vậy càng bị chống đối kịch liệt Hơn bao giờ hết, truyền thống t- t-ởng- văn hoá- đạo lý dân tộc giữ vai trò nh- là ý thức
hệ xã hội Nó là chỗ dựa tinh thần lớn nhât và cũng là duy nhất cuối cùng cho nhà nho trong cơn bế tắc"[19, 86 ] Lúc bấy giờ Nguyễn Khuyến xuất hiện giữ vai trò rất đặc biệt trong lịch sử văn học dân tộc :"Nguyễn Khuyến không là ng-ời"trong cuộc" nh-ng nhận rõ và thấm sâu cái bi kịch này Ông tìm cách cáo quan trở về Yên Đổ Trong cảm quan Nguyễn Khuyến: N-ớc (Tổ Quốc) trên bề
Trang 14mặt vật chất hiện hữu thực sự đã mất, nh-ng trong triều sâu nền tảng, linh hồn của nó làm sao có thể mất ? và ông có một phát hiện thật đáng quý:Hãy còn đây
- hồn n-ớc , hãy còn đây - truyền thống muôn x-a.Ông là ng-ời đầu tiên của văn học giai đoạn này mở ra mạch thơ gọi hồn n-ớc - một mạch đầy thơ cảm kích, kéo dài đến cả văn học giai đoạn sau (1900-1930)" [19, 87]
Nguyễn Khuyến là ng-ời đã tìm về "dân tộc - thuỷ chung"với truyền thống văn học nửa sau thế kỷ XIX Ông đã tìm về với làng quê, với ruộng v-ờn Chính làng quê lại là nơi cho ông có dịp phát hiện "hồn văn hoá dân tộc" ,sức sống dân tộc còn ẩn sau luỹ tre làng Ông đóng vai trò là một tác gia lớn cuối cùng của văn học cổ điển trung đại và ng-ời đã từng có tìm tòi sáng tạo ra nguồn sinh lực còn tiềm ẩn Có thể nói đây là nguồn "sinh lực" cuối cùng có thể có của văn học trung đại khi trên đ-ờng đi vào chặng kết thúc
Trang 15
Ch-ơng 2 :
ẩn dật trong thơ Nguyễn khuyến
2.1.1 Từ đặc tr-ng loại hình tác giả văn học Việt Nam trung đại:
Tác giả văn học Việt Nam trung đại dĩ nhiên có mang những đặc điểm loại hình của tác giả văn học trung đại nói chung sáng tác theo khuôn mẫu, qui phạm, theo “ những công thức tu từ v¯ cốt truyện có sẵn ’’, “ coi việc sáng tác l¯ công việc nghiêm túc, trang trọng thành kính, ( D.X.Likhachôp), nh-ng vẫn có những đặc điểm riêng biệt Căn cứ để nhận ra kiểu tác giả văn học trung đại Việt Nam, tr-ớc hết phải xuất phát từ thực tiễn sáng tác của văn học trung đại ý kiến của tác giả trung đại bàn trực tiếp về vấn đề này cũng là cơ sở có ý nghĩa rất quan trọng, có thể xác định với tác giả với những Đỗ Pháp Nhuận ( 915 - 990 ), Ngô Chân L-u ( 933 - 1011 ), Lý Công Uẩn ( 974 - 1028 ) là thuộc lớp mở đầu ( chủ yếu là nhà s- ) Khoảng từ nửa sau thế kỷ XIII trở đi, nhà nho dần dần độc chiếm trên văn đàn, lực l-ợng tác giả ngày một đông đảo [ 8, 63 ]
Nho giáo vào Việt Nam từ thời Bắc thuộc, giữ vai trò độc tôn suốt thời kỳ dài ( thế kỷ XV - thế kỷ XIX ) ảnh h-ởng và chi phối sâu sắc đến văn học Việt Nam và một số n-ớc trong khu vực nh- Hàn Quốc, Nhật Bản, từ đây hình thành nên một loại hình văn học do một loại hình tác giả sáng tạo ra Loại hình văn học này giữ vai trò chính thống của thời trung đại
Có thể nói tác giả Nho gia là môn đồ của Nho giáo, đ-ợc nho giáo trang bị
và đào luyện về nhiều mặt, về tri thức, về vũ trụ quan, nhân sinh quan, thẩm mỹ quan Đ-ợc họ đào luyện theo con đ-ờng giáo dục khoa cử Họ đi học rồi đi thi nếu đỗ thì làm quan Họ đã học Tứ th- (4 loại sách: Ngữ luận, Mạnh tử, Đại
