1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm về từ vựng của truyện lục vân tiên

90 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm về từ vựng của truyện lục vân tiên
Người hướng dẫn TS Trần Văn Minh
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Nghiên cứu khoa học
Thể loại luận văn
Năm xuất bản 2005
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 758,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ông là tấm gương sáng, nêu cao địa vị và tác dụng của văn học nghệ thuật, nêu cao sứ mạng của người chiến sỹ trên mặt trận văn hoá, tư tưởng hay “ Đặc sắc văn chương của ông là ở chỗ” tá

Trang 1

Vinh, ngày 20 tháng 11 năm 2005

Tác giả

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU

I Lý do chọn đề tài 4

II Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 4

III Lịch sử vấn đề liên quan đến đề tài 5

IV Phương pháp nghiên cứu 10

V Dự kiến đóng góp của đề tài 10

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI I Nguyễn Đình Chiểu, cuộc đời và tác phẩm 11

1 Cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu 11

2 Sự nghiệp thơ văn 14

3 Truyện Lục Vân Tiên 16

II Giới thuyết về các lớp từ được khảo sát A Vai trò của ngôn ngữ trong thơ ca 19

B Các lớp từ ngữ được khảo sát 20

1 Từ láy 20

2 Từ địa phương 23

3 Từ Hán-Việt 28

4 Thành ngữ 32

CHƯƠNG II: ĐẶC ĐIỂM CÁC LỚP TỪ NGỮ TRONG TRUYỆN LỤC VÂN TIÊN I Từ láy 40

1 Đặc trưng hình thức 41

2 Giá trị biểu đạt 43

II Từ địa phương 51

1 Nhóm từ địa phương Nam Bộ có biến âm so với từ toàn dân 52 2 Nhóm từ địa phương, từ vựng 53

3 Một từ vừa được dùng trong ngôn ngữ toàn dân, vừa 60

III Từ Hán –Việt. 63

1 Kết qủa thống kê phân loại 63

2 Giá trị sử dụng 64

IV Thành ngữ 67

1 Đặc điểm cách dùng … 67

Trang 3

2 Giá trị biểu đạt 70 KẾT LUẬN 82 TÀI LIỆU THAM KHẢO … 84

Trang 4

MỞ ĐẦU

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1 Nguyễn Đình Chiểu là một tác giả văn học lớn ở thế kỷ XIX, một nhà yêu nước đáng kính ở Nam Bộ Truyện Lục Vân Tiên là truyện thơ nổi tiếng nhất trong sự nghiệp sáng tác văn học của ông Tác phẩm này đã được nghiên cứu kỹ không những về mặt nội dung mà còn về mặt ngôn ngữ Đây là truyện thơ do nhà nho Nam Bộ viết nên có những đặc điểm cần được chỉ ra qua khảo sát vốn từ ngữ để góp phần hiểu hơn về giá trị của tác phẩm này

2 Trong nhà trường phổ thông, tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu được chọn học khá nhiều, đặc biệt là truyện Lục Vân Tiên Việc tìm hiểu đặc điểm

về từ ngữ được dùng trong tác phẩm sẽ góp phần vào việc dạy và học tốt hơn các đoạn trích của tác phẩm ở trường phổ thông

II MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI

1 Mục đích

Qua việc khảo sát toàn bộ ngữ vựng của truyện Lục Vân Tiên, luận văn nhằm rút ra các đặc điểm của ngữ vựng trong tác phẩm này Cụ thể, luận văn tập trung khảo sát, miêu tả và nêu đặc điểm của ba lớp từ:

a Lớp từ láy

b Lớp từ địa phương Nam Bộ

c Lớp từ Hán Việt

d Thành ngữ

2 Nhiệm vụ nghiên cứu

a Thống kê, khảo sát, phân loại từ và ngữ cố định được Nguyễn Đình Chiểu dùng trong truyện Lục Vân Tiên

b Khảo sát đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa của các lớp từ ngữ này để có được nhận xét chung về từng lớp từ ngữ

c Khái quát đặc điểm về từ vựng của truyện Lục Vân Tiên

3 Tư liệu khảo sát

Để nghiên cứu đề tài này, chúng tôi quyết định chọn văn bản: “ Truyện Lục Vân Tiên”, do Hà Huy Giáp giới thiệu; Nguyễn Thạch Giang khảo đính

Trang 5

và chú thích (Nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp - Hà Nội, 1976)

III LỊCH SỬ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

Nguyễn Đình Chiểu (1822 - 1888) một nhà thơ lớn, một danh nhân văn hoá của dân tộc Việt Nam Cuộc đời và sự nghiệp của ông - nhà thơ mù đất Đồng Nai đã cuốn hút và làm say mê bao thế hệ người Việt, và cả người nước ngoài nửa suốt gần hai thế kỷ

Cuốn “Nguyễn Đình Chiểu về tác giả và tác phẩm“ (NXB GD 1998) là một sưu tập chọn lọc những bài nghiên cứu, phê bình, tiểu luận, trích đoạn chương sách từ những nghiên cứu tiêu biểu do các tác giả trong và ngoài nước

đã công bố trong khoảng thời gian từ 1864 đến nay về con người và sự nghiệp thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu

Có thể điểm qua một số ý kiến của người nước ngoài viết về con người và tác phẩm cuả cụ:

Năm 1864, Ôbarê đã dịch truyện Lục Vân Tiên ra tiếng Pháp đăng trong tập “Kỷ yếu châu Á” Trong lời nói đầu của bản dịch tuy có nhiều nhận xét chưa thoả đáng nhưng cũng có những nhận định đáng chú ý Chẳng hạn truyện thơ Lục Vân Tiên phổ biến trong dân gian đến mức là ở Nam Kỳ không có một người đánh cá hay một người lái đò nào không hát một vài câu thơ ấy khi họ chèo thuyền Có lẽ đây là một trong những lý do khiến cho những người có học thức không biết đến tác phẩm này, cũng như ở nước Pháp người ta không biết những tác phẩm viết bằng tiếng địa phương Nhưng người

ta không thể bảo truyện Lục Vân Tiên được viết bằng tiếng địa phương, vì không nơi nào khác người ta có thể tìm thấy những mẫu mực xứng đáng hơn trong tiếng nói dân gian, và việc nghiên cứu tác phẩm này là đúng đắn nhất cho những ai muốn hiểu biết tiếng “An Nam một cách sâu sắc” (sđd, tr.623)

Năm 1943, Hopphen, Thống đốc Nam Kỳ có nói tại lễ kỷ niệm lần thứ

55 ngày mất Nguyễn Đình Chiểu: “Hôm nay cuộc lễ kỷ niệm cụ Nguyễn Đình Chiểu, một bậc văn nhân tài hoa đất Việt mà lại là tác giả Lục Vân Tiên… Cụ soạn ra quyển Lục Vân Tiên với ý là để giáo huấn bọn môn sinh, sau nữa là để khuyên đời, răn chúng, cho nên từ đầu đến cuối, cụ đem cái học

Trang 6

thuyết Khổng - Mạnh và cái luật nhân - quả báo ứng ra mà phô diễn” (sđd, tr.621)

Năm 1972 N Niculin (Nga) trong bài “ Nhà thơ thân yêu của Miền Nam Việt Nam” đã nhìn nhận tư tưởng và mục đích sáng tác văn chương của

cụ Đồ Chiểu là vì vận mệnh của dân tộc: “Mặc dù ông không có binh tướng trong tay, nhưng về thực chất ông là linh hồn của phong trào giải phóng là người cổ vũ phong trào đó Văn thơ của ông đã tìm được con đường đi thẳng vào trái tim nhân dân”

Trở lại những nhà nghiên cứu trong nước về cuộc đời và thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu, đặc biệt là về tác phẩm Lục Vân Tiên, chúng ta thấy có nhiều ý kiến đáng chú ý

Khi cụ còn sống, và những năm sau khi mất, qua tài liệu khảo sát chỉ thấy các tác giả chủ yếu là sưu tầm và biên soạn tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu Chỉ sau năm 1945, đất nước được “Khai sinh” thì việc nghiên cứu về Nguyễn Đình Chiểu được chú ý và đi vào thực chất hơn

Tuy nhiên phải đến năm 1963 trong dịp kỷ niệm75 năm ngày mất Nguyễn Đình Chiểu, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã công bố bài báo nổi tiếng khẳng định vị trí cao quý của Nguyễn Đình Chiểu và giá trị đích thực của thơ văn ông Ông là tấm gương sáng, nêu cao địa vị và tác dụng của văn học nghệ thuật, nêu cao sứ mạng của người chiến sỹ trên mặt trận văn hoá, tư tưởng hay

“ Đặc sắc văn chương của ông là ở chỗ” tác giả cố ý viết một lỗi văn “ Nôm

na dễ hiểu, dễ nhớ, có thể truyền bá rộng rãi trong dân gian”, vì vậy Nguyễn Đình Chiểu là một ngôi sao có ánh sáng khác thường, tác phẩm có những giá trị tiềm ẩn đòi hỏi phải nhìn kỹ mới có thể khám phá được giá trị của nó Cũng trong năm này, Viện văn học đã biên soạn kỷ yếu “ Mấy vấn đề về cuộc đời và thơ văn Nguyễn Đình Chiểu” (NXB KH, 1964) và “ Một số tư liệu về cuộc đời và thơ văn Nguyễn Đình Chiểu” (NXB KH, 1965) Đây là hai đầu sách lần đầu tiên giới thiệu rộng rãi với bạn đọc kết quả nghiên cứu về cuộc đời và tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu

Năm 1972, nhân lễ kỷ niệm 150 năm sinh của nhà thơ được tổ chức ở

Hà Nội, cuốn sách “ Nguyễn Đình Chiểu tấm gương yêu nước và lao động

Trang 7

nghệ thuật” (NXB KHXH, 1972) được ấn hành, trong đó có 30 tiểu luận do các nhà hoạt động văn hoá, nhà nghiên cứu và giảng dạy viết về con người và tác phẩm Nguyễn Đình Chiểu Các học giả đã đề cập đến mối quan hệ sâu sắc

về văn hoá giữa Trung Quốc và Việt Nam qua truyện thơ của Nguyễn Đình Chiểu, đồng thời khẳng định giá trị tư tưởng và nghệ thuật của thơ văn ông

Năm 1982, nhân kỷ niệm 160 năm ngày sinh của nhà thơ, Hội nghị khoa học quốc gia về Nguyễn Đình Chiểu được tổ chức trên qui mô lớn tại tỉnh Bến Tre nơi nhà thơ sống hơn 25 năm và yên nghỉ tại đó Hàng trăm bản tham luận được gửi đến, và một kỷ yếu biên soạn khá công phu được công bố trích chọn hơn 90 bài và tập thư mục về Nguyễn Đình Chiểu được ấn hành

Năm 1998 đến nay cũng đã có thêm những tiểu luận và công trình ghi nhận những nỗ lực mới trong lĩnh vực nghiên cứu về Nguyễn Đình Chiểu như cuốn “ Từ ngữ - thơ văn Nguyễn Đình Chiểu “ của GS Nguyễn Thạch Giang (NXB Tp HCM, 2000)

