1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sưu tầm các tập tính ở bộ gặm nhấm {rodentia} và bộ thỏ lagomorpha thử nghiệm các biện pháp làm thay đổi tập tính trên thỏ nhà oryctolagus cuniculus

96 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sưu Tầm Các Tập Tính Ở Bộ Gặm Nhấm Rodentia Và Bộ Thỏ Lagomorpha Thử Nghiệm Các Biện Pháp Làm Thay Đổi Tập Tính Trên Thỏ Nhà Oryctolagus Cuniculus
Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 1,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tập tính học trong thời gian gần đây đã có nhiều thành tựu nghiên cứu, phát triển, có vị trí quan trọng trong toàn bộ nền sinh học hiện đại, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn lớn Việc tìm

Trang 1

MỤC LỤC

Mở đầu 1

Chương I Tổng quan tài liệu 1.1 Tình hình nghiên cứu tập tính trên thế giới 4

1.2 Tình hình nghiên cứu tập tính ở Việt Nam 9

1.3 Cơ sở khoa của tập tính 10

Chương II Cơ sở khoa học, đối tượng và phương pháp nghiên cứu 2.1 Địa điểm, thời gian 20

2.2 Đối tượng 20

2.3 Phương pháp nghiên cứu 22

Chương III Kết quả nghiên cứu 3.1 Tập tính của thú 27

3.2 Tập tính của bộ gặm nhấm và bộ thỏ 38

3.3 Kết quả thí nghiệm làm thay đổi tập tính ở thỏ 47

Kết luận và đề xuất 65

Kết luận 65

Đề xuất 66

Tài liệu tham khảo 67

Trang 2

MỞ ĐẦU

I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Những hoạt động sống cơ bản như dinh dưỡng, tự vệ, quan hệ bầy đàn, sinh sản và chăm sóc con non là những biểu hiện đặc trưng của cơ thể động vật Đó chính là những phản ứng mà cơ thể trả lời lại động vật trả lời lại những tác động của môi trường xung quanh, góp phần làm tăng khả năng sống còn của con vật, và có thể chuyển giao cho đồng loại, đó được gọi là tập tính

Tập tính học trong thời gian gần đây đã có nhiều thành tựu nghiên cứu, phát triển, có vị trí quan trọng trong toàn bộ nền sinh học hiện đại, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn lớn

Việc tìm hiểu và nghiên cứu tập tính của động vật nhằm trả lời các vấn đề như các hoạt động tập tính của đông vật là tính bản năng, do các yếu tố di truyền quyết định Hoặc là những hoạt động thứ sinh, tiêp thu được trong cuộc sống bầy đàn và xã hội của động vật Tập tính có ý nghĩa gì đối với sự tồn tại và phát triển của động vật

Đối với lĩnh vực sản xuất, đây là nghành khoa học có thể góp phần cải tiến các kỹ thuật khai thác có hiệu quả và sử dụng hợp lí nguồn tài nguyên động vật, vật nuôi, phòng trừ dịch hại trong chăn nuôi và trồng trọt

Trong giới động vật thì lớp thú có một tầm quan trọng đối với nền kinh tế thế giới cũng như ở Việt Nam Đặc biệt nước ta thuộc miền nhiệt đới, rừng núi chiếm 50 -60% diện tích đất đai Nhiệt độ, độ ẩm cũng như nhiều nhân tố khác rất thuhận lợi cho đời sống cho các loài thú Thực vật sinh trưởng và phát triển quanh năm là cơ sở cho các loài thú ăn thực vật phát triển mạnh Những loài này lại là mồi của thú ăn thịt, tạo điều kiện cho thú ăn thịt phát triển Tầm quan trọng của thú thể hiện ở những mặt sau: cung cấp thực phẩm, làm dược liệu, cho da

Trang 3

lông và các nguyên liệu làm đồ mĩ nghệ đẹp và quý, có ích cho sản xuất nông nghiệp, khoa học và nhiều loài có giá trị xuất khẩu cao Xét cho cùng tjì không

có loài nào hoàn toàn có lợi hay hoàn toàn có hại Trong lớp thú thì có thể nói

bộ gặm nhấm là bộ có nhiều loài nhất (khoảng 2000 loài) Trước đây do có các đặc điểm giống nhau người ta cũng đã xếp các loài thỏ vào trong bộ gặm nhấm, ngày nay người ta đã nhận thấy các loài thỏ có những đặc điểm hoàn toàn khác

các loài trong bộ gặm nhấm nên đã tách ra thành một bộ riêng đó là bộ thỏ ( Lagomorpha )

Bộ gặm nhấm và bộ thỏ có rất vai trò quan trọng trong đời sống của con người Một số loài có bộ lông quý có thể khai thác da và lông (sóc, thỏ, hải li ), một số loài có thể khái thác lấy thịt (thỏ,sóc, nhím ), hoặc làm thuốc ở nước ta các loài sóc bay có giá trị lớn trong việc xuất khẩu, nuôi làm cảnh trong vườn động vật, vườn bách thảo Hiện nay chúng là những loài đang được nhiều nước trên thế giới bảo vệ Có nhiều loài tuỳ thuộc vào thời gian và tuỳ địa phương vừa

có lợi lại vừa có hại Đa số các loài găm nhấm là những loài có hại cho nông, lâm nghiệp Vì vậy việc nghiên cứu về tập tính của lớp thú nói chung và bộ gặm

nhấm, bộ thỏ là cần thiết Nên chúng tôi chọn đề tài "Sưu tầm tập tính ở bộ gặm nhấm (Rodentia) và bộ thỏ (Lagomorpha) Thử nghiệm các biện pháp

làm thay đổi tập tính trên thỏ nhà (Oryctolagus cuniculus)"

II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

Điều tra, thống kê và phân tích các hoạt động tập tính của của động vật thuộc bộ gặm nhấm và bộ thỏ trong tự nhiên cũng như trong điều kiện nuôi nhân tạo Qua đó phân loại tập tính thuộc bẩm sinh hay tập tính thứ sinh và các tập tính này phụ thuộc vào các yếu tố nào của môi trường (môi trường ngoài hay

Trang 4

môi trường trong) Đồng thời nghiên cứu thí nghiệm đề ra những biện pháp khoa học trong việc thay đổi tập tính nhằm áp dụng trong huấn luyện, thuần dưỡng và chăn nuôi động vật Hạn chế những tập tính xấu, những hoạt động bản năng không có lợi, tạo ra những tập tính mới có lợi cho con người

III NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Đề tài được tiến hành nghiên cứu trên đối tượng là các loài thuộc bộ gặm nhấm và bộ thỏ, trong đó đặc biệt là các loài chuột thuộc bộ phụ hình chuột và loài thỏ nhà

- Điều tra các tập tính của các loài trong bộ gặm nhấm và bộ thỏ Qua đó khái quát thành tập tính của hai bộ đó

- Dùng các phương pháp làm thay đổi các tập tính như hoạt động dinh dưỡng, sinh sản Qua đó tìm hiểu cơ chế điều khiển các hoạt động tập tính đó

Rút ra được các phương pháp điều khiển các tập tính theo hướng có lợi hoặc giảm bớt được các tập tính có hại ở các loài thuộc bộ gặm nhấm và bộ thỏ nói riêng và các loài thú nói chung

Trang 5

Tập tính (Beheviour hay Ethos) chính là phươgn thức sống hay biểu hiện

cơ chế tác động qua lại của cơ thể động vật với môi trường sống

Các tập tính của động vật có liên quan chặt chẽ với lợi ích của con người, với nhận thức của con người về tự nhiên và đấu tranh chinh phục thiên nhiên để phục vụ cho nhu cầu và tồn tại phát triển của mình Vì vậy, tập tính đã được quan tâm nghiên cứu từ lâu

Từ thời xa xưa, con người đã biết sử dụng tập tính động vật để phục vụ cuộc sống của mình Chó và mèo có lẽ là nhưng con vật đầu tiên mà con người sử dụng những tập tính dã thú, bắt mồi của chúng để giữ nhà, trông nom đàn vật nuôi, giữ gìn thức ăn và đồ vật trong nhà Con người đã tích luỹ các kiến thức về tập tính của động vật ngay tiếp xúc và tìm hiểu thiên nhiên, tìm hiểu động vật hoang dã để săn bắt và thuần dưỡng chúng

Tập tính phản ánh mối quan hệ giữa cơ thể sinh vật với môi trường, bởi vậy nó đã được quan tâm nghiên cứu từ lâu, cCó thể nói cơ sở khoa học tập tính chỉ được đề cập đến từ thế kỉ thứ XIX, do bốn nhà khoa học lớn Darwin, Fabre,

Trang 6

Morgan và Pavlov, là nhưng người đầu tiên đặt nền móng cho nghành khoa học này trong các nghiên cứu của họ Trước hết phải kể đến là Charler Darwin (1808

