1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hiện tượng phản tỉnh trong văn học nửa sau thế kỷ xix

135 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hiện Tượng Phản Tỉnh Trong Văn Học Nửa Sau Thế Kỷ XIX
Tác giả Vũ Thị Ngọc Tú
Người hướng dẫn TS. Biện Minh Điền
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lí Luận Văn Học
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ Ngữ Văn
Năm xuất bản N/A
Thành phố N/A
Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HAY LÀ TIẾNG NÓI TỰ TRÀO ĐẪM NƯỚC MẮT TRONG THƠ VĂN NGUYỄN K HUYẾN, TRẦN TẾ XƯƠNG: Chương 3: Hiện tượng phản tỉnh và những đóng góp độc đáo của văn học nửa sau thế kỷ XIX cho lịch sử

Trang 1

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

VŨ THỊ NGỌC TÚ

HIỆN TƯỢNG PHẢN TỈNH TRONG VĂN HỌC NỬA SAU THẾ KỶ

XIX

Chuyên ngành: Lí luận văn học

Mã số : 60.22.32

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học :

TS BIỆN MINH ĐIỀN

Trang 2

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi, giới hạn của đề tài 3

6 Đóng góp và cấu trúc của luận văn

Chương 1: Cơ sở xã hội - thẩm mỹ của hiện tượng phản tỉnh trong

văn học nửa sau thế kỷ XIX

1.1 Bi kịch của dân tộc trước cuộc xâm lăng của chủ nghĩa thực

dân phương Tây

1.2 Tấn bi-hài kịch của phong kiến Việt Nam ở chặng đường

2.1 “Lại cam thẹn với non sông,

Cứu thời, hai chữ luống trông thuổ nào?”

(HAY LÀ NHỮNG CÂU HỎI LỚN VỚI NỖI ĐAU VÒ XÉ TRONG THƠ VĂN NGUYỄN ĐÌNH

CHIỂU)

2.2 “Tướng môn riêng thẹn với anh hùng"…

(HAY LÀ NIỀM DAY DỨT VÌ TRÁCH NHIỆM KHÔNG THÀNH CỦA CÁC NHÀ VĂN CẦN

VƯƠNG):

2.3 “Nghĩ mình cũng gớm cho mình ”, “Rằng khôn? rằng

dại? lại rằng ngu? (HAY LÀ TIẾNG NÓI TỰ TRÀO ĐẪM NƯỚC MẮT

TRONG THƠ VĂN NGUYỄN K HUYẾN, TRẦN TẾ XƯƠNG):

Chương 3: Hiện tượng phản tỉnh và những đóng góp độc đáo của

văn học nửa sau thế kỷ XIX cho lịch sử văn học dân tộc

3.1 Một cái nhìn mới về con người và thời đại với tinh thần

phản tỉnh nghiêm khắc và tỉnh táo

3.2 Những đặc sắc về bút pháp, giọng điệu và ngôn ngữ nghệ

thuật thể hiện

Trang

Trang 3

3

Kết luận

Tài liệu tham khảo

Trang 4

4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Văn học nửa sau thế kỷ XIX - một giai đoạn có vai trò và vị trí

quan trọng trong lịch sử văn học dân tộc Đây là giai đoạn cuối cùng của thời

kỳ văn học được sáng tác dưới sự chi phối của ý thức hệ phong kiến, thuộc loại hình văn học trung đại, nó có những nét đặc thù khác hẳn với các giai đoạn trước đó Hiện còn rất nhiều vấn đề về nội dung, tư tưởng; về hình thức ngôn ngữ, thể loại, về các khuynh hướng cũng như các tác gia, tác phẩm tiêu biểu.v.v… của văn học giai đoạn này đặt ra cho giới nghiên cứu phải tìm hiểu, giải quyết

1.2 Trong rất nhiều vấn đề chưa được nghiên cứu hoặc nghiên cứu

chưa đầy đủ ấy (như đã nêu trên), theo quan sát của chúng tôi, hiện tượng phản tỉnh trong văn học nửa sau thế kỷ XIX là một trong những vấn đề đáng quan tâm nhất Có thể nói hiện tượng phản tỉnh trong văn học Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX là một hiện tượng mới mẻ, có ý nghĩa xã hội - thẩm mỹ sâu sắc nhưng chưa được chú ý bao nhiêu, chưa được nghiên cứu chu đáo

1.3 Nghiên cứu vấn đề này có ý nghĩa khoa học cấp thiết trên nhiều

phương diện

Thứ nhất, nhằm để bổ sung những khiếm khuyết trong nghiên cứu về

văn học nửa sau thế kỷ XIX, nhất lại là vấn đề mang tính đặc thù độc đáo của một giai đoạn văn học

Thứ hai, để xác định thêm những đóng góp xuất sắc của văn học nửa

sau thế kỷ XIX cho lịch sử văn học dân tộc

Kết quả nghiên cứu của luận văn cũng có thể được dùng làm tài liệu tham khảo, vận dụng vào giảng dạy văn học ở nhà trường trung học phổ thông, trước hết là cho chính tác giả luận văn

Trang 5

5

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

2.1 Trước hết, về văn học nửa sau thế kỷ XIX với tư cách là một quá

trình (một giai đoạn) văn học, cũng đã có một số công trình quan tâm Có thể

kể tên một số công trình têu biểu: Lịch sử văn học Việt Nam nửa sau thế kỷ

XIX của Nguyễn Lộc (Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà nội,

1976) [19], Lịch sử văn học Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX của tập thể tác giả

Đại học Sư phạm I (Lê Trí Viễn, Nguyễn Đình Chú, Phan Côn…, Nxb Gáo

dục, Hà Nội 1978), Lời giới thiệu của Trần Văn Giàu trong Hợp tuyển thơ văn

yêu nước nửa sau thế kỷ XIX, Nxb Văn học, 1976 [11] Đây chủ yếu là những

giáo trình lịch sử văn học dùng cho sinh viên các trường Đại học, lại viết cách đây vài ba thập kỷ, nên không tránh khỏi những hạn chế, nhất là hạn chế trong phương pháp nghiên cứu (các tác giả chủ yếu vận dụng phương pháp lịch sử, phương pháp xã hội học) Nhìn văn học nửa sau thế kỷ XIX trên toàn bộ tiến trình văn học dân tộc với cái nhìn mới hơn, rất đáng kể là các tác giả: Trần

Đình Hượu với Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại [14], một số tác giả trong các công trình tập thể: Nguyễn Đình Chiểu về tác gia và tác phẩm [27], Nguyễn Khuyến về tác gia và tác phẩm [29]…

2.2 Riêng về vấn đề mà đề tài này (tức luận văn của chúng tôi) quan

tâm, cũng đã có một vài công trình ít nhiều có nói đến nhưng còn rất sơ lược (chỉ ít dòng mà thôi) Có thể kể đến một số tác giả với một số công trình

không chuyên về vấn đề này: Trần Đình Hượu và Lê Chí Dũng với Lịch sử

văn học giai đoạn giao thời (1900 – 1930) [13] Ở đây, Trần Đình Hượu có

nói đến cái cười tự trào trong thơ văn Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương

Phan Ngọc trong cuốn "Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều"

[23] nhằm để làm nổi bật đặc điểm riêng của văn học thời đại Nguyễn Du (giai đoạn nửa sau thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX), ông đối sánh với văn

Trang 6

6

học giai đoạn sau đó, và có một nhận xét khái quát rằng giai đoạn văn học nửa sau thế kỷ XIX là giai đoạn tự trào [23]…

Còn nghiên cứu về các tác gia tiêu biểu của văn học giai đoạn này thì

đã có khá nhiều công trình, tiêu biểu như Nguyễn Huệ Chi với “Mấy vẻ mặt

thi ca Việt Nam” [4], Nguyễn Hữu Sơn, Biện Minh Điền Nguyễn Phạm Hùng

trong cuốn “Nguyễn Khuyến về tác gia và tác phẩm” có đi sâu phân tích, luận

giải hiện tượng tự trào, tự xem xét mình của Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương trên một số biểu hiện như ý thức về cái tôi tác giả, về đối tượng nhân

vật chủ thể trong sáng tạo văn học… Có thể thấy như các tác giả Nguyễn

Khuyến về tác gia và tác phẩm rằng: “trên hành trình tư tưởng thẩm mỹ của

văn học Việt Nam trung đại ở giai đoạn cuối cùng, Nguyễn Khuyến là hiện tượng tiêu biểu cho sự vận động của quy luật cảm hứng sáng tạo từ yêu nước mang tính chất sử thi đến trào phúng, phản tỉnh thực tại" [8]

Có thể nói hiện tượng phản tỉnh chỉ mới được đề cập ở một vài nét (chủ yếu ở biểu hiện tự trào) Nhìn chung vấn đề này vẫn còn là vấn đề mới mẻ, cần phải được đi sâu nghiên cứu

2.3 Luận văn là công trình đi sâu nghiên cứu vấn đề này với tư cách

như một vấn đề chuyên biệt và với cái nhìn hệ thống, toàn diện

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi, giới hạn của đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là hiện tượng phản tỉnh

trong văn học nửa sau thế kỷ XIX

3.2 Phạm vi và giới hạn của đề tài

Đề tài giới hạn chỉ đi sâu nghiên cứu tìm hiểu hiện tượng phản tỉnh trong văn học nửa sau thế kỷ XIX, chủ yếu qua những trường hợp tác giả tiêu biểu mang tính quy luật của văn học cả giai đoạn (Nguyễn Đình Chiểu - tác gia mở đầu và tiêu biểu nhất cho khuynh hướng văn học yêu nước chống Pháp; các nhà văn Cần Vương, tiêu biểu như Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn

Trang 7

7

Quang Bích, Phan Đình Phùng; các tác gia xuất sắc của khuynh hướng văn học hiện thực- trào phúng: Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương)

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Xác định cơ sở xã hội - thẩm mỹ của hiện tượng phản tỉnh trong văn học nửa sau thế kỷ XIX

4.2 Đi sâu phân tích, luận giải những nội dung đặc sắc của hiện tượng

phản tỉnh trong văn học nửa sau thế kỷ XIX

4.3 Xác định vai trò ý nghĩa và những đóng góp quan trọng của văn

học nửa sau thế kỷ XIX cho lịch sử văn học dân tộc qua hiện tượng phản tỉnh

Cuối cùng rút ra một số kết luận về đặc sắc của văn học nửa sau thế kỷ XIX qua vấn đề mà luận văn khảo sát, tìm hiểu

5 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu vấn đề này luận văn vận dụng một số phương pháp chính: phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích- tổng hợp, phương pháp cấu trúc- hệ thống, phương pháp so sánh- loại hình