Dưới cái nhìn của nhà nghiên cứu văn học, các khía cạnh thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu đã được soi tỏ, xung quanh những nhận định được trao đổi như: chủ nghĩa yêu nước, tư tưởng nhân nghĩa, tư tưởng nho giáo, đạo làm người, tính nhân dân, tính quần chúng, chủ nghĩa anh hùng, giá trị nghệ thuật thơ văn, giá trị nghệ thuật ngôn từ,… Tóm lại, các tác giả đã khẳng định

sự đóng góp về mặt nội dung tư tưởng và mặt nghệ thuật của thơ văn Nguyễn Đình Chiểu Tuy nhiên qua khảo sát từng mốc thời gian và những công trình tiêu biểu, chúng tôi có nhận định rằng: Chủ yếu các nhà nghiên cứu đang dừng lại ở việc thẩm định giá trị nội dung của các tác phẩm thơ văn ông Riêng đóng góp về nghệ thuật trong đó có đóng góp về từ vựng, một số công trình nghiên cứu đã đề cập ở mức độ khái quát Thủ tướng Phạm Văn Đồng, trong bài “Nguyễn Đình Chiểu ngôi sao sáng của văn học dân tộc” đã phần nào chỉ ra điều này

Xuân Diệu trong bài “Đọc lại thơ văn Nguyễn Đình Chiểu” nhận xét: “ Những tiếng Miền Nam yêu thương của ta Các ngươi đã vào trong thơ của Nguyễn Đình Chiểu một cách đường hoàng chính thống, thoải mái theo lẽ tự nhiên… Cao hơn nữa, tôi muốn nói đến ngôn ngữ Nguyễn Đình Chiểu Một

Trang 8

ngôn ngữ bình dân, thông dụng chân thật, thực tế, có cái vị thơm, cái hương lành của nó, cái hương vị văn Miền Nam”

Hải Như trong bài “ Một cách nhìn về nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu” có nhận xét: “Nguyễn Đình Chiểu là một nhà nho uyên bác, hơn ai hết ông hiểu với thi ca, điếu tế là phải lời gọt giũa Thi ca ông học để đi thi, ấy thế mà khi

sử dụng thi ca làm vũ khí đánh giặc ông đã “ phá khuôn phép” Nhà thơ - chiến sỹ Nguyễn Đình Chiểu đã mạnh dạn dùng hình tượng cùng với ngôn ngữ trần trụi của cuộc sống đưa vào sáng tác thơ Hôm nay trong ngữ vựng của chúng ta kêu là tính quần chúng, thì hôm qua Nguyễn Đình Chiểu đã ứng dụng trong sáng tác thơ văn của ông cái gọi là tính quần chúng ấy rồi Truyện thơ Lục Vân Tiên minh chứng khá rõ tính quần chúng ấy Chúng ta không ngạc nhiên thấy cả vùng lục tỉnh xưa, ai cũng kể, cũng thuộc chí ít đôi câu thơ Lục Vân Tiên Nội dung tư tưởng Lục Vân Tiên đáp ứng yêu cầu thời đại ấy, nhưng nếu yếu tố nghệ thuật của tác phẩm không có gì thì hỏi tác phẩm sao lại đi vào lòng người, làm rung động lòng người rộng khắp thế được… nền văn học dân tộc ta có Nguyễn Du với văn phong chải chuốt và bay bướm, đạt tới đỉnh cao của nghệ thuật ngôn ngữ thơ có một không hai, còn nhà thơ chiến

sỹ Nguyễn Đình Chiểu thì sáng tác với phương châm sao cho thơ văn được phổ cập rộng vào quần chúng Khác với nhà thơ Nguyễn Du, mỗi câu thơ đều nghiêm ngặt, đạt tới đỉnh cao nghệ thuật, thì thơ Nguyễn Đình Chiểu không nhằm khoác áo thi nhân Vì vậy không tránh khỏi những câu thơ của Nguyễn Đình Chiểu không thật là thơ Văn phong Nguyễn Đình Chiểu nảy sinh từ chỗ đứng của ông và từ tính cách con người Miền Nam, không nên và không thể lấy văn phong Nguyễn Du ra để so sánh”

Hồng Dân trong bài “Nguyễn Đình Chiểu cái mốc lớn trên tiến trình của tiếng Việt văn học” cho rằng: “Di sản văn học dân tộc mà Nguyễn Đình Chiểu kế thừa bao gồm một khối lượng rất lớn những tác phẩm bằng tiếng việt, trong đó đáng chú ý hơn cả là những tác phẩm theo thể ngâm: Cung oán ngâm khúc, Chinh phụ ngâm… và thể truyện: Truyện Hoa Tiên, Truyện Kiều… ngôn ngữ trong các tác phẩm ấy trong sáng và điêu luyện, được trau chuốt công phu, mà Truyện Kiều là đỉnh cao chói lọi nhất, tạo nên niềm tự hào chính đáng của những thế hệ Việt Nam lâu nay và mãi mãi về sau đối với sức sống của ngôn ngữ dân tộc Nhưng cũng phải nhận thấy rằng ngôn ngữ

Trang 9

trong các tác phẩm đó lại quá đậm tính chất bác học, nặng tính chất ước lệ, tượng trưng, xa cách ngôn ngữ sinh động trong đời sống hiện thực của quần chúng nhân dân Nguyễn Đình Chiểu không thể vượt qua những đặc điểm chung đó của thời đại trong phong cách vận dụng ngôn ngữ Tuy nhiên đấy chưa phải là mặt chủ yếu trong phong cách ngôn ngữ của cụ Mặt chủ yếu tạo

ra bản sắc riêng độc đáo ở Nguyễn Đình Chiểu là ở chỗ cụ làm cho ngôn ngữ tác phẩm văn học gần gũi hơn với ngôn ngữ sinh động, phong phú, đa dạng, trong lời ăn tiếng nói hàng ngày của quần chúng nhân dân Cái đẹp trong Cung oán ngâm khúc, trong Truyện Kiều có phần giống cái đẹp của cây đa, cây đề được chăm chút gọt tỉa khéo léo trong vườn thượng uyển, trong công viên, còn cái đẹp của ngôn từ trong văn thơ Nguyễn Đình Chiểu lại có phần giống cái đẹp của cây đa, cây đề mọc ở đầu làng, giữa cánh đồng, ở một bến nước, bờ sông nào đó của thôn quê Việt Nam, mộc mạc, bình dị, chân thực

mà hồn nhiên lạ thường Đặc điểm này quán xuyến toàn bộ thơ văn Nguyễn Đình Chiểu Ta có thể bắt gặp những từ ngữ cửa miệng, những từ ngữ phương ngôn, thành ngữ, tục ngữ, những cách nói quen thuộc hàng ngày của đại chúng nói chung của nhân dân Nam Bộ nói riêng”

Nhóm tác gỉa Hoàng Tuệ, Phạm Văn Hảo, Lê Văn Trường trong bài “ Bàn về vai trò văn hoá - xã hội của tiếng địa phương” đã khẳng định vai trò của phương ngữ Nam Bộ trong thơ Nguyễn Đình Chiểu Đặc biệt đáng chú ý nhất ở mặt từ vựng Thể hiện trong các trường hợp sau trong tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu

+ Những danh từ cụ thể và động từ, tính từ đối lập giữa các phương ngữ (bắp/ ngô, heo/ lợn, hốt/ bốc, vầy/ nhóm lửa… )

+ Những từ xưng hô như qua, va, bay gắn bó với cuộc sống của bà con quê hương tác giả

+ Những từ có dạng biến thể ngữ âm giữa các phương ngữ như: biên/ bên, bịnh/ bệnh…

+ Những từ láy có tư cách ngữ pháp là động từ hay phó từ thường quen dùng ở Miền Nam (bí bề, bí bàng, chào rào, chàng ràng)

GS Nguyễn Thạch Giang trong bài “ Mấy nhận xét tổng quát về ngôn ngữ thơ văn Nguyễn Đình Chiểu”đánh giá cao về mặt ngôn ngữ của tác phẩm Nguyễn Đình Chiểu trên nhiều phương diện

Trang 10

+ Về từ Hán - Việt: Ông có cố gắng khi sử dụng lớp từ này, đã việt hoá một số lớn từ ngữ gốc Hán Nhìn chung từ ngữ Hán ông dùng một cách tự nhiên, không gò bó Điều đó phá thói quen hay nói chữ của số đông những người có học đương thời Mặt khác phần lớn tiếng Hán trong tác phẩm Nguyễn Đình Chiểu chỉ là từ Hán Việt thông thường, đã nhập vào vốn từ cơ bản, không ai còn nghĩ đến việc phân biệt nguồn gốc Lại lắm khi Nguyễn Đình Chiểu diễn những tư tưởng trong kinh sử Hán sang tiếng việt một cách nhuần nhuyễn, biến chúng thành những biến cố, thành ngữ tiếng việt

+ Về lớp từ nôm thuần Việt: một số từ phổ thông tiếng Việt có sắc thái ngữ nghĩa riêng của Nam Bộ Hàng loạt từ ngữ dân gian thành ngữ là tiếng nói địa phương Nam Bộ và xứ Huế quê nội được ông đưa vào tác phẩm văn học, làm giàu vốn từ ngữ chung của tiếng nói dân tộc, góp phần giao lưu văn hoá giữa hai miền

Ngôn ngữ còn có một loại nói ví dân gian thành những đoản ngữ cố định như thành ngữ Ngoài ra, thơ văn ông còn có những cách nói ví thật độc đáo là sản phẩm riêng của tiếng nói lục tỉnh Nguyễn Đình Chiểu còn đưa vào tác phẩm hàng loạt thành ngữ bốn chữ tịnh lập sóng đôi, phản ánh tâm trạng đau buồn chia sẻ, phân cắt của tình cảm đối với thực trạng đất nước

+ Từ ngữ thơ văn ông toát lên tinh thần lạc quan tích cực

Trên đây chúng tôi đã điểm qua về các mốc nghiên cứu và các công trình nghiên cứu tiêu biểu về cuộc đời, sự nghiệp thơ văn Nguyễn Đình Chiểu

và về tác phẩm Lục Vân Tiên Chúng tôi đã tìm được nét thống nhất trong sự đánh giá của họ về nội dung và nghệ thuật của các tác phẩm Nhìn chung những công trình nghiên cứu đó đều có đóng góp nhất định trong việc tìm hiểu cuộc đời, sự nghiệp tác phẩm văn học của Nguyễn Đình Chiểu Tuy nhiên ở góc độ ngôn ngữ học nhất là khía cạnh từ ngữ chưa có những bài viết, chuyên luận nào đi sâu khảo sát một cách đầy đủ toàn diện về truyện Lục Vân Tiên Chính vì vậy luận văn này muốn đi sâu vào vấn đề này để góp phần nào

đó vào việc học tiếp nhận tác phẩm Lục Vân Tiên của cụ Đồ Chiểu

IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Thống kê phân loại (trong khâu làm ngữ liệu)

Trang 11

2 Miêu tả, phân tích (khi khảo sát các lớp từ láy, từ Hán việt, từ địa phương Nam Bộ và các thành ngữ, điển cố, điển tích)

3 Quy nạp (khi làm lịch sử vấn đề, tiểu kết chương và kết luận)

V DỰ KIẾN ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

Giới thiệu bức tranh toàn cảnh về ngữ vựng của truyện Lục Vân Tiên, trong đó nhấn mạnh đặc điểm của một số lớp từ ngữ quan trọng của tác phẩm này (từ láy, từ địa phương Nam Bộ, thành ngữ, từ Hán Việt)