Trang 16học, Trung du) và học ngũ kinh (5 loại sách kinh điển của nho học) Với một vốn kiến thức học đ-ợc phần lớn họ đã sáng tác những cuốn "Thi tập", "Văn tập" để lại cho đời sau và họ đã trở thành nhà văn, nhà thơ Họ đã độc chiếm văn
đàn, họ là lực l-ợng sáng tác chủ yếu cơ bản của văn học Việt Nam trung đại Nh- vậy nho giáo d-ờng nh- đ-ợc theo đuổi suốt đời nh-ng không vì thế
mà nho giáo chiếm đ-ợc toàn bộ đời sống tâm hồn, t- t-ởng của nhà nho Trong
đời sống tinh thần, t- t-ởng của nhà nho có sự tham gia của t- t-ởng khác nh- t- t-ởng đạo lý dân tộc, t- t-ởng Lão-Trang, Đặc biệt nhà nho khi đâm vào bế tắc tìm về t- t-ởng Lão - Trang vì họ thấy Lão - Trang nh- một chỗ dựa tinh thần, một niềm an ủi giúp họ thoát khỏi bế tắc chán ch-ờng cuộc sống
Văn học trung đại Việt Nam chủ yếu đ-ợc sáng tác bởi tác giả nhà Nho
Từ kiểu tác giả Nho gia này giới nghiên cứu đã phân thành ba loại hình nhà nho: Nhà nho hành đạo, nhà nho ẩn dật và nhà nho tài tử Trong đó hai kiểu hình tác giả nhà nho hành đạo và nha nho ẩn dật đ-ợc coi là chính thống, luôn đắp đổi cho nhau, có khi diễn ra ngay trong cùng một tác giả Tuy nhiên còn nhiều cách phân loại khác nh- xem ra cách phân loại này rất sát hợp với thực tiễn văn học trung đại Mặt khác cách phân loại này ng-ời nghiên cứu sẽ có điều kiện hơn trong việc xác định loại hình của tác giải nhà nho trong văn học trung đại Đối với nhà nho đỗ đạt thì vấn đề "xuất - xử "t-ơng ứng với nó nh- hai thái độ là
"hành - tàng" Loại hình nhà nho hành đạo và loại hình nhà nho ẩn dật đ-ợc coi
là kiểu tác giả nhà nho chính thống Hai loại này có thể thay đổi nhau, có khi
đặt ra đối với họ là cơ sở văn hoá xã hội, bối cảnh không gian thời gian tồn tại cho hai loại nhà nho này, có những điểm khác nhau Với nhà nho hành đạo thì
họ sống bằng l-ơng bổng của triều đình Khi chọn con đ-ờng ẩn dật thì họ sống
tự cấp, tự túc
Nhà nho hành đạo muốn thực hành những nguyên tắc của đạo lý Nho gia, sẵn sàng dấn thân nhập cuộc để thực hiện lý t-ởng: tu tề - trị vì, trí quân - trạch dân Đó là mô hình xã hội theo quan niệm phong kiến nho giáo, là một xã hội
Trang 17có ngũ luân (ví dụ nh- mối quan hệ: vua - tôi, cha - con, vợ - chồng, bạn - bè, ) rồi "tam c-ơng"
Hình t-ợng tác giả hiện lên trong sáng tác nhà nho này chính là hành động thực tiễn, -u thời, nhất thế, sẵn sàng xả thân thủ nghĩa Chính hình t-ợng tác giả, hình t-ợng nhân vật trữ tình này, th-ờng xuất hiện trong giai đoạn văn học thế kỳ X đến thế kỷ XV Đặc biệt là thế kỷ XIX trong sáng tác có đặc điểm ng-ời trung nghĩa Trong giai đoạn Cần V-ơng của n-ớc ta nửa sau thế kỷ XIX, sáng tác của họ đậm màu sắc đạo lý, đậm chức năng giáo huấn và mang tính quy phạm cao trên cả hai ph-ơng diện nội dung t- t-ởng và hình thức
Nhà nho ẩn dật lại nh- một biểu hiện đối cực của loại nhà nho hành đạo