6 Đóng góp và cấu trúc của luận văn

6.1 Đóng góp của luận văn

Lần đầu tiên hiện tượng phản tỉnh trong văn học nửa sau thế kỷ XIX được đi sâu tìm hiểu một cách có hệ thống, toàn diện Cũng từ đây hy vọng luận văn sẽ góp phần nhỏ vào việc khám phá, tìm hiểu những đặc sắc trong cách cảm nhận và thể hiện hiện thực cuộc sống qua hiện tượng phản tỉnh của các tác giả một giai đoạn văn học đặc thù

Luận văn cũng có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc dạy – học văn học trong nhà trường phổ thông

6.2 Cấu trúc của luận văn

Trang 8

8

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung chính của luận văn được

triển khai trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở xã hội - thẩm mỹ của hiện tượng phản tỉnh trong văn

học nửa sau thế kỷ XIX

Chương 2: Những nội dung phản tỉnh đặc sắc của văn học nửa sau thế

kỷ XIX

Chương 3: Hiện tượng phản tỉnh và những đóng góp độc đáo của văn

học nửa sau thế kỷ XIX cho lịch sử văn học dân tộc

Cuối cùng là Tài liệu tham khảo

Trang 9

9

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ XÃ HỘI - THẨM MỸ CỦA HIỆN TƯỢNG PHẢN TỈNH

TRONG VĂN HỌC NỬA SAU THẾ KỶ XIX

1.1 Bi kịch của dân tộc trước cuộc xâm lăng của chủ nghĩa thực

dân phương Tây

1.1.1 Sự xâm lược của thực dân Pháp và cuộc kháng chiến chống

xâm lược của nhân dân ta (HAY LÀ CUỘC ĐỤNG ĐẦU LỊCH SỬ GIỮA “TÀU ĐỒNG”, “ĐẠI BÁC” VÀ “RƠM CON CÚI”, “GẬY TẦM VÔNG”).

Tiếng súng bắn vào cửa biển Đà Nẵng ngày 31 tháng 8 năm 1858 của thực dân Pháp không những mở màn cho cuộc xâm lược của chúng mà còn báo hiệu những biến chuyển lớn lao (theo hướng tiêu cực) trong lịch sử Việt Nam Việc thực dân Pháp xâm lược nước ta là một sự kiện lịch sử rất mới, bởi đây là một kẻ thù hoàn toàn khác những kẻ thù trước đây đã đến xâm lược dân tộc Thực dân Pháp lúc bấy giờ có đủ tư cách đại diện cho nền công nghiệp tư sản cận đại (ngay từ những năm 30 của thế kỷ XIX, Pháp đã đi trước Anh trên con đường đại công nghiệp…) Sự có mặt của chủ nghĩa thực dân trên đất nước ta đã gây ra những đảo lộn chưa từng có trong đời sống dân tộc, trên nhiều phương diện kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội

Điều đáng nói trước hết là cuộc xâm lược của thực dân Pháp đã tạo nên một sự phân hoá lớn trong trạng thái tâm lý các giai cấp, trước hết là trong giai cấp phong kiến lãnh đạo mà đứng đầu là triều đình nhà Nguyễn Một không khí hoảng loạn bao trùm lấy triều đình, vua Tự Đức thì lúng túng do

dự, bầy tôi phần lớn thì sợ sệt, tham sống sợ chết và rồi cứ trượt dần mãi trên con đường thoả hiệp, đầu hàng và thất bại chủ nghĩa Trong triều đình hình thành nhiều phái, có phái chủ hoà, có phái chủ chiến, có phái chờ cơ hội đợi thời, tự an ủi bằng triết lý tuỳ thời, tự lừa dối mình bằng cái nghĩa quân thần lạc lõng Có thể nói giai cấp phong kiến lãnh đạo mà đứng đầu

Trang 10

10

là triều đình nhà Nguyễn ngay từ những năm 60 của thế kỷ XIX đã bỏ rơi vai trò dân tộc, vị trí dân tộc của mình

Triều đình nhà Nguyễn đã "vén ống tay áo" ký hết hiệp ước này đến

hiệp ước khác (thực chất đó là những hàng ước nhục nhã) Cho đến hiệp ước Patenotre (1884), chúng đã dâng hoàn toàn nước ta cho giặc Từ đây chế độ thực dân nửa phong kiến hình thành Chế độ ấy ngày một đầy rẫy những xấu

xa, đồi bại, lai căng, phản dân tộc Đó là thời những tên bồi bếp đắc lực được Pháp cất nhắc đến chức tổng đốc, những gái đĩ me tây được phong hàm quan tỉnh, những tên đao phủ đầm đìa máu nhân dân trở thành cột trụ triều đình, còn những người yêu nước thương nòi thì bị chém giết tù đày, phải trốn tránh lẩn lút Trong tình hình như vậy, tất nhiên đạo đức Khổng,

Mạnh bị tấn công và dần dần đổ vỡ, "phá sản" Quang cảnh xã hội đảo

điên đầy lố lăng bỉ ổi cuối thế kỷ XIX là biểu hiện cụ thể cho sự đổ vỡ ấy Phải trải qua gần 40 năm thực dân Pháp mới đặt được ách thống trị trên đất nước ta Chúng lần lượt chiếm ba tỉnh miền Đông, rồi ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ Nam Kỳ là đất bị chiếm trước tiên, những chính sách áp bức bóc lột cũng như chính sách văn hoá nô dịch, thực dân đem thi hành ở đấy sớm hơn Trung và Bắc Kỳ, nhưng nói chung những biến chuyển về kinh tế, trong nước mới là bắt đầu Chỉ từ năm 1897 trở đi thực dân Pháp bước vào thời kỳ tổ chức và khai thác quy mô, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa dưới hình thức thuộc địa mới dần dần hình thành, song song với những biện pháp chính trị, chính sách văn hoá nô dịch mới được thực dân đẩy mạnh nhằm mục đích củng cố nền thống trị của chúng

Trong khi giai cấp phong kiến đi vào con đường thoả hiệp đầu hàng thì vai trò nhân dân lại sáng ngời trên vũ đài lịch sử Nhân dân Việt Nam vốn có truyền thống yêu nước, được tôi luyện qua nhiều cuộc chiến đấu chống ngoại xâm suốt hàng nghìn năm lịch sử, nên rất nhạy bén về cảm quan yêu nước,

Trang 11

11

sẵn sàng có giặc là đánh, không sợ hy sinh, không tiếc xương máu Mặc dù trong cuộc kháng chiến chống Pháp, nhân dân ta chưa phải là người nắm quyền lãnh đạo tất cả các cuộc kháng chiến chống Pháp nhưng họ tiêu biểu cho tinh thần đấu tranh bền bỉ, gan dạ, tiêu biểu cho khí phách, bản lĩnh của dân tộc

Tinh thần anh dũng bất khuất, tinh thần chịu thương chịu khó của dân tộc thì đúng là của nhân dân lao động Người nông dân vốn đã từng đi theo Trần Quốc Tuấn, Lê Lợi, Nguyễn Huệ ngày xưa đánh đuổi ngoại xâm thì đến giai đoạn này, trước nguy cơ mất nước, họ vì “mến nghĩa mà làm quân chiêu mộ”, cùng những phần tử ưu tú của giai cấp phong kiến đứng lên chống Pháp đến cùng Một cuộc đụng đầu lịch sử chưa từng có diễn ra: cuộc đụng đầu giữa “rơm con cúi, lưỡi dao phay , gậy tầm vông” với “tàu thiếc, tàu đồng, đại bác”, “súng giặc đất rền, lòng dân trời tỏ”…Những nghĩa quân Cần Giuộc

“đạp rào lướt tới coi giặc cũng như không” là hiện thân sức mạnh quật khởi của dân tộc trước cơn thử lửa ác liệt Có một hào khí Đồng Nai tựa như hào khí Đông A thuổ trước (thế kỷ XV), nhưng … “Rơm con cúi, lưỡi dao phay” chọi với “tàu thiếc, tàu đồng, đại bác”, “lòng dân” chọi với “súng giặc”, khó

mà tránh khỏi bi kịch

Ngay từ những ngày đầu xâm lược, thực dân pháp đã gặp phải sự kháng

cự quyết liệt của nhân dân ta Khi thực dân Pháp đánh vào Đà Nẵng, trong khi triều đình còn lúng túng thì nhân dân tỏ rõ ý chí quyết tâm chống giặc Ở địa phương Phạm Gia Vĩnh đã lãnh đạo nghĩa binh sát cánh với với quân đội triều đình chống lại cuộc tấn công của giặc từ bán đảo Sơn Trà…Ở nhiều nơi tại Nam Bộ, nhân dân tự đắp đê để cản phá tàu giặc, tự đốt nhà cửa, dời đi nơi khác, bất hợp tác với giặc Phong trào kháng Pháp nổ ra ở khắp nơi khi Pháp chiếm Gia Định Ở Tân An có Trương Định, Đồng Tháp Mười có Thiên Hộ Dương

Trang 12

12

Thực dân Pháp đánh ra miền Bắc và miền Trung thì phong trào chống giặc ở đây cũng không khác gì ở Nam Bộ Thực dân Pháp đánh Hà Nội, nhân dân Hà Nội chiến đấu anh dũng như nhân dân Gia Định Trong hàng ngũ trí thức cũng đã có nhiều tấm gương chiến đấu dũng cảm và hy sinh vì sơn hà xã tắc Chân lý nhân dân làm nên lịch sử với tinh thần thà chết không chịu mất nước, thà chết không chịu nô lệ có thể nói chưa bao giờ được phát huy cao độ như lúc này Tổng đốc Nguyễn Tri Phương bị thương nặng ở bụng nhịn ăn mà chết Tổng đốc Hoàng Diệu tự thân dẫn tướng sĩ xông lên thành cản giặc, khi thành vỡ, đã thắt cổ tự tử, không để rơi vào tay kẻ thù…

Chính phong trào kháng Pháp của nhân dân đã có sức thu hút các văn thân, sĩ phu đứng về phía đại nghĩa của dân tộc mà kháng chiến dưới danh nghĩa Cần Vương, và họ đã tạo nên một phong trào Cần Vương bi tráng Có nhiều cuộc khởi nghĩa, tiêu biểu như các cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng ở Hà Tĩnh, Nguyễn Xuân Ôn, Lê Doãn Nhạ ở Nghệ An, Nguyễn Quang Bích ở vùng Tây Bắc… Chính các vị văn thân sĩ phu này sẽ là những tác gia tiêu biểu của văn học giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX

Tóm lại, thực dân Pháp ngay từ bước đầu đã bị nhân dân ta kháng cự quyết liệt Nhân dân ta yêu nước và hết sức anh dũng, đã chứng tỏ được khí phách và bản lĩnh kiên cường, nhưng thế nước không sao cứu vãn được Đến năm 1898, thực dân Pháp về cơ bản đã hoàn thành công cuộc bình định An Nam, chuẩn bị cho công cuộc khai thác thuộc địa Nửa sau thế kỷ XIX là thời hào hùng và bi thương, vĩ đại và khổ nhục của dân tộc Bối cảnh ấy chi phối sâu sắc đến văn học giai đoạn này, nhất là khi các tác giả phần lớn là những người trong cuộc, hoặc có chứng kiến, nếm trải bi kịch của dân tộc, của thời đại

1.1.2 Một thời đại bi - hùng với câu hỏi lớn: “Bao thuở đem về cơ

nhất thống?” (HAY TÂM LÝ LO ÂU VÀ HY VỌNG BAO TRÙM THỜI ĐẠI).