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

I NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU - CUỘC ĐỜI VÀ TÁC PHẨM

1 Cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu

1.1 Hoàn cảnh xuất thân

Nguyễn Đình Chiểu là con trai của Nguyển Đình Huy Cha ông người xã Bồ Điền huyện Phong Điền tỉnh Thừa Thiên Huế Ông Nguyễn Đình Huy có vợ cả là Phan Thị Hữu , người cùng xã sinh được một trai là Lân

và một gái là Thu Năm 1820 Minh Mệnh lên ngôi, tháng 5 tả quân Lê Văn Duyệt được triều đình Huế phái vào làm tổng trấn thành Gia Định , Nguyễn Đình Duyệt theo Lê Văn Duyệt vào nam làm thư lại Ông lấy vợ hai tên là Trương Thị Thiệt người làng Tân Thới huyện Bình Dương phủ Tân Bình tỉnh Gia Định và sinh được 7 người con : 4 trai , 3 gái Nguyễn Đình Chiểu là con đầu Em Nguyễn Thị Thục ( 1825) , em Nguyễn Thị Nữ ( 1827) , em Nguyễn Thị Thành ( ? ) , Em Nguyễn Đình Tưụ ( 1837) , em Nguyễn Đình Tự ( 1839) , em Nguyễn Đình Huân ( 1841)

Nguyễn Đình Chiểu (tục gọi là Đồ Chiểu) tự Mạnh Trạch , hiệu Trọng Phủ , (sau khi bị mù có hiệu là Hối Trai) sinh ngày 1/7/1822 , mất 3/7/1888 tại làng An Đức, quận Ba Tri, tỉnh Bến Tre Ông sinh ra trong một gia đình trí thức nghèo tại làng Tân Khánh, huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, tỉnh Gia

Trang 12

Định vùng Đồng Nai Quê hương ông, cha mẹ ông cùng hoàn cảnh sinh hoạt

và học tập đã sớm rèn đúc cho ông những phẩm chất tốt đẹp

1.2 Cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu

Sau khi Lê Văn Duyệt chết, triều đình nhà Nguyễn bày ra vụ án Lê Văn Duyệt Toàn bộ gia nhân của Lê Văn Duyệt bị giết hại Được các tù nhân và nhân dân địa phương ủng hộ, con nuôi Lê Văn Duyệt là Lê Văn Khôi đã nổi dậy chiếm Sài Gòn Khi cuộc khởi nghĩa của Lê Văn Khôi nổ ra, Nguyễn Đình Huy từ Gia Định chạy trốn về Huế nên bị triều Nguyễn cách chức Tại kinh thành Huế, được sự giúp đỡ của một người bạn, ông đã đưa Nguyễn Đình Chiểu ra Huế học

Năm 1840 ( năm Canh Tý ), Nguyễn Đình Chiểu từ Huế trở về Gia Định và 3 năm sau ông thi đỗ tú tài ở trường thi hương Gia Định Thấy ông

là người học giỏi và có nhiều hứa hẹn trên đường khoa cử , một gia đình giàu

có ở Gia Định hứa gả con gái cho ông

Năm 1846 Nguyễn Đình Chiểu từ Gia Định trở ra Huế đợi kỳ thi hương

mở vào năm 1849 ( năm Kỷ Dậu ) Ở kinh thành Huế, Nguyễn Đình Chiểu đã giành toàn bộ thời gian để dùi mài kinh sử chờ đợi khoa thi Nhưng một tin buồn xé ruột đến với ông : mẹ mất Không đành lòng ở lại Huế chờ khoa thi, ông lên đường vào nam chịu tang mẹ Dọc đường vì quá đau buồn nên ông bị

ốm đau và mù cả hai mắt Mất đôi mắt giữa lúc mới 27 tuổi là điều bất hạnh lớn đối với một thanh niên đầy nhiệt huyết Từ đấy, ông sống trong cảnh mù loà tăm tối Gia đình nhà giàu trước đây hứa gả con gái cho ông đã bội ước Cái buồn trong hoàn cảnh này có thể làm ngã gục nhiều người Nhưng Nguyễn Đình Chiểu với nghị lực phi thường đã vượt qua mọi thử thách

Năm 1849, mãn tang mẹ, Nguyễn Đình Chiểu mở trường dạy học và làm thuốc chữa bệnh cho đồng bào Ông lấy tên hiệu cho mình là Hối Trai ( nghĩa là ngôi nhà tối) Nhân dân vùng Đồng Nai - Gia Định rất quý mến và hâm mộ ông Có thể nói Nguyễn Đình Chiểu lấy việc phục vụ nhân dân làm gốc cho việc trau dồi nghề nghiệp và phát triển tài năng của thấy thuốc Danh tiếng của ông, của con người tài đức vang truyền khắp nơi Tiếng lành đồn

xa, bà con khắp nơi đã gửi con theo học Nguyễn Đình Chiểu và nhờ ông chạy chữa thuốc thang Lúc này Nguyễn Đình Chiểu đã ngoài 30 tuổi mà vẫn chưa

Trang 13

lập gia đình Thấu hiểu nỗi vất vả và kính trọng người thầy tài đức, một người học trò tên là Lê Tăng Quýnh người làng Thanh Ba, quận Cần Giuộc đã xin cha mẹ đưa em gái mình là Lê Thị Điền ( tức Năm Điền ) gả cho thầy học Cô Năm Điền đã trở thành người vợ hiền của Nguyễn Đình Chiều

Nguyễn Đình Chiểu lấy vợ năm 33 tuổi (tức năm 1854 - năm Giáp Dần) sinh được 4 trai 3 gái : Nguyễn Thị Hương , Nguyễn Đình Chúc , Nguyễn Thị Kim Xuyến , Nguyễn Thị Ngọc Khuê , Nguyễn Đình Chiêm , Nguyễn Đình Ngưỡng , người con trai thứ năm chết yểu Trong những đứa con của ông bà, Ngọc Khuê là người tài cao học rộng Bà có biệt hiệu là Nguyệt Anh nổi tiếng trên chốn văn đàn Sau khi chồng chết bà lấy hiệu là Sương Nguyệt Anh (người đàn bà goá chồng ) Bà đã từng làm chủ bút tờ

Nữ giới chung , tờ báo phụ nữ đầu tiên ở Nam Bộ

Quê hương và gia đình có ảnh hưởng lớn đến cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu Quê ông vùng Đồng Nai có truyền thống văn hoá nổi tiếng của dân tộc Người ta thường nói tới " hào khí Đồng Nai " tức là nói tới hào khí Việt Nam thể hiện ở miền Nam đất nước Nói tới hào khí Đồng Nai là nói tới tinh hoa của đất nước đến phẩm chất của con người , đến lòng tự hào của chúng ta

về cách sống , về lối nghĩ Việt Nam Nói tới hào khí Đồng Nai còn nói tới truyền thống văn học , truyền thống đạo đức bắt nguồn từ những trường tư nổi tiếng ở khắp vùng nhất là trường tư của nhà giáo dục đầy uy tín Võ Trọng Toản Nói tới hào khí Đồng Nai còn nói tới truyền thống đấu tranh kiên cường của vùng châu thổ sông Đồng Nai và sông Cửu Long , cửa ngõ phía Nam tổ quốc , vị trí đầu sóng ngọn gió chống quân Xiêm trước kia và Pháp -

Mỹ sau này

Anh hưởng quê hương gắn liền với ảnh hưởng của gia đình Gia đình Nguyễn Đình Chiểu là một gia đình thuần phác, nề nếp, sống gắn bó với nhân dân lao động Cha mẹ hết sức quan tâm giáo dục con theo thuần phong mỹ tục của xã hội Việt Nam , cho con học hành, ước mong hiển đạt qua đường khoa cử Cha ông , Nguyễn Đình Huy sau vụ án Lê văn Duyệt bị gạt ra khỏi chức vụ nhỏ bé của mình , cuộc sống của ông lại càng gắn bó với nhân dân lao động Mẹ ông (bà Nguyễn Thị Thiệt) người con gái đất Đồng Nai dịu

Trang 14

hiền chăm nuôi con cái Điều bà quan tâm nhất là làm cho con biết nhận ra thế nào là thiện ác , là lẽ sống của con người Vợ ông (bà Lê Thị Điền) là người đàn bà đức hạnh Tuổi thanh xuân đã mở lối cho bà đến với một cuộc sống vàng son nhưng bà đã khước từ Phải chăng ngay bấy giờ bà nhận thức được rằng : giàu sang không phải là chân giá trị hạnh phúc Gặp Nguyễn Đình Chiểu, bà tìm được người chồng lý tưởng thanh cao Dù mù loà nhưng chính ông đã đem lại cho bà hạnh phúc chân chính Và nhà thơ lại gặp được người

vợ thảo hiền Bà săn sóc chu đáo từ thức ăn giấc ngủ, manh quần tấm áo cho chồng , và cùng ông dạy dỗ nên người 6 đứa con Thầy đồ có mở lớp dạy học

và làm thuốc, song không vì kế sinh nhai mà vì lý tưởng cứu dân cứu nước Phần lớn sự sống trong gia đình đều do tài đảm đang của bà Ngoài ra bà đã góp công rất nhiều trong việc ghi chép và phổ biến thơ của thầy đồ đến với nhân dân Bà là tấm gương sáng cho các thế hệ phụ nữ Việt Nam về tinh thần tận tuỵ hy sinh cho chồng con

Sống trong cái nôi của gia đình, của quê hương , quả tim lớn của nhà thơ chứa chan tình yêu cha mẹ , anh em , đồng bào , quê hương đất nước , yêu những con người trung can nghĩa khí , ghét thói gian tà sâu dân mọt nước , lũ

xu nịnh , và đã hun đúc thành ý chí cho nhà thơ phải vẫy vùng để " đánh phiên dẹp loạn " Nhưng tâm hồn cao quý ấy không thể thực hiện được bằng hành động múa kiếm mà ông đã gửi gắm vào sự nghiệp giáo dục , vào y học , nhất là sự nghiệp sáng tác văn chương Ngòi bút của ông không kém sắc bén hơn mũi kiếm lưỡi siêu Để nhận xét về cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu chúng tôi trích dẫn ra câu nói của Thủ tướng Phạm Văn Đồng : " Nguyễn Đình Chiểu là một chiến sỹ yêu nước , một nhà thơ lớn của nước ta Đời sống và

sự nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu là một tấm gương sáng nêu cao địa vị và tác dụng của văn học nghệ thuật , nêu cao sứ mạng của người chiến sỹ trên mặt trận văn hoá tư tưởng” ( trích Nguyễn Đình Chiểu ngôi sao sáng trong văn học của dân tộc )

2 Sự nghiệp thơ văn

Trang 15

Sự nghiệp thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu có thể chia thành hai thời

kỳ sáng tác tương ứng với hai giai đoạn hình thành và phát triển tư tưởng của ông

2.1 Giai đoạn đầu là những năm năm 50 của thế kỷ XIX : trong giai đoạn này ngoài việc dạy học và làm thuốc ông đã sáng tác hai tập truyện dài

là Lục Vân Tiên và Dương Từ - Hà Mậu Đây là thời kỳ hình thành và khẳng định tư tưởng yêu nước , yêu dân , tư tưởng nhân nghĩa , coi như một bộ phận triết lý nhân sinh của ông

2.1.1 Lục Vân Tiên là tác phẩm thơ nôm đầu tiên trong đó thông qua những mối quan hệ tích cực và tiêu cực ở gia đình và xã hội , thông qua những nhân vật lý tưởng như Vân Tiên , Nguyệt Nga , Hớn Minh , Tử Trực , Tiểu Đồng , những người lao động giàu lòng nhân nghĩa như vợ chồng ông ngư , ông tiều Nguyễn Đình Chiểu muốn khẳng định cuộc sống của con người tương thân tương ái với nhau trên cơ sở nhân nghĩa

