1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Câc kiểu câu tỉnh lược trong truyện ngắn nguyễn công hoan

86 71 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 772,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc nghiên cứu “Các kiểu câu tỉnh lược trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan” giúp chúng ta tìm hiểu kĩ hơn về nghệ thuật viết truyện ngắn của một nhà văn mở đường cho trào lưu hiện thực

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

- - TRẦN BÍCH HẢI

CÁC KIỂU CÂU TỈNH LƯỢC TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN CÔNG HOAN

CHUYÊN NGÀNH : LÍ LUẬN NGÔN NGỮ

MÃ SỐ : 5.04.08

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS PHAN MẬU CẢNH

VINH – 2004

*********

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

Nguyễn Công Hoan là gương mặt tiểu biểu của trào lưu văn học hiện thực trước Cách mạng Tháng Tám “Người đặt những viên gạch đầu tiên xây đắp nền móng cho nền văn xuôi hiện thực phê phán” Ông là tấm gương của một người đã cống hiến trọn vẹn cuộc đời mình cho sự nghiệp văn học một hành trình lao động nghệ thuật hết sức dẻo dai, không biết mệt mỏi

Nói đến tài năng của Nguyễn Công Hoan, nói đến phong cách sáng tạo độc đáo của ông, người ta đều nhớ đến một nhà truyện ngắn- truyện ngắn trào phúng Ở Nguyễn Công Hoan luôn luôn đổi mới đề tài, chủ đề và ngôn ngữ đầy sáng tạo, câu văn sáng sủa, nhanh gọn, hàm ý khôi hài, bông lơn thú vị

Từ trước tới nay, tác phẩm của Nguyễn Công Hoan đã thu hút rất nhiều nhà nghiên cứu, phê bình văn học Đi sâu vào nghiên cứu “Các kiểu câu tỉnh lược trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan” chúng tôi thấy thiết thực và bổ ích Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy, cô giáo trực tiếp giảng dạy, đặc biệt là thầy giáo PGS.TS Phan Mậu Cảnh, người trực tiếp hướng dẫn đề tài khoa học này

Với khuôn khổ một luận văn thạc sĩ, những vấn đề nêu ra chỉ giải quyết được ở một chừng mực nhất định, không thể tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Chúng tôi mong được sự góp ý, chỉ bảo chân tình

Chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy, cô giáo, các bạn đồng nghiệp đã gợi ý và giúp đỡ để luận văn này được hoàn thành

Vinh, tháng 12 năm 2004

Tác giả:

Trần Bích Hải

Trang 3

MỤC LỤC

Mở đầu

1 Lí do chọn đề tài……….………4

2 Lịch sử vấn đề……… 5

3 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu……… ………10

4 Phương pháp nghiên cứu……… ………12

5 Cái mới của luận văn………13

6 Cấu trúc luận văn… ……… 13

Nội dung Chương 1: Những khái niệm liên quan đến đề tài……… 14

1.1 Khái niệm câu ……… 14

1.2 Khái niệm câu tỉnh lược……… ………21

1.3 Một vài nét về tác giả, tác phẩm………24

1.4 Tiểu kết……… 29

Chương 2: Các kiểu câu tỉnh lược trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan………31

2.1 Tỉnh lược thành phần chính……… ……… 31

2.2 Tỉnh lược thành phần phụ……… ………62

2.3 Vai trò tỉnh lược trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan… ………71

2.4 Tiểu kết……….75

Kết luận……….………77

Tài liệu tham khảo………79

Trang 4

QUY ƯỚC TRÌNH BÀY

Ngoài tất cả các cách thức trình bày theo quy định chung, luận văn có một số quy ước riêng

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1.1 Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta bắt gặp hiện tượng tỉnh lược ở mọi nơi, mọi lúc Đây là một hiện tượng rất phổ biến trong giao tiếp, thể hiện ở việc lược bỏ lâm thời các yếu tố đã xuất hiện Để phục vụ cho ý đồ của mình người nói, người viết có thể lựa chọn những yếu tố ngôn ngữ để tổ chức phát ngôn Về mặt cấu trúc hình thức, nhiều khi ta có cảm giác những phát ngôn này thiếu một cái gì đó Nhưng xét trên bình diện ngữ nghĩa thì nó tiềm ẩn ý đồ chiến lược khác nhau Như vậy, tỉnh lược là một thủ pháp nằm trong bình diện

tổ chức, một diễn ngôn hay một văn bản

1.2 Trong văn bản phi nghệ thuật, hiện tượng tỉnh lược được sử dụng nhằm tránh lặp lại, tạo cho văn bản một sự ngắn gọn, cô đúc, chặt chẽ Còn trong văn bản nghệ thuật, ngoài những ý nghĩa đó tỉnh lược còn được xem như là một thủ pháp tạo nên sự độc đáo, ý nghĩa biểu cảm, cảm xúc của chính tác giả

Là một trong những đại biểu ưu tú của trào lưu văn học hiện thực phê phán, Nguyễn Công Hoan để lại cho hậu thế một di sản đồ sộ và quý báu Đặc biệt là truyện ngắn- thể loại thành công nhất của ông

Có thể nói, Nguyễn Công Hoan là một trong số các nhà văn Việt Nam đạt đến trình độ viết truyện ngắn với nghệ thuật điêu luyện Về mặt ngôn ngữ, ngòi bút Nguyễn Công Hoan rất đặc sắc, góp phần không nhỏ vào sự phát triển của văn xuôi Việt Nam hiện đại Văn Nguyễn Công Hoan là thứ văn tự nhiên, sinh động

và linh hoạt vô cùng Để có được “chất văn” ấy, nhà văn đã sử dụng nhiều thủ

pháp ngôn ngữ trong đó hiện tượng tỉnh lược trong câu là một trong những thủ pháp quan trọng

So với tác phẩm của các cây bút tài năng như Nguyễn Tuân, Nam Cao,Thanh Tịnh, Tô Hoài… truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan đã sử dụng

Trang 6

hiện tượng tỉnh lược với một số lượng nhiều hơn cả Đây là một trong những thủ pháp góp phần tạo nên phong cách độc đáo ở Nguyễn Công Hoan

1.3 Việc nghiên cứu “Các kiểu câu tỉnh lược trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan” giúp chúng ta tìm hiểu kĩ hơn về nghệ thuật viết truyện ngắn của

một nhà văn mở đường cho trào lưu hiện thực trước Cách mạng

Mặt khác, nghiên cứu các kiểu câu tỉnh lược còn góp phần vào việc xác định, định hướng cho sự phân tích rèn luyện ngữ pháp trong nhà trường

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

2.1 Về hiện tượng tỉnh lược đã có nhiều công trình trong và ngoài nước đi sâu nghiên cứu với nhiều tên gọi khác nhau: câu rút gọn, câu đơn phần, câu dưới bậc, câu tỉnh lược, ngữ trực thuộc… Ta có thể thống kê một số tác giả đã trực tiếp

đề cập tới hiện tượng này như: Diệp Quang Ban, Nguyễn Kim Thản, Cao Xuân Hạo, Hoàng Trọng Phiến, Trần Ngọc Thêm, Phan Mậu Cảnh, Phạm Văn Tình… Điểm chung nhất ở các tác giả là nếu xem xét hiện tượng ở bình diện câu, thì một câu chỉ được coi là câu tỉnh lược thực thụ khi một trong hai (hoặc cả hai) thành phần nòng cốt của câu bị lược bỏ (có thể là nòng cốt Chủ - Vị hay nòng cốt Đề - Thuyết) Tuy nhiên, việc tiếp cận các đối tượng lại được thực hiện theo nhiều hướng khác nhau Có thể quy về hai hướng sau:

a) Câu tỉnh lược thuộc câu song phần

Nguyễn Kim Thản cho rằng câu tỉnh lược là một loại câu mà người ta có thể dựa vào hoàn cảnh mà khôi phục lại bộ mặt hoàn chỉnh của nó, khác với câu

một thành phần (ví dụ: Vào đi Ăn cơm rồi) [44,231]

Các tác giả khác sau này cũng có quan niệm tương tự Hoàng Trọng Phiến quan niệm: về mặt ý nghĩa thì câu có chủ ngữ rút gọn tương ứng với câu có chủ

ngữ hiện diện [39,15] Các tác giả “Giáo trình ngữ pháp tiếng Việt” nói rõ

thêm: “Câu rút gọn không phải là một loại câu riêng biệt mà chỉ là dạng thức

khác (dạng thức rút gọn) của loại câu có chủ ngữ và vị ngữ” [12,204]

Trang 7

b) Câu tỉnh lược thuộc câu riêng

Cao Xuân Hạo theo quan điểm của ngữ pháp chức năng, ông coi cấu trúc câu chính là cấu trúc thông báo với hai thành phần chính là Đề và Thuyết Người

ta chỉ có thể loại bỏ lâm thời Đề nhờ vào ngữ cảnh, có tác dụng bảo toàn sự mạch lạc của câu

Diệp Quang Ban quan niệm: “Câu tỉnh lược là những biến thể dưới bậc của

câu, gọi tắt là câu dưới bậc” Ông gọi câu tỉnh lược là loại “Câu có tính vị ngữ

tự thân (hay là câu đơn hai thành phần vắng chủ ngữ)”[2,196]