Trang 13

13

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta kéo dài suốt nửa sau thế kỷ XIX, tuy thất bại nhưng bảo vệ được danh dự phẩm giá dân tộc, chứng tỏ được tinh thần bản lĩnh và khí phách của dân tộc Tiếng súng Cần Vương tắt dần, cuộc chiến đấu không có phương hướng, nhưng lòng yêu nước của nhân dân ta không bao giờ tắt Tuy nhiên sự thất bại

đó đã tác động đến trạng thái tâm lý các giai cấp trong xã hội đặc biệt là tầng lớp trí thức phong kiến Họ là những người thấy rõ quyền lợi của phong kiến cũng chỉ là quyền lợi làm tay sai cho đế quốc Họ tiếp thu truyền thống yêu nước của dân tộc, gần gũi nhân dân, hăng hái cùng với nhân dân chống giặc cứu nước Họ đã chiến đấu dũng cảm, không sợ hy sinh, không tiếc xương máu Nhưng vốn xuất thân từ một giai cấp suy tàn lại chiến đấu trong hoàn cảnh nhiều khó khăn gian khổ cho nên họ không tránh khỏi có tâm lý thất bại chủ nghĩa

Phong trào Cần Vương thất bại kéo theo bi kịch của một lớp nhà nho yêu nước Lớp nhà nho khẳng khái khí phách, dám đứng lên chống Pháp bằng súng, bằng gươm như Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Quang Bích, Phan Đình Phùng có lúc cũng không tránh khỏi bi quan, chán nản Nhiều câu hỏi lớn mang ý nghĩa thời đại sâu sắc xuất hiện trong thơ văn họ:

Bao thuở đem về cơ nhất thống?

(Phan Văn Trị);

Bao giờ nhật nguyệt vầy gương sáng

Bốn biển âu ca hiệp một nhà

(Nguyễn Đình Chiểu);

Thành Linh Châu đã mất Cửa nhà Tống ai canh?

(Trần Bích San);

Tây dương phiến loạn vì đâu,

Trang 14

Nước nhà sao cứ rối ren hoài?

Múa giáo khua chèo được mấy ai?

(Nguyễn Xuân Ôn);

Bao giờ biển cả hết phong ba? (Kỳ Đồng);

Khắc khoải đưa sầu giọng lửng lơ

Âý hồn Thục Đế thác bao giờ?

Có phải tiếc xuân mà đứng gọi?

Hay là nhớ nước vẫn nằm mơ?

(Nguyễn Khuyến).v.v…

Đấy là những câu hỏi - những nỗi niềm tâm sự nhức nhối, bi thương, không khỏi phần khắc khoải nhưng đầy trách nhiệm Họ càng bộc lộ nỗi đau khi nhìn thấy thảm cảnh đồng bào bị dày xéo dưới gót giặc :

Dân đói kêu trời xao xác nhạn, Quân gian chật đất rộn ràng ong

(Thơ tuyệt mệnh - Phan Đình Phùng)

Đó còn là nổi đau khi nhìn thấy thời cục không tài nào vãn hồi được, sức mình có hạn mà thế giặc vô cùng:

Nhà lớn một cây khôn chống đỡ Thông già tuyết lạnh đứng chơi vơi

(Thơ tuyệt mệnh - Nguyễn Duy Hiền)

Một bộ phận nhà nho không có dũng khí cầm gươm trực tiếp đánh giặc như Nguyễn Khuyến, Tú Xương nhưng bất hoà sâu sắc với chế độ thực dân

Trang 15

15

phong kiến thì nỗi đau lại càng lớn, họ càng phê phán, nguyền rủa mình… Đằng sau những vần thơ thể hiện tâm sự của các nhà nho yêu nước còn là một nỗi buồn rũ váng vào tâm hồn người trí thức sau cơn chớp bể mưa nguồn, xót xa trước cảnh chợ chiều của xã hội phong kiến, nuối tiếc một thời đã qua của dân tộc Đó là nỗi đau của các nhà nho yêu nước khi đứng trước vận mệnh của tổ quốc đang rên xiết trong tay kẻ thù, bản thân mình thì bó tay bất lực Bi kịch lớn nhất của nhà nhà lúc này là sự khủng hoảng về lý tưởng Sự sụp đổ của cả một hệ tư tưởng đã từng nâng đỡ tầng lớp nho sỹ trong bao nhiêu đời khiến bi kịch của họ càng nặng nề thêm

1.2 Tấn bi - hài kịch của một hình thái lịch sử ở vào giai đoạn

“cuối mùa quân chủ - đầu mùa thực dân”

1.2.1 Sự khủng hoảng toàn diện của phong kiến Việt Nam ở

chặng đường cuối cùng

Xã hội phong kiến Việt Nam đến giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX lâm vào khủng hoảng toàn diện, trước hết là khủng hoảng về ý thức hệ tư tưởng và văn hoá Tư tưởng chi phối xã hội lúc này nói chung vẫn còn là tư tưởng trung quân, nhưng chữ “trung” đã mất hết ý nghĩa của nó, chữ “trung quân” mâu thuẫn sâu sắc với chữ “ái quốc” Nho giáo dạy “thần sự quân dĩ trung”, nhưng

“quân” đã không minh thì “thần” khó mà có thể giữ lòng trung Thực tế bấy giờ cho thấy nhân dân chống vua (loại vua nhu nhược, đi ngược lại

quyền lợi của dân tộc) đã đành (phen này quyết chống cả triều lẫn Tây),

nhà nho cũng chống vua một cách mãnh liệt bằng cả hành động và sáng tác thơ văn như Trương Định, Đoàn Trưng, Phan Văn Trị Nhà nho đã xem vua chẳng ra gì chứng tỏ chữ "trung" đã mất giá một cách nghiêm trọng, ý thức hệ nho giáo đã rất lung lay Đặc biệt sau thất bại của phong trào Cần Vương thì những nhà nho yêu nước xem đó như một thảm cảnh, một bi kịch chua chát đớn đau Cũng trong giai đoạn lịch sử này cả dân

Trang 16

16

tộc phải chứng kiến một thực trạng bi đát khi triều đình nhà Nguyễn từng bước nhượng bộ thực dân Pháp và tự biến mình thành một đám hát chèo, một đám bù nhìn của thực dân Pháp, là con rối trên trường chính trị mặc cho bọn thực dân điều khiển đường đi nước bước Cả dân tộc phải chứng kiến tấn bi - hài kịch của phong kiến Việt Nam ở chặng đường cuối cùng như một khái quát nghệ thuật sắc sảo, thâm thuý của Nguyễn Khuyến của:

Vua chèo còn chẳng ra gì Quan chèo vai nhọ khác chi thằng hề

(Lời vợ anh phường chèo)

Nho giáo truyền sang nước ta từ thời Bắc thuộc, từng giữ vai trò độc tôn của ý thức hệ xã hội suốt một thời kỳ dài (khoảng từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XIX) Nhưng đến cuối thế kỷ XIX, tư tưởng Tây phương tràn vào làm lay động những tư tưởng cũ tới gốc rễ, Nho giáo không còn giữ địa vị quan trọng như trước nữa Một vấn đề đặt ra cho các nhà nho lúc này là: khi vua đi ngược lại quyền lợi dân tộc thì bề tôi có nhất thiết phải trung với vua nữa không, và trong trường hợp đó thì bề tôi phải làm sao đây? Không ít kẻ vẫn khư khư giữ cái

tôn chỉ "không nỡ bỏ vua" dẫu vua như thế nào! Song cũng có không ít người

thấy được rằng khi có mâu thuẫn giữa trung vua với yêu nước, thì phải đặt nước lên trên vua, khi vua không tận trung với nước thì bề tôi không bắt buộc phải tận trung với vua Cuộc đấu tranh giữa tư tưởng yêu nước truyền thống

và tư tưởng trung quân Nho giáo diễn ra ở giai đoạn cuối thế kỷ XIX tỏ ra rất quyết liệt Ngày càng có nhiều sĩ phu nghiêng về tư tưởng yêu nước nhưng thực ra họ cũng chưa thể vứt bỏ chữ trung quân, vấn đề là phải tìm được sự thống nhất có thể được giữa trung quân và ái quốc Với tinh thần ấy, Nguyễn Đình Chiểu viết:

Hai chữ cương thường giằng cả nước

Một câu trung hiếu dựng muôn nhà

Trang 17

17

Hay: Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc…Sống thờ vua, thác cũng thờ

vua (Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc)

Phạm Văn Nghị khẳng định:

Đạo dày trời đất, chữ cương thường rạng vẻ trăng sao ? Nghĩa trọng núi sông, tấm trung liệt làm gương kim cổ

Nếu như Nho giáo một thời có góp phần quan trọng vào sự nghiệp giải

phóng dân tộc và xây dựng nhà nước phong kiến tự chủ, vào việc nâng cao trình độ tri thức, văn hoá cho các nhà nho Việt Nam, thì bây giờ Nho giáo đã

tỏ ra hoàn toàn bất lực, hoàn toàn thất bại trước các nhiệm vụ lịch sử Nho giáo trở nên lỗi thời, bộc lộ rõ những yếu kém, nó không còn là chỗ dựa tinh thần cho các nhà nho như trước đây

Nguyễn Đình Chiểu (1822 - 1888) là người xuất thân từ "cửa Khổng sân

Trình" đã sớm quan tâm tới việc tìm lời giải cho bài toán – mâu thuẫn giữa

“ngay chúa” và “nghịch thần”: Ngay chúa nào lo tiếng nghịch thần Ông là

người rất mực trung quân, vậy mà giờ đây nhà thơ vẫn nhiệt liệt ca ngợi thái độ

chống "thiên tử chiếu" của Trương Định:

Bởi lòng chung, chẳng nghe thiên tử chiếu,

đón ngăn mấy dặm mã tiền

Theo bụng dân, phải chịu tướng quân phù,

gánh vác một vai khổn ngoại (Văn tế Trương Định)

Về cuối thế kỷ XIX, Nho giáo lâm vào cảnh chợ chiều, tàn tạ, các nhà nho bị mất chỗ dựa về tinh thần càng lâm vào trạng thái chơi vơi, khủng hoảng Một nhà nho chân chính hẳn sẽ xem đó là một thảm cảnh, một bi kịch