2.1.2 Dương Từ - Hà Mậu : Tác phẩm này Nguyễn Đình Chiểu viết trong hoàn cảch đất nước " dưa chia khăn xé " đó là quân đội viễn chinh của thực dân Pháp muốn xâm lược nước ta , âm mưu lợi dụng hội truyền giáo cho các giáo sỹ sang trước để làm nhiệm vụ quan sát , dò la tình hình và chia rẽ hàng ngũ đấu tranh của nhân dân Bọn giáo sỹ ru ngủ quần chúng bởi những giáo lý huyễn hoặc , về thiên đường địa ngục , làm họ quên mất nhiệm vụ của mình với tổ quốc Hơn ai hết Nguyễn Đình Chiểu hiểu được điều đó , ngọn lửa căm hờn bùng cháy trong tâm hồn ông , thôi thúc ông phải lên tiếng , và thế là Dương Từ - Hà Mậu được viết ra

Tác phẩm cho mọi người thấy rõ đạo không ở đâu xa mà ở trong lòng người , lòng dân , nên mọi người phải lo tu thân theo những truyền thống đạo đức mà Nguyễn Đình Chiểu mệnh danh đó là chính đạo , để từ đó lo việc trị quốc trong cơn biến loạn của nước nhà Công giáo nói riêng và tôn giáo nói chung , ngay cả nho giáo đều được Đồ Chiểu " duyệt xét " lại trong toàn bộ tác phẩm Theo ông ngày nào mà tôn giáo không hoà đồng cuộc sống của dân tộc , ngày nào mà người theo đạo chỉ biết đóng khung trong giáo điều một cách lệch lạc thì ngày đó tôn giáo chỉ có hại cho tổ quốc

Trang 16

Dương Từ - Hà Mậu là một tác phẩm lớn toát lên tinh thần yêu nước và căm thù giặc sâu sắc Trước nguy cơ đổ vỡ cả nền tảng đạo đức cố hữu do ý

đồ của quân thù xâm lược , Dương Từ - Hà Mậu như lời kêu gọi mọi người trở về với chính đạo , biết yêu lẽ chính , ghét cái tà để hành động vì sự tiến bộ

xã hội và trong khi đất nước bị ngoại xâm hành động đó của Nguyễn Đình Chiểu là hành động chống giặc cứu nước

2.2 Giai đoạn 2 : Là giai đoạn phát triển cao và rực rỡ của sự nghiệp văn chương Nguyễn Đình Chiểu Giai đoạn này mở đầu từ những ngày giặc Pháp mới tràn vào sông Bến Nghé cho đến khi toàn cõi lục tỉnh Nam Kỳ bị chiếm đóng (tức là trong những năm 60 ,70 của thế kỷ XIX) Tư tưởng yêu nước của ông vốn có trong Lục Vân Tiên , Dương Từ - Hà Mậu , một tư tưởng yêu nước thuần tuý , đến giai đoạn này được đem ra thể nghiệm , thử thách trong thực tế chống ngoại xâm với một kẻ thù hung bạo , hiện đại chứ không phải thứ giặc " Ô Qua " trong tưởng tượng , trong hoàn cảch triều đình không phải là một Sở Vương lý tưởng mà là một triều đình suy vong chứa chất trong nó những mầm mống thất bại chủ nghĩa sẵn sàng hàng giặc Tư tưởng yêu nước đó qua thử thách đã được tôi luyện trở thành chủ nghĩa yêu nước sinh động và rất hiện thực Thơ văn ông là những con thuyền chở " đạo

" - đạo nhân nghĩa , đạo yêu nước; ngòi bút là vũ khí sắc nhọn như gươm , như giáo đâm thẳng vào quân thù cướp nước và bán nước :

" Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm Đâm mấy thẳng gian bút chẳng tà "

Trong giai đoạn này ông đã sáng tác một số thơ văn tế và một tập truyện dài là Ngư tiều vấn đáp nho y diễn ca

2.2.1 Thơ văn tế: Mang tính chất thời sự, tính chiến đấu sôi nổi Ông đã vạch trần tội ác của giặc cùng bọn tay sai nói lên mơ ước nước nhà được giải phóng Phạm Văn Đồng đã từng viết: “Thơ văn tế của Nguyễn Đình Chiểu ca ngợi những anh hùng suốt đời tận trung với nước, và than khóc những liệt sỹ

đã trọn nghĩa với dân Ngòi bút, nghĩa là tâm hồn trung nghĩa của Nguyễn Đình Chiểu đã diễn tả thật sinh động và não nùng, cảm tình của dân tộc đối

Trang 17

với người chiến sỹ của nghĩa quân vốn là người nông dân, xưa kia chỉ quen cày cuốc bổng chốc trở thành người anh hùng cứu nước” Đặc biệt Nguyễn Đình Chiểu đã thấy được mối quan hệ giữa lãnh tụ nghĩa quân với quần chúng, tình thương của quân sỹ đối với lãnh tụ cũng như lòng ưu ái của lãnh

tụ đối với quân sỹ Đó là quan niệm rất mới về người anh hùng của Nguyễn Đình Chiểu, rất khác với quan niệm phong kiến về trung quân ái quốc

2.2.2 Ngư tiều vấn đáp nho y diễn ca: Tập truyện này ông sáng tác khi

đã về ở Ba Tri (1862) khi mà cả một miền đất đai rộng lớn màu mỡ rơi vào tay giặc Pháp Như tên của tập sách, đây là một quyển văn vần dạy nghề thuốc chữa bệnh, nhưng Nguyễn Đình Chiểu thông qua các nhân vật đó để gửi gắm lòng yêu nước và căm thù giặc và phản ánh những vấn đề thời sự mà ông quan tâm

Tóm lại, sự nghiệp thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu đã đưa ông lên địa

vị một người mở đầu cho dòng văn học yêu nước, và là “Ngôi sao sáng trong bầu trời văn nghệ dân tộc”(sđd-Phạm Văn Đồng) trong thời kỳ cận đại Sự thành công của tác phẩm chính là sự chân thành bộc trực của một tâm hồn cao đẹp, yêu thương rất mực và căm thù rất mực

3 Truyện Lục Vân Tiên

Trang 18

số trường hợp cụ thể Sau 1975, NXB Đại học cho ra mắt bạn đọc truyện Lục Vân Tiên do Hà Huy Giáp giới thiệu, Nguyễn Thạch Giang khảo đính và chú thích Đây là một công trình văn bản học nghiêm túc đã tiếp thu thành tựu của những người đi trước và đã được xử lý văn bản một cách khoa học

3.2 Văn bản Lục Vân Tiên

Trước thực tế lịch sử văn bản khá phức tạp, để phù hợp cho việc nghiên cứu đề tài này, chúng tôi chọn văn bản Lục Vân Tiên do Hà Huy Giáp giới thiệu, Nguyễn Thạch giang khảo đính và chú thích

Trang 19

Văn bản gồm 2.080 câu, làm theo thể thơ lục bát, phỏng theo tiểu thuyết chương hồi nhưng “không phải tiểu thuyết tài tử mà là loại tiểu thuyết trung hiếu tiết nghĩa” (Nguyễn Khánh Toàn – sđd)

Truyện Lục Vân Tiên viết về một đôi trai tài, gái sắc Vân Tiên giỏi văn chương và võ nghệ, Nguyệt Nga là người đẹp làm thơ hay, nhưng cả hai đều không được tác giả nhấn mạnh về tài nghệ thuật, không miêu tả cụ thể những khát khao yêu đương và tìm kiếm hạnh phúc lứa đôi Nguyệt Nga theo cha về Hà Khê định bề nghi gia, còn Vân Tiên sau khi đã gặp Nguyệt Nga nhưng vẫn vui vẻ nhận dây tơ hồng do song thân chọn trước Gặp được Vân Tiên, Nguyệt Nga có cảm động, tình yêu đến nhưng rụt rè chứ không ào ạt, nàng xúc động nhiều về nghĩa cử hơn là tài mạo của chàng Vân Tiên cũng thế, cuộc kỳ ngộ với Nguyệt Nga không để lại ấn tượng gì sâu sắc Vân Tiên

có thưởng thức tài làm thơ của nàng, và trong bài hoạ lại chàng có thể hiện chút vấn vương, nhưng mãi đến khi tai qua nạn khỏi, về nhà biết chuyện Nguyệt Nga chăm sóc bố, chàng mới vì ơn nghĩa mà sang với Kiều Công Nguyệt Nga yêu Vân Tiên, nhưng tình yêu của nàng nhanh chóng biến thành nghĩa Nguyệt Nga cư xử theo đạo vợ chồng Nguyệt Nga cũng chờ đợi nhưng không bồn chồn nhớ nhung đến mức thành bệnh tương tư Tóm lại, nội dung của tác phẩm chủ yếu nhằm rèn luyện con người: Trải qua thử thách, cuối cùng sẻ được hưởng hạnh phúc, chính nghĩa sẽ thắng gian tà Tác phẩm đề cao người ngay thẳng, ca ngợi trung hiếu tiết nghĩa, với quan niệm sáng tác chủ yếu “Văn dĩ tải đạo” ( viết văn để truyền bá đạo lý)

Với quan điểm sáng tác ấy, tác giả ít tả cảnh, tả người mà chú trọng kể chuyện Ngay việc tả tình cũng rất chân phương ngay thẳng, không màu mè, đẽo gọt Người nông dân thuần phác biểu thị tâm tư tình cảm bằng hành động nhiều hơn lời nói Ngôn ngữ tác phẩm cũng được chi phối bởi điều đó Ngôn ngữ sinh động và bình dị Bên cạnh những câu ca dao, tục ngữ, tác giả còn sử dụng một cách hào phóng lớp từ ngữ quen thuộc của người nông dân, đặc biệt

là lớp từ địa phương Nam bộ quê hương ông, lớp từ láy, từ Hán – Việt, thành ngữ, tạo nên nét duyên riêng cho tác phẩm, làm giàu cho ngôn ngữ văn học

II - GIỚI THUYẾT VỀ CÁC LỚP TỪ ĐƯỢC KHẢO SÁT

Trang 20

Vai trò của ngôn ngữ trong thơ ca

Văn học là loại hình nghệ thuật sáng tạo bằng ngôn từ Hay nói cách khác Văn học lấy ngôn từ làm chất liệu M.Gorki khẳng định: “Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn chương” Nhà ngôn ngữ học Đức Schlegel lại khẳng định chính cái độc đáo của thơ ca là ở chỗ nó sử dụng một thứ vật liệu đặc biệt: Ngôn ngữ Theo ông, ngôn ngữ chính là một hình thức cội rễ nhất, nó là

“cội nguồn vật liệu của thơ ca”

Chất liệu ngôn từ giúp cho tác phẩm thơ vừa tái hiện được mọi mặt của đời sống, vừa thể hiện được lời nói và thế giới tư tưởng của con người, của chính tác giả, của cả thời đại Mặt khác, ngôn từ khi hoạt động trong tác phẩm còn có chức năng quan trọng nữa đó là chức năng thẩm mĩ, thể hiện trên ba phương diện: Tính tạo hình, tính truyền cảm và tính cá thể hoá

Ngôn ngữ có thể cung cấp cho nhà thơ phương tiện để tạo nên sức mạnh tạo hình Chẳng hạn về mặt từ có từ láy, từ tượng thanh, từ gợi tả; Về mặt diễn đạt có các phương tiện so sánh ẩn dụ, hoán dụ ; Có khả năng nâng cao hiệu quả biểu đạt đến mức tối đa

Hay lợi dụng mặt âm thanh, tiết tấu, ngữ điệu của các đơn vị từ ngữ để đem lại cho tác phẩm thơ sắc thái biểu cảm cần thiết trong mọi tình huống Sự phong phú đa dạng của các biến thể ngôn ngữ ở các cấp độ khác nhau cũng là một thuận lợi lớn cho việc thể hiện tính cá thể hoá cho tác phẩm thơ