Trần Ngọc Thêm xem tất cả những câu không hoàn chỉnh về cấu trúc là

ngữ trực thuộc Ông phân chia tỉnh lược thành hai cấp độ: tỉnh lược yếu (chỉ tỉnh lược thành phần phụ của câu như bổ ngữ, định ngữ…) và tỉnh lược mạnh (tỉnh

lược một hoặc hai thành phần nòng cốt của câu theo quan điểm nòng cốt của câu

là cấu trúc Chủ - Vị)

Cùng chung quan điểm này gần đây Phạm Văn Tình cho rằng hiện tượng tỉnh lược là ngữ trực thuộc tỉnh lược trong văn bản liên kết Ông chia ra tỉnh lược ba tiểu loại ngữ trực thuộc:

2.2 Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nho học, Nguyễn Công Hoan viết từ rất sớm Sau hơn năm mươi năm cầm bút, ông đã để lại cho sự nghiệp văn học với

Trang 8

một số lượng đồ sộ Nguyễn Công Hoan là cây bút được nhiều người chú ý Theo dõi những công trình thẩm định về tác phẩm cũng như con người ông từ trước đến nay đã thu hút nhiều nhà phê bình nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau

Trước Cách mạng Tháng Tám, dư luận đã chú ý nhiều, nghiên cứu về Nguyễn Công Hoan phải kể đến các tác giả như: Trần Học Đình, Hải Triều,

Trương Chính, Vũ Ngọc Phan… Trần Học Đình cho rằng: “Cái biệt tài viết tiểu

thuyết của Nguyễn Công Hoan chỉ ở trong những truyện ngắn”

Trong cuốn “Nhà văn hiện đại”, Vũ Ngọc Phan lại nhận xét: “Nguyễn

Công Hoan sở trường về truyện ngắn hơn chuyện dài Ở các truyện ngắn, ông tỏ

ra một người kể chuyện rất có duyên Phần nhiều truyện của ông linh động lại

có nhiều cái bất ngờ, làm cho người đọc khoái trá vô cùng” [38,104]

Từ sau cách mạng tháng tám đến nay, tình hình nghiên cứu về tác giả Nguyễn Công Hoan tiến triển theo chiều hướng ngày một phong phú và đa dạng hơn Số lượng bài nghiên cứu ngày một nhiều lên Qua tìm hiểu một số sách nghiên cứu, hay giáo trình đại học về lịch sử văn học hiện đại, một số tạp chí và các tập chuyên luận, chúng tôi thấy ý kiến các nhà nghiên cứu tương đối thống nhất Về cơ bản đều thừa nhận Nguyễn Công Hoan là nhà văn có biệt tài truyện ngắn, đặc biệt là truyện ngắn trào phúng

Nghiên cứu về Nguyễn Công Hoan trong thời gian này phải kể đến những tác giả như: Phong Lê, Vũ Đức Phúc, Lê Thị Đức Hạnh, Nguyễn Đăng Mạnh, Phan Cự Đệ, Nguyễn Hoành Khung…

Khi nghiên cứu truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Đăng Mạnh cho

rằng: “Mỗi truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan có một chủ đề rõ ràng, đơn

giản (…) gắn được với một mâu thuẫn trào phúng và một tình thế có tính hài hước” Ông chỉ ra chỗ mạnh và chỗ yếu của Nguyễn Công Hoan xung quanh

việc xây dựng cốt truyện: “Nguyễn Công Hoan là một nhà văn kể chuyện có

duyên, có sức hấp dẫn, đối thoại có kịch tính, giọng kể chuyện tự nhiên, hoạt bát

Trang 9

(…) biết dùng những chi tiết đánh lạc hướng độc giả khỏi cái đích câu chuyện, nên tạo được lối gây cười trực tiếp nhưng nhiều khi để cho cốt truyện được ly

kỳ, hấp dẫn, nhà văn sẵn sàng hy sinh cả tính hợp lý, tính chân thực của những quá trình diễn biến tâm lý nhân vật” [37,108]

Trong một bài nghiên cứu, Ông Phan Cự Đệ cũng khẳng định: “Nguyễn

Công Hoan là người có phong cách truyện ngắn độc đáo (…) biết tổ chức cấu trúc chặt chẽ và thay đổi hình thức cấu trúc rất linh hoạt (…) bộc lộ những mâu thuẫn giữa bản chất và hiện tượng, giữa nội dung và hình thức để làm bật lên tiếng cười đả kích” [16,33]

Nhà nghiên cứu Nguyễn Hoành Khung đã xếp một số truyện ngắn hay của

Nguyễn Công Hoan vào “Những sáng tác cổ điển của văn xuôi quốc ngữ hiện

đại” và khẳng định Nguyễn Công Hoan như một bậc thầy trong truyện ngắn, đặc biệt là truyện ngắn trào phúng” [37,287]

Nhìn lại quá trình nghiên cứu từ trước đến nay, chúng tôi thấy hầu hết sự đóng góp trong nghiên cứu, tiếp cận tác phẩm truyện ngắn Nguyễn Công Hoan ở góc độ lý luận văn học Còn xuất phát từ góc nhìn ngôn ngữ học, các nhà nghiên cứu rất ít đề cập tới Tiêu biểu chỉ có bài viết của Nguyên Thanh Tú khi đi tìm

“chất hài trong câu văn Nguyễn Công Hoan” đã nêu lên những thủ pháp nghệ thuật đặc sắc mà Nguyễn Công Hoan sử dụng:

1 Ngôn ngữ của Nguyễn Công Hoan thể hiện một ngôn ngữ thân mật, suồng sã để “lật ngửa, lộn trái, nhòm ngó từ dưới và từ trên, đập vỡ vỏ ngoài để nhìn vào bên trong” [23.367] Nhà văn đã không ngần ngại khi tả cái râu của ông quan huyện một cách mỉa mai, ví đó là “lông tơ” (Đồng hào có ma) hay ví ông quan, bà quan là “một con nhái bén bám vào một quả dưa chuột” (Đàn bà là giống yếu)

2 Cường điệu là một trong những thủ pháp nghệ thuật mà Nguyễn Công

Hoan thường sử dụng để làm biến chất sự vật “Vậy thì bà nằm đó Nhưng thoạt

Trang 10

trông, đố ai dám bảo là một người Nếu người ta chưa nom rõ cái mặt phị, cái

cổ rụt, cái thân nung núc và bốn chân tay ngắn chùn chùn, thì phải bảo là một đống hai ba cái chăn bông cuộn lại với nhau sắp đem cất đi” (Phành phạch)

3 Trong nội bộ câu văn của Nguyễn Công Hoan thường mang mâu thuẫn

hài hước đối chọi mâu thuẫn bên trong: “Nỗi vui sướng của thằng bé khốn nạn” hay “Sự thành công của anh cu Bản đã làm vợ anh goá chồng” (Ngậm cười)

4 Mỗi truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan là một tấn hài kịch, nhân vật là

kẻ làm trò, nghĩa là đóng những vai hề Vì thế, câu văn của ông luôn luôn có giọng giễu nhại Ông thương đối lập từ Hán Việt có sắc thái trang trọng và từ thuần Việt có sắc thái thông tục để làm bật ra tiếng cười

5 Lối chơi chữ cũng được Nguyễn Công Hoan dùng rât phổ biến trong câu văn của mình Có thể nhận thấy rõ cách chơi chữ của ông ở ngay cách đặt tên

truyện “Hai thằng khốn nạn”: Một người khốn nạn về vật chất (nghèo khổ) và một người (nhà giàu) khốn nạn về tinh thần, về cách sống “Xuất giá tòng phu”:

Dùng ngôn ngữ đạo lý để nói chuyện vô đạo Hay “Ngựa người và người ngựa”

đều được ông dùng thủ thuật chơi chữ rất hóm hỉnh và thú vị

6 Ngôn ngữ của Nguyễn Công Hoan là ngôn ngữ của quần chúng được chọn lọc và nâng cao, đậm hương vị ca dao tục ngữ Những câu, những chữ ông dùng cũng thường giản dị, giàu hình ảnh cụ thể, hay so sánh ví von làm cho

người đọc dễ có liên tưởng bất ngờ, thú vị: “Quan ngẩng đầu lên nhìn anh Tam,

rồi cho gọi chị Tam vào Quan ngắm một lúc, hai con mắt sáng quắc như hai ngọn đèn trời” (Thật là phúc)

7 Câu văn Nguyễn Công Hoan có sự tuân thủ phép lặp cú pháp vì mục

đích nghệ thuật gia tăng sắc thái hài hước: “Nào hoa tai, nào hột vàng, nào tráp

đồi mồi, nào ống nhổ sứ, ai trông vào cũng đoán được là nhà giàu” (Báo hiếu

trả nghĩa mẹ)

Trang 11

8 Câu văn Nguyễn Công Hoan thường ngắn gọn Để cho hơi văn được nhanh và gọn Nguyễn Công Hoan đã dùng thủ pháp tỉnh lược để tạo nên sự độc đáo, ý nghĩa biểu cảm, cảm xúc

“Anh này hiểu ý, ra hiên đứng nhìn, rồi đến cạnh cụ, cúi xuống nhặt… rồi

thu thu vào trong bọc Rồi len lén ra ngoài ao Rồi giơ thẳng cánh tay ném xuống nước Tõm!…” (Cụ Chánh Bá mất giày)