- 1882), nhà khoa học vĩ đại người Anh Chính C Darwin là người đã tổng kết các quan sát của mình về các hành vi biểu cảm của động vật và của người trong cuốn "nguồn gốc và tiến hoá của loài" và "về sự biểu hiện cảm giác ở người và động vật" trong đó đã nghiên cứu, so sánh tập tính của động vật Trước các nghiên cứu của Darwin, thời đó các nhà nghiên cứu chưa đánh giá đúng tập tính của động vật, họ thường đánh giá các hoạt động của tập tính trên tiêu chuẩn các biểu hiện các hành vị và thói quen của con người Còn trong các công trình của mình, Darwin đã nhấn mạnh vai trò và ý nghĩa sinh tồn của loài vật trong việc hình thành và phát triển tập tính, cũng như hình thái và cơ thể động vật Từ đó, ông đặt ra những nguyên tắc và cơ sở khoa học trong các nghiên cứu thực nghiệm, có tính khoa học khách quan về tập tính động vật [3]

Người thứ hai là Jean Henri Fabre (1823 - 1915), nhà côn trùng học người Pháp, nghiên cứu nhiều về các nhóm côn trùng trong vườn, đặc biệt là các nhóm ong mật và ong bò vẽ Ông là người tiên phong theo hướng quan sát, ghi chép và theo dõi tỉ mỉ các hoạt động của động vật trong điều kiện sống ngoài thiên nhiên Nhiều tập tính phức tạp của công trùng đã được Fabre phát hiện, phân tích và thông báo rộng rãi

Tiếp đến là Lloyd Morgan (1852 - 1936), tuy sau Darwin gần nửa thế kỉ, nhưng ông cũng đồng quan điểm và cho rằng, không thể đánh đồng tập tính động vật với các biểu hiện và hành vi của con người Tập tính động vật là một cách biểu hiện và hành động nào đó của con vật, đơn giản và ít phát triển hơn so với các biểu hiện tình cảm của con người Cần có một số cơ chế theo dõi và cách phân tích, phù hợp cho các tập tính của động vật

Trang 7

Người cuối cùng trong nhóm đặt cơ sở khoa học cho tập tính học động vật, là nhà sinh lí học thần kinh người Nga Ivan Pavlov (1849 - 1936), chuyên tâm nghiên cứu thực nghiệm tập tính động vật trong phòng thí nghiệm Một số thí nghiệm kinh điển của ông, là nghiên cứu sự tiết nước bọt ở chó khi cho ăn, có kèm theo một kích thích nhân tạo khác Bằng các thí nghiêm ông đã khám phá và chứng minh rằng, chó tiết nước bọt ngay cả khi chỉ có kích thích nhân tạo Trên

cơ sở này, ông đã đưa ra khái niệm phản xạ có điều kiện

Tuy nhiên, chỉ đến những thập niên đầu của thế kỉ XX, cùng với sự tiến bộ của các ngành khoa học tương ứng, khoa học tập tính học động vật mới bước vào giai đoạn phát triển hiện đại Lúc đó bộ môn khoa học này đã hình thành, có những đối tượng riêng biệt, với các phương pháp nghiên cứu và tiếp cận chuyên hoá, đặc biệt là một số vấn đề và quy luật tập tính được khám phá Đó là sự hình thành của tập tính học hiện đại cùng với các nghiên cứu và phát hiện của ba nhà khoa học Karl Von Frisch, Niko Tinbergen và Konrad Lorenz

Những năm đầu của thế kỉ XX, giáo sư Karl Von Hess, là nhà khoa học có

uy tín và ảnh hưởng thời bấy giờ, đã từng kết luận là ong không thể phân biệt được màu sắc Tuy nhiên, bằng quan sát của mình và các thực nghiệm đày tính thuyết phục, nhà sinh học trẻ K Frisch đã đi đến kết luận ngược lại Ông đã chứng minh rằng, ong khá nhạy cảm với các gam màu, đặc biệt là màu vàng và xanh lơ Công trình nổi tiếng, đã trở thành kinh điển của Frisch, là giải mã các điệu múa của ong thợ Khi một trong những ong thợ tìm thấy nguồn thức ăn, nó

sẽ có những điệu múa, lấy mặt trời, tổ ong và nguồn thức ăn llàm toạ độ, để từ

đó thông báo cho các con ong khác trong đàn của nó Bằng cách này các thông tin về về vị trí, về lượng thức ăn và khoảng cách giữa nới có nguồn thức ăn và tổ

sẽ nhanh chóng được truyền đi [19]

Trang 8

Sau đó là Tinbergen, với các thực nghiệm đầu tiên về cá Ba gai

(Gasterosteus aculeatus), Tinbergen đã hình thành phương pháp nghiên cứu tập

tính của động vật, chủ yếu nhờ quan sát ngoài tự nhiên [20]

Tiếp đến là Lorenz - nhà nghiên cứu tập tính động vật người Áo Nhưng nghiên cứu của ông được xây dựng trên cơ sở cho rằng tập tính là một bộ phận trong hệ thống sinh tồn của loài, là kết quả của sự tiến hoá thích nghi [18]

Cả ba tác giả nói trên đều được các nhà nghiên cứu tập tính học hiện đại công nhận là những người sáng lập ra bộ môn khoa học tập tính động vật Bước đầu họ đã đặt cơ sở cho bộ môn khoa học non trẻ, với các đối tượng, phương pháp và cơ sở khoa học Bên cạnh đó còn có các nhà tập tính học nổi tiếng đã miệt mài nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực khác nhau và có nhiều công trình nghiên cứu được công bố góp phần củng cố và tăng cường kho tàng kiến thức của ngành tập tính học Sau đây là các tác giả nổi tiếng và có uy tín quốc tế, nghiên cứu trên nhiều đối tượng khác nhau:

Công trình của Kregwcraig (1918) đã mô tả cơ chế rập khuôn trong việc hình thành tập tính, ông chia hành vi thuộc bản năng thành 3 giai đoạn: kích thích- tìm kiếm – hoàn thành

J B Watson (1930) đã nghiên cứu ảnh hưởng tác động của môi trường, diễn biến có tính chất chu kì, phức tạp, kì lạ của nó có vai trò quan trọng là cơ sở

Trang 9

Các công trình nghiên cứu và tác phẩm của L.V Krushinskii (1962) đã phân tích cơ sở của tập tính và chứng minh mối liên hệ chặt chẽ, sự hình thành tâp tính trên cơ sở hình thành phản xạ có điều kiện

K Lorenz và N Tinbergen (1965) khi nghiên cứu tập tính thuộc bản năng

đã khám phá ra rằng chúng bao gồm một loại hành vi rập khuôn theo một trình

tự nhất định Tập tính thuộc bản năng là tập tính bẩm sinh, được thể hiện trong tát cả giai đoạn sống và được đặc trưng bằng những động tác diễn ra liên tiếp khi tìm kiếm thức ăn, giao phối, sống chung Cũng trong năm đó Kunmer và Koirt

J.K Kowach (1971) là một nhà tập tính học người Nga đã có nhiều công trình nghiên cứu nổi tiếng ở Nga và Mĩ, đã mở rộng việc nghiên cứu các phenotip khác nhau của tập tính và phát triển việc nghiên cứu tập tính học thực nghiệm [18]

1981 Aschoff và một số tác giả khác đã xây dựng nên lí thuyết trường nhiệt độ cơ thể, đã giải quyết được về mặt lí thuyết cũng như thực tiễn trong viêc hình thành các tập tính điều hoà nhiệt của động vật [18]

N P Naumop đã đưa ra lí thuyết trường sinh học, qua đó giải quyết được hai cơ chế thần kinh và thể dịch Người ta cho rằng hoạt đoọng của các sinh vật tạo ra trên vùng đất chúng sinh sống một hệ thống tín hiệu chung bao gồm tổng thể các tín hiệu vật lí và hoá học khác nhau, như tín hiệu âm học, quang học, cơ

Trang 10

học, điện học, hoá học thường nẩy sinh do hoạt động soóng của các sinh vật và mang một nội dung thông tin nhất định [18]

K.E Fabri đã viết cuốn “tâm lí học động vật”, đề cập tới sự hình thành các dạng tập tính phức tạp mang màu sắc tâm lí của động vật [18]

L.M Baskin đã nghiên cứu thành công các cơ sở lí thuyết về điều khiển tập tính ở động vật móng guốc Sự phát triển của tập tính học hiện đại dựa trên nguyên lí của học thuyết Pavlov cho răng cơ sở hình thành tập tính là các phản

xạ nên có thể thay đổi và cải tạo được Các nhân tố di truyền có vai trò quan trọng trong việc hình thành các tập tính động vật, nhưng vai trò của môi trường ngoài cũng không kém phần quan trọng [18]

J.R Krebs (1997) đã đưa ra cơ sở di truyền về tập tính ở động vật bậc cao

và người, phá bỏ quan điểm ở động vật không có tập tính mang tính tư duy [28]

H Harlow nghiên cứu tập tính khỉ vàng ở Mĩ Ông đã nhận rõ được ý nghĩa quan trọng của việc giao tiếp và gần gũi giữa khỉ mẹ và khỉ con Từ đó ông cho thấy sự cần thiết trong tiếp xúc giữa trẻ em với nhau, trong việc dạy dỗ và nuôi nấng chúng [11]