Tóm lại, nhà thơ không dùng một thứ công cụ nào khác ngoài ngôn ngữ cho sáng tác của mình Sự khác nhau giữa những người bình thường và người nghệ sỹ trong việc sử dụng ngôn ngữ chính là ở trình độ và năng lực sáng tạo nghệ thuật Vốn từ vựng là của cải vô cùng quý báu, và quý hơn nữa là cách chọn dùng và nâng cao không ngừng vốn quý ấy Nghệ thuật không ưa sự rập khuôn, mà luôn luôn hướng về sự biến hoá, đổi mới và sáng tạo

Trang 21

số 2, 1978), GS Hoàng Tuệ viết:

"Nên hiểu rằng "láy" đó là phương thức cấu tạo những từ mà trong đó

có sự tương quan âm - nghĩa nhất định, láy là một sự hoà phối ngữ âm có giá trị biểu trưng hoá"

Trong cuốn "Từ vựng - ngữ nghĩa Tiếng Việt" (NXB Giáo dục - Hà Nội 1981), Đỗ Hữu Châu cho rằng:

Từ láy là những từ được cấu tạo theo phương thức láy, đó là phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết (với thanh diệu giữ nguyên hay biển đổi theo quy tắc biến thanh)" (Sđd tr.41)

Trong cuốn "Từ vựng học tiếng Việt'', GS Nguyễn Thiện Giáp viết:

"Ngữ láy âm là những đơn vị hình thành do sự lặp lại hoàn toàn hay lặp lại có kèm theo sự biến đổi ngữ âm nào đó của từ đã có Chúng vừa có sự hài hoà về ngữ âm, vừa có giá trị gợi cảm, gợi tả” (sđd tr.86)

Dựa vào quan niệm của các nhà nghiên cứu, đặc biệt là ý kiến của Đỗ Hữu Châu, chúng tôi đưa ra cách hiểu của mình về lớp từ láy tiếng Việt: Từ láy là những từ được cấu tạo theo phương thức láy, đó là phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận, hình thức âm tiết (với thanh điệu giữ nguyên hay biến đổi theo quy tắc biến thanh) và có giá trị biểu trưng hoá

1.2 Đặc trưng của từ láy

a Đặc trưng về cấu tạo

Căn cứ vào cách phối hợp ngữ âm, ta có thể phân biệt từ láy toàn bộ và

từ láy bộ phận

* Từ láy toàn bộ: là từ láy trong đó có sự lặp lại hoàn toàn của tiếng

Ví dụ: + Mô phỏng tiếng kêu: oe, oe, oa, oa, đùng đùng

Trang 22

+ Làm tên gọi sự vật: Bươm bướm, chôm chôm, cu cu…

Các từ láy toàn bộ có thể thay đổi thanh điệu, âm chính hoặc biến đổi phụ âm cuối để dễ phát âm (theo quy luật dị hoá trong ngữ âm)

Ví dụ: Đùng đùng - > đì đùng

Bịp bịp -> bìm bịp Thẳm thẳm -> thăm thẳm

* Từ láy bộ phận: là từ láy trong đó có sự lặp lại một bộ phận trong âm tiết, hoặc láy phụ âm đầu hoặc láy vần

- Láy phụ âm đầu đòi hỏi ở phần vần có những đối xứng nhất định + Đối xứng âm chính theo đặc điểm ngữ âm của từng cặp nguyên âm

Ví dụ: Hú hí, mũm mĩn (u/i)

Ngô nghê, xộc xệch (o/ê)

Lê la, lênh láng (ê/a)

+ Đối xứng âm cuối theo đặc điểm ngữ âm của từng cặp phụ âm cuối

Ví dụ: Hầm hập, nườm nượp (m/p)

Ngùn ngụt, thơn thớt (n/t) Khanh khách, xềnh xệch (nh/ch)

+ Đối xứng thanh điệu theo từng nhóm hoặc cùng nhóm bổng (0, ?, !):

lơ thơ, lẩn thẩn hoặc cùng nhóm trầm (`  ): bần thần, mũm mĩm, cọc cạch

Sự đối xứng như vậy được xem là "luật hài thanh" nó chi phối hầu hết các từ láy âm tiếng Việt

- Láy vần: đòi hỏi phụ âm đầu có những cặp luân phiên đối xứng nhất định

Ví dụ: l/t : lúng túng, lè tè

l/c,k,q: lấc cấc, lủng củng, loanh quanh l/nh : lắt nhắt, lúc nhúc

b/nh : bầy nhầy, bùng nhùng Xét theo số lượng tiếng có nghĩa, láy bộ phận gồm hai kiểu không có tiếng gốc và có tiếng gốc

Trang 23

+ Từ láy không có tiếng gốc tiêu biểu cho phương thức cấu tạo từ láy bằng việc phối hợp ngữ âm giữa các tiếng, nhờ đó tạo cho từ láy có nghĩa hình tượng Ví dụ: chập chờn, nhí nhảnh, bâng khuâng

+ Từ láy có tiếng gốc: Nghĩa từ láy này xuất phát từ nghĩa tiếng gốc, nhưng các từ láy có chung tiếng gốc lại khác nhau về sắc thái Ví dụ: nhỏ nhắn, nhỏ nhoi, nhỏ nhặt

Từ láy trong tiếng Việt gồm những từ láy đôi (song tiết) được tạo ra bằng phương thức tạo từ láy Như vậy những trường hợp láy ba, láy tư không phải là từ láy mà chúng là dạng láy của từ

b) Đặc trưng ngữ nghĩa của từ láy: Tổng hợp những xu hướng nhận xét khác nhau về nghĩa của từ láy, chúng tôi rút ra từ láy có những đặc trưng ngữ nghĩa cơ bản sau:

- Nghĩa khái quát hoá và trừu tượng hoá nghĩa của tiếng gốc làm cho từ láy có nghĩa hàm súc hơn Ví dụ: nước nôi, thịt thà

- Nghĩa cụ thể hoá và sắc thái hoá nghĩa của tiếng gốc làm cho từ láy

có nội dung nghĩa diễn đạt tinh tế, sinh động, chính xác, kèm theo sắc thái biểu cảm rõ rệt

Ví dụ: Lác đác, bâng khuâng

- Ý nghĩa biểu trưng ngữ âm hay là sự hoà phối ngữ âm giữa những yếu

tố tương ứng của các tiếng Đó là một sự hoà phối ngữ âm có tác dụng biểu trưng hoá, làm nên nghĩa của từ

1.3 Vai trò của từ láy trong tác phẩm văn chương

-Từ láy góp phần tạo nên những bức tranh về cảnh vật, về tâm trạng, về con người

Có thể nói các nhà thơ, nhà văn Việt Nam đều có ý thức dùng từ láy như một phương tiện ngôn từ hiệu quả để diễn tả tâm trạng và cảnh vật, để chuyển tải những nội dung tư tưởng của mình

Trong Truyện Kiều, truyện thơ nổi tiếng của Nguyễn Du trong dòng văn học cổ điển Việt Nam, tác giả đã có dụng công dùng những từ ngữ dân

Trang 24

dã, mà cụ thể là từ láy để làm dịu bớt ảnh hưởng của ngôn ngữ bác học trong tác phẩm của mình, đặc biệt khắc hoạ được những bức tranh về thiên nhiên và tâm trạng điển hình Những nhân vật trong Truyền Kiều được Nguyễn Du phác hoạ chỉ bằng vài câu thơ có từ láy nhưng đã đủ thần thái, hình dạng:

Mụ Tú Bà được vẽ bằng: Thoắt trông nhờn nhợt màu da

Ăn chi to lớn đẫy đà làm sao

Mã Giám Sinh: Mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao

Trước thầy sau tớ lao xao ( ) Ghế trên ngồi tót sỗ sàng

Hay trong thơ Việt Nam hiện đại, các tác giả như Xuân Diệu, Hàn Mạc

Tử, Nguyễn Bính, đã sử dụng rất hay lớp từ láy tạo nên vẻ đẹp riêng cho tác phẩm ghi lại khoảnh khắc tâm trạng điển hình

- Từ láy góp phần tô đậm màu sắc dân tộc, dân giã của tác phẩm thơ ca Việt Nam Sử dụng nhiều từ láy có tác dụng làm đậm đặc thêm chất dân tộc cho sáng tác văn học Hồ Xuân Hương (bà chúa thơ Nôm) dùng rất nhiều từ láy Chính nhờ lớp từ này mà mãi mãi người đọc nhớ đến bà như một nhà thơ đậm đà màu sắc dân tộc nhất trong các nhà thơ trung đại

- Từ láy góp phần tạo nên tính nhạc tiết tấu, vần nhịp, tính cân đối cho thơ Đây cũng là những dấu hiệu hình thức quan trọng để phân biệt thơ với văn xuôi Từ láy với đặc điểm cấu tạo âm thanh dựa trên sự hoà phối ngữ âm giữa các tiếng là thành phần từ vựng quan trọng đối với thơ ca Việt Nam

2 Từ địa phương

2.1 Khái niệm

Lớp từ ngữ địa phương tiếng Việt là nguồn của cải dồi dào và có khả năng cung cấp nhiều từ ngữ hợp lý cho kho từ vựng chung của tiếng Việt phổ thông cũng như tiếng Việt chuẩn Lâu nay các nhà Việt ngữ học có nhiều quan niệm khác nhau về lớp từ này

Trang 25

GS Hoàng Thị Châu là một trong những nhà nghiên cứu giành nhiều tâm huyết của mình để tìm hiểu từ địa phương và được xem là GS đầu ngành

về phương ngữ học tiếng Việt Bà định nghĩa: "Phương ngữ là một thuật ngữ ngôn ngữ học để chỉ sự biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân ở một địa phương cụ thể với những nét khác biệt của nó so với ngôn ngữ toàn dân hay với một phương ngữ khác”

Quan niệm của Nguyễn Thiện Giáp trong cuốn "Từ vựng học tiếng Việt": Từ địa phương là những từ được dùng hạn chế ở một hoặc một vài địa phương Nói chung, từ địa phương là bộ phận từ vựng của ngôn ngữ nói hàng ngày của bộ phận nào đó của dân tộc, chứ không phải là từ vựng của ngôn ngữ văn học Khi dùng vào sách báo nghệ thuật từ địa phương thường mang sắc thái tu từ: diễn tả lại đặc điểm của địa phương, đặc điểm của nhân vật… (

tr 257)

Trong công trình "Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt về mặt từ ngữ '', Nguyễn Quang Hồng định nghĩa: “Từ địa phương là những đơn vị và dạng thức từ ngữ của một ngôn ngữ dân tộc mà phạm vi tồn tại và sử dụng tự nhiên nhất của chúng chỉ hạn chế trong một vài vùng địa phương nhất định”

Từ các công trình nghiên cứu chúng ta thấy một điểm chung rằng: Từ địa phương không phải là một bộ phận của ngôn ngữ toàn dân, không phải là một bộ phận của toàn thể mà là biến thể địa phương của ngôn ngữ toàn dân,

từ địa phương cũng không phải là "một nhánh" của ngôn ngữ toàn dân bởi nó không phải là tách biệt ra từ ngôn ngữ toàn dân như một cái nhánh tách ra từ thân cây Mặt khác giữa từ địa phương và ngôn ngữ toàn dân cũng không phải

là quan hệ giữa cái cụ thể với cái trừu tượng, từ địa phương và ngôn ngữ toàn dân đều có mặt trừu tượng và cụ thể

Dựa theo những nét chính yếu trong quan niệm của các nhà nghiên cứu

đi trước, đặc biệt là ý kiến của Nguyễn Quang Hồng, chúng tôi rút ra cho mình một cách hiểu chung và phổ biến về từ địa phương để làm cơ sở khảo sát và nghiên cứu: Từ địa phương là những đơn vị và dạng thức từ ngữ được