Đoạn văn trừ câu đầu, còn lại đều bị lược chủ ngữ Để diễn tả hành động lén lút, mờ ám của thầy trò cụ Chánh, câu văn chỉ còn lại vị ngữ mang nội dung thông báo

Như vậy, Nguyễn Thanh Tú đã nêu lên một số thủ pháp nghệ thuật biểu hiện trong câu văn Nguyễn Công Hoan Tuy nhiên đó chỉ mới điểm qua chứ

chưa đi sâu vào từng thủ pháp cụ thể

Để khẳng định nghệ thuật viết truyện đặc sắc của Nguyễn Công Hoan dưới góc độ ngôn ngữ chúng tôi đi sâu vào tìm hiểu một trong những thủ pháp trên,

đó là: “Các kiểu câu tỉnh lược trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan” Qua

đó, để thấy được vị trí, vai trò và những đóng góp của Nguyễn Công Hoan không chỉ ở bình diện văn học mà ở cả bình diện ngôn ngữ học Kết quả nghiên cứu sẽ làm sáng tỏ thêm bút pháp phong phú của Nguyễn Công Hoan ở năng lực dùng câu văn trong văn bản

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Sự nghiệp văn học của Nguyễn Công Hoan gồm nhiều thể loại: tiểu thuyết, kịch, truyện ngắn, truyện dài… nhưng truyện ngắn thể hiện được ưu điểm và tài năng độc đáo của ông về nghệ thuật sáng tác Chính bản thân Nguyễn Công Hoan

cũng từng viết: “Trong quãng đời hoạt động về văn học trước Cách mạng của tôi,

tôi đặt nhiều công phu vào việc viết truyện ngắn” (Thực tế, đối với bất cứ nhà văn

nào, truyện ngắn vốn là một địa hạt thể hiện rõ nhất tài năng của tác giả)

Trang 12

Có thể nói, Nguyễn Công Hoan là một hiện tượng độc đáo Tuy nhiên, trong luận văn này chúng tôi không đi sâu vào việc nghiên cứu những vấn đề xung quanh truyện ngắn Nguyễn Công Hoan mà chỉ đi sâu khảo sát, nghiên cứu một vấn đề cụ

thể, đó là: “Các kiểu câu tỉnh lược trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan”

Ở đề tài này, chúng tôi tập trung nghiên cứu các kiểu câu tỉnh lược được Nguyễn Công Hoan sử dụng qua 30 truyện ngắn sau:

1 Răng con chó của nhà tư sản

2 Lập gioòng

3 Ngựa người và người ngựa

4 Thằng ăn cắp

5 Sa man ji

6 Báo hiếu trả nghĩa cha

7 Báo hiếu trả nghĩa mẹ

Trang 13

22 Lại chuyện con mèo

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Luận văn này chỉ chú ý đến các kiểu câu tỉnh lược mà tác giả sử dụng trong truyện ngắn như một đối tượng chuyên biệt Vì vậy, khi nghiên cứu chúng tôi phải tách câu tỉnh lược trong truyện ngắn thành đơn vị riêng và quy chúng về dạng mô hình

Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:

4.1 Phương pháp khảo sát và thống kê

Chúng tôi thống kê các câu tỉnh lược trong 30 truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công Hoan để lấy đó làm cơ sở phân loại, tìm tỉ lệ khi khảo sát ở các kiểu câu tỉnh lược khác nhau Kết quả thu được ở mỗi bình diện đều phản ánh một quy luật giá trị nhất định

Trang 14

4.2 Phương pháp phân tích tổng hợp

Trên cơ sở thống kê, phân loại chúng tôi phân tích từng kiểu câu tỉnh lược

mà Nguyễn Công Hoan thể hiện theo những cách thức khác nhau Từ đó, chúng tôi sẽ khái quát đặc điểm câu tỉnh lược và tìm ra hiệu quả nghệ thuật mà nó chuyển tải

4.3 Phương pháp so sánh đối chiếu

Chúng tôi sử dụng phương pháp này để so sánh đối chiếu giữa các kiểu câu tỉnh lược với nhau trong truyện ngắn, rút ra những nhận xét về câu tỉnh lược trong văn bản nói chung và trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan nói riêng

5 CÁI MỚI CỦA LUẬN VĂN

Đây là đề tài đầu tiên nghiên cứu sâu truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công Hoan, chỉ ra những đặc điểm nổi bật nhất về mặt cấu tạo, cách tổ chức câu văn tỉnh lược cũng như giá trị ngữ nghĩa do cấu trúc đó chuyển tải để qua đó chứng minh được nét đặc sắc, sức sáng tạo đầy tinh tế trong phong cách nghệ thuật Nguyễn Công Hoan- một tác giả văn học giữ vị trí quan trọng trong lịch sử Văn học Việt Nam hiện đại

6 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được tiến hành triển khai theo hai chương:

Chương 1: Những khái niệm liên quan đến đề tài

Chương 2: Các kiểu câu tỉnh lược trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan

Trang 15

A.Akhmanova Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học) Tuy vậy, các nhà nghiên

cứu đã quy về các hướng cụ thể như sau:

a Hướng định nghĩa câu dựa vào mặt ý nghĩa

Định nghĩa câu theo tiêu chí về mặt ý nghĩa từ lâu đã được các nhà ngôn ngữ học quan tâm Từ thời cổ đại Hy Lạp (thế kỉ V trước CN) Arixtốt đã cho

rằng: “Câu là một âm phức có ý nghĩa độc lập mà nửa bộ phận riêng biệt trong

đó cũng có ý nghĩa độc lập” Còn học phái Alechxandri (Từ những thế kỷ III-II

trước CN) đã nêu định nghĩa: “Câu là tập hợp các từ biểu thị một tư tưởng trọn

vẹn” [44,138] Đây là khái niệm thể hiện được mặt chức năng và ý nghĩa của

câu Cho đến nay định nghĩa này vẫn được dùng khá phổ biến

Ở nước ta, thời kì đầu của ngữ pháp tiếng Việt, các nhà nghiên cứu không

vượt qua phạm vi này Tác giả Trần Trọng Kim viết: “Câu lập thành do một

mệnh đề có ý nghĩa lọn hẳn hoặc hai hay nhiều mệnh đề” [27,27] Còn tác giả

Nguyễn Lân thì cho rằng: “Nhiều từ hợp lại mà biểu thị một ý dứt khoát về động

tác, tình hình hoặc tính chất thì gọi là một câu” [30,19]

Còn tác giả Nguyễn Kim Thản không đưa ra một định nghĩa trực tiếp mà

chọn ra định nghĩa về câu của V V Vinogradov: “Câu là đơn vị hoàn chỉnh của

lời nói được hình thành về mặt ngữ pháp theo các quy luật của một ngôn ngữ nhất định, làm công cụ quan trọng để cấu tạo, biểu thị tư tưởng” [44,65]

Trang 16

Như vậy, hướng định nghĩa này đã quan tâm đến mặt nội dung ý nghĩa của câu nhưng lại bỏ qua mặt hình thức biểu thị của câu

b Hướng định nghĩa câu theo quan điểm ngữ pháp duy lí

Các nhà ngữ pháp duy lí nghiên cứu câu gắn liền với phán đoán- Đại biểu

là Conđilac Ông cho rằng: “Mọi lời nói của mình là một phán đoán hay là một

chuỗi phán đoán Mà phán đoán được diễn đạt bằng các từ mà ta gọi là một mệnh đề Vậy lời nói là một mệnh đề hay chuỗi mệnh đề.”

Quan niệm này chỉ phù hợp với nhận diện câu về mặt lôgic

c Hướng định nghĩa câu dựa vào hoạt động giao tiếp

Đi theo quan điểm này có đại biểu là Trương Văn Chình Trong cuốn

“Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam”, ông đã lấy định nghĩa của Mây- e: “Câu

là một tổ hợp tiếng dùng để diễn tả một sự tình hay nhiều sự tình có quan hệ với nhau; tổ hợp ấy tự nó tương đối đầy đủ ý nghĩa và không phụ thuộc về ngữ pháp vào một tổ hợp nào khác” [15,476]

Định nghĩa này đã chú trọng đến mặt sự tình tức nội dung do câu biểu thị nhưng lại chưa đề cập đến mặt cấu tạo ngữ pháp của câu

d Hướng định nghĩa câu dựa vào hành động phát ngôn

Tác giả E.Sapin (1921) định nghĩa như sau: “Câu là một hành động ngôn

ngữ diễn đạt một hành động của tư duy”[18,72] Về định nghĩa câu dựa trên

định hướng triển khai của tư duy đã dẫn đến việc phân loại câu theo cấu trúc nghĩa, cấu trúc đề- thuyết Tư duy chọn cái gì làm xuất phát điểm thì đó là phần

đề, còn tư duy triển khai cái gì thì đó là phần thuyết Tác giả Cao Xuân Hạo đã chọn cách phân loại này để phân loại câu theo cấu trúc

e Hướng định nghĩa câu dựa vào mặt hình thức

Nhà nghiên cứu L C Thompson đưa ra định nghĩa câu về phương diện

hình thức mà bỏ qua mặt nội dung: “Ở trong tiếng Việt, các câu được tách ra

khỏi nhau bởi ngữ điệu kết thúc Một đoạn có một hay nhiều nhóm nghĩ, kết thúc

Trang 17

bằng một hay nhiều ngữ điệu kết thúc hay đằng sau một sự im lặng hay đoạn khác cũng như vậy là một câu Sự độc lập ở những yếu tố như vậy được phù hiệu hoá bằng chữ viết bởi cách dùng chữ hoa ở đầu câu và một dấu kết thúc (dấu chấm, dấu hỏi, dấu chấm than) ở cuối câu” [17,85]