Đặc biệt Jean Goodall, là người phụ nữ đã lăn lộn nhiều năm trong rừng rậm, để nghiên cứu tập tính của loài hắc tinh tinh châu Phi Một trong những phát hiện quan trong và vô cùng lí thú của bà, là tìm ra ý nghĩa của động tác bắt tay và chìa tay của hắc tinh tinh Đấy là cơ sở cho các phát hiện của Andrian Kortlandt về các ý nghĩa cử động bàn tay của hắc tinh tinh

Tín hiệu âm thanh và ngôn ngữ của cá heo (Delphinus) đã được John

Lilly nghiên cứu Ngày nay nhóm động vật này được coi là một trong những nhóm thú thông minh nhất, với khả năng thông tin ngôn ngữ khá phát triển

Trang 11

Robert Hinde đã đi sâu nghiên cứu các biểu hiện tập tính sinh sản của chim bạch yến, như hoạt đông giao phối, làm tổ, đẻ trứng

Trong phòng thí nghiệm gần Sarapota, bang Florida của Mĩ, nhà nữ nghiên cứu Eugenie đã chứng minh rằng, cá nhám cũng là con vật khá thông minh Chúng có thể nhận biết các tín hiệu âm thanh trong quá trình hình thành tập tính ăn mồi

Đặc biệt là nghiên cứu của Theodore Schnerirla, về khả năng "học tập" của kiến Ông đã xây dựng các mê lộ, để thử nghiệm khả năng học tập của một

số đàn kiến ở vùng nhiệt đới Amazon, châu Mĩ Ông đã đi đến kết luận rất bất ngờ, chúng có thể nhớ dường và chúng là nhưng động vật thuộc nhóm động vật

dễ dạy bảo

Skinner và các đồng nghiệp đã tập trung nghiên cứu các biểu hiện tập tính mang tính thứ sinh của một con vật, có được sự tập nhiễm và học được, qua sự tích kuỹ kinh nghiệm cá thể và qua đời sống bầy đàn, xã hội Trong thí nghiệm của mình ông đã phát hiện và hình thành các loại tập tính mới, ở nhiều nhóm động vật mà ít ai có thể nghĩ rằng chúng có thể học được Ví dụ, Skinner qua hộp thí nghiệm của mình đã có thể "dạy" cho chuột "biết"bấm vào nút, để chuột đưa thức ăn khi chuột bị đói [12]

Đối với Skinner và trường phái nghiên cứu của ông, khi nghiên cứu tập tính động vật phải chú ý tới ba điều kiện sau: Chọn đại diện và nhóm động vật thích hợp; Lựa chọn và tìm hiểu loại biểu hiện tập tính tương ứng và phù hợp nhất; Có điều kiện thiết bị và dụng cụ nghiên cứu bảo đảm chính xác có thể cách

li con vật với môi trường xung quanh

Ngày nay các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã và đang nghiên cứu

có kết quả tập tính của động vật trong một phạm vi rất rộng từ động vật nguyên

Trang 12

sinh đến vượn người, việc nghiên cứu hoạt động tập tính được ứng dụng rộng rãi trong chăn nuôi, trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, xã hội…Trong các điều kiện sản xuất nông nghiệp, có thể thay đổi một cách định hướng bằng cách tạo ra hoàn cảnh này hay hoàn cảnh khác

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TẬP TÍNH Ở VIỆT NAM

Tuy các cơ sở thí nghiệm và thiết bị hiện đại để nghiên cứu về tập tính ở nước ta còn rất hạn chế nhưng có rất nhiều nhà khoa học, trước hết phải kể đến

là các nhà động vật học, sinh lí học thực nghiệm cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học và được trình bày trong nhiều tác phẩm mô tả khá phong phú về các hoạt động tập tính ở nhiều loài khác nhau:

Lê Vũ Khôi (1988) trogn tác phẩm tìm hiểu về các loài chim đã mô tả và phát hiện nhiều dạng tập tính lí thú của nhiều loài chim như: làm tổ, nuôi con, khoe mẽ, "mùa cưới", kết đôi, gọi bạn tình…[4]

Lê Vũ Khôi (1988) ở tác phẩm tìm hiểu các loài thú (1988) đã mô tả và phân loại các rập tính ở thú [5]

Trần Kiên (1981,1983) đã mô tả nhiều tập tính phong phú ở ếch nhái và

bò sát [6,7]

Trần Khương Kiều (1988) đã phân tích cơ sở khoa học và cơ chế hình thành tập tính và ứng dụng của tập tính trong chăn nuôi, thuần dưỡng động vật trong đời sống.[9]

Vũ Quang Mạnh 1999 đã mô tả các tập tính ở động vật không xương sống

và công trình của tác giả trong gây các tập tính ở cà cuống và bò cạp.[10]

Trang 13

Hoàng Đức Nhuận và Nguyễn Đức Khâm 1993 đã mô tả các tập tính rấtphong phú và rất phức tạp của ong kiến, kiến, mối trong tác phẩm đời sống ong kiến mối [13]

Đào văn Tiến 1997 có thể nói là người đầu tiên đã có sông trong việc phát động những công trình nghiên cứu về tập tính động vật ở nước Đặc biệt giải quyết về mặt lí luận, thuật ngữ và chỉ rõ các phương pháp nghiên cứu [17]

Nói đến nghiên cứu tập tính động vật ở nước ta không thể quên những công trình nghiên cứu liên tục trong nhiều năm của GS Võ Quý về tập tính của các loài chim, thú, cá, bướm, ong và trên nhiều đối tượng khác [15]

1.3 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA TẬP TÍNH

1.3.1 Vai trò của tuyến nội tiết đối với tập tính

Vai trò chung của tuyến nội tiết và hormon: ở những động vật đơn bào, cơ thể chỉ cấu tạo bằng 1 tế bào, chưa có sự phân hoá về cấu tạo và chức năng,

nhưng tính cảm ứng và hoạt động phản xạ đơn giản (dạng tập tính) cũng chịu sự

chi phối của các chất, các sản phẩm có trong dịch tế bào Ở động vật đa bào, do quá trình biệt hoá đã hình thành các tế bào chuyên làm chức năng tổng hợp và bài tiết các chất hoá học và xác định đó làxuất hormon, tạo nên các tuyến nội tiết Các chất tiết được hấp thu trực tiếp vào máu và theo máu đến tác động vào các tế bào và các cơ quan trong cơ thể

Sự hoàn chỉnh về hình thái và chức năng của cơ thể thường đi đôi với sự phát triển và hoạt động của các tuyến nội tiết Các sản phẩm của tuyến nội tiết

tức hormon làm thay đổi thành phần và tính chất của môi trường (nội môi) qua

đó mà ảnh hưởng đến mội cơ quan và chức năng của cơ thể kể cả hệ thần kinh

Các hormon ảnh hưởng lên hoạt động tập tính bằng con đường khác nhau:

Trang 14

- Kích thích sự phát triển và hoạt động của các cơ quan sử dụng dưới các dạng khác nhau của hoạt động tập tính

- Ảnh hưởng lên sự phát triển và hoạt động của hệ thần kinh qua đó mà chi phối hoạt động tập tính

- Gây sự biến đổi thành phần hoá học của nội môi (máu và bạch huyết)

- Tác động lên quá trình trao đổi chất và chuyển hoá năng lượng qua đó

mà thay đổi tập tính

- Gây ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp lên các đặc điểm nguyên phát và thứ phát, do đó mà tác động lên các hoạt động tập tính hoặc bản năng, đặc biệt là các tập tính, bản năng sinh dục, sinh sản và phát triển

Có thể chứng minh tác dụng đó qua một số hormon và tuyến nội tiết sau đây:Chi phối và điều hoà tập tính phải kể đến:

Vai trò của hormon vùng dưới đồi (Hypothalamus)

Hypothalamus không những là 1 trung khu thần kinh thực vật quan trọng điều hoà hoạt động của tim, mạch, huyết áp, thị giác,bài tiết mà còn là 1 trung khu dinh dưỡng và chuyển hoá quan trọng Nhân bụng giữa của hypothalamus bị

tổn thương, cùng với vùng xám của tuyến Yên(Hypophisis) sẽ gây chứng béo

phì, đái nhạt và teo sinh dục Con vật sẽ xuất hiện tập tính tham ăn và béo nhanh

Người ta gọi nhân bụng là “trung tâm no” Hypothalamus co liên quan tới việc

Trang 15

hình thành các tập tính háu ăn, tham ăn , đấu trang quyết liệt để dành mồi ở động vật , đặc biệt là lớp thú

Hypothalamus đóng vai trò của tuyến nội tiết cao cấp Hoạt động theo cơ chế Hypothalamus - tuyến yên - tuyến đích; có nghĩa là hypothalamus tiết ra các hormon điều khiển tuyến yên và thông qua hormon tuyến yên điều khiển các

tuyến đích (như tuyến giáp trạng, tuyến cận giáp trạng, tuyến trên thận, tuyến sinh dục…)