Trang 26

sử dụng quen thuộc ở một hoặc vài địa phương nhất định, có những nét khác biệt với ngôn ngữ toàn dân

2.2 Đặc trưng của từ địa phương

Ngôn ngữ văn học tồn tại theo từng phong cách chức năng cụ thể Trong những phong cách chức năng ấy, phong cách nghệ thuật rất đáng được

ta chú ý tới Bởi vì ở đây lại có những vấn đề đặt ra đối với các từ ngữ địa phương Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật đòi hỏi một cách xử lý khác Ở đây vấn đề không phải là xem xét tư cách chuẩn của từ ngữ địa phương trong hệ thống từ vựng chung mà là xem xét từ ngữ địa phương trong một thông báo nghệ thuật, tức là trong tác phẩm văn học hướng khai thác những ưu thế của phương ngữ không thể thay thế được Từ góc độ xem xét chúng tôi có thể nêu lên những đặc trưng cụ thể của lớp từ ngữ này để làm căn cứ cho đề tài nghiên cứu

2.2.1 Đặc trưng về cấu tạo (quan hệ đối sánh chúng với những đơn vị

hay dạng thức từ ngữ tương đương trong ngôn ngữ toàn dân)

-Từ khác âm nhưng tương đồng về nghĩa

Ví dụ: Từ địa phương NB Từ toàn dân

- Từ địa phương vừa tương ứng ngữ âm, vừa tương đồng về nghĩa

Từ địa phương Từ toàn dân

- Từ địa phương là yếu tố trong từ đa tiết của ngôn ngữ toàn dân

Ví dụ: Từ địa phương Từ toàn dân

Trang 27

- Sầu riêng, măng cụt (Nam Bộ)

- Một từ vừa được dùng trong ngôn ngữ toàn dân, vừa được dùng trong phương ngữ nhưng có sự xê dịch về nghĩa

- Những từ đồng âm với nhau:

Ví dụ: Từ địa phương Từ toàn dân

mô (Nghệ Tĩnh): đâu mô : khối đất đá không lớn lắm nổi cao hơn xung quanh bầm ( Bắc Bộ) : mẹ bầm : Thâm tím và hơi đen

2.2.2 Đặc trưng ngữ nghiã

Bên cạnh kho từ vựng toàn dân quan trọng của mỗi ngôn ngữ, hay nói bóng bẩy như GS Nguyễn Thiện Giáp là "Hạt nhân từ vựng" thì từ địa phương có"sắc" riêng của nó, có phần đóng góp đáng quý cho ngôn ngữ chung, làm cho tiếng Việt ngày càng phong phú trong sáng trong sự đa dạng

Có được điều đó chính là nhờ đặc trưng ngữ nghĩa

Trang 28

Dùng từ ngữ địa phương bổ sung cho việc mô tả, thể hiện Nói cách khác từ địa phương chính là "đội quân" truyền tải sắc thái riêng biệt của từng vùng miền mà nếu dùng từ toàn dân thì không có được Đó có thể miêu tả nhân vật, miêu tả cảnh sắc mang tính chất địa phương cụ thể sinh động, hay thể hiện tình cảm ý nhị của nhà văn nhà thơ

Đọc thơ Tố Hữu, ta không chỉ thấy hình ảnh bà mẹ Việt Nam nói chung

mà còn thấy hình ảnh các bà mẹ trên mọi miền tổ quốc Việt Nam Có được đặc trưng này chính là việc tác giả sử dụng những từ xưng hô điển hình của các địa phương như má, bầm, mé, u, bủ

Từ địa phương giàu tính biểu cảm, nhiều khi chú trọng mức độ tình cảm hơn logic, đặc biệt dùng nhiều thán từ hay ngữ khí từ khi thông báo Cùng với cấu trúc cú pháp và từ vựng không khác nhau, chỉ cần thay đổi ngữ khí từ, giọng điệu, nó thể hiện rõ sự khác nhau về phương ngữ

Từ địa phương đặc trưng nghĩa mang phong cách bình dân, mộc mạc, giản dị, không phân chia đẳng cấp sang hèn, hoà đồng mọi tầng lớp Chính nhờ đặc trưng ngữ nghĩa này mà nhiều tác phẩm văn chương thu hút độc giả, độc giả yêu mến, truyền tụng vì vậy tác phẩm sống mãi theo năm tháng

2.3 Ranh giới giữa từ địa phương và từ vựng toàn dân

Từ vựng toàn dân và từ vựng địa phương có mối quan hệ qua lại lẫn nhau Ranh giới giữa hai lớp từ này sinh động thay đổi phụ thuộc vào vấn đề

sử dụng chúng Có nhiều từ hiện nay là từ địa phương nhưng trước đây là từ chung của toàn dân Một thời từ "chốc" (đầu) "cấu" (gạo), con gấy (gái) là từ vựng toàn dân, nhưng với thời gian từ này chỉ giữ lại ở một vài địa phương (như Nghệ Tĩnh, Thanh Hoá)

Trang 29

Ngược lại, có nhiều từ địa phương đã mở rộng phạm vi sử dụng của mình trở thành từ toàn dân Đó là do quá trình phát triển của từ vựng tiếng Việt, quá trình thống nhất và tiêu chuẩn hoá từ vựng

2.4 Chức năng dụng học

Từ vựng toàn dân là bộ phận nòng cốt của ngôn ngữ dân tộc Nó là vốn

từ chung cho tất cả những người nói tiếng Việt thuộc các địa phương các tầng lớp xã hội khác nhau Đây là lớp từ quan trọng nhất của mỗi ngôn ngữ Nó làm cơ sở cho sự thống nhất ngôn ngữ, không có nó không thể có sự trao đổi giao tiếp giữa mọi người Từ vựng toàn dân còn là bộ phận thiết yếu của từ vựng văn học Nó có thể dùng trong các phong cách chức năng khác nhau

Đối lập với từ vựng toàn dân là từ vựng dùng hạn chế, trong đó có lớp

từ địa phương (ngoài ra còn có từ nghề nghiệp, tiếng lóng, thuật ngữ…) Trong văn chương lớp từ này mang sắc thái tu từ Tức là để phô diễn những đặc điểm riêng biệt của một vùng miền nào đó về cảnh, về phong tục tập quán, mà dùng từ toàn dân không gột tả lên được Thiếu từ địa phương có khi mất đi tính hiện thực Dùng từ toàn dân hay từ địa phương đều là cách lựa chọn "Không có cách lựa chọn nào tự nó là hay, cũng không có cách lựa chọn nào tự nó là dở Chỉ có cách lựa chọn đúng và cách lựa chọn sai mà thôi” (Hoàng Thị Châu, Phương ngữ học tiếng Việt, tr 257)

3 Từ Hán Việt

3.1.Khái niệm từ Hán- Việt

Từ Hán-Việt là một bộ phận quan trọng trong kho tàng từ vựng của Việt Nam Lâu nay trong giới nghiên cứu ngôn ngữ học cũng đã có nhiều định nghĩa về lớp từ này

Trong cuốn “Tiếng Việt thực hành”, tác giả Hữu Đạt định nghĩa: “Từ Hán-Việt là các từ của tiếng Hán du nhập vào Việt Nam trong một quá trình lịch sử lâu dài đã được Việt hoá về mặt ngữ âm Nói cách khác đó là các từ

Trang 30

tiếng Hán đọc theo cách của người Việt gọi là âm Hán-Việt, chịu sự chi phối của các quy luật ngữ âm tiếng Việt”

Đinh Trọng Lạc trong cuốn “99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt” cho rằng : “ Từ Hán-Việt là từ mượn ở tiếng Hán, phát âm theo cách Việt Nam (quy ước thời Đường Tống)”

Trương Chính lại hiểu: “Từ Hán-Việt là những từ Hán được dùng trong tiếng Việt, đọc theo âm Hán-Việt, và theo nhân dân Việt dùng Đó là một bộ phận của tiếng Việt” (Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt về mặt từ ngữ)

Nhìn chung, để định nghĩa lớp từ Hán- Việt, các nhà ngôn ngữ học đã thống nhất được nội hàm của khái niệm Đó là : Từ Hán-Việt là từ mượn của Tiếng Hán theo âm đời Đường, đọc theo cách đọc Hán Việt (cách đọc của người Việt, chịu các quy luật ngữ âm tiếng Việt)

3.2 đặc điểm của từ Hán-Việt

- Đặc điểm về lịch sử: Các từ gốc Hán du nhập vào Việt Nam qua hai thời kỳ lớn Thời kỳ thứ nhất là từ trước Công nguyên đến đời Đường (thế kỷ VIII) Thời kỳ thứ hai là từ thế kỷ VIII trở về sau Sự du nhập này làm cho vốn từ gốc Hán trong kho từ vựng tiếng Việt rất lớn Các từ Hán du nhập vào Việt Nam ở thời kỳ thứ nhất gọi là từ Hán cổ Vì chúng vào Việt Nam từ rất lâu nên quá quen thuộc đối với người Việt đến nỗi chúng ta có thể quên gốc gác của nó

Ví dụ: Quần, áo, buồng, chén, bát, buồn,

Các từ gốc Hán vào Việt Nam ở thời kỳ thứ hai được người Việt đọc theo dạng ngữ âm đời Đường, theo cách đọc của người Việt Nam (cách đọc Hán-Việt) gọi là từ Hán-Việt Như vậy từ Hán-Việt không chỉ bao gồm các từ thuần gốc Hán mà bao gồm cả các từ của ngôn ngữ khác du nhập vào tiếng Hán rồi mới vào Việt Nam

- Cách thức tiếp nhận: Không phải từ Hán nào vào Việt Nam cũng chỉ thay đổi về cách đọc (tức là về mặt ngữ âm), có những từ khi vào Việt Nam còn có sự thay đổi về mặt nghĩa

Trang 31

Ví dụ: Từ “đáo để”, tiếng Hán có nghĩa là “đến tận đáy” Nhưng trong tiếng Việt ta lại dùng để nói về hành vi ứng xử qúa mức bình thường

Một số từ Hán Việt khi vào Việt Nam thì tiếng Việt chỉ tiếp nhận một

số nghĩa nào đó chứ không tiếp nhận tất cả nghĩa vốn có của nó Trong kho tàng từ vựng tiếng Việt giữ được những từ Hán-Việt đời Đường nhưng trong tiếng Hán hiện đại lại không dùng những đơn vị từ vựng đó nữa Hay những

từ Hán Việt trong tiếng Việt vẫn mang nghĩa cổ của từ Hán mà tiếng Hán hiện đại lại không dùng Những từ Hán Việt trong tiếng Việt phát triển thêm nghĩa mới mà những nghiã mới này hoàn toàn không có trong tiếng Hán

Ví dụ: Từ “lịch sự” vốn có nghĩa là trải việc, thạo việc; nhưng trong tiếng Việt lại có nghĩa: Sang trọng, nhã nhặn phù hợp với nguyên tắc xã giao trong xã hội

Nhìn chung những sự biến đổi về nghĩa của các từ Hán Việt so với nghĩa của tiếng Hán là rất đa dạng và phức tạp

3.3 Đặc trưng ngữ nghĩa

Xét theo tương quan ngữ nghĩa với từ tiếng Việt, chúng ta thấy trong kho tàng từ ngữ Việt nam có hàng loạt cặp từ thuần Việt và Hán Việt có nghĩa tương đương, chỉ khác nhau về sắc thái ý nghĩa, về màu sắc biểu cảm và phong cách