Cũng như L C Thompson, F F Fortunatov đưa ra định nghĩa tương tự

như sau: “Câu là một tổng hợp từ với một ngữ điệu kết thúc” [18,496]

Các định nghĩa này chỉ dựa vào tiêu chí hình thức mà chưa chú ý đúng mức

tới phần quan trọng là ý nghĩa, cũng như cấu trúc của câu

g) Hướng định nghĩa câu dựa đồng thời vào hai mặt cấu trúc và ý nghĩa

Vào những năm cuối thế kỉ XX, các nhà ngữ pháp học đã nhận thấy những hạn chế của các hướng nghiên cứu chỉ dựa vào tiêu chí hình thức hoặc ý nghĩa hoặc phân loại câu Chính vì vậy, họ đi theo một hướng mới, dựa đồng thời vào

cả hai tiêu chí cấu trúc và ý nghĩa khi nghiên cứu về câu Theo hướng này có các tác giả: Nguyễn Kim Thản, Diệp Quang Ban, Lê Cận, Hồ Lê, Hoàng Văn Thung, Hoàng Trọng Phiến, Hữu Quỳnh, Đỗ Thị Kim Liên…

Nguyễn Kim Thản định nghĩa: “Câu không phải là những đơn vị có sẵn của

ngôn ngữ, nó là những tổ hợp được thành lập khi con người sử dụng ngôn ngữ

để tư duy, giao tiếp hay truyền đạt tư tưởng, tình cảm, thái độ Sự vận dụng ngôn ngữ như thế chính là lời nói” [44,138]

Còn Diệp Quang Ban cho rằng: “Câu là đơn vị của nghiên cứu ngôn ngữ có

cấu tạo ngữ pháp (bên trong và bên ngoài) tự lập và ngữ điệu kết thúc, mang một ý nghĩa tương đối trọn vẹn hay thái độ, sự đánh giá của người nói hoặc có thể kèm theo thái độ, sự đánh giá của người nói, giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng tình cảm Câu đồng thời là đơn vị thông báo nhỏ nhất bằng ngôn ngữ” [2,107]

Trang 18

Định nghĩa về câu trên đây đáp ứng nhu cầu đầy đủ cả hai mặt nội dung và hình thức cấu tạo nên câu, tuy nhiên còn rườm rà, chưa đáp ứng được tính ngắn gọn, súc tích của định nghĩa

Chúng tôi dựa vào định nghĩa về câu của tác giả Đỗ Kim Liên như sau:

“Câu là đơn vị dùng từ đặt ra trong quá trình suy nghĩ, được gắn với ngữ cảnh nhất định nhằm mục đích thông báo hay thể hiện thái độ đánh giá Câu

có cấu tạo ngữ pháp độc lập, có ngữ điệu kết thúc” [35,101]

1.1.2 Cấu trúc ngữ pháp của câu

Câu là đơn vị có nhiều mặt nên việc phân loại câu cũng có nhiều cách Cho đến nay, trong việc nghiên cứu ngôn ngữ thường gặp các cách phân loại sau:

- Phân loại câu dựa vào cấu trúc ngữ pháp

- Phân loại câu dựa vào lôgic- mục đích nói

Trong luận văn này, chúng tôi chỉ bàn đến phân loại câu về mặt cấu tạo ngữ pháp để làm tiền đề cho việc nghiên cứu các kiểu câu tỉnh lược trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan

Phân loại câu dựa vào cấu trúc ngữ pháp là kết quả của việc tìm hiểu cách

Ví dụ: Trăng lên (Tố Hữu)

Biển năm nay ấm (Nguyễn Thị Thu Huệ)

+ Câu ghép là loại câu có từ hai kết cấu C- V trở lên, trong đó, C- V này không bao hàm C- V kia mà mỗi C- V tương đương một nòng cốt đơn Các kết cấu C- V có quan hệ chặt chẽ với nhau tạo thành một chỉnh thể thống nhất

Trang 19

Ví dụ:

- Khi anh vắng, bàn tay em biết nhớ (Xuân Quỳnh)

- Bởi tôi ăn uống điều độ và làm việc có chừng mực nên tôi chóng lớn

là đơn vị của lời nói, của giao tiếp sinh động nhiều hình, nhiều vẻ Mặt khác, mỗi tác giả, mỗi trường phái lại xuất phát từ quan điểm khác nhau Vì thế, cho đến nay quan niệm về các thành phần trong câu và chức năng, quan hệ giữa các thành phần đó còn chưa thống nhất

Tuy nhiên, ngoài các tác giả theo trường phái ngữ pháp chức năng, coi câu

có cấu trúc Đề - Thuyết thì đa số các tác giả theo quan niệm ngữ pháp truyền thống đều coi câu có nòng cốt Chủ - Vị

Muốn phân định thành phần câu trong tiếng Việt, chúng tôi phải xem xét các từ ngữ trong câu quan hệ với nhau như thế nào và mỗi từ ngữ như vậy giữ những chức vụ gì trong câu

Thành phần câu trong tiếng Việt bao gồm thành phần chính và thành phần phụ Ta có thể hình dung qua lược đồ sau:

Trang 20

ngữ ngữ [ Theo Phan Mậu Cảnh]

1.1.3.1 Thành phần chính

a) Chủ ngữ: là thành phần chính của câu hai thành phần Chủ ngữ thường

nêu lên nhân vật, sự kiện, sự việc, hiện tượng, chủng loại… có quan hệ qua lại

và quy định lẫn nhau với thành phần vị ngữ

Như vậy, chủ ngữ là thành tố bắt buộc, không thể bị lược bỏ mà không ảnh

hưởng đến tính trọn vẹn của câu Nhờ đặc điểm này, ta có thể phân biệt chủ ngữ

với những thành tố nằm ngoài nòng cốt câu như trạng ngữ, khởi ngữ trong

trường hợp các thành tố ấy đứng ở đầu câu

Ví dụ: Củi gỗ thông trong bếp / bốc hương thơm

Trang 21

C

(Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài) b) Vị ngữ: là thành phần câu có quan hệ qua lại và quy định lẫn nhau với chủ ngữ Vị ngữ nêu lên đặc trưng hoặc quan hệ vốn có ở vật nói ở chủ ngữ hoặc

có thể áp đặt chúng một cách có lí do cho vật đó Động từ, tính từ chỉ quan hệ ở

vị ngữ giữ chức năng vị tố trong quan hệ cú pháp với các bổ ngữ

Ví dụ: Mùa xuân mới / đã sang rồi

Về mặt ngữ pháp: thành phần phụ của câu có tính chất tự lập tương đối tức

là nó không phụ thuộc vào cú pháp, vào yếu tố ngôn ngữ nào trong nòng cốt câu,

mà có quan hệ cú pháp với toàn bộ nòng cốt câu Tính chất tự lập tương đối ấy khiến cho trong nhiều trường hợp người ta có thể lược bỏ phần phụ của câu ra khỏi nòng cốt câu mà không làm tổn hại đến tư cách của nòng cốt câu trong cương vị ngữ pháp của nó

Về mặt ý nghĩa: thành phần phụ biểu thị thường là ý nghĩa thời gian, nơi chốn, mục đích, điều kiện, nhượng bộ… nhằm bổ sung ý nghĩa cho cả câu

Có thể chia thành phần phụ của câu ra làm nhiều loại tuỳ thuộc vào nội dung của chúng và tuỳ theo quan hệ ý nghĩa của chúng với nòng cốt câu Thông thường chúng ta có những loại phần phụ của câu như sau: trạng ngữ, đề ngữ, giải thích ngữ, tình thái ngữ, liên ngữ

Trong thành phần phụ của cụm từ người ta lại chia ra: thành phần bổ ngữ, định ngữ

Trang 22

Ở luận văn này, chúng tôi chỉ đi sâu tìm hiểu hai loại thành phần phụ bổ ngữ và định ngữ để làm cơ sở lí thuyết khi phân tích các câu tỉnh lược trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan

a) Bổ ngữ: là thành phần phụ bằng thực từ đi kèm vị từ (động từ, tính từ)

để chỉ cái đối thể chịu tác dụng trực tiếp hay gián tiếp của đặc trưng nêu ở vị từ, hoặc chỉ các chủ thể gắn liền với đặc trưng nêu ở vị từ và đứng sau vị từ, hoặc chỉ các đặc trưng phụ thêm vào đặc trưng nêu ở vị từ [2,183]

Ví dụ:

Bỗng anh thấy một ông lão / đầu tóc bạc phơ, da dẻ hồng hào, khoan thai

(Cây tre trăm đốt)

1.2 KHÁI NIỆM CÂU TỈNH LƯỢC

1.2.1 Định nghĩa

Trong đời sống con người cũng như trong một cộng đồng ngôn ngữ, chúng

ta thường bắt gặp những phát ngôn chưa đủ tư cách là một câu nếu xét trên bình

diện cú pháp học Ví dụ: Bà ấy múc cho nó một bát đầy Nó ăn phù phù! Nóng!