Đối cực với loại hành đạo một cách "ngu trung" cho rằng: không rút ra khỏi vòng danh lợi Tác giả ẩn dật không chỉ có riêng nhà nho mà còn bao hàm cả nhà s- Loại hình tác giả này, trong văn học Việt Nam trung đại có thể kể nh-: Huyền Quang, Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Hàng, Nguyễn Dữ, Ngô Thế Lân, Nguyễn Thiếp, , và Nguyễn Khuyến Có thể nói Nguyễn Khuyến là một mẫu hình cuối cùng của nhà nho ẩn dật Nhà nho ẩn dật không tiếp chuyện ai Họ đề cao và bảo toàn danh tiết, họ không màng công danh lợi lộc Để thực hiện đ-ợc điều này họ tìm đến một môi tr-ờng trong sáng vắng vẻ, không v-ớng chút bụi Họ tránh mọi mối quan hệ xã hội Loại hình tác giả này, họ rất ngại tiếp xúc, thích cô độc, an nhàn nh- Nguyễn Bỉnh Khiêm Nhà nho ẩn dật tự nhận về mình bao thứ dại dột, tăm tối, ngu hèn, kém cỏi: "Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ
Ng-ời khôn ng-ời tìm chốn lao xa"
Nguyễn Khuyến cũng từng nhận mình ngu hèn Đây là cách nói phản ngữ, phản ngôn mà thôi Hình t-ợng nhân vật trữ tình, cái tôi tác giả, hình t-ợng đẹp nhất
là nhà nho bảo vệ danh tiết, giữ tiết, có nhiều sắc thái u mua, châm biếm, mỉa mai và họ coi hành vi của họ là một giá trị bao hàm cả mặt tích cực và tiêu cực
Trang 18Khác với hai loại hình tác giả trên là loại hình tác giả nhà nho tài tử Tuy
ra đời muộn hơn, nh-ng vì muốn xuất hiện phải có điều kiện Trong xã hội có
đô thị, thị dân, phải có con ng-ời phát hiện ra mình là một thực thể với những nhu cầu và khát vọng cá nhân Nhà nho tài tử dĩ nhiên vẫn là nhà nho Họ từng qua cửa khẩu sân trình d-ờng nh- càng ngày càng xa rời những chuẩn mực khắt khe giáo điều của nho giáo Giá trị cao nhất của họ phải là tài bao gồm nhiều mặt: Tài cầm quân chỉ n-ớc, tài đặc biệt là tài văn ch-ơng nghệ thuật Thời đó ng-ời ta gọi là tài: cầm, kỳ, thi, họa, tửu
2.1.2 Đến đặc tr-ng loại hình tác giả trong thơ Nguyễn Khuyến
Đằng sau mỗi một loại hình nhà nho đều có thể nhận ra một cơ sở kinh tế- xã hội mang tính độc lập t-ơng đối ở ng-ời hành đạo -trung nghĩa, đó là sự phân chia lại tô thuế thường được tiến h¯nh thông qua khâu “ trung gian thiêng liêng ’’ l¯ Ho¯ng Đế Đối với họ, “ tấc đất, ngọn rau” đều l¯ “ ơn chúa ’’ nên “ nợ áo cơm, ph°i tr° đến hình h¯i ’’ ( Nguyễn Văn Th¯nh ) ở ng-ời ẩn dật, nh- đã rõ,
đó là nền kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc trong đời sống công xã [22, 82 ] Thực ra
ẩn dật và hành đạo là hai mặt của một vấn đề
Nguyễn Khuyến đậu đến Tam Nguyên, làm quan tất cả chỉ m-ời ba năm Khi kinh thành thất thủ, vua chạy, đất n-ớc rơi vào tay giặc, Nguyễn Khuyến không đứng vào hàng ngũ Cần V-ơng khởi nghĩa, mà xin cáo quan về nhà Về sống ở quê, ông cam chịu cuộc sống nghèo túng, vắng vẻ, lấy cớ già yếu lại đau mắt, ông kh-ớc từ mọi sự dụ dỗ, đe doạ, bất hợp tác với giặc, giữ khí tiết
Nh- vậy vấn đề ra làm quan hay không ( Xuất - xử ) làm cho ông phải suy nghĩ rất nhiều Ông đã từng đặt ra những tình huống khác nhau để so sánh liệu đi