Hypothalamus tổng hợp và bài tiết hormon ADH (anti diuretil hormon) là

hormon chống bài niệu HM ADH cũng được bài tiết từ tuyến yên, có tác dụng kích thích sự hấp thu lại nước ở tổ chức ống lượn ở thận Vì vậy nó điều hoà tập tính đái ít, tổn thương hypothalamus xuất hiện tập tính đái tháo nhạt

Tác dụng của Adrenalin và axetylcholin

Adrenalin được tổng hợp từ các tế bào từ tuyến trên thận và đầu mút các sợi sau hạch của thần kinh giao cảm từ một axit amin là phenylalanin:

Adrenalin và Noradrenalin ngoài chức năng là chất truyền tin qua xinap giao cảm, nó còn có tác dụng rất mạnh lên hoạt động tim mạch, huyết áp, hô hấp, bài tiết, thị giác, chuyển hoá glicogen thành glucoza

Đối với tập tính Adrenalin Noradrenalin làm tăng quá trình hưng phấn thần kinh thực vật làm cho con vật có tập tính hăng hái, nóng nảy, xông xáo, thích tấn công, gia trưởng thích đè nén, đàn áp đồng loại

Axetilcholin: tuy không phải là hormon điển hình vì không phải được tổng hợp và bài tiết từ tuyến nội tiết, nó được tổng hợp và bài xuất từ đầu mút các sợi thần kinh phó giao cảm và các tế bào sinh dưỡng ở một số cơ quan bằng cách

Trang 16

gắn nhóm axetyl (CH3COO) của axit axetic vào chất cholin, một sản phẩm phân

huỷ của protein (lexithin, photphatit)

axit axetic -> Cholin -> axetilcholin

Axetlcholin có tác dụng truyền tin qua xinap phó giao cảm, làm giảm nhịp

đập cơ tim, giãn mạch, hạ huyết áp Đối với tập tính, axetilcholin có tác dụng kìm hãm hưng phấn, tăng ức chế, làm cho bản tính của con vật trở nên điềm đạm, hiền lành, nhưng phản ứng chậm chạp, kém linh hoạt, phản ứng không kịp thời đối với kích thích

Tác dụng điều hoà của Seretonin

Khi cơ thể động vật và người có nhiều hormon này quá thì rơi vào trạng thái bị kích thích mạnh, luôn hưng phấn, luôn bị những ý nghĩ ám ảnh trong đầu, mất ngủ, thích sử dụng bạo lực, có tư tưởng gia trưởng, thích đè nén áp bức đồng loại, dễ cáu gắt hung hăng

Nếu thiếu hormon này thì sẽ xuất hiện trạng thái và tập tính ngược lại: nhút nhát, hay lo lắng sợ sệt, không dám đấu tranh dễ chạy trốn

Các nhà khoa học đã chứng minh rằng nhưng con khỉ đầu đàn thường có lượng hormon Seretonin nhiềuu hơn những con khỉ khác, các vận động viên cũng có lượng hormon này nhiều hơn

Seretonin giúp cho động vật và con người có sự can đảm, nghị lực và biết

tự chủ trong tình huống khó khăn, gay cấn

Tác dụng của hormon tuyến yên (hipophisis) và tuyến tùng (Mấu não trên

- Epiphisis):

Tuyến yên tiết ra nhiều loại hormon (24 loại) Trong đó có nhiều hormon

có tác dụng diều hoà hoạt động tập tính Trước hết phải kể đến các hormon thuộc

nhóm hướng sinh dục (Kích dục tố: Gonadotropin hay Gonadostimulin)

Trang 17

Gonadotropin (GTH) gồm 3 hormon riêng biệt đó là: FSH, LH và LTH

* FSH có tác dụng kích thích sự phát triển của nang trứng, làm trứng chín

ở động vật giống đực FSH tăng nhanh sự phát triển của ống sinh tinh và kích thích sản xuất hormon sinh dục

* LH kích thích sự phát triển buồng trứng và tinh hoàn, kích thích tiết

hormon sinh dục, tổng hợp hoàng thể

* LTH còn gọi là prolactin là hormon có vai trò kích thích sự hoạt động

của tuyến sữa, hình thành các tập tính nuôi con, cho con bú, chăm sóc con cái

Nó tác động lên hệ thần kinh tạo nên các phản xạ và tập tính bảo vệ con cái và chống lại kẻ thù, những tập tính sinh sản

Melanostimulating hormon (MSH) do thuỳ giữa tuyến yên tiết

Có tác dụng làm co bóp tế bào sắc tố nên gây tập tính biến đổi màu da ở động vật Đem ếch phơi ra ngoài nắng thì màu da trở nên nhạt, ở trong tối thì màu da sẫm lại ở người khi sợ hãi thì màu da tái đi do tác dụng điều hoà của MSH và Adrenalin

Tuyến tùng (mấu não trên: Epiphysis)

Tuyến tùng nằm giữa 2 củ não sinh tư trước và trên thành sau của não thất

ba ở người nặng khoảng 0.1-0.2 g chỉ phát triển và hoạt động ở tuổi còn nhỏ, từ

7-10 tuổi trở lên tuyến tùng teo đần cho đến tuổi dậy thì (Nam: 15-16 tuổi, nữ: 13-14 tuổi) thì thoái hoá hẳn không có tác dụng nội tiết

Tuyến tùng tiết hormon Melatonin gây ức chế sự phát triển và hoạt động của tuyến sinh dục và ức chế tuyến yên tiết Gonadotropin Melatonin có tác dụng kìm hãm các bẩn năng, tập tính sinh dục và hạn chế cái gọi là chín sinh dục trước tuổi

Các hormon sinh dục

Trang 18

Các hormon sinh dục do tuyến sinh dục tiết Ở động vật giống đực và ở nam là các tuyến kẽ trong tinh hoàn, các tế bào thành ống sinh tinh, tuyến sinh dục phụ, còn ở động vật giống cái hay nữ giới do buồng trứng và thể vàng tiết, đều thuộc nhóm Steroit

- Nhóm hormon sinh dục đực

+ Andosteron: Có tác dụng hoạt hoá các tế bào sinh dục đực (Tinh trùng: Spermatozoid), làm phát triển tính chất sinh dục phụ ở giống đực Về mặt tập

tính hormon này làm xuất hiện những tập tính sinh dục ở con đực như khoe mẽ,

gù con cái, tập tính kết đôi, hung hăng đấu tranh dành con cái…

+ Testoteron: Có tác dụng kích thích sự sinh trưởng và phát triển các cơ

quan sinh dục đực, phát triển các đặc điểm nguyên phát và thứ phát

Gây tập tính kích thích giao hợp, hung hăng dữ tợn, kicha thích mọc râu, lông, thay đổi giọng nói

- Nhóm hormon sinh dục cái:

+ Estrogen: Có vai trò kích thích sinh trưởng và phát triển tế bào trứng, phát triển chức năng sinh dục cái, các đặc tiníh sinh dục phụ của giống cái (phát triển tuyến vú, lớp mỡ dưới da, giọng nói, tính tình…)

Về mặt tập tính nó kích thích sự hình thành và phát triển các tập tính, bản năng sinh dục cái: hiền lành, thuỳ mị, điềm đạm,ức chế mạnh, nuôi con làm tổ, bảo vệ con cái…

- Progesteron: Là hormon do thể vàng tiết ra, có tác dụng tổng chất dinh

dưỡng nuôi phôi, gây các tập tính cho quá trình thụ thai và mang thai, sinh đẻ và tiết sữa, gây trạng thái tâm lí không ổn định, dễ cấu gắt, bản năng bảo vệ con cái, chu kì rụng trứng, kinh nguyệt, động đực

Trang 19

Ngoài ra ở côn trùng gần đây người ta phát hiện ra Ecdizon: là hormon gây ra tập tính lột xác ở côn trùng

Ảnh hưởng của Feromon đối với tập tính

Những năm gần đây người ta đã chứng minh rằng không phải chỉ có các hormon nội tiết mới có ảnh hưởng tới các hoạt động tập tính và bản năng, mà người ta còn tìm thấy tác dụng của các Feromon cũng đóng vai trò quan trọng Khác với các hormon là những chất hoá học được tổng hợp và bài xuất vào môi

trường trong cơ thể (máu) còn Feromon thì do một số tế bào xoma tổng hợp và

tiết ra môi trường ngoài cơ thể Hormon tác dụng bằng cách truyền đạt thông tin

qua các cơ quan bản thể (các tế bào ở bên trong cơ thể) còn Feromon lại truyền

đạt thông tin qua cơ quan khứu giác và vị giác từ đó tác dụng lên hệ thần kinh trung ương và ảnh hưởng đến tập tính một cách nhanh chóng

Thuộc nhóm Feromon này còn có các chất quyến rũ sinh dục, các chất đánh dấu, dẫn đường, các chất gây kích thích hoặc ức chế sinh trưởng phát triển

cơ quan và hoạt động sinh dục.Ví dụ:

Chất Bombicon: là chất quyễn rũ sinh dục do bướm cái của tằm dâu tiết

CH3(CH2)2CH2OH hay (C16H34O)

Là một chát dễ bay hơi , có mùi hôi khó chịu Chất này cũng được các thụ quan

ở râucon gián đực tiếp nhận gây các tập tính quyến rũ sinh dục và giao phối, tìm đường tiếp cận với con cái

Kiến Solenopsis genrinata khi đi tìm mồi và quay về tổ tiết ra chất đánh dấu, nhờ đó mà các kiến khác căn cứ vào đó để tìm đường đến chỗ mồi Đó là

chất n-Hexilic (Hexanon-1): CH3(CH2)CH2OH

Feromon này còn có tác dụng làm tín hiệu báo động cho đồng loại tránh nguy hiểm Chất đánh dấu và báo động kém đặc thù hơn

Trang 20

Geranicon do ong thợ tiết ra khi đi tìm mồi là một rượu gồm 10 nguyên tử C: CH3(CH2)CH2OH Có tác dụng lên tập tính chỉ đường cho các ong thợ tìm đến nguồn hoa, bổ sung cho các thông tin được truyền đạt nhờ các vũ điệu

1.3.1 Điều hoà tập tính bằng thần kinh

Sự điều hoà các tập tính bằng cơ chế phản xạ

Tập tính xét cho cùng là biểu hiện của hoạt động cơ tức là sự co giãn của

hệ cơ để đáp ứng lại các tác động của môi trường Hoạt động của hệ cơ thì không thể tách rời sự điều hoà và chỉ đạo của hệ thần kinh

Các hoạt động tập tính thường được phản ánh trong các phản ứng vận động hay ngừng vận động để trả lời những biến đổi nào đó của môi trường trên

cơ sở thiết lập, hình thành và biến đổi tập tính không những các cơ quan đáp ứng

(tức là các tác quan) mà còn là do sự phối hợp của cả hệ thống từ những cơ quan thu nhận cảm giác (thông tin) và cơ quan xử lí các thông tin đó chính là hệ thần

kinh

Con vật không thể phản ứng lại sự thay đổi nhiệt độ nếu như cơ thể không

có các cơ quan thu nhận cảm giác nhiệt độ (các vi thể Grause và pasini phân bố ở

da và không có các trung khu thần kinh điều hoà nhiệt độ ở Hypothalamus và Thalamus) Con vật sẽ khôong có tập tính kêu la, hú, gọi bầy nếu không có các

cơ quan cảm giác âm thanh (thính giác), cơ quan phát âm (các dây âm thanh) và

các trung khu thính giác, vận động ở não bộ

Trong các trường hợp đơn giản nhất kích thích chỉ gây ra 1 phản ứng nhất định làm cho một số cơ hay nhóm cơ hoạt động tTrong trường hợp này tập tính được xác định bằng mối liên hệ thuận, một chiều giữa 1 bộ phận cảm giác, đường dẫn truyền thần kinh với 1 cơ hay một nhóm cơ phản ứng xác định, có thể

Trang 21

hình thành ở đây một cung phản xạ đơn giản Dạng tập tính đơn giản này chỉ phổ biến ở động vật đơn não hay đa bào bậc thấp

Ở những động vật đa bào có tổ chức phức tạp, tiến hoá cao phần lớn các phản ứng tập tính được thực hiện nhờ sự hoạt động của những chuỗi noron phức tạp, những trung khu thần kinh khác nhau thực hiện bằng các cơ chế vòng phản

xạ dựa trên các mối liên hệ thuận và mối liên hệ ngược Các vòng phản xạ không phari chỉ là các đường truyền thần kinh đơn giản mà nó thực hiện bằng những cơ chế phức tạp như quá trình mã hoá các thông tin, xử lí các thông tin và giải mã

để tái hiện các thông tin Qua xử lí các tín hiệu có thể bị làm thay đổi làm tăng cường hay giảm bớt, cũng có thể bị ức chế làm mất tác dụng Do cơ chế liên hệ ngược cho nên sẽ có hiện tượng “ hoạt động tiếp diễn” nghĩa là xinap có thể tiếp tục hoạt động trong 1 thời gian sau khi kích thích bị ngừng tác động

Tập tính còn thực hiện nhờ quy luật “cộng kích thích” hoặc “tập cộng không gian” Tín hiệu được truyền vào theo 1 đường dây thần kinh nhất định

thường quá yếu, có trường hợp không đủ cường độ để gây khử cực, phát sinh điện thế hưng phấn đủ gây phản ứng Nhưng nếu tần số kích thích tăng hoặc phối hợp với các kích thích khác truyền vào theo những kêng khác thì có thể gây được phản ứng tập tính Ví dụ: con nai nằm ngủ ở trong rừng có nhiều kích thích tác động: như âm thanh tiếng gió thổi, lá rơi, tiếng các con vật khác nhau phát ra làm cho chúng phải lắng nghe và khi có tiếng chó sói vọng đến lập tức con vật có tập tính bỏ chạy

Sự hợp nhất các phản xạ thành một chuỗi cho phép thực hiện sự điều chỉnh một cách liên tục các tập tính Đây chính là cơ chế hoạt động của các phản ứng tập tính phức tạp

Trang 22

Ví dụ: Động tác bắt mồi là một chuỗi phản xạ khép kín từ các thông tin của thị giác một mặt nó được phân tích và truyền tín hiệu đến các cơ phản ứng Mặt khác các đường liên hẹ ngược nó sẽ kích thích và truyền tín hiệu đến các cơ

quan bản thể (cơ quan nhận cảm giác nằm ngay tại các tế bào các cơ quan như

ở vùng cổ, vùng thân) Từ đây nó tạo thành các đường thông tin ngược đến cơ

quan cảm giác, đến hệ cơ để điều chỉnh động tác vồ mồi

Sơ đồ điều chỉnh tập tính bằng cơ chế phản xạ vòng

XYZ: là vòng khép kín điều chỉnh động tác quay đầu

Các phản ứng tập tính còn được hình thành và điều hoà bởi các trung khu

thần kinh thực hiện chương trình hoá (mã hoá và tái hiện thông tin nhờ các phân

tử AND, ARN, protein trong các noron)

Ở đa số các động vật không xương sống và mộoọt số các động vật có xương sống thường được thực hiện bằng các xung động vận động mà trình tự đã được chương trình hoá trong hệ thần kinh trung ương và không cần các thông tin

từ các cơ quan cảm giác bên ngoài truyền vào (thi giác, thính giác…)

Vai trò của hệ Limbic trong điều hoà tập tính

Hệ limbic là 1 miền của não thường được gọi là thuỳ Limbic Mặt trong của thuỳ limbic được cấu tạo bằng 2 nếp nhăn nằm bên của thể chai và hồi hải

mã Vỏ limbic kết hợp với các cấu trúc dưới vỏ (Hypothalamus và phần trước của thalamus) tạo thành hệ limbic

Trang 23

Cấu tạo của hệ limbic gồm: Hypothalamus, Thalamus, nhân hạch nhân, hồi hải mã, vỏ limbic,vách ngăn trong suốt Các bộ phận này đều giữ vai trò quan trọng trong các hoạt động sinh lí của cơ thể nói chung và tập tính nói riêng Vùng hypothalamus: là thành phần có cấu trúc phức tạp

nhất của hệ limbic Trong hypothalmus có các nhóm nhân khác nhau về mặt cấu tạo, chức năng cũng như tiến hoá Một đặc điểm quan trọnglà tất cả các thành phần của hệ limbic đều liên hệ mật thiết với hypothalamus

- Hypothalamuslaf trung tâm điều hoà các chức năng dinh dưỡng cao nhất dưới vỏ não, chi phối hoạt động của hệ thần kinh giao cảm và phó giâo cảm Điều hoà cân bằng trao đổi chất- năng lượng, điều hoà nhiệt, cân bằng nước, khoáng

Về các hoạt động tập tính của hypothalamus có vai trò rất quan trọng Điều hoà các hoạt động: đói, khát, thoả mãn, kiếm mồi, đấu tranh sinh tồn Phần sau củahypothalamus phụ trách các hoạt động tinh thần như ức chế, mơ mộng

Các thể vú (Corpus mamualia) tham gia vào việc hình thành các cảm xúc,

Vùng thalamus: Nhóm nhân trước, nhân giữa của thalamus là thành phần

của hệ limbic Các nhóm nhân này liên hệ mật thiết với các trung khu trên vỏ não

và các thành phần khác của hệ limbic Thalamus điều hoà các cơ chế thu nhận thông tin và dẫn truyền thông tin, kiểm tra các thông tin Có tác dụng tăng cường hay ức chế các hoạthạot động tập tính