Xuỵt xoạt! Cay! Ngon quá! (Nguyễn Công Hoan) Những phát ngôn này có khi

là một từ, một cụm từ hay một ngữ đoạn (danh ngữ, động ngữ, tính ngữ) Rõ ràng nó không phải là câu bình thường bởi cấu trúc của nó chỉ có một hoặc một

số thành phần

Trang 23

Tuy nhiên, nhờ vào hoàn cảnh hay ngữ cảnh mà người ta có thể khôi phục đầy đủ và chính xác để trở thành câu có đầy đủ thành phần Các nhà nghiên cứu thường gọi những trường hợp như vậy là câu tỉnh lược

Từ trước đến nay đã có rất nhiều định nghĩa về hiện tượng tỉnh lược Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đều cho rằng tỉnh lược là một thủ pháp nhằm mục đích giảm thiểu thông báo bằng việc lược bỏ các yếu tố ngôn ngữ trong điều kiện cho phép

Nguyễn Kim Thản cho rằng: Câu trong đó có một hoặc cả hai thành phần chính bị lược bỏ đi mà vẫn hiểu được nhờ hoàn cảnh giao tiếp cụ thể Trong câu tỉnh lược, các thành phần vắng mặt có thể được khôi phục lại nhờ vào hoàn cảnh

giao tiếp Ví dụ: Ai là chủ nhà đây? - Tôi

“Trong thực tế của ngôn ngữ, có những câu có thể dựa vào hoàn cảnh sử

dụng ngôn ngữ mà bớt đi một hay cả hai thành phần chủ yếu của câu Ta gọi đó

là câu tỉnh lược (hoặc câu rút gọn) Câu tỉnh lược khác câu một thành phần ở chỗ người ta có thể dựa vào hoàn cảnh ngôn ngữ mà điền vào đó thành phần đã

bị bớt đi và khôi phục lại bộ mặt hoàn chỉnh của câu”[44,231]

Lưu Văn Lăng thì quan niệm: “Câu tỉnh lược là câu có một trong hai bộ

phận đó được tỉnh lược, đôi khi chỉ có bộ phận phụ mà thôi (do ngữ cảnh trong lời đối thoại có thể tiết kiệm, ta có thể lặp lại đủ thành phần)” [56,41]

Còn theo Cao Xuân Hạo: “Tỉnh lược là bỏ một ngữ đoạn mà sự có mặt

không cần thiết Nói một cách khác, đó là một phép thay thế một ngữ đoạn bằng đại từ hồi chỉ zêrô”[17,198]

Diệp Quang Ban khi nghiên cứu về hiện tượng tỉnh lược nhận xét: “Tỉnh

lược là việc bỏ trống yếu tố lẽ ra phải có mặt (do đó mà tạo ra cái có nghĩa chưa cụ thể) ở câu này, và muốn hiểu chỗ bỏ trống thì phải tìm từ ngữ có nghĩa

cụ thể tương ứng với câu khác, và bằng cách đó hai câu này liên kết với nhau

Trang 24

Về thực chất thì phép tỉnh lược cũng là một cách thế, chỉ có điều là thế bằng zêrô”[3,245]

Trong cuốn “Từ điển bách khoa về ngôn ngữ và ngôn ngữ học” (R E

ASHER chủ biên 1994) thể hiện khá rõ đặc trưng cơ bản của hiện tượng tỉnh

lược: “Sự tỉnh lược là một loại liên kết ngầm ẩn Nó là kết quả của sự lược bỏ

một bộ phận của một cấu trúc ngữ pháp trong một phát ngôn hay một câu, ở đó

sự hiển hiện trùng lặp bộ phận đó Sự lược bỏ không làm mất đi thông tin chuyển ngầm ẩn Nó được tạo ra nhờ hiện tượng dư trong văn bản” (dẫn theo

[50,60])

Phạm Văn Tình khi nghiên cứu “Phép tỉnh lược và ngữ trực thuộc tỉnh lược

trong tiếng Việt” đã định nghĩa: “Tỉnh lược văn bản là một dạng tỉnh lược xảy

ra giữa các phát ngôn, là sự lược bỏ các yếu tố mà người đọc có thể hiểu được nhờ mối liên hệ giữa các phát ngôn trong phạm vi một ngữ cảnh xác định”

[53,20]

Nhìn chung, các nhà nghiên cứu ngữ pháp khi đề cập đến loại câu tỉnh lược này đều thừa nhận đây là một hiện tượng ngôn ngữ đáng chú ý, mặc dù trên lý thuyết có nhiều cách thể hiện khác nhau Điều quan trọng là trong giao tiếp hàng ngày tỉnh lược là một hiện tượng rất phổ biến, nó trở thành một vấn đề cần được

lí giải, tìm hiểu, phân tích một cách thấu đáo…

Chúng ta có thể hiểu đơn vị ngôn ngữ này theo một quan niệm chung nhất: Tỉnh lược là việc lược bỏ các thành phần trong câu mà ý nghĩa của các thành phần bị tỉnh lược vẫn có thể được khôi phục dễ dàng nhờ vào hoàn cảnh hay ngữ cảnh

1.2.2 Phân loại câu tỉnh lược

Tỉnh lược là một hiện tượng phổ biến, xuất hiện ở mọi nơi, mọi lúc, trong những hoàn cảnh khác nhau Vì thế tính chất, ý nghĩa quan hệ cũng như thành phần hiện hữu của câu tỉnh lược rất phong phú và đa dạng Do đó, việc phân loại

Trang 25

câu tỉnh lược cũng rất phức tạp, có thể dựa vào nhiều căn cứ để phân loại các kiểu câu tỉnh lược:

- Căn cứ vào hoàn cảnh tồn tại: có loại tỉnh lược xuất hiện trong hội thoại,

có loại xuất hiện trong diễn thoại

- Căn cứ vào tính chất, quan hệ: có loại có tính tương đối độc lập với ngữ cảnh (khẩu hiệu, tục ngữ…), có loại phụ thuộc chặt chẽ vào bối cảnh hoặc văn cảnh

- Căn cứ vào ý nghĩa của lược tố: có loại tỉnh lược nhưng nội dung vẫn xác định (mệnh lệnh, nghi vấn), có loại chỉ khái quát, phiếm định

- Căn cứ vào thành phần hiện hữu: có loại trên bề mặt chỉ có vị ngữ, chủ ngữ, các thành tố phụ…

Như vậy, hiện tượng tỉnh lược có thể được nhìn từ nhiều góc độ, nhiều căn

cứ khác nhau và kết quả phân loại cũng không giống nhau

Trong đề tài này, chúng tôi đi sâu nghiên cứu câu tỉnh lược trong văn bản cụ thể là truyện ngắn Nguyễn Công Hoan tức là nó gắn với một ngữ cảnh nhất định Cho nên, chúng tôi căn cứ vào hai tiêu chí để phân loại câu tỉnh lược trong văn bản:

1 Căn cứ vào lược tố của câu tỉnh lược: là căn cứ vào thành phần tỉnh lược trong câu thuộc thành phần gì

2 Căn cứ vào ngữ cảnh của câu tỉnh lược: là căn cứ vào văn cảnh và bối cảnh xuất hiện của câu tỉnh lược đó

Phối hợp cả hai tiêu chí (1) và (2), chúng tôi chia các kiểu câu tỉnh lược trong văn bản như sau:

1 Câu tỉnh lược thành phần chính (tức tỉnh lược nòng cốt câu)

a) Câu tỉnh lược chủ ngữ: Câu khuyết chủ ngữ và câu ẩn chủ ngữ b) Câu tỉnh lược vị ngữ

c) Câu tỉnh lược chủ ngữ- vị ngữ

2 Câu tỉnh lược thành phần phụ

a) Câu tỉnh lược bổ ngữ

Trang 26

những năm hai mươi và tập truyện ngắn đầu tiên là “Kiếp hồng nhan”, ra đời năm 1923 Nhưng phải đến năm 1935 với tập truyện ngắn “Kép Tư Bền”,

Nguyễn Công Hoan trở thành nhà văn có danh tiếng trên văn đàn Việt Nam lúc bấy giờ Với hàng trăm truyện trào phúng, ông đã dựng nên bức tranh sinh động

về cái xã hội thực dân nửa phong kiến tàn ác, đầy rẫy bất công, giả dối, thối tha đương thời… Đồng thời, nhà văn thể hiện khá chân thực, cảm động tình cảnh cơ cực của những người nghèo khổ, từ người phu xe, anh kép hát, em bé ăn mày,

những “con sen”, “thằng nhỏ”… ở thành phố đến người nông dân ở nông thôn,

người công dân ngoài hầm mỏ…Ông đã bênh vực họ khi họ bị xã hội ức hiếp, khinh miệt, vu oan giá hoạ

Trong thời kì Mặt trận dân chủ (1936-1939), ngòi bút trào phúng của ông càng sắc bén và mang tính chiến đấu mạnh mẽ Ở nhiều truyện, nhà văn hướng tới những vấn đề thời sự, chính trị nóng bỏng đương thời, đả kích những âm mưu, chính sách lừa bịp của chính quyền thực dân Tuy vậy, tiếng cười trào phúng của Nguyễn Công Hoan cũng có khi thiếu một nội dung xã hội nghiêm túc Trong thời kì này, một số truyện dài có giá trị hiện thực cao cũng được ra