Từ những nhà nho trung nghĩa ở thời kì đầu như Đặng Huy Trứ, Nguyễn Đình Chiểu cho đến các sĩ phu yêu nước, các nhà nho Cần Vương như Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Quang Bích tất cả đều bộc lộ nỗi đau đớn xót xa

Trang 18

18

trước bi kịch này Họ đã đặt ra nhiều câu hỏi mang ý nghĩa thời đại sâu sắc

Và đặc biệt, đến Nguyễn Khuyến, Tú Xương, thì có thể nói Nho giáo đã lâm vào cảnh tiêu điều, thảm đạm, ngao ngán Dưới con mắt của Tú Xương, xã hội của nhà nho, của đạo đức thánh hiền đã sụp đổ và không còn chút thế lực : Đạo học ngày nay đã chán rồi

Mười người đi học, chín người thôi

Cô hàng bán sách lim dim ngủ Thầy khoá tư lương nhấp nhổm ngồi

Các nhà nho yêu nước đều là những con người rất nhạy cảm với thời cuộc, cảm nhận sâu sắc bi kịch của dân tộc, bi kịch của thời đại, bi kịch của bản thân mình Họ tự nhìn nhận lại mình và tự cười mình Ý thức phản tỉnh trong văn học nửa sau thế kỷ XIX quả là một vấn đề, một hiện tượng mang ý nghĩa xã hội – thẩm mỹ sâu sắc

Có thể nói chưa có một giai đoạn nào trong lịch sử dân tộc như ở giai đoạn này: khủng hoảng về ý thức hệ xã hội, về chỗ dựa tinh thần Nho giáo tàn tạ, phá sản Đạo giáo hay Phật giáo ở giai đoạn này cũng không còn sức mạnh và vai trò đáng kể như trước đây Không ít nhà nho tìm đến tư tưởng Lão - Trang như tìm một chỗ trú ngụ tinh thần

Nguyễn Khuyến đi vãn cảnh chùa, nhưng tuyệt nhiên không thấy rung cảm trước Phật đài Ngược lại, lại phảng phất tư tưởng Lão-Trang:

Chùa xưa ở lẫn cùng cây đá

Sư cụ nằm chung với khói mây

(Chùa Đọi)

Hay Vịnh chùa Hương Tích, chùa Thầy, ông chỉ nói đến gió, trăng, mây,

cỏ v.v và mơ ước một thế giới trong sạch hơn cõi trần hiện tại đầy những cảnh mua danh bán lợi

Trang 19

19

Con đường trở về ở ẩn chỉ là sự lựa chọn bất đắc dĩ của một số nhà nho cuối mùa đang sống trong những ngày hấp hối của chế độ phong kiến

Thiên chúa giáo du nhập vào Việt Nam sau các tôn giáo khác và sự xuất hiện của nó hoàn toàn xa lạ với các nhà nho Nó trở thành nỗi âu lo lớn cho triều đình khi quân Pháp đánh vào Đà Nẵng và Gia Định Đối với các nhà nho thì họ hoàn toàn dị ứng với một tôn giáo du nhập từ phương Tây xa

lạ, họ xem đó là "tà đạo" Có thể nói người dị ứng mạnh nhất với Thiên

chúa giáo là Nguyễn Đình Chiểu bởi vì ông cho rằng “đạo Chúa” không nhằm vào giải quyết bài toán của thực tiễn, vả lại nó lại vào đây theo đội

quân xâm lược (Dương Từ – Hà Mâụ) Nguyễn Đình Chiểu cũng như bao

nhiêu nhà nho khác đều chống văn hoá phương Tây… Văn hoá ngoài khu vực (văn hoá Pháp) ảnh hưởng vào Việt Nam lúc này chủ yếu theo con đường

"cưỡng hôn" nên càng bị chống đối kịch liệt Bao nhiêu cố gắng của Đặng

Huy Trứ, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch trong việc mang tư tưởng, văn hoá bên ngoài vào đều thua cuộc…

Thế có nghĩa là mọi ngọn nguồn tư tưởng, văn hoá ngoại nhập đối với Việt Nam lúc này đều như không có chỗ neo đậu, hơn thế, còn bị châm biếm, phê phán Ý thức hệ mới thì chưa thể có Về thể chế xã hội lại càng bế tắc Kể

từ sau khi phong trào Cần Vương thất bại, Việt Nam thực sự rơi vào bế tắc và

có thể nói là rơi vào khoảng trống của lịch sử

Văn học giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX khác nhiều với các giai đoạn trước đó bởi nó hình thành và phát triển trong một bối cảnh đặc biệt như thế

Nó chịu sự chi phối sâu sắc của cuộc đấu tranh dân tộc chống chủ nghĩa thực dân phương Tây có nền công nghiệp tư sản cận đại và sự khủng hoảng toàn diện, trầm trọng của các giá trị phong kiến Đây là ảnh hưởng lớn nhất

có tính quyết định tới mọi sáng tạo về tư tưởng thẩm mỹ trong văn học

Trang 20

20

Hơn bao giờ hết, truyền thống văn hoá - tư tưởng - đạo lý dân tộc giữ vai trò như là ý thức hệ xã hội Nó là chỗ dựa tinh thần lớn nhất và cũng là duy nhất cho các nhà nho trong cơn bế tắc Có thể hình dung hành trình tư tưởng

- thẩm mỹ của văn học nửa sau thế kỷ XIX là bắt đầu từ dân tộc mà hiện thân

là sức trỗi dậy của phong trào quần chúng nhân dân (Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị, Nguyễn Thông, Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Quang Bích, Phan Đình Phùng…) Kết thúc cuộc hành trình, văn học lại chỉ có biết hướng về dân tộc mà tìm chỗ dựa, tìm nguồn sinh lực Nhưng dân tộc bây giờ là đâu? –

ở truyền thống Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương chỉ còn biết lấy đạo lý của truyền thống mà làm chỗ dựa, làm điểm tựa tinh thần

Đến Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương thì xã hội Việt Nam đã trải qua một cuộc biến thiên dữ dội từ ngàn xưa chưa từng thấy, xã hội phong kiến bị thay thế bằng cái xã hội giao thời hỗn tạp, phong kiến - tư sản - thực dân, nhân tình, thế thái, phong hoá, đạo đức càng trở nên vô cùng phức tạp

Tất cả những sự thay đổi trên đã làm cho lớp nho sỹ lâm vào bi kịch, đặc biệt là bi kịch về tư tưởng, tâm trạng Họ xuất phát từ dân tộc và cuối cùng chỉ

có thể tìm về dân tộc (truyền thống) bởi không còn một chỗ dựa tinh thần nào khác Quá trình này vừa chứng tỏ những nỗ lực tự thân vừa đồng thời chứng

tỏ bi kịch mà họ không thể nào tránh khỏi

Tóm lại ở nửa sau thế kỷ XIX phong kiến Việt Nam rơi vào sự khủng hoảng toàn diện Nhà nho tự nhận thức, tự xem xét lại mình Ý thức phản tỉnh trong họ xuất hiện ngày một đậm nét Và khi lý tưởng tôn quân cũng như lý tưởng yêu nước lâm vào bi kịch, tấn bi hài kịch của phong kiến Việt Nam cũng đã tự phơi bày một cách đầy đủ, thì nhà nho càng có cơ sở để khóc, để cười Họ không chỉ hướng cái nhìn ra bên ngoài (hướng ngoại) mà còn hướng cái nhìn vào bên trong bản thân mình Ý thức tự phê phán - tức ý thức phản tỉnh, tự trào trong một lớp nhà nho - nhà văn càng ngày càng ám ảnh, đè nặng

Trang 21

21

lên họ Họ tự nhận ra sự bất lực, sự vô nghĩa, "hết thời" của bản thân mình,

thế hệ mình, giai tầng mình trước lịch sử Sang đầu thế kỷ XX, bi kịch ấy của lịch sử cũng như bi kịch trong tư tưởng, tâm trạng của nhà nho mới phần nào

có hướng giải toả, dẫu rằng kết cục vẫn cứ là bi kịch…

1.2.2 Sự xuất hiện một chế độ xã hội hỗn tạp, lai căng - chế độ thực

dân nửa phong kiến:

Về cuối thế kỷ XIX, xã hội Việt Nam chuyển dần thành xã hội thực dân nửa phong kiến, trước tiên ở Nam Bộ

Cuộc giao tranh giữa hai luồng văn hoá Đông và Tây, phong kiến cổ truyền và tư sản hiện đại diễn ra một cách trực tiếp Người Tây phương sang nước ta đòi truyền bá thương mại, Đông và Tây va chạm, trước còn nhẹ nhàng, sau càng dữ dội Một phần nước bị cắt cho ngoại bang Rồi cả nước rơi vào vòng nô lệ Triều đình Huế dãy dụa chống cự nhưng rồi bị đánh ngã Ngoại bang nâng ngai vàng dậy thì chỉ là một ngai vàng mục nát để nhận những ông vua bù nhìn mà thôi Cũng có một vài ông vua yêu nước cuối triều đại tuy có hành động kiên cường chống Pháp nhưng đều muộn màng và thất bại cay đắng

Chế độ thực dân nửa phong kiến buổi đầu hình thành đã làm cho các nhà nho cảm thấy như bơ vơ lạc lõng, đạo đức, phong hoá hay nhân tình thế thái đều thay đổi theo hướng tồi tệ hơn Thực dân Pháp đặt ách đô hộ lên đất nước, mỗi người dân đều biến thành nô lệ Cái xã hội thực dân - nửa phong kiến đúng là xã hội của đồng tiền, đồng tiền làm mưa làm gió, gây đảo điên điên đảo trong xã hội, việc thi cử chữ Hán và nền Hán học lâm vào cảnh ngắc ngoải, chờ chết Và cũng trong giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX, khi bắt đầu nảy sinh sự va chạm giữa văn hoá phong kiến và văn minh tư sản dưới ách thống trị của thực dân, cuộc sống tưởng như xây dựng trên nền tảng bất khả xâm phạm bỗng nhiên bị phủ định không thương xót, cái tưởng thiêng liêng bất di

Trang 22

22

bất dịch bỗng trở thành lỗi thời, thảm hại, lố lăng Tất cả những sự tác động

đó đối với xã hội được Nguyễn Khuyến và Tú xương phản ánh thật sinh động,

từ ông tiến sĩ "đồ chơi", vua quan "phường chèo", đến ông huyện "vòi xu", thầy đồ "ve gái", quan tuần "ký cóp", phường xỏ lá mang "áo tía đai vàng"

tất cả hiện ra dưới ngòi bút của nhà thơ Nguyễn Khuyến thật hóm hỉnh, thâm thuý Ngoài những nhân vật ít nhiều dính dáng đến làng nho (cậu ấm, ông