Trang 24

Nhân hạch nhân (amigdale) là mmột nhân lớn nằm ở mặt lưng của thuỳ

thái dương Nhân hạch nhân tiếp cận với các xung hướng tâm từ thuỳ thái dương

và thuỳ trán của não Từ nhân hạch nhân có đường ra truyền thông tin tới não trung gian, não giữa và hệ lưới Nó liên hệ với bộ phận liềm đen, nhân chỉ, cầu xanh nhạt Nhân hạch nhân có tác dụng điều hoà các chức năng dinh dưỡng và phản ứng thần kinh thể dịch Kiểm soát các bản năng tập tính về dinh dưỡng, tự

vệ và sinh dục, quá trình nhớ, tích luỹ và tái hiện thông tin, các hệ thống chương trình hoá

Nếu nhân hạch nhân bị tổn thương sẽ xảy ra rối loạn về cảm xúc, xuất hiện trạng thát bi quan lo lắng, sợ hãi, trí nhớ giảm sút

Vách ngăn trong suốt: Nằm sát bờ não thất 3 của não trung gian Có vai

trò tham gia hình thành các cảm xúc đặc biệt là những cảm xúc của các động vật khác giống cho nên nó hình thành các tập tính khêu gợi, thoả mãn trong khi tiếp xúc của các động vật khác giống

Hồi hải mã (Hypocampus) có cấu tạo hình chữ C rất phức tạp, nhận các

xung hướng tâm từ cơ quan khứu giác, có đường liên hệ với các giác quan và liên hệ với vỏ não, chức năng rất phức tạp Một mặt chi phối các thông tin khứu giác hình thành trí nhớ, lưu giữ thông tin Hồi hải mã có vai trò quan trọng trong việc hình thành các tập tính có liên quan đến hoạt động khưú giác: như phát hiện động vật khác giới bằng khứu giác, phát hiện kẻ thù, thu nhận các feromon…

Hệ thần kinh lưới: nằm trong phần thân não (từ não trung gian xuống

đến hành tuỷ) Chứa đường thần kinh phụ nhưng giữ vai trò quan trọng trong việc kiểm soát toàn bộ thông tin của cơ thể Nó có thể ức chế các tập tính không thích hợp hoặc lỗi thời, kìm hãm các trạng thái tâm lí

Trang 25

Chương II

ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 2.1 ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN

Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 3 đến tháng 10 năm 2004 tại thị trấn Thanh Chương, Nghệ An Được tiến hành trên 8 cá thể (2 thỏ đực, 6 thỏ cái)

2.2 ĐỐI TƯỢNG .

Đề tài được nghiên cứu dựa trên các tài liệu từ các nguồn khác nhau để tổng hợp các loại tập tính ở các loài thú trong bộ gặm nhấm và bộ thỏ Trong đó các thực nghiệm được tiến hành trên thỏ nuôi

2 1.1 Bộ gặm nhấm (Rodentia)

Thường là những loài thú có kích thước trung bình hoặc nhỏ hay rất nhỏ Chỉ có một đôi răng cửa lớn ở mỗi hàm, dài và cong, chìa ra ngoài và mọc dài liên tục Gốc răng hở và cắm rất sâu trong hàm Răng nanh thiếu nên giữa răng cửa và răng hàm có một khoảng trống Răng hàm cũng có khả năng mọc liên tục Ống tiêu hoá dài Manh tràng đơn giản, ít nếp gấp xoắn Tinh hoàn nằm trong khoang bụng, chỉ xuống hạ ngang khi đến thời kì sinh dục Não co thuỳ khứu lớn Bán cầu đại não hình chóp, hẹp nhẵn, trừ một số loài có kích thước lớn (Hải

Trang 26

- Bộ phụ hình sóc (Sciuromorpha): gồm những loài gặm nhấm có đặc điểm nguyên thuỷ có các họ như: Họ sóc (Sciuridae); họ hải li (Castoridae)…

- Bộ phụ hình Nhím (Hystricomorpha): Có các họ như họ nhím

(Hystricidae); họ chuột lang (Caviidae)…

- Bộ phụ hình chuột (Myomorpha) : có các họ như họ dúi (Rhizomyidae);

họ chuột gai (Platacanthomyidae); họ chuột (Muridae)…

2 1.2 Bộ thỏ (Lagomorpha)

Gồm những loài thú có kích thước trung bình, có bộ răng giống gặm nhấm So với gặm nhấm bộ thỏ có những đặc điểm khác như:

- Hàm trên có hai đôi răng cửa Một đôi lớn và một đôi phụ ở phía sau

- Manh tràng lớn có nhiều nếp nhăn

Đề tThỏ nuôi (Oryctolagus cuniculus): Thuộc giống Thỏ nhà

(Oryctolagus), họ Thỏ rừng (Leporidae), bộ Thỏ (Lagomorpha) Có chi sau và

tai nhỏ hơn thỏ rừng Gồm chừng 15 loài phổ biến ở châu Mĩ, châu Âu, châu Phi Sống từng đàn khá đông, thường đào hang dưới đất

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tập tính học là 1 khoa học có tính chất liên ngành, liên quan trực tiếp đến nhiều nghành khoa học khác như sinh thái học, sinh lí học, động vật học, vì thế

Trang 27

trong quá trình nghiên cứu ta phải vận dụng nhiều phương pháp khác nhau Sau đây là các phương pháp chủ yếu:

* 2 3 1 1 Phương pháp điều tra, tổng hợp các tài liệu

2 3 1 2.* Phương pháp thực nghiệm: Bố trí thí nghiệm ở phòng thí nghiệm và gia đình.

Phương pháp nuôi:

- Chuồng nuôi:

Thỏ đực giống, thỏ đẻ, thỏ con mới tách mẹ, thỏ nuôi thịt, mỗi loại cần một kiểu chuồng riêng Nguyên tắc chung là chuồng thỏ phải bảo đảm cho nó khi ăn cũng như khi nằm được hoàn toàn thoải mái, khi ăn thì đầu, tai không đụng nóc chuồng Ăn xong thỏ thích nằm dài và ngay ngắn để tiêu hoá được tốt; không thích chân móng bị đụng trước đụng sau, nhất là phải uốn mình nằm cong queo Chuồng cần phải đủ chỗ cho nó ăn một nơi, nằm một nơi và bài tiết một nơi nhất định Chuồng đúng quy cách thỏ sẽ không nằm vào nơi nó đã dành để ỉa đái, bộ lông lúc nào cũng sạch sẽ, bóng bẩy sức khoẻ tốt

Mỗi ngăn chuồng có kích thước dài 70cm, rộng 50 cm, cao 50cm, chân cao 50 cm Vách ngăn và vách hậu làm bằng gỗ, ken chặt, khít để không cho thỏ con chui sang những ngăn bên cạnh Vách ngăn được làm chắc khít để thỏ lớn không thể trông thấy nhau mà gây chuyện ẩu đả Phía trước chuồng được căng lưới cho thoáng và dễ theo dõi các hoạt động của thỏ, dễ cho thỏ ăn (bằng máng treo ngoài lưới sắt) đảm bảo vệ sinh và không lãng phí thức ăn Đặc biệt đối vơi chuồng thỏ cái đẻ thì dùng loại lưới có mắt rất nhỏ để chống chuột đảm bảo đời sống vững chắc cho thỏ sơ sinh

Nắm chuồng được mở lên phía trên, rất khít và nặng để tỏ không thể làm bật ra và thoát ra ngoài Mỗi ngăn chuông được làm một nắp riêng để khi làm vệ

Trang 28

sinh thỏ không thể nhảy từ ngăn này sang ngăn kia mà cắn nhau loạn xạ Sàn nằm của thỏ được làm bằng dát tre giống như dát giường tháo ra lắp vào dễ dàng

để dễ làm vệ sinh, đem phơi hoặc sửa chữa

Chuồng thỏ đực: Được làm theo hình vuông có mỗi cạnh là 60cm, chiều cao là 50 cm Dát chuồng được làm rất chắc chắn để dảm bảo cho thỏ khi giao phối

Chuồng thỏ đẻ: Dài 1m, rông 50cm Lưới sắt căng trước mặt chuồng là loại rất nhỏ, vách ngăn và vách hậu rất khit và chắc để chống chuột Chuẩn bị mỗi chuồng một hộp để đến ngày gần đẻ đặt đúng nơi nó đã chọn để làm tổ, Hộp

để dễ theo dõi chu kì động dục của chúng

- Hoạt động dinh dưỡng:

Phân bố các bữa ăn như sau: cho thỏ ăn theo ba bữa

Bữa thứ nhất: Từ 10 h sáng trở đi

Bữa thứ hai: từ 2 - 3h chiều

Bữa thứ ba: từ 7 - 9h tối Đây là bữa ăn chính của thỏ vì thỏ thức suốt đêm, chốc lại ăn

- Các loại thức ăn cho thỏ:

Các loại cỏ: có rất nhiều loại như cỏ gấu, cỏ gà, có sữa, cỏ voi…

Các loại rau: râu muống, rau lang, cải bắp…

Các loại lá: lá chuối, lá vông, là sung, lá sắn dây…

Trang 29

Ngoài ra con nhiều loại khác có trong thiên nhiên và các sản phẩm do con người trồng