đời như: “Nhật kí cô làm công” vẽ nên cảnh sống cực nhục của một cô gái làm nghề khâu đầm “Cái thủ lợn” vạch trần những sự thối nát, sâu mọt của bọn

cường hào ở nông thôn Trong số hơn hai chục truyện dài, nổi bật hơn cả là tác

phẩm “Bước đường cùng” Ở đây, vấn đề nông dân được đặt ra khá gay gắt

Trang 27

Tình trạng bọn thực dân với mọi chính sách dã man, khắc nghiệt cùng với lũ quan lại, cường hào, địa chủ, cai lệ… tất cả đổ xô vào đè nén, áp bức bóc lột

những người nông dân khốn khổ, đẩy họ tới “bước đường cùng” là phải vùng

lên tranh đấu giành quyền sống

Cách mạng Tháng Tám thành công, mang lại cho toàn dân một tinh thần và

khí thế mới Ông hăng hái tham gia công tác cách mạng Tiểu thuyết “Xông củi”

và truyện ngắn “Bà lái đò Việt Nam” của ông ra đời vào thời gian này Sau khi

hoà bình lập lại, Nguyễn Công Hoan về công tác ở Hội văn nghệ Việt Nam Cũng

từ năm 1954, ông lại viết văn tương đối đều Ngoài những truyện ngắn về cải

cách ruộng đất, in trong tập “Nông dân và địa chủ” và một số đăng trên báo ông còn viết hai bài kí đặc sắc: “Những ngày tháng tàn ở Côn Đảo” và “Người cặp

rằng hầm xay lúa ở ngục Côn Lôn năm 1930”, nói về những chiến sỹ cách mạng

Nhân sang thăm Ba Lan, ông viết hồi kí “Thăm nhà người anh em chiến đấu anh

dũng” Song phần sáng tác chính của Nguyễn Công Hoan vẫn là những truyện dài

về xã hội cũ: “Tranh tối tranh sáng”, “Hỗn canh hỗn cư”, “Đống rác cũ”

Là một nhà văn lão thành, ông đã viết nhiều bài về kinh nghiệm viết văn

Với cuốn “Đời viết văn của tôi”, ông tâm sự: “Tuổi tuy cao nhưng sức chưa

yếu, tôi còn làm việc được lâu Ngay từ lần này, tôi viết cuốn này mà có hôm say

mê, tôi căm cụi tới mười hai, mười ba giờ đồng hồ chưa thấy mỏi” [22,135]

Nguyễn Công Hoan quả là tấm gương của một người đã cống hiến trọn vẹn cả đời mình cho sự nghiệp văn học và là tấm gương của một người lao động miệt mài vì nghệ thuật hơn nửa thế kỉ

Nguyễn Công Hoan qua đời để lại một số bản thảo truyện dài, bút kí, hồi kí, tiểu luận đã hoặc đang hoàn thành Với hơn năm mươi năm lao động văn học bền bỉ, Nguyễn Công Hoan là người đã có công khai phá, mở đường cho chủ nghĩa hiện thực phê phán Việt Nam và góp phần đặt nền móng cho văn xuôi hiện thực với một khối lượng tác phẩm đồ sộ Năm 1963, nhìn lại bước đường đi

Trang 28

và sự nghiệp lớn của một bậc đàn anh đáng kính, nhà văn Tô Hoài viết: “Nếu ta

nhẩm từ cái hồi mà lời văn bổng trầm khóc đứng khóc ngồi đến thời kỳ văn chương sạch sẽ kiểu “tự lực” thì lực lưỡng như một tay đô vật không có địch thủ

từ “Kiếp hồng nhan” tới nay, truyện ngắn, truyện dài của Nguyễn Công Hoan sừng sững tạo thành một thế Tam Đảo, Ba Vì hùng vĩ, vượt qua cả hai thời kì, tiến vào Cách mạng Tháng Tám” [37, 59]

1.3.2 Các ý kiến đánh giá về truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan

Sự nghiệp Nguyễn Công Hoan không phải chỉ có truyện ngắn Trước Cách mạng Tháng Tám, ông đã là tác giả của nhiều truyện dài Tuy nhiên, nói đến tài năng của Nguyễn Công Hoan, nói đến phong cách độc đáo của Nguyễn Công Hoan người ta đều nhớ đến một nhà truyện ngắn trào phúng Chính ông đã từng

bộc bạch: “Vốn tôi ưa viết truyện ngắn, mà lại là truyện ngắn trào phúng chua

chát” [22,185] Trong cuốn “Đời viết văn của tôi”, Nguyễn Công Hoan nhấn

mạnh: “Tôi đặt nhiều công phu vào việc viết truyện ngắn chứ không phải vào

viết truyện dài Tôi chỉ viết truyện dài khi nào tôi lười tìm đề tài viết truyện ngắn” [22, 207]

Sau khi xuất hiện, truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan đã gây được sự chú

ý của bạn đọc lúc bấy giờ Trên các báo đã có những bài phê bình, đánh giá, thậm chí đã nảy ra những ý kiến tranh luận xung quanh vấn đề truyện ngắn Nguyễn Công Hoan

Từ khi bài phê bình đầu tiên của Trúc Hà trên báo “Nam Phong” tháng 7 năm

1932 cho đến nay đã có nhiều ý kiến hoặc nhận xét chung về Nguyễn Công Hoan, hoặc phân tích từng tác phẩm Song, mỗi nhà nghiên cứu có một cách nhìn, cách nghĩ xuất phát từ góc độ riêng của mình nên có nhiều điểm chưa đồng nhất

Trước Cách mạng Tháng Tám, những ý kiến của Trúc Hà, Trần Học Đình,

Thiếu Sơn, Nguyễn Khắc Hiếu… đã thừa nhận là: “Cái biệt tài viết tiểu thuyết

của Nguyễn Công Hoan chỉ ở trong những truyện ngắn”, và bên cạnh “những

Trang 29

cảnh khốn nạn của những hạng người khốn nạn”, Nguyễn Công Hoan “ưa tả,

ưa vẽ cái xấu xa, hèn mạt, đê tiện của một hạng người xưa nay vẫn đeo cái mặt

nạ giả dối”

Trúc Hà cho rằng văn Nguyễn Công Hoan: “Có cái hay rõ ràng, sáng sủa, thiết thực, hơi

văn nhanh và gọn Lời văn hàm một giọng trào phúng, lại thường hay đệm vào một vài câu hoặc một vài chữ có ý khôi hài, bông lơn, thú vị” [37,12]

Còn Nguyễn Khắc Hiếu lại viết: “Cứ lời văn đoản thiên tiểu thuyết ba đào

ký của ông Nguyễn Công Hoan mà ông có công theo đuổi được mãi, mà bỏ việc quá đáng, bớt những lời lưu tục, lấy văn chương của tự mình làm gốc, như thế

mà chứa lâu thành tật, thành thực quý hơn bộ Liêu Trai của Tàu biết bao: vì tức

là xã hội thanh ảnh, tức là có tính chất giã sử” [37,63]

Bên cạnh đó, có những ý kiến đối lập nhau Đó là ý kiến của hai phái

“Nghệ thuật vị nghệ thuật” và “Nghệ thuật vị nhân sinh” Phái “Nghệ thuật vị nghệ thuật” chê bai, tìm cách làm giảm bớt giá trị của nhà văn Tiêu biểu là bài

viết của Lê Tràng Kiều: “Ai có đọc hết các tác phẩm của Nguyễn Công Hoan thì

thấy ông không đáng là nhà văn xã hội” và “Nguyễn Công Hoan, theo chúng tôi chỉ là một anh kép hát được vài câu bông lơn có duyên thế thôi”

Trong lúc đó, phái “Nghệ thuật vị nhân sinh” lại chú ý nhiều đến biểu dương, khen ngợi, cổ vũ Nguyễn Công Hoan Tiêu biểu cho phái “Nghệ thuật vị

nhân sinh” là Hải Triều Ông cho rằng: “Cái chủ trương nghệ thuật vị nhân sinh

của tôi ngày nay đã được biểu hiện bằng những bức tranh rất linh hoạt dưới ngòi bút tài tình của nhà văn sĩ Nguyễn Công Hoan” và “về phương diện tả thực, có thể nói tác giả đã đạt đến mục đích một phần lớn rồi vậy Nhưng về phương diện xã hội thì thật chưa hoàn toàn”

Quả là đã có một số ý kiến đánh giá tương đối đúng đắn một số mặt trong sáng tác của Nguyễn Công Hoan Đặc biệt, Hải Triều đã cảm nhận khá sâu sắc ý nghĩa của những vấn đề xã hội và tác dụng của tiếng cười trong truyện ngắn

Trang 30

Nguyễn Công Hoan Tuy nhiên, các ý kiến đều nghiêng về khen nghệ thuật viết văn chưa đi sâu vào những nét chủ đạo, cốt tuỷ của vấn đề Vì vậy, việc đánh giá

sự nghiệp văn chương của Nguyễn Công Hoan chưa thoả đáng

Sau Cách mạng Tháng Tám, những ý kiến đánh giá về Nguyễn Công Hoan ngày càng đúng đắn hơn Một số sách nghiên cứu hay giáo trình đại học về lịch

sử văn học hiện đại và một số bài báo nói chung đều nhất trí thừa nhận Nguyễn

Công Hoan có biệt tài về truyện ngắn: “Nếu Nguyễn Công Hoan xứng đáng

được coi là “một cây bút bậc thầy”, “một tài năng lớn” thì có thể nói “tài

năng lớn” của Nguyễn Công Hoan chủ yếu thể hiện ở thể loại truyện ngắn”