Hàn ), còn cả một loạt nhân vật "mới"- "đặc sản" của chế độ thực dân nửa

phong kiến như thầy thông, ông ký, anh bồi, anh hàng sắt, cô ký xe tay, sư ở

tù phong trào Cần Vương tan rã, thực dân Pháp đặt ách đô hộ hoàn toàn lên đất nước ta, vua mới được thành lập, nhà Nguyễn vẫn tồn tại, nề nếp học hành thi cử được khôi phục, chủ nghĩa thực dân bắt đầu khai thác thuộc địa (mở mang buôn bán, đường giao thông, xây dựng đô thị )

Chế độ thực dân nửa phong kiến là phản động, bản chất đối lập với nhân dân Nó chỉ thấy nhân dân mơ hồ qua sách vở, nhân dân là một đối tượng để cai trị và để ban ơn chút ít khi biết phục tùng, nhưng chủ yếu là một đối tượng

để nắm chặt để vơ vét và khi cứng đầu phải trừng trị Nguyễn Đình Chiểu là một trong số những nhà nho tiêu biểu của phong trào chống Pháp ở thời kỳ đầu đã nhận thấy rõ điều đó Thậm chí ông còn nhận ra trong xã hội có một sự khủng hoảng về ý thức hệ, về đạo đức nhân sinh, về lẽ sống

Sự thay đổi và những tác động lớn lao đó đã làm cho giới sĩ phu bị dao động Trước sự xâm nhập của Tây phương, một số sĩ phu đã mở cửa đón luồng gió mới như Nguyễn Trường Tộ, Phan Thanh Giản Nhưng lời nói của

họ bị lớp cũ át đi :

Từ ngày đi sứ tới Tây kinh Thấy việc Âu châu phát giật mình Kêu tỉnh đồng bào mau kịp bước Hết lời năn nỉ chẳng ai tin

Trang 23

23

(Phan Thanh Giản)

Cộng tác với người Pháp (họ gọi là làm việc với Tân Triều), đại biểu của lớp này là Tôn Thọ Tường Y cho rằng tình thế đã đến lúc như cờ túng nước,

chống lại người Pháp chỉ như "chim lấp biển", hoài công mà thôi Chi bằng ra cộng tác với giặc, họa chăng vãn hồi thế cục được phần nào: Ở đời

chưa dễ quên đời đặng

Tính thiệt so hơn cũng gọi là

(Tôn Thọ Tường)

Nhưng hành vi của phái Tôn Thọ Tường bị công kích dữ dội Một số nho

sĩ nhất dịnh giữ vững lập trường "trung thần bất sự nhị quân" Đó là trường

hợp Bùi Hữu Nghĩa, Phan Văn Trị, Nguyễn Đình Chiểu.v.v… Họ xác định phải giúp vua (vua yêu nước) đánh đuổi giặc, khôi phục lại giang sơn Nếu không làm được tình thế thì phải chọn cái chết như Phan Thanh Giản, Hoàng Diệu để đền ơn vua nợ nước, hoặc rút về ở ẩn để chờ thời :

Tháy máy gặp thời ta sẽ động (Phan Văn Trị)

Nhưng cánh tay yếu đuối của nhà nho không dựng lại được cơ đồ đã đổ nát nên họ mang trong mình nỗi đau của sự bất lực trước vận nước, họ tự nhìn nhận lại mình, tự xem xét lại tất cả

Một số nhà nho đứng ngơ ngác trước ngai vàng xiêu vẹo của nhà Nguyễn và ngôi nhà của tổ quốc Việt Nam đượm màu tang tóc trong cảnh quốc phá gia vong Họ cảm thấy rõ rệt sự bất lực của giai cấp sỹ phu Không giúp ích cho vua cho nước thì thôi, họ không mặt mũi nào làm tay sai cho giặc Họ rút về nơi vắng vẻ làm bạn với cây cỏ, quên sự buồn phiền trong cuộc cờ, chén rượu Nhưng vết thương lòng không thể hàn gắn thì họ lại đau đớn khi phải chứng kiến sự đổi thay của xã hội như trường hợp của Nguyễn

Trang 24

bi kịch Trước những bi kịch này, hướng cái nhìn ra bên ngoài : bế tắc, họ lại hướng cái nhìn vào bản thân mình để mà tự xem xét, để mà tự trào

1.3 Sự tự ý thức của tác giả văn học nửa sau thế kỷ XIX

1.3.1 Sự tự ý thức và tinh thần phản tỉnh của tác giả trong sáng tác

văn học, một số giới thuyết

Sáng tác văn chương là một dạng hoạt động mang tính chủ quan cao độ Thực tại được phản ánh qua cái nhìn chủ quan của tác giả Trí tưởng tượng, năng lực hư cấu, sự lựa chọn đề tài, chủ đề, sự vận dụng các thủ pháp nghệ thuật, sự sử dụng ngôn từ tất cả đều đượm màu sắc chủ quan Nói chung dấu ấn của chủ thể sáng tạo để lại trong tác phẩm là rất rõ Vấn đề là ý thức theo hướng nào, tự ngợi ca, đề cao hay tự phê phán, tự trào

Nhìn từ góc độ phản ánh luận thì cái tôi là đối tượng phản ánh của bản thân nhà thơ, là kết quả của sự tự ý thức, tự đánh giá, tự miêu tả (tự nhìn ngắm mình hay có nhà nghiên cứu gọi là tự hoạ của nhà thơ)

Đối tượng chủ thể khác với đối tượng khách thể Nếu như ý thức về đối tượng chủ thể là một quá trình tự phân thân, tự xem mình như một đối tượng

để tự nhìn ngắm, tự đánh giá, thì đối tượng khách thể lại là đối tượng được tác giả quan sát Điều này chúng ta có thể thấy rất rõ trong văn học nữa sau thế

kỷ XIX đặc biệt là thơ của Nguyễn Khuyến và Tú Xương khi họ tự trào

Trang 25

25

Ý thức về đối tượng chủ thể hay về cái tôi tác giả trong sáng tác văn học

là dịp để bản thân mỗi tác giả nhìn ngắm, cảm nhận, đánh giá cái sắc riêng, cái bản ngã của bản thân mình

Ý thức về đối tượng chủ thể là một quá trình tự phân thân của tác giả khi tác giả nhìn lại bản thân mình Nguyễn Khuyến, Tú Xương cũng đã từng xem mình như một đối tượng để tự trào Đó còn là ý thức muốn xác định cái vai trò bản ngã của cái tôi tác giả của con người cá nhân tác giả Nhìn chung nhà nho đều có ý thức tự giác cao về cái sứ mệnh xã hội cao cả của mình Họ

muốn lập nên công danh, sự nghiệp không chấp nhận cuộc sống của "phường

giá áo túi cơm"

Trong một số hoàn cảnh cụ thể thì ý thức về nhân cách cao đẹp của họ sẽ dẫn tới những hành động cao đẹp Đó là hành động xả thân vì độc lập dân tộc

mà nhiều nhà nho đã thể hiện trong cuộc chiến đấu gay go chống thực dân Pháp xâm lược hồi cuối thế kỷ XIX, dù biết rằng thành công rất mong manh Dám hi sinh, dám xả thân vì họ sống và hành động với tinh thần trách nhiệm cao với đời, với dân

Vì nước tấm thân đã gửi, còn mất cũng cam Giúp đời, cái nghĩa đáng làm nên hư nào ngại (Văn tế Trương Định - Nguyễn Đình Chiểu)

Từ Nguyễn Đình Chiểu cho đến các nhà nho Cần Vương, đặc biệt đến Nguyễn Khuyến, Tú Xương thì ý thức về đối tượng chủ thể, về cái tôi tác giả theo hướng phản tỉnh, tự trào càng ngày càng rõ rệt hơn

Nguyễn Khuyến đã từng xoáy đi xoáy lại cái câu hỏi mà dường như văn

chương muôn đời đã đặt ra: Ta là ai ? Thiên tái ngã vi thuỳ (nghìn năm ta là ai ?

Đề ảnh)

Trang 26

26

Ý thức về đối tượng chủ thế về cái tôi tác giả đó là quá trình tự nhận thức về bản thân mình, xem xét sự hiện hữu của con người cá nhân - xã hội trong bản thân mình của nhà văn

Ở văn học giai đoạn trước (nửa sau thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX), hầu hết các tác giả đều có ý thức cao về con người cá nhân của mình, về bản thân mình (tiêu biểu như Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ… ), nhưng theo hướng tự khẳng định, đề cao, “khoe tài” Ai cũng thấy mình là tài năng, là “siêu việt”:

Trời đất cho ta một cái tài,

Dắt lưng dành sẵn tháng ngày chơi

(Nguyễn Công Trứ)

Ví đây đổi phận làm trai được

Sự nghiệp anh hùng há bấy nhiêu

(Hồ Xuân Hương) v.v…

Nhưng ở giai đoạn văn học nửa sau thế kỷ XIX thì hoàn toàn ngược lại

Ai cũng thấy mình là bất tài, là hèn kém, là bất lực Dĩ nhiên thực chất khả năng bản thân họ không phải như vậy Vấn đề là ý thức phản tỉnh trong họ có nguyên

do, nguồn cớ do thời đại, do lịch sử (như về trước, chúng tôi đã có dịp trình bày)

Ý thức về sự hiện hữu của cái tôi tác giả, của con người cá nhân tác giả trước vũ trụ đất trời, trước cuộc đời và con người, trước cả chính mình theo hướng phản tỉnh trong văn học giai đoạn này quả thực là một hiện tượng, một hiện tượng mang tính quy luật phổ biến (chữ hiện tượng chúng tôi dùng ở đây với tư cách là một sự kiện, hơn nữa là một sự kiện nổi bạt, một vấn đề mang tính thời đại đặc thù…)

Khái niệm phản tỉnh trong văn học chỉ sự tự ý thức, tự kiểm tra tư tưởng và hành động của mình theo hướng tự phê phán, một sự phê phán từ bên trong, đặc

Trang 27

27

biệt để thấy ra những bế tắc, những bất lực và cả những lỗi lầm của mình Ý thức phản tỉnh chỉ có thể diễn ra khi con người tự ý thức được mình