đ-ờng nào cho đúng và có lợi cho dân
Từ hành đạo, Nguyễn Khuyến đã chọn con đ-ờng ẩn dật Nguyễn Khuyến chọn con đường ở ẩn để b°o vệ danh tiết “ ẩn dật ’’ có nghĩa là sống nghèo khổ
Trang 19và cô độc, cũng không phải là dễ chịu Nguyễn Khuyến muốn có một khung cảnh thật yên tĩnh để giúp cho ông quên đi những bất công của cuộc đời, cần phải có một lý do thật chính đáng để cho ng-ời cáo quan an tâm tin t-ởng vào sự lựa chọn của mình là chính đáng hơn cả Cũng chỉ có con đ-ờng ẩn dật mới giúp ông thực hiện đ-ợc -ớc mơ cao đẹp của mình
"Qua sự lựa chọn đó, ta biết phẩm chất đạo đức, thái độ chính trị và một phần thực tế chính trị - xã hội qua con mắt của nhà thơ So với các nhà thơ khác,
bộ phận thơ vịnh cảnh, vịnh vật của Nguyễn Khuyến dằn vặt khá nhiều về thái độ của mình Thái độ đó đ-ợc quan niệm theo đạo lý nhà nho thành vấn đề xét xử Nếu coi vấn đề đó nh- một sợi chỉ xâu các mảnh tâm sự lại ta có thể nhìn diễn biến suy t- của Nguyễn Khuyến, và một mức độ nào đó, ta cũng có thể nhìn sự thay đổi trong nghệ thuật của ông" [13, 204]
Vào hoàn cảnh lúc bấy giờ Nguyễn Khuyến chọn con đ-ờng "ẩn dật" đó chính là thái độ phản kháng bất hợp tác với giặc Vì triều đình đã làm tay sai cho giặc nên ông đã cáo quan lui về (quy ẩn) ở Yên Đổ
2.2 Khát vọng Đào Tiềm hay con đ-ờng dẫn đến ẩn dật của Nguyễn Khuyến
2.2.1 Tấm g-ơng Đào Tiềm trong quan niệm của Nguyễn Khuyến
Đào Tiềm có tên thật là Đào Uyên Minh (365-427) có tên là Tiềm, tự là Nguyên L-ợng, ng-ời Sài Tang, Tầm D-ơng (nay thuộc huyện Cửu Giang, tỉnh Giang Tây) Đào Tiềm từ nhỏ đã có chí lớn Năm 405, ông đã từng làm huyện
lệnh ở Bành Trạch, nh-ng đ-ợc tám m-ơi ngày thì "không thể khom l-ng tr-ớc
năm đấu gạo", nên từ quan về ở ẩn, tự cày cấy "hơn hai m-ơi năm" Ng-ời đời
gọi ông là: "Tịnh Tiết Tiên Sinh" [9, 54]
Đào Uyên Minh là một ẩn sĩ, ông trở về với ruộng v-ờn Sau khi về ở ẩn, cuộc sống gặp nhiều bất hạnh, ruộng v-ờn ông th-ờng mất mùa do thiên tai Tới
Trang 20năm ông 40 tuổi nơi ở cũ bị hoả hoạn thiêu sạch Có những lúc ông đã từng phải
đi ăn xin Nỗi buồn lo, đói rét, vất vả, bao nỗi đau dày vò thân thể già nua của tác
giả, khiến ông "gầy còm ốm yếu" Sắp đến lúc mất, ông đã phải "nằm co, nhịn
đói biết bao ngày" Thứ sử Giang Châu Đàm Đạo Tế đ-a r-ợu thịt đến, ông khinh
bỉ "vung tay bảo đ-a ra" Chẳng bao lâu nhà thơ lìa đời" [18, 288]
D-ới triều đại thống trị mục nát lúc bấy giờ, nền chính trị cũng chẳng có gì sáng sủa Bọn quan lại đang tranh nhau địa vị quan, tranh giành lợi lộc, dẫn đến sát hại nhau Từ khi v-ơng triều Đông Tấn thành lập cho đến lúc diệt vong, thì cuộc đấu tranh trong nội bộ triều chính không ngừng Nhất là sau khi Chiếu Vũ
đế T- Mã Diệu lên ngôi "mở đầu là T- Mã Đạo Tử Nguyên Hiển chuyên quyền, tiếp đó Hoàn Huyền c-ớp ngôi, sau cùng là L-u Dụ dấy binh tiêu diệt Hoàn Huyền và tự lập thay nhà Tấn Đào Tiềm đã chứng kiến những cuộc chính biến
đổ máu "[18, 288] Ông đã lui về ở ẩn làm ng-ời ẩn dật Hiện thực xã hội ấy đã