Quan sát, ghi chép và mô tả: là phương pháp thông dụng nhất Vì tập

tính là những biến đổi, phản ứng sinh lí, sinh hoá, sinh thái diễn ra trong tự nhiên hay trong điều kiện nhân tạo Bởi vậy đòi hỏi ta phải quan sát, theo dõi ghi chép thật tỉ mỉ Phải xác định được các yếu tố không gian và thời gian trong các phản ứng tập tính Khi nghiên cứu các hành vi của động vật, gia súc các nhà khoa họcchúng ta thường dùng phương pháp đo thời gian, ghi lại thời gian diễn biến

mọi hành vi của con vật (như ăn uống, hoạt động sinh dục, đấu tranh tự vệ, bài tiết nghỉ ngơi…)

Quay phim, chụp ảnh: là phương pháp hiện đại, phản ánh một cách

khách quan các tập tính tự nhiên của con vật, giúp chúng ta khảo sát và phân tích các hành vi của chúng 1 cách chính xác nhất

Thành lập phản xạ có điều kiện: Phản xạ là cơ sở để hình thành các tập

tính Thành lập các phản xạ mới, hoặc ức chế các phản xạ mới, hoặc ức chế các phản xạ không thích hợp là biện pháp tốt nhất để xoá bỏ tập tính, thói quen cũ, thành lập các tập tính mới

Gi ải phẫu: Như cắt bỏ, ghép các tuyến sinh dục, tuyến giáp trạng, để

theo dõi sự thay đổi các tập tính và bản năng của động vật (hoạt động sinh dục, tính tình, tốc độ phản ứng…)

Cắt bỏ tinh hoàn của thỏ trong hai giai đoạn: Chưa trưởng thành sinh dục (chưa đi đực) và đã trưởng thành sinh dục (đã đi đực)

Sinh hoá: Sử dụng các hormon, hoá chất đưa vào cơ thể động vật để theo

dõi những thay đổi về tập tính, bản năng của chúng (như tiêm Adrenalin, Axetylcholin, Seretorin, Estrogen, Testoteron, Andosteron, Progesteron…)

Trang 30

+ Dùng Adrenalin:

Liều lượng: 0,005mg/con

Giai đoạn: trưởng thành

+ Dùng Mocphin: : Liều lượng: 0,1 ; 0,2 ; 0,5 mg/1ngày/5 con Giai đoạn: Thỏ mẹ chuẩn bị đẻ (có chửa khoảng 23-25 ngày) + Dùng Estrogen:

Liều lượng: 0,15; 0,25; 0,5 mg/con/ngày

Giai đoạn: Thỏ cái khoảng 4 - 4,5 tháng chưa động đục lần nào Lặp lại: Trong 5 ngày

+ Dùng Estrogen:

Liều lượng: 0,25; 0,5; 0,75 mg/con/ngày

Giai đoạn: Thỏ cái sau khi đã đẻ khoảng 4 -6 ngày

Lặp lại: Trong 4 ngày

2.3.3 Các phương pháp khác

Trang 31

Chương III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 TẬP TÍNH CỦA THÚ

3.1.1 Tập tính định hướng và di cư của thú

để cơ thể chúng giữ được tư thế cân bằng Định hướng là yếu tố quyết định thẳng đứng và sự vật động của con vật, thường do các yếu tố bên ngoài chi phối

Mỗi loài thú có một kiểu vận chuyển riêng biệt Kiểu vận chuyển này hoàn toàn phụ thuộc vào cấu tạo và điều kiện sống của từng loài thú

Trang 32

Đối với thú sống trên cạn thì đi là hình thức vận chuyển chậm nhất Đi cũng có nhiều kiểu phụ thuộc vào từng loại động vật Đa số các loài thú ăn thịt

và gặm nhấm đi bằng cách bước một chân trước như thế nghĩa là cơ thể thường xuyên được nâng đỡ bởi ba chân còn lại Phụ thuộc vào chiều cao của thân và chiều dài của thân con vật mà vết chân phía sau sẽ vượt quá hay lùi về phía sau vết chân trước cúng bên của con thú Đối với một số loài thú khác như hươu cao

cổ, lạc đà, voi, gấu, chó bước đi không giống như kiểu trên Khi đi chúng bước cùng một lúc hai chân cùng một bên

Để đứng được con vật phải có chân đế vững chắc, như thế trọng tâm phải rơi vào giữa chân đế Nếu chúng ta buộc một chân con thú lại Nó sẽ không đứng vững vì trọng tâm thiên về phía trước, nên chân sau chúng có thể nâng lên dễ dàng Còn Kanguru có trọng tâm thiên nhiều về phía chân sau, nên khi chúng muốn bật dậy để chạy, nó phải dùng đuôi như một đối trọng để tráng ngã về phía sau Khi đi chậm cơ thể con vật được nâng đỡ bởi ba chân chạm đất nên nó đi với một tư thế vững chãi có khi chúng đi nhanh hơn thì chân sau nhấc lên, lúc đó trong một thời gian ngắn cơ thể con thú chỉ được nâng đỡ bởi hai chân theo đường chéo và như thế sự vững chãi nhất định sẽ bị giảm đi Nếu con thú mà người ta đang mô tả sự chuyển vận là con ngựa, người ta nói ngựa đi nước kiệu Còn khi ngựa phi ( hình thức chuyển vận nhanh nhất) thì khi đó thứ tự chân sẽ như sau: chân trái trước, chân phải trước, chân trái sau, chân phải sau Thường chỉ một chân chạm đất và cũng có lúc không có chân nào chạm đất cả Cầy triết phi có khác: cả hai chân trước cùng nhấc lên một lúc và sau đó là hai chân sau

Còn đối với những loài thú như thú chân màng (chó biển, báo biển ) sống chủ yếu trong nước và chỉ khi sinh sản mới lên cạn, thì ở trên cạn chúng chuyển vận như thế nào? Báo biển dài khoảng 3,8 m có chân trước biến thành mái chèo

Trang 33

hướng sang hai bên cơ thể chúng, vừa có tác dụng nâng đỡ cho cơ thể vờaừa có tác dụng chuyển vận Khi chuyển vận phía trước cơ thể dướn lên lưng con vật cong xuống, hai chân trước toài ra phía trước kéo lê cơ thể và chân sau Tuy chuyển vận quá nặng nề như vậy, mà báo biển cũng di chuyển được trên cạn với vận tốc 8 km/h Chó biển trưởng thành có chân sau duỗi thẳng không cử động được Nhưng khi mới sinh chó biển con bò bằng cả bốn chân Hai chân trước cử động tuần tự kéo cơ thể lên, còn hai chân sau có tác dụng đẩy Về sau này khi hai chân duỗi rhẳng không cở động được thì nó chỉ dùng làm điểm tựa còn sự chuyển vận chính là do hai chân trước Nhưng kể từ lúc 10 ngày kể từ lúc sinh,

cơ thể chó biển đã tích lũy một lượng mỡ đáng kể nên béo lên, chân trước trở thàng quá ngắn nên không không có tác dụng chuyển vận nữa Sự chuyển vận bây giờ lại nhờ sự dướn lên của phần bụng bằng cách tuần tự: tì phần ngực và phần hông xuống đất Thú có bốn chân trong tự nhiên ít khi đi bằng hai chân Tuy nhiên, một số loài thú trong một số trường hợp cụ thể nó có thể đi bằng hai chân độ vài bước Thí dụ như trong mọt số loài linhg dương, hươu, hay hươu cao

cổ dướn cổ lên để gặm lá

Bên cạnh lối đi bằng bốn chân hoặc hai chân sau, nhiều loài thú còn vận chuyển bằng cách nhảy trong đó vai trò của cái đuôi trở nên rất quan trọng Trường hợp điển hình nhất là Kanguru, Kanguru có thể đi bằng bốn chân Dáng

đi của nó khá nhẹ nhàng Phân tích ta thấy bao gồm các giai đoạn sau: thoạt đầu con vật tì vào bốn chân và cái đuôi, đó là giai đoạn khởi động, sau nó nhấc đồng thời cả hai chân sau lên và đưa vào vị trí của chân trước hoặc nhích lên phía trước một chút Tiếp theo đó hai chân sau làm điểm tựa, con vật nhdún hai chân trước và đưa người về phía trước như ở tư thế khởi động Xét cho cùng nếu kể cả cái đuôi thì Kanguru đi bằng năm chân Còn kh9i con vật muốn phóng nhanh nó

Trang 34

dùng hai chân sau bật cơ thể vầ phía trước và cái đuôi khi đó trở thành cơ quan thăng bằng quan trọng Kanguru có thể póng với vận tốc 40-50 km/giờ; mỗi bước nhảy bìng thường là 1,2-1,8 m; mỗi bước nhảy kỉ lục là 7-12m chuột chảy

có hai chân sau phát triển mạnh và cái đuôi dài với cái túm lông đuôi to Nó có thể đi bằng hai chân sau và cái đuôi; còn khi phóng nhanh thì đấy là kiểu nhảy cóc