Trước hết cần nói đến các nhà văn yêu nước, các nhà văn Cần Vương Họ

là những người dám đứng lên cầm súng để chiến đấu nhưng cuối cùng không tránh khỏi những thất bại đau đớn Họ phân tích, đánh giá mọi yếu tố bên ngoài, vẫn không sao lý giải được những thất bại, họ lại hướng vào mình, tự xem xét

lại bản thân mình Họ thấy mình có biết bao "việc trong lòng" mà không

có cách gì thực hiện được Báo đền ơn nước, thực hiện nhiệm vụ làm con, chăm lo cuộc sống an bình no đủ cho dân, ngưỡng mộ cuộc sống thanh cao, ước mơ sự nghiệp trong lòng của đấng nam nhi, sống gắn bó với quê nhà Các lý tưởng xưa vẫn sống mạnh mẽ trong tâm tưởng các nhà nho với đầy đủ các giá trị, chưa hề mảy may suy suyển Nhưng chí dời non lấp bể chưa nguôi thì họ đã phải chứng kiến sự thất bại của bản thân, sự bất lực trước tình thế mới của lịch sử không thể cứu vãn

Và chính ý niệm về sự bất lực, “lão tai tài tận” là cơ sở chủ quan cho hiện tượng phản tỉnh sâu sắc trong văn học yêu nước chống Pháp (bao hàm cả tư trào văn học Cần Vương) ở giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX Phải

sốt ruột đớn đau đến thế nào các nhà nho mới nói nhiều đến sự "vô kế" của mình

như vậy Nhưng tình thế đã làm cho lý tưởng của họ ngày càng không thực hiện được, họ day dứt, tự trách mình Ta hiểu được sự phản tỉnh còn là sự ý thức khi cái chí chưa thành của các nhà nho Cần Vương, cũng như hiểu được cái hữu hạn của con người trong lịch sử Những nhà nho ấy luôn có ý thức sâu sắc về trách nhiệm của kẻ sĩ trong mình

Kẻ sĩ phu lấy cương thường làm trọng (Vũ trụ đại khi số - Nguyễn Quang Bích)

Để thể hiện cái sắc riêng, cái bản ngã của mình, không ít tác giả đã tìm cách

lạ hoá bản thân, tìm cách phân thân, khách thể hoá nhân vật trữ tình trong thơ

Trang 28

28

(tiêu biểu như trong thơ Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương.v.v ) Nguyễn Khuyến từng tự ngắm nhìn mình như một nhân vật khách thể qua nhiều vai khác nhau (một mẹ Mốc, một Tuý ông, một anh giả điếc…) Sự ý thức về chủ thể, về cái tôi tác giả lại càng được thể hiện đậm nét trong thơ Tú Xương, tất nhiên ở đây, vẫn theo hướng phản tỉnh:

Vị Xuyên có Tú Xương,

Dở dở lại ương ương,

Cao lâu thường ăn quỵt,

Thổ đĩ lại chơi lường…

Nghĩ việc văn chương thôi cũng nhảm

Trăm năm thân thế có

(Buồn thi hỏng)

Tất cả đều như vô nghĩa chính vì lẽ đó, hiện lên trong thơ Tú Xương một cái tôi sáng tạo đầy bi kịch, dấu hiệu báo hiệu bi kịch sau này ở kiểu tác giả văn nghệ sĩ trong môi trường xã hội tư sản Tú Xương đã đưa chính mình vào thơ như một nhân vật khách thể có cá tính rõ rệt và ít nhiều có ý nghĩa điển hình

sâu sắc cho cả một lớp người Nhân vật Tú Xương đã tự xưng khi thì bằng "tôi", bằng "ta", bằng "min", bằng "tớ" Tú Xương tự nói về bản thân mình, về cuộc

sống tâm tư của mình và ẩn đằng sau giọng điệu tự trào ấy là cả một đời sống tâm hồn phong phú, một nhân cách thật đáng trân trọng

Tóm lại, ý thức về đối tượng chủ thể hay về cái tôi tác giả trong văn học nửa sau thế kỷ XIX là một hiện tượng độc đáo Ở đó chúng ta có thể thấy sự tự đánh giá, tự cảm nhận, sự phê phán từ bên trong, tức ý thức phản tỉnh của họ, một sự phản tỉnh nghiêm khắc, tỉnh táo vì dân tộc, vì cộng đồng

Ý thức phản tỉnh là một động lực quan trọng thúc đẩy sự vận động phát triển theo chiều hướng tiến bộ của văn học

Trang 29

29

1.3.2 Tác giả văn học giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX với ý thức phản

tỉnh

Như về trước đã trình bày, từ giữa thế kỷ XIX, Việt Nam đứng trước thời

kỳ khó khăn thử thách lớn Cả dân tộc mà trước hết là tầng lớp sĩ phu phong kiến phải tìm lời giải cho bài toán gay gắt của lịch sử, đánh đuổi giặc ngoại xâm, cứu nước, cứu dân

Nhà nho, trước hết nhà nho hành đạo, họ là những nhân vật chính của lịch sử Không phải giai đoạn nào trong lịch sử dân tộc cũng như ở giai đoạn này, người trí thức sẵn sàng “Xếp bút nghiên theo việc đao cung” như xác định của Nguyễn Xuân Ôn:

Thử sinh dĩ phụ tang bồng chí

Mạc tác đồ ngư lão giản biên

(Đời này đã phụ chí tang bồng,

Đừng có làm con mọt già ở nơi sách vở) Điều rất cảm động là hầu hết trong số họ vừa là những chiến sĩ kiên cường của phong trào chống Pháp, vừa là những tác giả văn học xuất sắc (tiêu biểu như : Đặng Huy Trứ, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Quang Bích, Phan Đình Phùng ) Tất cả những nhà nho này đều có ý thức, sâu sắc về thời cuộc, về trách nhiệm của bản thân mình trước lịch sử, nhưng cuối cùng họ đều rơi vào một kết thúc bi kịch không có lối thoát Họ có ý thức phản tỉnh sâu sắc và có chung một sự thể nghiệm trước các tình huống thử thách của lịch sử

Bên cạnh sự ý thức về mình của loại hình nhà nho hành đạo, nhà nho ẩn dật cũng tự ý thức về mình theo hướng phản tỉnh Tiêu biểu cho loại hình nhà nho này là Nguyễn Khuyến Thời đại của Nguyễn Khuyến là thời đại khủng hoảng toàn diện Trước hết là khủng hoảng về hệ tư tưởng - văn hoá, không

Trang 30

30

phải chỉ vì cuộc xâm lăng của thực dân mà còn vì sự biến loạn trong lòng dân tộc Sự sụp đổ của một hệ tư tưởng, một hệ vũ trụ quan, nhân sinh quan và ứng xử văn hoá được xây dựng từ hàng ngàn năm đến lúc này đã không tránh khỏi

Nguyễn Khuyến đã từng ra làm quan nhưng rồi chỉ mười năm ở chốn quan trường, thời gian còn lại ông lui về ở ẩn ở quê nhà nhưng trong lòng ông lúc nào cũng day dứt một nỗi niềm tâm sự , hổ thẹn với nước, với vua, hổ thẹn với chính mình Ông cũng tự thấy về ở ẩn lúc này trong hoàn cảnh đất

nước bị ngoại xâm là đáng phê phán nhưng biết đi đâu, về đâu: "Đạo táng ngã

an qui"? Lựa chọn con đường ẩn dật lúc này ông cũng đã nhận thức được nó

đã hoàn toàn khác với ngã đường tiến thoái truyền thống của một số nhà nho hành đạo như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm trước kia Niềm tự hào của

các danh nho ẩn dật trong hình ảnh "độc hạc, cô vân", giờ đây đã biến sang sự cảm nhận về thân phận lẻ loi, cô độc, lạnh lẽo…, "ẩn" cũng đã không còn là

một giải pháp đáng tự hào như trước đây

Ý thức về bản thân mình của loại hình nhà nho ẩn dật cùng với sự khủng hoảng triệt để trong các lẽ xuất, xử, đã làm cho ngòi bút Nguyễn Khuyến tràn ngập một nỗi đau đớn về sự bất lực của bản thân chua chát và thấm đẫm một giọng điệu tự trào

Cũng không phải đợi đến giai đoạn này kiểu nhà nho tài tử mới xuất hiện (trước đó có Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Hồ Xuân Hương .) họ đã từng tự thấy mình hơn người về tài năng Nhưng đến giai đoạn này nhà nho tài tử không thể giống như ở giai đoạn trước, họ không thể "khoe tài" bởi vì xã hội lúc này đã có sự chuyển biến Những năm cuối thế kỷ XIX xuất hiện một loạt các nhà nho tài tử như Dương Khuê (1839 - 1902), Chu Mạnh Trinh (1862 - 1905), đặc biệt là Trần Tế Xương (1870 - 1907) Trần Tế Xương là một nhà nho sống ở thành thị Ông nhìn thế giới và con người qua lăng kính của một nhà nho tài tử

Trang 31

31

thất thế trong môi trường thị dân Thời đại của Tú Xương là thời đại mà phong kiến Việt Nam đã gần đi đến chỗ sụp đỗ, chế độ thực dân nửa phong kiến hình thành Tú Xương sống ở một môi trường đô thị khác với giai đoạn trước cho nên nhà nho tài tử Tú Xương cũng rơi vào sự bế tắc của lịch sử Ông vừa là chứng nhân vừa là nạn nhân của một giai đoạn lịch sử bi - hài lẫn lộn

Bổ sung cho hiện tượng phản tỉnh của các nhà nho Cần Vương về cuối thế

kỷ XIX xuất hiện hiện tượng tự trào rất độc đáo Nguyễn Khuyến, Tú Xương tiếp tục đưa bản thân mình ra, cũng là một mẫu hình nhà nho, một mẫu hình con người trong khuôn khổ xã hội phong kiến, tự lấy mình làm đối tượng để trào phúng Tự phản tỉnh họ còn có giọng điệu tự trào sâu sắc, phát triển nó thành một hiện tượng có ý nghĩa xã hội - thẩm mĩ sâu sắc

Hiện tượng tự trào trong văn học là hiện tượng nhà văn hướng tiếng cười vào chính bản thân mình (tức hướng tiếng cười vào đối tượng chủ thể) Tự trào

có ý nghĩa là tự cười mình, tự phê phán những mặt hèn kém, lỗi thời trong bản thân mình Đây chính là biểu hiện rất mới của ý thức tự giác nhận thức về bản thân trong sự vận động của ý thức văn học dân tộc Thế kỷ XIX là thế kỷ mà mọi giá trị vàng son phong kiến, những truyền thống tốt đẹp của dân tộc đang đứng trước nguy cơ bị phá hoại bởi bàn tay của thực dân Đây là một thời đại vừa bi, vừa hài Chính đây là mảnh đất tốt cho hiện tượng phản tỉnh, tự trào nửa sau thế kỷ XIX tiếp tục phát triển mạnh

Nguyễn Khuyến và Tú Xương là hai nhà thơ trào phúng bậc thầy, có ý thức phản tỉnh theo hướng tự trào Tự cười mình có nghĩa là ý thức được về mình Điều này thực không dễ Những nhà nho đó tự cảm thấy mình bất lực, vô nghĩa trước cuộc đời Họ đau xót, dằn vặt, hổ thẹn với bản thân mình, họ hướng tiếng cười vào phê phán chính bản thân mình Thế cũng có nghĩa là họ nhận ra mình là một hiện tượng đáng cười, một hiện tương mà chứa trong mình nó những mâu