ảnh h-ởng sâu sắc đối với t- t-ởng Đào Uyên Minh Lúc nhỏ ông đã đ-ợc giáo
dục bởi t- t-ởng Nho gia, có -ớc mơ "che chở muôn dân" thông qua việc làm
quan mà giúp dân có đủ ruộng để cày cấy, có cuộc sống no đủ Nh-ng đó chỉ là
ảo mộng mà thôi Vì xã hội ấy, những kẻ đói nghèo nh- ông thì làm sao có thể
đ-ợc trọng dụng Trong thời gian ra làm quan đã giúp ông nhận thức đ-ợc cái xã hội rối ren không thể hợp với bản thân ông Mặc dù là ng-ời ẩn sỹ sống một cuộc sống dân dã, nh-ng Đào Tiềm là một mẫu hình lý t-ởng của loại hình nhà nho ẩn dật, đồng thời là một nhà thơ lớn, đầy tài hoa với khối l-ợng tác phẩm khá lớn để lại cho văn học Trung Quốc nói chung và cho văn học thế giới nói riêng đã đ-a
Đào Tiềm vào lòng độc giả một cách sâu sắc khó quên ảnh h-ởng của ông đến văn học trung đại Ph-ơng Đông đặc biệt là nền văn học Việt Nam Nguyễn Khuyến đã quan niệm Đào Tiềm là một tấm g-ơng sáng.Và ông đã cho rằng: ẩn
sỹ Đào Tiềm là một mẫu hình ẩn sỹ đẹp mà ông phải noi theo
Trang 212.2.1.2 ảnh h-ởng của Đào Tiềm trong văn học nhà nho và trong sáng tác Nguyễn Khuyến
Đặc tr-ng chung của ng-ời ẩn sĩ trong văn học, phần lớn họ tự cho mình cái quyền chỉ đ-ợc sống với thiên nhiên, cỏ cây, chim muông, Nh-ng điều quan trọng nhất với ng-ời ẩn sỹ là bảo toàn "danh tiết"
Nguyễn Khuyến chọn con đ-ờng ở ẩn nh-ng ông "không thể tìm đ-ợc yên tĩnh, pháp lệnh của chính quyền thực dân trói buộc chặt chẽ, kinh tế hàng hoá gây sức ép nặng nề, nó v-ơn tay tới khắp, không bỏ sót chỗ nào cho ng-ời ẩn dật
"sống đời Toại, Hoàng", trốn tránh Bọn quan lại đầu hàng, không cam chịu sống nghèo Chúng đắc thế trở mặt, sống giả dối, đểu cáng, tàn ác Trong đó có cả lũ bạn cũ của ông Bọn đó vẫn tiếp xúc, đi lại với ông, dụ dỗ , đe dọa ông, xỏ xiên
ông, quấy rầy ông "{13, 42} Nh-ng ông đã ngoảnh mặt làm ngơ, không hợp tác với giặc
"Trong xã hội phong kiến tr-ớc đây , ng-ời ẩn dật là một mẫu ng-ời đẹp
Đẹp vì thái độ phản kháng với vua, vì sự chan hoà với những ng-ời nghèo khổ, vì lòng yêu mến thiên nhiên vì lòng ham muốn tự do" "Nh-ng ng-ời ẩn sỹ cũng nh- ng-ời trung nghĩa là sản vật có tính lịch sử" " Nguyễn Khuyến - ẩn sỹ phải
dằn vặt tr-ớc sự đổi thay nh- vậy Khi mới về, ông còn bông đùa hóm hỉnh:
"Ngọn gió không nh-ờng tóc bạc?" Nh-ng đến cuối đời ông muốn nếm trải cái
xót xa "thanh phong động cô trúc" (Nhân tặng nhục), gió vờn cây trúc nghiêng
ngả, ông trách thiên hạ quá ít ng-ời làm Bá Di Nh-ng khi nề nếp mới đã ổn
định, con trai yêu của nhà thơ cũng không chịu theo ông làm Bá Di" [13, 44]
Chúng ta bắt gặp trong thơ ông khi viết về nông thôn đã bộc lộ rõ khát
vọng làm ẩn sỹ, khi con đ-ờng hành đạo đã thực sự đi vào bế tắc ở bài "Xuân
nhật" ông viết:
" Là là mặt đất lớp s-ơng sa, ánh sáng ban mai vẫn mập mờ
Trang 22Hạt quất ngoài v-ờn chờ nứt vỏ,
Rò Tiên trong chậu chửa bung hoa
Đầm đìa lệ sớm cành tre rủ, Lạc lõng canh khuya, tiếng hạc qua
ấm chỗ chẳng buồn tung áo dậy, Cửa ngoài vẫn mở khách chừng th-a."