- Sự khác nhau về sắc thái ý nghĩa: Từ Hán Việt có sắc thái ý nghĩa trừu tượng, khái quát nên mang tính chất tĩnh tại không gợi hình, không mang tính chất miêu tả sinh động Từ thuần Việt do có sắc thái ý nghĩa cụ thể nên mang tính chất sinh động

Ví dụ: Từ Hán Việt Từ thuần Việt

thảo mộc cây cỏ

tử thi xác chết

thi nhân nhà thơ

Trang 32

- Sự khác nhau về màu sắc biểu cảm, cảm xúc: Nhiều từ Hán Việt mang sắc thái trang trọng, thanh nhã, cổ xưa, trong khi từ thuần Việt mang sắc thái thân mật, trung hoà

Ví dụ: : Từ Hán Việt Từ thuần Việt

Ví dụ: : Từ Hán Việt Từ thuần Việt

sơn hà núi sông

từ thuần Việt vẫn không thể thay thế được vị trí của những từ Hán Việt đó Điều đó chứng tỏ vai trò không thể thiếu của từ Hán Việt trong các phong cách diễn đạt

Riêng đối với văn bản nghệ thuật, từ Hán Việt hỗ trợ đắc lực cho việc tạo dựng các phong cách cá nhân Nếu chúng ta so sánh tác phẩm thơ của hai

nữ sỹ trong làng thơ Việt Nam là Bà Huyện Thanh Quan và Hồ Xuân Hương,

Trang 33

ta thấy rõ khả năng sử dụng từ ngữ của hai bà Đối với Bà Huyện Thanh Quan, thơ bà dùng rất nhiều từ Hán Việt Trong bài thơ “Thăng Long thành hoài cổ” những từ Hán Việt đã đưa đến cho ta cảm giác về sự thay đổi nói chung của tạo hoá, một sự thay đổi buồn bã đến dứt ruột Bài thơ có nhắc đến bóng chiều, mặt trời, cỏ thu, ngày tháng nhưng tất cả đã thành: “tịch dương”,

“thu thảo”, “tuế nguyệt” im lìm phẳng lặng, tịch mịch ngay khi tác giả đang miêu tả sự biến đổi Trái lại trong thơ Hồ Xuân Hương, bà chủ yếu dùng từ thuần Việt, sử dụng rất nhiều từ láy, những lối nói nôm na bình dân nhưng rất sinh động, giàu sức gợi hình lớn Trong bài thơ “Đánh đu” các từ láy: “khom khom”, “ngửa ngửa” , “phấp phới”, “song song” đã diễn tả được cái nhịp nhàng của hành động

4 Thành ngữ

4.1 Khái niệm thành ngữ

Thành ngữ là một đơn vị khá đặc biệt của ngôn ngữ Khái niệm thành ngữ cho đến nay chưa được thống nhất trong quan niệm của các nhà Việt ngữ học Chúng tôi xin tổng hợp những ý kiến của các nhà nghiên cứu để từ đó định hình cho mình một khái niệm phù hợp trong quá trình làm đề tài

Trong công trình '' Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại'' của Nguyễn Văn

Tu, tác giả định nghĩa '' Thành ngữ là cụm từ cố định mà các từ trong đó mất

đi tính độc lập đến một trình độ cao về nghĩa, kết hợp làm một khối vững chắc, hoàn chỉnh Nghĩa của chúng không phải do nghĩa của từng thành tố tạo

ra Có thể có hình tượng cũng có thể không có Nghĩa của chúng khác nghĩa của những từ nhưng có thể cắt nghĩa bằng từ nguyên học'' (NVT - 189)

Tiếp đến là quan niệm thành ngữ của Đái Xuân Ninh Ông xem thành ngữ là cụm từ cố định, nghĩa là vốn có sẵn trong ngôn ngữ mà người nói lặp lại y nguyên trong lời nói như một từ nào đó Cụm từ cố định gồm cả thành ngữ, ngạn ngữ, tục ngữ Ông cho rằng thành ngữ tương đương với từ Từ quan niệm đó, ông đã định nghĩa: '' Thành ngữ là một cụm từ cố định mà các yếu tố tạo thành đã mất đi tính độc lập ở cái mức nào đó và kết hợp lại thành một khối lượng tương đối vững chắc và hoàn chỉnh'' (ĐXN, tr, 23)

Trang 34

Năm 1986, qua '' Vài suy nghĩ góp phần xác định thành ngữ tiếng Việt'' Nguyễn Văn Mệnh xác định khái niệm thành ngữ qua việc phân biệt thành ngữ và tục ngữ Ông cho rằng: về nội dung '' thành ngữ giới thiệu một hình ảnh, một hiện tượng, một trạng thái, một tính cách, một thái độ'', còn tục ngữ thì khác hẳn nó không dừng lại giới thiệu một hình ảnh, một hiện tượng, một trạng thái như thành ngữ mà đi đến một nhận định cụ thể, một kết luận chắc chắn, một kinh nghiệm sâu sắc, một lời khuyên răn, một bài học tư tưởng đạo đức Tác giả còn khẳng định: về hình thức ngữ pháp, nói chung mỗi thành ngữ là cụm từ, chưa phải là một câu hoàn chỉnh Tục ngữ thì khác hẳn, tục ngữ là một câu

Nguyễn Thiện Giáp trong cuốn '' Từ vựng học tiếng Việt'' ông định nghĩa thành ngữ: '' Thành ngữ là những cụm từ cố định vừa có tính hoàn chỉnh về nghĩa vừa có tính gợi cảm'' (tr 12)

Trong cuốn '' Vấn đề cấu tạo từ của Tiếng Việt hiện đại'', GS Hồ Lê đưa ra quan niệm về thành ngữ: “Thành ngữ là tổ hợp từ (gồm nhiều từ hợp lại) có tính vững chắc về cấu tạo và tính bóng bẩy về ý nghĩa, dùng để miêu tả một hình ảnh, một hình tượng, một tính cách hay một trạng thái nào đó'' (tr 97)

GS Đỗ Hữu Châu lại xác định thành ngữ ở đặc tính tương đương với từ của chúng Ông cho rằng thành ngữ là ngữ cố định Ngữ cố định là các cụm từ

có tính chất chặt chẽ sẵn có, bắt buộc, có tính xã hội như từ Từ quan niệm đó ông cho rằng: '' Cái quyết định để xác định ngữ cố định là tính tương đương với từ của chúng về chức năng tạo câu Chúng ta nói ngữ cố định tương đương với từ Không phải vì chúng có tính sẵn có bắt buộc như từ mà còn vì

ở trong câu chúng ta có thể thay thế cho một từ, ở vị trí các từ, hoặc có thể kết hợp với từ để tạo câu'' (tr 73)

Hoàng Văn Hành được xem là Giáo sư đầu ngành về thành ngữ tiếng Việt Bằng các công trình của mình, ông đã xây dựng một hệ thống lý thuyết

về thành ngữ tiếng Việt Ông định nghĩa thành ngữ: '' Thành ngữ là một loại

Trang 35

tổ hợp từ cố định bền vững về hình thái, cấu trúc, hoàn chỉnh và bóng bẩy về

ý nghĩa được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp hàng ngày, đặc biệt là trong khẩu ngữ'' ( tr 27)

Trên đây là những khái niệm về thành ngữ tiếng Việt mà chúng tôi đã tham khảo Từ các quan niệm của các nhà ngôn ngữ học chúng tôi nhận thấy rằng ở tất cả các khái niệm trên đều thống nhất về bản chất, sự khác nhau chỉ

là những khía cạnh bên ngoài Để tiện nghiên cứu, chúng tôi tạm đưa ra một khái niệm như sau: '' Thành ngữ là một cụm từ hay ngữ cố định, có tính hoàn chỉnh về nghĩa, tạo thành một chỉnh thể định danh có ý nghĩa chung khác với các thành tố cấu thành nó, tức là nó không có nghĩa đen và hoạt động như một

từ trong câu''

4.2 Đặc trưng của thành ngữ

Thành ngữ tiếng Việt là đơn vị định danh bậc 2 có chức năng sử dụng tương đương như từ, nó có một khối lượng rất lớn, và có giá trị biểu đạt rất hiệu quả trong giao tiếp Nó được xem là '' Đội quân tinh nhuệ'' của ngôn ngữ dân tộc Một trong những yếu tố tạo nên giá trị cho thành ngữ là do đặc trưng của thành ngữ quy định

Chân đăm đá chân chiêu

Tính bền vững về cấu trúc của thành ngữ còn thể hiện ở sự cố định về trật tự các thành tố tạo nên thành ngữ Ví dụ: thường nói ''nước mắt cá sấu'' chứ không thể nói '' cá sấu nước mắt'' hoặc '' cá mè một lứa'' chứ không thể nói '' một lứa cá mè''

Có khi trật tự cú pháp thông thường thay đổi, và thành ngữ có trật tự riêng, nó tạo ra sự đối ứng chặt chẽ - sắc thái riêng biệt của thành ngữ hay nói cách khác đó chính là tính phi cú pháp

Thành ngữ gồm 4 tiếng chiếm đại bộ phận trong thành ngữ tiếng Việt -

cụ thể thành ngữ gồm 4 tiếng chiếm 70% (theo Nguyễn Thiện Giáp ) Chúng

có cấu trúc xen lồng nhau

Trang 36

Ví dụ: nếu ta gọi A, B, C, D là các tiếng của thành ngữ thì có các cặp đối xứng:

AB/CD AC/BD A/C/B/D

Ví dụ: Vào luồn/ra cúi; vào ra/luồn cúi

ra/vào/luồn/cúi;

Về mặt nghĩa A và C; B và D thường thuộc cùng một trường

- Quan hệ giữa các từ trong thành ngữ không theo một chiều của các thành tố trực tiếp, mà có tính chằng chéo, phức tạp, tạo ra tính cố định của thành ngữ

- Thành ngữ có tính hài hoà - điệp đối:

Phần lớn thành ngữ gồm hai vế đối nhau có trục đối xứng ở giữa, tạo nên tính cân đối nhịp nhàng Trục đối xứng có khi là từ , đối ý, đối chữ, có khi

là chỗ ngắt giọng

Ví dụ: dây cà ra dây muống (từ)

quýt làm/cam chịu (ngắt giọng) nay đợi mai chờ (đối ý) đầu xuôi đuôi lọt ( đối chữ) Thành ngữ có sự hoà phối thanh điệu nên có tính nhạc, có nhịp điệu

Ví dụ: nhà tranh vách đất (BBTT)

mẹ goá con côi (TTBB)

mẹ vò con nhện (TBBT) xanh vỏ đỏ lòng (BTTB)

Đặc biệt có nhiều thành ngữ có sự kết hợp hài hoà cả 2 phương thức điệp và đối

Ví dụ: Một lòng một dạ bằng chị bằng em

Đối âm Đối âm

Trang 37

4.2.2 Đặc trưmg về nghĩa

Thành ngữ có tính hoàn chỉnh và bóng bẩy về nghĩa, nói cách khác thành ngữ là đơn vị định danh của ngôn ngữ, song nó khác với đơn vị từ vựng bình thường Thành ngữ là đơn vị định danh bậc 2, nghĩa là ''nội dung của thành ngữ không hướng tới điều được nhắc đến trong nghĩa đen của các từ tạo nên thành ngữ mà ngụ ý điều gì đó suy ta từ chúng'' ( Hoàng Văn Hành, tr.29)

Nghĩa của thành ngữ mang tính biểu trưng Đây là đặc điểm ngữ nghĩa quan trọng của thành ngữ tiếng Việt, làm nên nét khác biệt quan trọng giữa thành ngữ với các đơn vị tương đương: ngữ cố định lấy những vật thực, việc thực biểu trưng cho những đặc điểm, tính chất, hoạt động, tình thế phổ biến khái quát'' (Đỗ Hữu Châu, tr 82)