Trang 32

32

thuẫn của cái hài Tuy nhiên, cười ở đây không phải để mà cười, "trăm nghìn đổ

một trận cười" rồi thôi Họ cười mình nhưng thực ra là đau xót, đáng hổ thẹn

cho bản thân mình trước yêu cầu của cuộc đời, của lịch sử Ở đây tiếng cười nhưng thực ra là nghẹn ngào trong tiếng khóc Cả Nguyễn Khuyến, Tú Xương đều mang trong mình nỗi đau lớn khi chứng kiến cơn nguy biến của lịch sử và

họ tự cười mình bất lực Tự hướng tiếng cười vào bản thân mình, đưa những thói

hư tật xấu ra phê phán Tự đưa bản thân mình ra để làm đối tượng trào phúng là điều rất mới trong lịch sử văn học dân tộc mà Nguyễn Khuyến, Tú Xương là những hiện tượng độc đáo nhất, ấn tượng nhất

Nhìn lại toàn bộ tiến trình văn học Việt Nam, chưa bao giờ chúng ta thấy hiện tượng phản tỉnh, tự trào lại xuất hiện trong văn học mang tính quy luật phổ biến và mang nhiều ý nghĩa xã hội - thẩm mỹ sâu sắc đến như vậy

Có thể dễ dàng nhận thấy hiện tượng phản tỉnh trong văn học nửa sau thế

kỷ XIX được thể hiện rõ nét và là cả một quá trình Nó vừa thể hiện nét đặc thù của cả một thời đại lịch sử , vừa vừa thể hiện cách cảm nhận riêng của tác giả văn học giai đoạn này

Tóm lại, sống trong một giai đoạn lịch sử đặc biệt, nhà nho ở bất cứ dạng thái nào cũng đều có một sự ý thức sâu sắc về bản thân mình trước yêu cầu của lịch sử Hiện tượng phản tỉnh, tự trào trong văn học nửa sau thế kỷ XIX thực sự

là một hiện tượng độc đáo trong lịch sử văn học dân tộc Tất cả những nhà nho này đều nếm trải một cách sâu sắc bi kịch của một dân tộc khi mất quyền tự chủ, được chứng kiến tấn bi - hài kịch của một hình thái lịch sử ở chặng đường cuối cùng, trong đó có bi - hài kịch của chính bản thân mình

Có thể nói tiền đề cho hiện tượng phản tỉnh trong văn học nửa sau thế kỷ

XIX được "chuẩn bị" "đầy đủ" từ cả hai phía khách quan và chủ quan

CHƯƠNG 2

Trang 33

33

NHỮNG NỘI DUNG PHẢN TỈNH ĐẶC SẮC TRONG VĂN HỌC NỬA SAU THẾ KỶ XIX 2.1 “Lại cam thẹn với non sông,

Cứu thời, hai chữ luống trông thuở nào?”

(HAY LÀ NHỮNG CÂU HỎI LỚN VỚI NỖI ĐAU VÒ XÉ TRONG THƠ VĂN NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU)

2.2.1 Từ những câu hỏi hướng ra thế giới bên ngoài:

Nguyễn Đình Chiểu là người mở đầu cho giai đoạn văn học nửa cuối thế

kỷ XIX, là nhà thơ tiêu biểu nhất cho dòng văn học yêu nước chống Pháp Ngay từ những ngày đầu, khi thực dân Pháp vừa xâm lược nước ta, tuy mù loà nhưng ông vẫn nhìn rõ thời cuộc, biết thế giới bên ngoài (đối tượng khách thể) Thế giới bên ngoài hay đối tượng khách thể ấy trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu là nạn ngoại xâm, là cuộc chạy Tây của dân đen, là “trang dẹp loạn”, là cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân và sĩ phu yêu nước, là vận mệnh của dân tộc…

Nếu trước đó (tức trước khi thực dân Pháp xâm lược nước ta), với Lục

Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu còn say sưa với lý tưởng nhân nghĩa, ước mơ

một xã hội phong kiến lý tưởng, có vua sáng, tôi hiền …, thì giờ đây toàn bộ thơ văn của ông chuyển sang một trận địa mới: đánh giặc, cứu nước Không thể tham gia cùng nghĩa quân nơi sa trường, ông cầm bút làm vũ khí chiến đấu:

Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà

viết với tinh thần:

Học theo ngòi bút chí công Trong thơ cho ngụ tấm lòng Xuân Thu

Trang 34

34

Nghĩa là với tư cách một “nhà văn – chiến sĩ”, Nguyễn Đình Chiểu sẽ nhận thức, phản ánh chân thực với tinh thần nghiêm túc, trách nhiệm mọi sự kiện, biến cố của thời đại…

Qủa đúng như thế Ngay từ ngày đầu thực dân Pháp xâm lược nước ta, ông đã thấy rõ nạn dân chạy giặc:

Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây, Một bàn cờ thế phút sa tay

Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy, Mất ổ bầy chim dáo dát bay…

“Trang dẹp loạn” – những kẻ hưởng ơn vua, lộc nước, kẻ được trời trao

cho trách nhiệm “chăn dân” trốn lẫn đâu?, nhà thơ đặt câu hỏi với tinh thần

phê phán, ám chỉ triều Nguyễn vô trách nhiệm với số phận nhân dân:

Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng,

Nỡ để dân đen mắc nạn này?

Trong quá trình mấy mươi năm sáng tác thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu, lịch sử dân tộc đã trải qua biết bao nhiêu biến cố Triều đình từ chỗ do dự giữa đánh và hoà rồi đi đến chỗ cắt ba tỉnh miền Đông, rồi ba tỉnh miền Tây và dâng toàn bộ Nam Kỳ cho Pháp Phong trào chống Pháp của các

sĩ phu yêu nước từ chỗ rầm rộ, dần dần đi vào thất bại Tư tưởng của Nguyễn Đình Chiểu nảy nở trong hoàn cảnh ấy không thể không có những chuyển biến Lúc đầu nhà thơ gắn chặt với lí tưởng trung quân, về sau thì tư tưởng trung quân càng mờ nhạt, và càng ngày sự nghi ngờ càng tăng, những dấu hỏi càng ngày càng xuất hiện:

Xe ngựa lao xao giữa cõi trần,

Biết ai thiên tử, biết ai ai thần?

Ông quá thất vọng với vương triều nhà Nguyễn:

Hoa cỏ ngùi ngùi ngóng gió đông,

Trang 35

35

Chúa xuân đâu hỡi có hay không?

Ca ngợi nghĩa quân Cần Giuộc, ông thấy họ "sống đánh giặc, thác cũng đánh

giặc", đồng thời "sống thờ vua, thác cũng thờ vua", nhưng vua đấy chỉ là

vua trong khái niệm, lý tưởng Hình ảnh một đấng vua lý tưởng biết chăm lo cho sơn hà xã tắc, biết thương yêu nhân dân biết bao giờ mới xuất hịên đây? Câu hỏi tràn đầy nỗi lo và tinh thần trách nhiệm này như một nỗi niềm khắc khoải ám ảnh ông suốt đời:

Chừng nào thánh đế ân soi thấu, Một trận mưa nhuần rửa núi sông?

Tội ác của giặc thì ngày càng chồng chất, dân tình thì ngày càng khốn

khổ điêu linh: "Kể mười mấy năm trời khốn khó, bị khảo, bị tù, bị đày, bị giết,

trẻ già nghe nào xiết đếm tên; đem ba tấc hơi mọn bỏ liều, hoặc sông, hoặc biển, hoặc núi, hoặc rừng, quen lạ thảy đều rơi nước mắt Khá thương thay, dân sa nước lửa bấy chầy, giặc ép dần mở hết sức ", mà vua quan cứ ngày

một vắng bặt tăm hơi, trách nhiệm thuộc về ai đây?

Nguyễn Đình Chiểu không phải hỏi để mà hỏi, đấy là một cách ông

phê phán, một cách thức tỉnh những kẻ bỏ rơi trách nhiệm “chăn dân”, bỏ

rơi vai trò dân tộc và vị trí dân tộc của mình, đồng thời đấy cũng là một cách

bày tỏ nỗi lo âu của ông đối với vận mệnh của dân tộc, số phận của nhân dân:

Ông cha ta còn ở đất Đồng Nai,

Ai cứu đặng một phường con đỏ?

(Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc)

"Vì ai khiến dưa chia khăn xé, nhìn giang sơn ba tỉnh luống thêm buồn

Biết thuở nào cờ phất trống rung

Hỡi nhật nguyệt hai vầng sao chẳng đoái"?

(Văn tế nghĩa sĩ trận vong lục tỉnh)

Trang 36

36

Từ hoàn cảnh thực tại của đất nước, nhà thơ rất đau xót khi thấy đất nước bị chia cắt, giặc Pháp giày xéo trên quê hương mà bản thân ông không thể làm gì được Thơ ông chứa đựng một sự bi phẫn nhưng đồng thời cũng mang nặng nỗi lòng cảm hoài u uất trước thời cuộc Những câu thơ Nguyễn

Đình Chiểu viết về đất nước bị chia cắt càng xót xa, thống thiết …

Từ những câu hỏi hướng ra thế giới bên ngoài, không tìm được lời giải đáp, nhà thơ lại như hướng câu hỏi vào mình

2.2.2 …Đến những câu hỏi hướng vào “thế giới bên trong”:

Phải chứng kiến cuộc kháng chiến càng ngày càng đi vào thất bại,

chứng kiến những điều "trái tai gai mắt" diễn ra nhưng không thể làm gì

được, nhà thơ càng chua xót ngậm ngùi Những câu hỏi lớn không chỉ hướng

ra bên ngoài mà còn hướng vào bên trong bản thân mình, càng về cuối đời càng hiện ra nhức nhối trong thơ văn ông

Một thời ông ca ngợi Lục Vân Tiên, gửi gắm mọi ước mơ trả nợ nước non, xây dựng cuộc đời, ước mơ xây dựng một xã hội phong kiến thái bình lý tưởng vào người anh hùng này:

Làm trai trong cõi thế gian Phò đời giúp nước, phơi gan anh hào…

(Lục Vân Tiên)

Vậy mà giờ đây, ông phải hoá thân vào một Kỳ Nhân Sư, tự xông mắt cho mù, để bất cộng tác với giặc, để khỏi nhìn thấy cảnh quân thù dày xéo quê hương:

Thà cho trứoc mắt mù nù, Chẳng thà ngồi thấy kẻ thù quân thân

Thà cho trước mắt vô nhân, Chẳng thà ngồi thấy sinh dân nghiêng nghèo

Thà cho trước mắt vắng hiu,

Trang 37

37

Chẳng thà thấy cảnh trời chiều phân xâm

Thà cho trước mắt tối sầm, Chẳng thà thấy đất lục trầm can qua…

(Ngư Tiều y thuật vấn đáp)

Kỳ Nhân Sư tài năng, ưu ái là thế mà cuối cùng cảm thấy mình bó tay, không thể làm gì được trước thời cuộc, dường như hoàn toàn bất lực Bi kịch của Nguyễn Đình Chiểu thật não nề, chua xót khi ông dường như tập trung

hướng sự phản tỉnh, hướng câu hỏi vào mình với nỗi thẹn, nỗi đau vò xé tâm

can:

Đã cam chút phận dở dang

"Trí quân" hai chữ mơ màng năm canh

Đã cam lỗi với thương sinh

"Trạch dân" hai chữ luống dinh ở lòng Lại cam thẹn với non sông

"Cứu thời" hai chữ luống trông thuở nào?