( Xuân nhật - Nguyễn Văn Tú dịch)
Mặc dù tác giả sống trong cảnh những ngày xuân đầy sức sống, nh-ng tâm hồn của tác giả không đ-ợc thanh thoát mà u buồn, sự trì trệ của cuộc sống không chịu vận động đã dẫn đến cảnh càng buồn hơn Qua đó chúng ta thấy đ-ợc cuộc sống nhàn nhã, ng-ng đọng đầy vắng lặng nh-ng có lúc lại thấy vui trong
sự cô tịch ấy, đúng nh- những ẩn sỹ x-a, vì vậy hình ảnh Đào Tiềm là một ám
ảnh lớn trong thơ văn Nguyễn Khuyến
"Bành trạch thái cúc tâm bất quai"
(Bành trạch hái cúc, lòng chẳng sai trái)
(Tuý ngâm)
Vậy ông đã tìm thấy ở Đào Tiềm một thú vui dân dã là chơi hoa đặc biệt là hoa cúc Khí tiết thanh cao của Đào Tiềm đ-ợc Nguyễn Khuyến rất thích và ông luôn mơ -ớc trở thành Đào Tiềm T- t-ởng, quan niệm về cuộc sống của Nguyễn Khuyến d-ờng nh- có sự t-ơng đồng với Đào Tiềm và ông đang cố gắng làm một
Đào Tiềm thực sự
2.2.2 Nguyễn Khuyến với khát vọng làm một "ông Đào" n-ớc Việt
2.2.2.1 Trong văn học Việt Nam hình t-ợng ng-ời ẩn sỹ xuất hiện rất nhiều, nh- Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ, Nguyễn Hàng Đó là những ẩn
sỹ bất mãn với cuộc đời ẩn sỹ Nguyễn Bỉnh Khiêm đã có lúc ra giúp n-ớc giúp
đời Nh-ng một thời gian làm quan nhà Mạc, thấy trong triều có nhiều chuyện
Trang 23trái tai gai mắt ông bèn trao mũ từ quan về sống ở Bạch Vân Bởi ông đã phủ nhận thực tại thối nát của triều đình phong kiến, ông bảo vệ đạo đức và phẩm chất con ng-ời Thơ ông mang tính nhàn tản nh-ng cũng đầy ý nghĩa tích cực Nguyễn Dữ cùng chí h-ớng với thầy học của mình làm tri huyện Thanh Toàn không quá một năm , ông cáo quan, về ở ẩn, từ đó "chân không b-ớc đến thị thành, mình không vào đến cung đình" ông sống cuộc đời ẩn sỹ nơi thôn dã Nguyễn Hàng đã từng sống ẩn dật nơi núi rừng Tuyên Quang, sáng tác của ông thể hiện một cách trung thực những sinh hoạt đời th-ờng và tâm trạng kẻ sỹ ẩn dật
Trở về với khát vọng muốn làm một ẩn sỹ, Nguyễn Khuyến đi tìm cái đẹp trong sáng, thanh cao, tĩnh lặng, đó là cái đẹp của nhân cách cao khiết, không v-ớng bận chút danh lợi thấp hèn Sau khi về Yên Đổ, v-ờn Bùi là nơi ông từng nguyện làm một ng-ời ẩn sỹ đúng theo nghĩa của nó Bởi khát vọng cùng với tâm trạng trở về nh- vậy của Nguyễn Khuyến mà ta bắt gặp trong thơ ông hình ảnh ng-ời ẩn sỹ - Nguyễn Khuyến là nhà nho ẩn dật quyết bảo vệ danh tiết Ông đã thả hồn nơi v-ờn quê, lắng cho nhân dân tr-ớc chính sách bóc lột của thực dân Pháp Chúng ta đọc bắt gặp ở Đào Tiềm một hình ảnh dù chết đói nh-ng cũng không chịu ăn r-ợu thịt của kẻ thù Đào Tiềm ở ẩn, tìm đ-ợc nơi giải toả tâm sự, khi về v-ờn ông đã hăng say lao động, ông nguyện tìm nguồn vui ở nơi luống cúc Ông tự lao động chân tay để nuôi sống mình Nguyễn Khuyến cũng ao -ớc