[37,300] Và thật đúng như nhận xét của nhà nghiên cứu Xô viết N Niculin:

“Chính trong loại truyện ngắn trào phúng đó, thiên tài xuất sắc của nhà văn

được nảy nở hết sức mạnh mẽ” Với một số lượng sáng tác lớn lên đến hàng

trăm truyện, ông đã vẽ nên một bức tranh rộng lớn, nhiều màu, nhiều vẻ về xã hội cũ lúc bấy giờ

Đề tài chủ yếu của ông trước hết thể hiện mâu thuẫn gay gắt giữa kẻ giàu, người nghèo, quan hệ giữa kẻ áp bức và người bị áp bức, vạch trần những sự giả dối, xấu xa, kệch cỡm, cùng cái thế thái nhân tình của một xã hội trong đó đồng tiền làm bá chủ

Mọi người đều thừa nhận Nguyễn Công Hoan có tài viết về xã hội cũ, nhất

là về mặt xây dựng nhân vật phản diện Chính trong “Đời viết văn của tôi”,

Nguyễn Công Hoan đã viết: “Nhân vật quen thuộc của tôi đều là những nhân

vật xấu trong xã hội thuộc Pháp Họ là bọn nhà giàu cậy quyền thế mà áp bức bóc lột người nghèo Họ là quan lại, là địa chủ, là tư sản, là tiểu tư sản lớp trên

Về họ tôi tìm đủ các nét nhơ bẩn về vật chất cũng như về tinh thần Còn nhân vật chính diện thì tôi thường chỉ tả họ qua ngôn ngữ, cử chỉ để thấy được con người của họ” [22,87]

Trang 31

Về nghệ thuật viết truyện ngắn, Nguyễn Công Hoan là người có nhiều khả năng và kinh nghiệm Truyện của ông thường rất ngắn, có kết cấu chặt chẽ, có kịch tính Lời văn khúc chiết, giản dị, ngôn ngữ trong sáng Cốt truyện thường được dẫn dắt một cách có nghệ thuật để hấp dẫn người đọc Kêt thúc thường đột ngột, bất ngờ Mỗi truyện như một màn hài kịch có giới thiệu, thắt nút và mở nút

Về những hạn chế của nhà văn, phần lớn các ý kiến cũng có sự thống nhất

Họ cho rằng: Một số truyện ngắn của ông còn có những nét lệch lạc, có khi sa

vào chủ nghĩa tự nhiên

Tóm lại, từ những ý kiến đánh giá về truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan một lần nữa ta có thể khẳng định rằng Nguyễn Công Hoan là một nhà văn có biệt tài truyện ngắn - đặc biệt là truyện ngắn trào phúng Quả đúng như lời nhận

xét của Nguyễn Hoành Khung: “Truyện ngắn trào phúng của Nguyễn Công

Hoan là hiện tượng chưa có tới hai lần trong văn học Việt Nam” [37,290]

1.4 Tiểu kết

Tỉnh lược là một hiện tượng lược bỏ các ngữ đoạn ở cấp độ phát ngôn trong giao tiếp Nó có thể xảy ra ở ngay nội bộ bản thân mỗi câu hoặc giữa các câu với nhau

Ở chương 1, chúng tôi đã trình bày một cách khái quát khái niệm, đặc điểm, chức năng của câu và câu tỉnh lược Đồng thời chúng tôi trình bày một vài nét tác giả, tác phẩm và những ý kiến đánh giá về tác giả Nguyễn Công Hoan Những cơ sở lí thuyết và thực tiễn trên là tiền đề quan trọng giúp chúng tôi phân tích so sánh, đối chiếu các kiểu câu tỉnh lược trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan

Trang 32

CHƯƠNG 2:

CÁC KIỂU CÂU TỈNH LƯỢC TRONG TRUYỆN NGẮN

NGUYỄN CÔNG HOAN

2.1 CÂU TỈNH LƯỢC THÀNH PHẦN CHÍNH

2.1.1 Câu tỉnh lược chủ ngữ

Chủ ngữ là một trong hai thành phần cơ bản của nòng cốt câu Mối quan hệ giữa chủ ngữ- vị ngữ là mối quan hệ thống nhất, hữu cơ, là mối quan hệ hai chiều Chủ ngữ- vị ngữ kết hợp làm nên một đơn vị thông báo Mặc dù, các nhà ngữ pháp đều cho rằng chủ ngữ không phải là thành phần quan trọng nhất, đóng

Trang 33

nhận tính hoàn chỉnh của cấu trúc câu Theo A Martinét: “Chủ ngữ là người

bạn đường thường xuyên của vị ngữ” [42,63] “Chủ ngữ là một trong hai thành phần chính của mệnh đề (câu), là thành tố hạt nhân của thành phần câu”

[44,379] Như vậy, chủ ngữ là thành tố mà nếu bị lược bỏ sẽ ảnh hưởng đến tính trọn vẹn của câu

Trong văn bản, cụ thể là trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan sử dụng hiện tượng tỉnh lược chủ ngữ xuất hiện rất phổ biến Theo số liệu thống kê của

chúng tôi, câu có thành phần chủ ngữ tỉnh lược chiếm tỉ lệ 71,6% (298/417)

trong số kiểu câu tỉnh lược

Căn cứ vào ngữ cảnh, việc lược chủ ngữ có thể phân chia thành 2 loại: khuyết chủ ngữ và ẩn chủ ngữ

2.1.1.1 Câu khuyết chủ ngữ

Câu khuyết chủ ngữ là loại câu trên bề mặt chỉ có vị ngữ (có thể có thành phần phụ khác bổ nghĩa cho nòng cốt) Còn chủ ngữ là thành phần có thể xác định được trong bối cảnh bên ngoài từ ngữ mà câu được sử dụng hoặc bên ngoài văn bản

Câu khuyết chủ ngữ có nhiều loại, ở luận văn này chúng tôi chỉ nghiên cứu câu khuyết chủ ngữ trong bối cảnh hội thoại và câu có chủ ngữ ngầm định

a) Chủ ngữ được xác định trong bối cảnh hội thoại

Trong hội thoại, hiện tượng tỉnh lược được thể hiện trên cơ sở các nhân tố tham thoại, bối cảnh giao tiếp và chủ đề Đơn vị cơ bản của hội thoại là các lượt lời được luân phiên tuần tự theo thời gian, thể hiện trên văn bản là trật tự tuyến tính Hầu hết các truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan đều có những cuộc đối thoại đối nghịch nhau Một bên là những người có địa vị xã hội thấp (hoặc vai dưới) đối thoại với những người có địa vị xã hội cao, quyền thế (hoặc vai trên)

Để tạo nên lời thoại ngắn gọn, cô đúc nhiều khi lên đến kịch tính, tác giả thường

sử dụng hiện tượng tỉnh lược

Trang 34

Ví dụ:

- Mừng rỡ, ngài đặt cái gói lên bàn, lại gần ngồi cạnh vợ, lật chăn ra, tỏ ý

ngạc nhiên

- Kìa, tôi tưởng mợ sắm sửa xong rồi Dậy đi, mau!

Bà mở mắt lim dim, kéo chăn đắp lại, uể oải nói:

- Tôi nhức đầu quá, mà cơm cúng ở nhà cũng chưa sắp sửa được gì cả

- Không cần Dậy mặc quần áo kẻo không kịp.

Ngài cười khanh khách, kéo vợ ngồi dậy

- Ồ, vờ mãi! Mặt mũi thế này mà bảo rằng nhức đầu Mau đi, kẻo lỡ Rồi chẳng cảm vì sắc đẹp hay muốn giở khoa nịnh đầm, ngài ôm lưng vợ,

- Tôi chịu thôi

Ngài trợn mắt kinh ngạc

Mợ đừng phụ công tôi

Rồi ngọt ngào, ông đập vào vai vợ, trỏ cái gói:

- Này! Tân thời , đẹp đáo để Dậy mà xem

- …

Ngài nhăn mặt, rồi to tiếng

Trang 35

- Nói!…

(Xuất giá tòng phu)

Truyện ngắn “Xuất giá tòng phu” là cuộc đối thoại giữa hai vợ chồng Ở

đây, các câu tỉnh lược chủ ngữ đứng xen kẽ với các câu không bị tỉnh lược Qua cách đối đáp, ta thấy việc tỉnh lược liên quan đến vấn đề điều kiện: Người vị thế thấp hơn (người vợ) thường phải trả lời đầy đủ theo nghi thức tôn trọng người trên Còn người ở vị thế cao (người chồng), các lời nói hầu như đều bị tỉnh lược Đây là một hiện tượng xã hội có vẻ như vô lí, phi lôgic Chồng đánh đập vợ tàn nhẫn như thể bắt được quả tang vợ đi ngoại tình, nhưng chính là chồng bắt vợ đi ngoại tình với quan trên mà bà ta thì không chịu làm điều ô nhục Hết dỗ dành đến nói sẵng, rồi quát tháo, rồi đánh… Hiện tượng bên ngoài là chồng dạy vợ đạo tòng phu, nhưng thực chất là phản lại đạo tòng phu