Nói ra thì nước mắt trào Tấm lòng ưu thế biết bao giờ rồi

Ngư tiều y thuật vấn đáp thể hiện thấm thía tâm sự tác giả trong những

ngày đau thương tủi nhục của đất nước:

Mắt nhìn trong tiết thanh minh

U Yên đất cũ cảnh tình trêu ngươi Trăm hoa nửa khóc nửa cười Như tuồng xiêu lạc gặp người cố hương

Cỏ cây đưa khách đón đường Như tuồng níu hỏi: Đông Hoàng ở đâu ? Bên non đá cụm cúi đầu

Như tuồng oan khuất lạy cầu cứu sinh

Trang 38

38

Líu lo chim nói trên cành Như tuồng kẻ mách tình hình dân đau Ngày xuân mà cảnh chẳng xuân Mưa sầu gió tủi hết chừng nào thanh?

Và đặc biệt là nỗi lòng của nhà thơ lúc nào cũng canh cánh một nỗi băn khoăn lo lắng:

Ngày nào trời đất an ngôi cũ Mừng thấy non sông bặt gió Tây?

Bao giờ nhật nguyệt vầy gương sáng Bốn bể âu ca hiệp một nhà?

Nguyễn Đình Chiểu giữ vai trò và vị trí đặc biệt trong lịch sử văn học dân tộc Ông không chỉ là người mở đầu, khai sáng cho dòng văn học yêu nước chống chủ nghĩa thực dân phương Tây ngay từ khi chúng vừa đặt chân lên đất nước ta, ông còn là người mở đầu, báo hiệu cho “dòng ý thức” – tư tưởng độc đáo trong văn học nửa sau thế kỷ XIX

2.2 “Tướng môn riêng thẹn với anh hùng"…

(HAY LÀ NIỀM DAY DỨT VÌ TRÁCH NHIỆM KHÔNG THÀNH CỦA CÁC NHÀ VĂN CẦN

VƯƠNG):

2.2.1 Một vài khái quát về lớp nhà văn Cần Vương:

Vua Hàm Nghi – một ông vua yêu nước cùng phái chủ chiến do Tôn Thất Thuyết cầm đầu, rút khỏi kinh thành Huế, phát chiếu Cần Vương, phát động phong trào chống Pháp Nhiều trí thức khoa bảng hăng hái tham gia đều

có văn tập, thi tập để lại, có thể gọi họ là lớp nhà văn Cần Vương Cần Vương

có nghĩa là giúp vua, theo giải thích của Đặng Thai Mai là “mang quân đi cứu viện nhà vua” [ ] Tuy nhiên cần hiểu vua ở đây là vua yêu nước Đây thực chất là một phong trào yêu nước chống Pháp (thực dân) nhưng phải dưới danh nghĩa Cần Vương do yêu cầu của lịch sử bấy giờ Như vậy nội dung yêu nước

Trang 39

Đình Phùng và phần đông những sĩ phu cùng thế hệ đã "tự nguyện" "đầu bút

tòng nhung" cứu nước hoặc trong tư tưởng cũng đứng về phía phong trào

kháng chiến theo tiếng gọi Cần Vương

Họ là những nhà nho trung nghĩa mang những phẩm chất đẹp đẽ nhất của người trí thức Việt Nam Trong cuộc đời hành nghĩa cũng như trong sáng tác, họ luôn nêu cao vai trò trách nhiệm của người trí thức trước các yêu cầu của lịch sử

Ngay từ khi thực dân Pháp đánh vào cửa biển Đà Nẵng, vấn đề "chiến" và

"hoà" đã khiến cho biết bao sĩ phu phải trăn trở luận bàn Trước một kẻ thù hoàn

toàn khác lạ về ý thức hệ lại vừa mạnh và hiện đại hơn, từ phương Tây xa lạ kéo đến, một số ít nhà nho có đầu óc hoặc trí tuệ mới mẻ như Nguyễn Trường Tộ, Phan Thanh Giản, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Lộ Trạch chủ trương canh tân đất

nước Nhiều văn thân sĩ phu kiên quyết "chủ chiến" tức là dùng biện pháp

quân sự với ý thức không đội trời chung với quân xâm lược Nguyễn Xuân

Ôn, Nguyễn Quang Bích, Phan Đình Phùng là những đại biểu xuất sắc,

ngay từ đầu đã đứng về phía "chủ chiến", sau đó hăng hái theo tiếng gọi

Cần Vương Họ là những nhà nho nhận thức sâu sắc về trách nhiệm với xã tắc như một việc nghĩa nhất thiết phải làm

Nhưng có lẽ cũng chưa có một thời kỳ nào mà trong người anh hùng ái quốc lại xuất hiện những nghịch lí trớ trêu như thời kỳ này: biết bao lãnh tụ kháng chiến không đủ sức đương đầu với sức mạnh bạo lực của kẻ thù đã hi sinh oanh liệt để bảo toàn lí tưởng, song chính cái lí tưởng mà họ ôm ấp, tự nguyện

Trang 40

40

xả thân cũng không mở ra cho dân tộc một lối thoát nào đẹp hơn Không chỉ một Hoàng Diệu, một Nguyễn Tri Phương, một Nguyễn Cao tuẫn tiết, hay một Nguyễn Trung Trực, một Nguyễn Hữu Huân bị chém đầu, ngay đến một Trương Công Định, một Nguyễn Xuân Ôn, Phan Đình Phùng hay một Hoàng Hoa Thám kiên trì chiến đấu nhiều năm nhưng đều thất bại Dù cuối cùng phải

thất bại nhưng suốt cuộc đời họ vẫn canh cánh một "lòng báo quốc", một ý chí

diệt thù Ở họ có mâu thuẫn không tránh khỏi của một thế hệ sĩ phu muốn đem đạo nghĩa để thắng bạo lực của kẻ thù, có hình ảnh của những trung thần nghĩa sĩ - những anh hùng chiến bại trong văn học nhà nho nửa cuối

thế kỷ XIX Họ mang trong mình một nỗi đau lớn, nỗi đau "Tướng môn

riêng thẹn mặt anh hùng"

2.2.2 “Nỗi niềm ngổn ngang”, “công danh chưa trọn lời thề”… trong

thơ văn Nguyễn Xuân Ôn

Nguyễn Xuân Ôn cho rằng lý tưởng của một con người trong xã hội phong

kiến không có cách nào khác là đi học, đi thi để ra làm quan Cái khác nhau giữa một nhà nho chân chính và một nhà nho xu thời là ở chỗ ra làm quan để lo cho

dân, cho nước hay để có dịp để bòn rút nhân dân Trong "thời loạn" Nguyễn

Xuân Ôn vẫn ra làm quan, điều đó có vẻ trái với lẽ hành, tàng của nho gia nhưng

nó thể hiện tính tích cực của một nhà nho chân chính, thấy hết trách nhiệm của mình

Trong sáng tác của Nguyễn Xuân Ôn đều thắm đượm tình yêu nước thiết tha, ý chí bất khuất không gì lay chuyển được Thơ văn ông ở thời kì đầu đều tập

trung nói lên hoài bão, ước mơ của nhà thơ Ông đã từng xác định: "Thanh danh

của người quân tử chỉ trông vào quản bút, phận sự người con trai là ở cây cung dâu"

Nguyễn Xuân Ôn ra làm quan đúng vào lúc mà vấn đề chiến đấu chống giặc hay thoả hiệp đầu hàng đặt ra một cách gay gắt Trong triều lực lượng yêu

Ngày đăng: 27/07/2021, 16:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 1999
[3] Nguyễn Huệ Chi - Chủ biên (1984), Thi hào Nguyễn Khuyến đời và thơ, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi hào Nguyễn Khuyến đời và thơ
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi - Chủ biên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1984
[4] Nguyễn Huệ Chi (1983), Mấy vẻ mặt thi ca Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vẻ mặt thi ca Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1983
[5] Trương Chính - Giới thiệu (1983), Thơ văn Nguyễn Công Trứ, Nxb Văn học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ văn Nguyễn Công Trứ
Tác giả: Trương Chính - Giới thiệu
Nhà XB: Nxb Văn học Hà Nội
Năm: 1983
[9] Biện Minh Điền, Con người cá nhân bản ngã trong sáng tác Nguyễn Khuyến, Tạp chí Văn học số 3 - 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con người cá nhân bản ngã trong sáng tác Nguyễn Khuyến", Tạp chí "Văn học
[10] Biện Minh Điền (2004), Vấn đề tác giả và loại hình tác giả văn học Việt Nam trung đại, trong sách Những vấn đề văn học và ngôn ngữ học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề tác giả và loại hình tác giả văn học Việt Nam trung đại, "trong sách "Những vấn đề văn học và ngôn ngữ học
Tác giả: Biện Minh Điền
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2004
[11] Trần Văn Giàu - Giới thiệu (1976), Hợp tuyển thơ văn yêu nước nửa sau thế kỷ XIX, Nxb Văn học,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp tuyển thơ văn yêu nước nửa sau thế kỷ XIX
Tác giả: Trần Văn Giàu - Giới thiệu
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1976
[12] Trần Văn Giàu - Giới thiệu (1996), Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến cách mạng tháng Tám, (tập I, II). Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến cách mạng tháng Tám
Tác giả: Trần Văn Giàu - Giới thiệu
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
[14] Trần Đình Hượu (1995), Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại
Tác giả: Trần Đình Hượu
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 1995
[15] Dương Quảng Hàm (1998) , Việt Nam văn học sử yếu, Bộ giáo dục trung tâm học liệu xuất bản (in lần thứ 10), Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn học sử yếu
[16] Nguyễn Văn Huyền (1984), Sưu tầm và tuyển chọn, Nguyễn Khuyến tác phẩm, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Khuyến tác phẩm
Tác giả: Nguyễn Văn Huyền
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1984

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w