đ-ợc nh- vậy
Nguyễn Khuyến từng yêu cúc, ông trồng cúc giống nh- Đào Tiềm, ông tìm cách để giữ gìn "danh tiết "của ng-ời ẩn sỹ Ông đã gửi bầu tâm sự vào trang thơ bất hủ Ông ra làm quan không phải không muốn giúp dân, mà đây là hành
động phản kháng bất hợp tác với giặc ở Đào Uyên Minh cũng từng có khát vọng
"che chở muôn dân" nh-ng điều đó đã không thực hiện đ-ợc Đây là điểm gặp gỡ
rất lớn của hai nhà văn này Chính Đào Tiềm cũng từng là con ng-ời ở ẩn nên cũng có bầu tâm sự đ-ợc gửi gắm lại ở ruộng v-ờn qua việc sáng tác văn ch-ơng
Trang 242.2.2.2 Nguyễn Khuyến là một nhà nho và ông đã từng là một nhà nho d-ới triều
đại nhà Nguyễn Nh-ng ông không làm quan trọn đời mà ông đã cáo lui về ở ẩn Vì ông không muốn làm tay sai cho giặc để hại dân Thơ ông nói nhiều đến
ng-ời ẩn sỹ- những ng-ời mà ông rất phục Ông đã từng có -ớc mơ thành ẩn sỹ
Lý Bạch, Nguyễn Hành Khiển (Nguyễn Trãi), Chu Văn An, Đào Chu Công, Bá
Di, Đạo Chích, Đặc biệt là Đào Tiềm một ẩn sỹ mà Nguyễn Khuyến từng mơ -ớc Sự xuất hiện hình ảnh các ẩn sỹ trong thơ Nguyễn Khuyến chiếm một tỷ lệ thật cao Sau đây là :
Bảng thống kê tần số xuất hiện hình t-ợng ẩn sỹ trong thơ Nguyễn Khuyến:
Tên ẩn sỹ Tần số xuất hiện (lần) Chiếm tỷ lệ (%)
Trong tổng số 86 bài chữ Nôm và 267 bài chữ Hán ta thấy hình ảnh ẩn sỹ
Đào Tiềm xuất hiện rất nhiều, ít nhất đã có tới 13 bài trên tổng số 353 bài đề cập
đến hình ảnh Đào Tiềm, chứng tỏ rằng với Nguyễn Khuyến ẩn sỹ Đào Tiềm là
Trang 25một mẫu chuẩn mực nhất Đào Tiềm là một tr-ờng hợp rất đặc biệt, nhìn chung trong tổng số tỷ lệ % thì hình ảnh ẩn sỹ Đào Tiềm xuất hiện chiếm 6,4%, đó là một con số t-ơng đối lớn Mặc dù có lần ông rất yêu thích ẩn sỹ Đào Chu Công, Nguyễn Trãi, Phạm Lãi, Huyền án Tiên Sinh, Gia Cát L-ơng nh-ng chỉ chiếm tỷ
lệ 0,4 - 0,8% trong tổng số 267 bài thơ chữ Hán Điều đó nói lên sự gặp gỡ trong cái nhìn về cuộc sống của một nhà ẩn sỹ Đến với hình ảnh ẩn sỹ Lý Bạch, Tr-ơng Hán Siêu, Bá Di, Bùi Ân Niên chúng ta cũng quý trọng nhân cách của những ẩn sỹ này Nh-ng với Đào Tiềm thì số lần xuất hiện có lớn hơn, theo khảo sát cụ thể của chúng tôi nh- sau:
Bảng thống kê hình ảnh ẩn sỹ Đào Tiềm xuất hiện trong thơ Nguyễn Khuyến
TT bài thơ
theo NKTP
Tên bài thơ và vị trí câu trích