Đặc biệt thành ngữ biểu thị các tình thế có tính biểu trưng cao Ví dụ, tình thế ''chuột chạy cùng sào'' đó là tình thế của những kẻ hèn kém bị dồn vào bước đường cùng, không có lối thoát mặc dù đã xoay xở hết cách Nếu với ý trên diễn đạt bằng cụm từ tự do thì rất dài dòng, cho nên thành ngữ là con đường tốt nhất để vừa đảm bảo được đủ ý, vừa đạt tính hàm súc và gây được ấn tượng sâu sắc ''Biểu trưng là cơ chế tất yếu mà ngữ cố định, mà từ vựng phải sử dụng để ghi nhận diễn đạt những nội dung phức tạp một khái niệm đơn'' (Đỗ Hữu Châu, tr.82)

Theo GS Hoàng Văn Hành ''nghĩa của thành ngữ tiếng Việt là kết quả của hai quá trình biểu trưng hoá: hình thái tỉ dụ (so sánh) và hình thái ẩn dụ (so sánh ngầm) Trên thực tế, chúng ta còn thấy có một bộ phận thành ngữ tiếng Việt dùng các hoán dụ để biểu trưng hoá nghĩa cho mình

Mặt khác, cần phải đặt thành ngữ vào ngữ cảnh sử dụng ta mới thấy khả năng vượt trội của nó trong biểu đạt Điều này ta lại thấy nghĩa của thành ngữ mang tính biểu thái '' không chú ý đến các sắc thái biểu cảm khác nhau

Trang 38

thì việc dùng các ngữ cố định có khi sẽ làm hỏng các nội dung '' trí tuệ '' của câu văn, câu nói” (Đỗ Hữu Châu, tr 85)

Nghĩa của thành ngữ tiếng Việt còn mang tính dân tộc Những sự vật như con mèo, con chuột, ngôi chùa, pho tượng, cái khố, tấm áo, mảnh quần đậm đà màu sắc quê hương xứ sở Việt Nam

Thành ngữ là phương tiện diễn đạt độc đáo, có được sự độc đáo là nhờ đặc trưng của chúng, và một trong những đặc trưng quan trọng nhất là tính biểu trưng - Điều này chúng tôi sẽ làm rõ hơn qua sự phân biệt thành ngữ với các đơn vị liên quan

4.3 Phân biệt thành ngữ với tục ngữ

Lâu nay việc xác định ranh giới giữa thành ngữ với tục ngữ, quán ngữ, được các nhà ngôn ngữ học quan tâm, nhưng có lẽ các nhà nghiên cứu chú ý nhiều hơn cả là ranh giới giữa thành ngữ và tục ngữ Bởi giữa chúng có nhiều đặc điểm gần gũi nhưng lại khác nhau về bản chất, phạm trù

4.3.1 Về cấu trúc

Thành ngữ và tục ngữ là những tổ hợp từ cố định, song thành ngữ tồn tại dưới dạng cụm từ, còn tục ngữ là một câu ''có thể nhận diện câu - thông điệp nghệ thuật'' (Hoàng Văn Hành, tr 32), hay Nguyễn Văn Mệnh nhận định '' Về hình thức ngữ pháp, nói chung mỗi thành ngữ chỉ là một cụm từ, chưa phải là câu hoàn chỉnh Tục ngữ thì khác hẳn, mỗi tục ngữ tối thiểu là một câu''

Theo quan điểm ngữ pháp chức năng thì tục ngữ luôn có cấu trúc đề

thuyết Ví dụ: gần mực thì đen

4.3.2 Về ngữ nghĩa

Nội dung của thành ngữ là nội dung khái niệm, còn nội dung của tục ngữ là phán đoán Nội dung của thành ngữ là hình chiếu của những yếu tố tạo thành Hầu như không có thành ngữ nào mà nghĩa được hiện ra trên cơ sở phân tích nghĩa những thành tố của nó như tục ngữ GS Cù Đình Chú khẳng định: Sự khác nhau cơ bản giữa thành ngữ và tục ngữ là sự khác nhau về chức

Trang 39

năng, thành ngữ là những đơn vị định danh, về mặt này thành ngữ tương đương như từ; còn tục ngữ cũng như các sáng tạo khác của dân gian như ca dao, truyện cổ tích đều là các thông báo” (Cù Đình Chú, tr 40)

Ví dụ: '' Múa rìu qua mắt thợ'' '' đánh trống qua cửa nhà sấm'' có thể hiểu là một việc lố lăng buồn cười; '' nếm mật nằm gai'' có nghĩa là chịu

dựng gian khổ

Từ các ví dụ, ta thấy thành ngữ dùng các hình ảnh biểu trưng để biểu thị khái niệm, thành ngữ là tổ hợp từ chỉ có nghĩa định danh Tục ngữ khắc hẳn ''nghĩa của tục ngữ là một phán đoán, một sự đánh giá, một sự khẳng định

về một chân lí, một lẽ thường đối với một nền văn hoá nào đó, nghĩa là một tư tưởng hoàn chỉnh” (Đỗ Hữu Châu, tr.75)

Ví dụ: Thành ngữ '' Quá mù ra mưa'' - không chỉ miêu tả một hiện

tượng tự nhiên mà từ thực tế đó khiến người ta liên tưởng đến mối quan hệ trong đời sống, trong tư duy của con người và có khi trở thành một triết lý sâu sắc: mỗi sự vật đều có một chừng mực nhất định, vượt qua giới hạn thì sự vật này chuyển thành sự vật kia''

Từ đặc trưng về ngữ nghĩa của thành ngữ và tục ngữ cho thấy thành ngữ là đối tượng của từ vựng học, còn tục ngữ là đối tượng của văn học dân gian

Tuy nhiên có nhiều trường hợp tục ngữ được dùng như những thành ngữ Đối với trường hợp này ta phải dựa tiêu chí khác Đó là tiêu chí chức năng dụng học

4.3.3 Tiêu chí chức năng dụng học

Tiêu chí này chỉ áp dụng lâm thời khi các đơn vị đang hành chức

Ví dụ: theo (Đỗ Hữu Châu): "ăn cỗ đi trước, lội nước theo sau" là một

câu tục ngữ Đây là một phán đoán, một chân lý, một lẽ thường có tính kinh nghiệm trong cuộc sống cũ và do đó là một lời khuyên, lời khuyên đó là: Khi được mời đi ăn cỗ thì nên đi trước mọi người vì có như thế mới được hưởng phần ngon lành đầy đủ Khi lội nước thì lội sau người ta để khỏi gặp nguy hiểm Nói rộng ra trong xã hội (cũ) nên tính toán sao cho mình được lợi nhất

và gặp ít thiệt thòi nhất

Trang 40

Trong một hoàn cảnh, Bác Hồ viết "mỗi người phải ra sức góp công,

góp của để xây dựng nước nhà Chớ nên "ăn cỗ đi trước lội nước theo sau"

Lúc này, câu tục này đã mất đi tính chất là một nhận xét, là một chân lý, mất

đi tính chất một lời khuyên mà biểu thị thái độ sống đáng phê phán: Thái độ

tự tư, tự lợi chỉ biết có mình, còn ai sao thì mặc Câu tục ngữ hoạt động như một thành ngữ

Có một số đơn vị vốn là thành ngữ nhưng khi đi vào ngữ cảnh lại có tính chất là tục ngữ

Ví dụ: Thành ngữ "Đàn gẩy tai trâu": Chỉ những việc làm vô ích, không

có tác dụng vì người tiếp thu không hiểu

Nhưng trong ngữ cảnh: "Đàn đâu mà gẩy tai trâu

Đạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi

Thành ngữ đã phát triển thành một phán đoán có tính khuyên răn của tục ngữ

Từ thực tế trên, ta thấy tục ngữ thường độc lập với văn cảnh, được dùng độc lập với câu khác hoặc là thành phần biệt lập trong câu Còn thành ngữ ít dùng tách biệt, mà thường là một thành phần hoặc bộ phận của thành phần trong câu Hay nói cách khác, do đặc điểm của mình nên thành ngữ lệ thuộc vào câu hơn tục ngữ

Thành ngữ là di sản và là kho báu quá văn hoá dân tộc Nếu coi ngôn ngữ dân tộc là "tinh thần" của dân tộc thì cũng có thể nói thành ngữ là hình thức biểu hiện của bản sắc văn hoá dân tộc Thành ngữ là phương tiện ngôn ngữ để giao tiếp nhưng đằng sau nó, bên trong nó ẩn tàng lấp lánh những đặc điểm độc đáo của một nền văn hoá, văn minh, phép đối nhân xử thế, đạo lý thẩm mĩ của một dân tộc; nó tạo các bài viết, bài nói, cuộc thoại súc tích giàu hình tượng, thấm thía nhưng lại tinh tế và ý nhị, nó rất đắc dụng trong văn phong hội thoại, trong sáng tác văn chương

Từ xưa đến nay, trong truyền thống ngữ văn của người Việt, thành ngữ được sử dụng rộng rãi Không kể đến mảng ca dao, các tác giả Văn học lớn

Ngày đăng: 27/07/2021, 16:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
16. Nguyễn Như Y (chủ biên): Từ điển giải thích thành ngữ tiếng Việt (NXB Giáo dục Hà Nội, 1997) Khác
17. Nguyễn Văn Mệnh: Vài suy nghĩ góp phần xác định khái niệm thành ngữ tiếng Việt Khác
18. Bùi Khắc Việt: Về tính biểu trưng của thành ngữ tiếng Việt (Tạp chí Ngôn ngữ, 1978, số 1) Khác
19. Viện Ngôn ngữ học: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt về mặt từ ngữ (NXB KHXH Hà Nội, 1981) Khác
20. Hoàng Phê: Phân tích ngữ nghĩa trong ngôn ngữ (Tạp chí Ngôn ngữ, 1975, số 2) Khác
21. Nguyễn Đức Dân: Lôgích và tiếng Việt (NXB Giáo dục Hà Nội, 1997) Khác
22. Đái Xuân Ninh: Hoạt động của từ tiếng Việt (NXB KHXH Hà Nội, 1978) Khác
23. Đào Thản: Từ ngôn ngữ chung đến ngôn ngữ nghệ thuật (NXB KHXH Hà Nội, 1998) Khác
24. Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Trọng Báu, Nguyễn Văn Tu : Tiếng Việt trên đường phát triển (NXB KHXH Hà Nội, 1981) Khác
25. Đặng Đức Siêu: Dạy và học từ Hán -Việt ở trường phổ thông (NXB Giáo dục, 2003) Khác
26. Lê Xuân Thại: Chuyên đề từ Hán -Việt (Bài giảng cho học viên cao học, 2003) Khác
27. Nguyễn Công Lý: Mở rộng vốn từ Hán -Việt (NXB Đại học quốc gia TP HCM, 2003) Khác
28. Nguyễn Tài Cẩn: Văn hoá chữ Hán và ngôn ngữ Việt Nam (NXB ĐHQG Hà Nội, 2003) Khác
29. Hoàng Thị Châu: Phương ngữ học tiếng Việt (NXB ĐHQG Hà Nội, 2004) Khác
30. Đinh Trọng Lạc: 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt (NXB Giáo dục, 1996) Khác
31. Hữu Đạt: Tiếng Việt thực hành (NXB Giáo dục, 1995) Khác
32. Mai Ngọc Chừ: Cơ sở ngôn ngữ học tiếng Việt (NXB ĐH&THCN, 1992) Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w