Ví dụ khác:

… Lạy cụ lớn, cụ là chỗ cha mẹ, cụ lớn tha tội cho con cháu

- Thế thì bây giờ vào chơi vậy

- Lạy cụ lớn, chúng con đã vô phép cụ lớn rồi ạ Nhà quê chúng con hay

ăn cơm sớm

- Thì vào chơi nói chuyện vậy Ông Tuần tôi đổi về đây, tôi đến thăm các chị một lượt, thế mà các bà chị lên tỉnh, không bà nào vào chơi với tôi Tôi giận lắm đấy

(Hé! Hé! Hé!) Cũng như ví dụ trên, những câu văn bị tỉnh lược chủ ngữ là lời của cụ lớn Tuần (ở địa vị cao) Còn bà chánh Tiền (ở địa vị thấp hơn) thì khúm núm thể

hiện rõ ở lời văn có đầy đủ thành phần kết hợp với từ “lạy” Ở đây, nó biểu hiện

sự thiếu dân chủ trong quan hệ và tăng cường kịch tính trong đối thoại Bằng lời

Trang 36

lẽ thân mật, vồn vã, cụ lớn Tuần đã “lập mưu” nhưng bà chánh Tiền không hay biết Ngược lại, bà chánh Tiền còn cho đó là “diễm phúc” được làm bạn với cụ lớn Phúc biến thành hoạ Cụ lớn Tuần đã… mất năm trăm đồng gọi là “tiền lãi”

bán thóc

Ví dụ khác:

ngay! Không ông đá cho một cái thì chết bây giờ!

(Răng con chó của nhà tư sản)

Ở đây là một lượt lời có tới 3 câu bị tỉnh lược chủ ngữ, thể hiện người nói ở

vị trí người trên ra lệnh với sắc thái trịch thượng, xem thường

Những trường hợp tỉnh lược sau đây cũng do vị trí giữa các bên đối thoại:

Con mẹ nuôi tay cầm lá đơn, đứng ở sân công đường Nó hớt hơ hớt hải qua cổng chòi, rồi sợ sệt bỡ ngỡ, không biết quan ngồi ở buồng nào Bỗng một người mặc áo cánh nhuộm…chạy xồng xộc đến trước mặt nó và hỏi:

Con mẹ biết ngay rằng đó là cậu lính lệ Và như hiểu rõ phép vào quan, nó giúi đưa cậu lệ hai hào đã cầm sẵn ở tay rồi nói nhỏ:

- Nhờ cậu bẩm quan cho tôi vào hầu

Cậu lệ tay đã cầm tiền, nhưng làm như ta không để ý đến việc nhỏ nhen ấy, bèn vừa thó tay, vừa nói to:

Rồi trong khi nhà Nuôi kể lể, thì cậu lệ đánh vần để đọc lá đơn Đoạn cậu lắc đầu, nhăn mặt bảo:

(Đồng hào có ma)

Ở đoạn hội thoại này, toàn bộ lời nói của cậu lính lệ đều bị tỉnh lược chủ ngữ, điều đó thể hiện sự hách dịch, doạ dẫm của những kẻ có quyền thế đối với người dân đen nghèo khổ, lép vế

Trang 37

Như vậy, trong hội thoại, cấu tạo của các câu còn liên quan đến quan hệ

giữa các bên, các “vai” giao tiếp

Tỉnh lược chủ ngữ còn xảy ra khi người hỏi, người đáp đã trở nên thân mật, gần gũi, người nói người nghe đã hiểu rõ:

Ví dụ:

- Bu ở nhà, con đi đằng này một tí nhé

Bà, giờ này như đã đoán được ý con, cựa mình nằm quay mặt ra ngoài rên

rỉ nói:

- Thôi con ạ, không thuốc thang gì nữa đâu Đừng đi vay mượn, rồi lại mắc nợ Bu đã qua cầu ấy, bu sợ lắm

Sáng thở dài, sờ tay lên đầu mẹ, rồi nhăn nhó nói:

- Thế này mà bu không chịu uống thuốc Bu sốt nặng hơn ban trưa đây mà

- Tại bu đắp nhiều chăn đấy Cứ để vậy, rồi khỏi Bu không muốn để nợ cho con đâu

- …

- Thế rồi lấy gì mà trả

- …

- Con hết rồi Con đã bảo con không vay ông ấy đâu mà

- Nhưng mà cũng không vay đâu cả Liệu mà nghỉ ngơi, rồi đi ngủ, sáng mai còn đi làm

(Sáng, chị phu mỏ)

Đây là những lời tâm sự của hai mẹ con Sáng Những câu đầy đủ thành phần đứng xen lẫn với những câu bị lược chủ ngữ vì hoàn cảnh giao tiếp là trực tiếp Cả hai có mối quan hệ thân thiết, gắn bó Qua đây, tác giả một mặt cho ta thấy tình cảnh lầm than khổ cực của người thợ mỏ bị bóc lột tàn tệ Mặt khác, còn ca ngợi, khẳng định nhân phẩm đẹp đẽ với tấm lòng hiếu thảo, cảm động và sức phản kháng tiềm tàng, mãnh liệt của họ

Còn sau đây là đối thoại giữa hai người bạn:

- Anh làm tôi rùng mình

Trang 38

- Phải Vậy thì đi, giữ lấy lời hứa

- Anh làm thế nào? Anh nói trước cho tôi đỡ lo

(Cái lò gạch bí mật)

Ở ví dụ trên, hầu hết các câu hỏi đáp đều bị tỉnh lược chủ ngữ vì cả hai là bạn bè thân thiết và đối thoại trong một hoàn cảnh trực tiếp

Có thể nói, xây dựng những đoạn hội thoại sinh động, vui và giàu kịch tính

là một sở trường của Nguyễn Công Hoan Dưới ngòi bút của ông, nhiều đoạn đối thoại giống như những màn kịch vui được điều kiển bởi một đạo diễn tinh nghịch, hóm hỉnh

Ví dụ:

- Anh ở lỗ nào chui ra đây?

Trang 39

Anh ta nghểnh cao người lên, vênh mặt mà trả lời:

b) Tỉnh lược chủ ngữ ngầm định

Trong văn bản nghệ thuật, tác giả được coi là một chủ thể trữ tình Tác giả

có thể đóng vai trò chính là người kể chuyện, hoặc đứng ngoài cuộc giữ vai trò như một người quan sát Tác giả thường là nhân vật giấu mặt, ít để lộ Và càng giấu mình bao nhiêu thì nội dung miêu tả càng khách quan bấy nhiêu Tuy nhiên, có những lúc, sự có mặt của nhân tố chủ quan cũng rất cần thiết [18,7]

Ví dụ:

- Đã nghe rét mướt luồn trong gió

Đã vắng người sang những chuyến đò

(Xuân Diệu)

- Nhớ nước đau lòng con quốc quốc

Thương nhà mỏi miệng cái gia gia

(Bà Huyện Thanh Quan)

- Chiều đi trên đồi êm như tơ

Chiều đi trong lòng em như mơ

(Bích Khê)

Ở những ví dụ trên, các vai chủ thể trữ tình bị lược bỏ Chủ thể đó được ngầm ẩn qua đại từ tôi- tức tác giả Ở đây, người đọc chỉ quan tâm tới sự kiện được miêu tả, tới tâm trạng của người nói, chứ ít quan tâm tới người nói là ai

Trang 40

Trong lời văn tường thuật, Nguyễn Công Hoan cũng sử dụng hiện tượng tỉnh lược ngầm định Chúng được xuất hiện như một suy nghĩ chủ quan của tác giả chứ không phải là một câu thuần tuý miêu tả sự tình

Ví dụ:

(Thằng ăn cắp)

Thì ở câu “Dại gì mà tha thằng ăn cắp” khó xác định được chủ thể ở đây là

ai Chúng ta thấy rằng, cách thức của câu trong ví dụ này gần giống cách thức của những câu thơ trên, tức là người viết (và người đọc) không quan tâm nhiều đến chủ thể là ai Tuy nhiên, giữa chúng có sự khác nhau ở chỗ: những câu thơ trên, yếu tố tỉnh lược (tỉnh lược chủ ngữ) không nằm trong văn bản, ở những câu trước đó mà nó tiềm ẩn, đứng ở ngoài phạm vi văn bản Chủ ngữ đó có thể là người nói (tôi), có thể là người nghe (anh) hoặc chung chung (chúng ta) Còn ở

câu “Dại gì mà tha thằng ăn cắp” hoàn toàn gắn kết với bối cảnh Nó liền

mạch với các câu trước đó và phù hợp với lôgic sự kiện Nó không hề nằm ngoài ngữ cảnh và bản thân ngữ cảnh có giá trị định vị chức năng ngữ pháp cũng như ngữ nghĩa của nó

Vậy, cái chủ thể hiểu ngầm đó nên xác định là ai? Là lời nói chung cho tất

cả mọi người hay bản thân tác giả nhận định khi quan sát? Ở đây, tác giả dường như là người trong cuộc, đi theo diễn biến sự việc và phù hợp với diễn biến tâm

lý nhân vật

Đây là một đoạn mang tính độc thoại Chính vì vậy, chủ ngữ thường được hiểu ngầm

hòng một cuốc tất niên?

Ngày đăng: 27/07/2021, 16:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w