Bành Trạch Cầm xoang ngâm tr-ớc ghế
Ôn công r-ợu nhạt chuốc chiều xuân (NKTP, tr 110)
Bành Trạch: Tên huyện cũ thuộc tỉnh Giang Châu Trung Quốc Đây chỉ Đào Tiềm đời Tấn làm quan huyện lệnh Bành Trạch bỏ về ở ẩn (NKTP, tr 111)
43 Vịnh mùa thu
Câu 7 câu 8
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút
Trang 26Uyên Minh tam kính hoàn
(NKTP, tr 277)
Xin thả cho Uyên Minh về với ba luống cúc
(NKTP, tr 280)
Bành Trạch từ lâu thích cảnh nhàn mới trở về
Qui khứ lai hề, hồ bất quy
(NKTP, tr 290)
Bành Trạch gẩy
đàn không dây ngâm câu thơ cú
về đi, sao không
về đi
(NKTP, tr 292)
Bành Trạch từ Đào Tiềm Câu 11 lấy nguyên văn: ở câu đầu của bài "Quy khứ lai từ" của Đào Uyên Minh:
"Qui khứ lai hề, điền viên t-ơng vu, hồ bất qui!" (Về đi thôi, ruộng v-ờn sắp hoang vu cả rồi, sao không
108 Xuân nguyên
hữu cảm I
(Cảm nghĩ đầu
xuân) Câu 5
Vô lịch trá tri th- giáp tý
(NKTP, tr 326)
Không có lịch, biết đâu mà ghi
đ-ợc "Giáp tý"
NKTP, tr 327)
Giáp tý: hai chữ đứng đầu can và chi dùng để ghi năm, tháng, hàng ngày theo âm lịch Đào Tiềm đời Tấn, khi Tấn mất, Tống lên thay,
Đào Tiềm không dùng niên hiệu nhà Tống mà chỉ tính Giáp tý và ghi năm, tháng thời tác giả m-ợn lịch đó
mà chỉ vaò thân thế của mình N-ớc mất, vua không còn ban lịch nữa, không biết
đâu mà ghi Giáp, Tý đ-ợc (NKTP, 327)
Trang 27(NKTP, tr 310)
Nam sơn: thơ ẩm tửu (uống r-ợu) của Đào Tiềm, có câu:
"Thái cúc đông l-, du nhiên kiến nam sơn" (hái hoa cúc d-ới dậu đông lòng phơi phới thấy núi nam) (tr 310)
(NKTP, tr 382)
Vì thế chỉ mến quan tể đất Bành Trạch
(NKTP, tr 438)
Bành Trạch x-a chỉ thân với một cây đàn không dân
(NKTP, tr 439)
Đàn không dây: chuyện
Đào Tiềm, ông kể ông không hiểu âm luật, nh-ng vẫn có một cây đàn không dây, lúc uống r-ợu thích, lại mang nóa ra vỗ về để ngụ ý (NKTP, tr 439)
239 Ca tịch
(Chầu hát)
câu 3
Khứ tấn dĩ -ng liên Tịnh Tiết
Tịnh Tiết: chỉ Đào Tiềm,
đây là tên thuỵ ng-ời ta đã
đặt cho ông sau khi mất Câu này ứng với câu 6 để nói về Đào Tiềm, ở đây tác giả có ý tự ví mình với Đào Tiềm khi từ quan về ở ẩn (NKTP, tr 505)
241 Tuý ngâm
(Thơ say)
Câu 6
Bành trạch hái cúc tâm bất quai
(NKTP, tr 508 )
Bành Trạch hái cúc , lòng chẳng sai trái
(NKTP , tr 508
Bành Trạch hái cúc: Đào Tiềm, ng-ời đời Tấn làm chức tề huyện Bành Trạch, khi bỏ quan về ở ẩn, thích trồng hoa cúc
Bành Trạch ph-ơng từ quy Thả tài tam kính
(NKTP, tr 512, 513)
Bành Trạch khi
từ quan về cũng còn trồng ba luống cúc
(NKTP, tr 514)
Bành Trạch: (giải thích nh- bài: Trở về v-ờn cũ)