Loài Culi mắt trố sống ở quần đảo Mã lai có cỡ rất nhỏ, cao khỏang 0,15m

và nặng khỏang 85g và có cấu tạo thích nghi với cách nhảy chuyền Chân trước của culi mắt trố ngắn, chân sau rất dài có các đầu ngón nở rộng thành giác bám Mỗi bước nảy dài tới 2m và cao 60cm

Khỉ chuyền càng khá nhanh mỗi bươca có thể lên tới 3m Khi gặp nguy hiểm con vật có thể vung tay liên tiếp bám vào các cành cây ở khá xa với nhịp điệu khẩn trương thoăn thoắt như bay vậy và như thế, khớp vai của bọn khỉ vượn rất linh hoạt nhiều so với các động vật khác Loài khỉ nhện sống ở trung và Nam Mỹ

có chi dài và mảnh, đuôi dài và cuốn được vào cành cây Nó có thể bò thoăn thoắt trên các cành cây lớn khi đó đuôi cong gấp lên lưng Nhưng khi nó chuyền cành thì lại dùng phương pháp của vượn Nó có thể nhảy xa tới 10m Tới đích, các chi và đuôi phải vươn dài để bám vào các cành cây Người ta cũng quan sát khỉ vượn băng mình từ cành trên xuống cành (từ 6-8m)

Các loài thú sống trên cạn khi cần đều có thể bơi được Những loài thú sợ nước như thỏ, khi bị truy kích gắt gao dều có thể vượt qua một khúc sông hẹp Đa số gặm nhấm và móng guốc bơi giỏi, chỉ có một số ít không biết bơi như vượn, tinh tinh, khỉ gôrin Quả vậy nếu túm lấy một con vượn rồi quẳng xuống nước nó

sẽ lúng túng, quýnh lên, không biết phối hợp chân và tay ra sao hết, lông thường ngấm nước rất nhanh và thường không đầy một phút là chìm ngỉm Thế có

Trang 35

những loài thú có mai cứng như Tatu bơi lội như thế nào? Tatu có thể vượt sông bằng hai cách: Nó có thể lặn bò qua nền đáy Khi muốn bơi ngang sông, nó phải hít hơi cho phình căng ruột và ruột khi đó có tác dụng như chiếc phao bơi giúp tatu vượt sông

Những loài thú mà môi trường nước là nhà như thú chân màng thì cấu tạo

cơ thể và cách chuyển vận hoàn toàn thích nghi với điều kiện sống ở nước, Nó chuyển vận bằng cách uốn cong người và dùng chân đã biến thành một thứ bơi chèo để đẩy nước Những loài thú sống trên cạn nhưng kiếm ăn ở dưới nước chúng bơi tuyện giỏi, chúng bơi cũng bằng cách uốn mình, song đuôi có tác dụng đẩy nước rõ rệt Chúng ngủ trên mặt nước, khi đó chúng nằm ngửa nổi lềng bềnh, thỉnh thoảng lại quẫy đuôi mạnh một cái để giữ thăng bằng Đối với những loài thú sống hoàn toàn trong nước kể cả thời kì sinh sản thì đuôi và vây có hình dáng thực sự như cá Vây ngực cá voi chỉ có tác dụng lái (trừ một số trường hợp đặc biệt), còn vây đuôi nằm ngang mới là cơ quan chuyển vận chính của cá Nhờ

có vị trí đặc biệt này của vây đuôi mà cá voi bơi theo hình dao động sóng theo mặt phẳng đứng

Nhiều loài thú sống trên cây như sóc bay, chồn dơi có màng da rộng

ở hai bên sườn có tác dụng như cái dù giúp con vật lượn trên không Dơi mới là những loài có khả năng bay thực sự

* - Sự di cư của thú

Sự di cư là sự di chuyển đến một nơi khác, rồi lại trở về nơi cũ theo một chu kì nhất định Khác hẳn với sự phát tán; thú phát tatán đến một nơi ở mới và ở lại chỗ đó Sự đi ở riêng của thú non chính là một hình thức của phát tán Sự di

cư bao gồm nhiều hình thức phụ thuộc vào mực đích di cư Di cư để tránh rét là

sự ra đi của thú đến một vùng có khí hậu ấm hơn Di cư để kiếm ăn thường trực

Trang 36

tiếp gắn liền với khí hậu Hươu Bắc cực sống ở vùng đồng rêu, về mùa đông di

cư về phía nam vừa để tránh rét vừa để kiếm ăn Để nghiên cứu sự di cư của cá voi người ta đã đánh dấu cá voi bằng cách dùng một ống thép không gỉ, dài khoảng 25 cm trên đó có khắc kí hiệu để đánh dấu, địa chỉ để thông báo cho các trạm nghiên cứu Chiếc ống đó được lắp vào một viên đạn riêng và được bắn bằng một khẩu súng đặc biệt Khẩu súng này có khả năng bắn trúng một con cá voi ở cự li khoảng 70 - 80 m, khi đó chiếc ống thép sẽ cắm vào trong lớp mỡ dưới da cá voi mà không gây thương tích đáng kể Từ năm 1932 - 1938 trên mặt biển Bắc cực, người ta đã đánh dấu được 668 cá voi xanh, 3315 cá voi thường và

548 cá voi có bướu Sau đó 4 năm người ta lại săn được33 cá voi xanh chiếm 4,94%, 118 cá voi thường chiếm 3,61% và 36 cá voi có bướu chiếm 5,59% Trên

cơ sở đó ngay từ nhưng năm 40 người ta đã có kết luận rằng Những cá voi xanh sống quanh quẩn ở phía nam Gêocgi về mùa hè không phải là cá voi sống định

cư quanh năm ở đây Quả thế, có một cá thể sau khi đánh dấu được khoảng 88ngày thì phát hiện ra nó cách nơi đánh dấu về phía tây nam khoảng 801 km Một cá thể khác sau 32 ngày đã di chuyển hơn 483 km về phía đông nam Một vài cá thể voi thuộc loài này đã di chuyển khá xa Một cá voi xanh đánh dấu về mùa hè tại đảo Bouvet, mùa hè sang năm phát hiện nó ở phía nam Gêocgi cách khoảng 1899km so với địa điểm đánh đánh dấu năm ngoái Hàng năm về mùa hè

cá voi bướu sống ở Nam cực, sang mùa đông chúng di cư về các vùng nước ấm nhiệt đới để sinh đẻ Mùa hè sang năm chúng lại trở về quê hương cũ theo con đường mà năm trước chúng đã di cư Vùng nam cực khi đó có một loại thức ăn đặc biệt hấp dẫn - đó là những con tôm mắt đen - moọt loại động vật sống trôi nổi trên biển cả, có vỏ cứng, màu hồng - mà chỉ có trong vùng biển vùng địa cực mới dồi dào loại thứca ăn này

Trang 37

Sang thu khi vùng địa cực trở nên rét thì những đám rong biển và tôm mắt đen chết hàng loạt thì cá voi cũng lần lượt rời bỏ xứ lạnh mà di cư đi nơi khác

Muốn thực hiện được tất cả các hoạt động di chuyển và di cư này, trước hết con vật phải có khả năng định hướng Định hướng là một tập tính phức tạp ở động vật, cần có sự vận động và dịch chuyển, sự phối hợp đồng bộ, cùng lúc trên nhiều cấu tạo của cơ thể Đó là các cơ quan hỗ trợ và thực hiện vận động như:

cơ, lông, vẩy, vây,cánh, đuôi, đầu…

3.1.2 Tập tính bắt mồi và dinh dưỡng

Một loài thú có thể sử dụng nhiều nguồn thức ăn, có nghĩa là nó có thể ăn nhiều loại mồi khác nhau Thành phần của các loại thức ăn đó được gọi là chế độ

ăn của thú Trong các loài thú có một số ít loài chỉ ăn một loại thức ăn nhất định

Ví dụ, gấu có túi châu Úc chỉ chuyên ăn lá cây bạch đàn Gấu trúc Trung Quốc chỉ chuyên ăn nõn lá tre trúc Những loài thú này gọi là thú ăn chuyên Có những loài thú chỉ một số loại thức ăn như một số loài ăn sâu bọ như dơi và thú ăn kiến Những thú ấy gọi là thú ăn hẹp Những loài thú có khả năng ăn được nhiều loại thức ăn gọi là thú ăn rộng trong số này lại chia thành nhóm thú ăn thực vật và nhóm thú ăn động vật Nhưng loài thú đồng thời ăn được nhiều loại thức ăn thực vật và các loại thức ăn động vật gọi là thú ăn tạp Ví dụ, lợn rừng, gấu, nhiều loài chuột, nhiều loài chồn, cầy Trong các loài thú ăn tạp cũng có những loài thiên

về phía thức ăn động vật hơn (chồn bạc má, cầy giông, cầy hương ) hay thiên

về phía thức ăn thực vật hơn (vòi mốc) Trong chế độ thức ăn của một số loài có những loại thức ăn chung và ăn thường xuyên Loại thức ăn này hoặc chiếm một thành phần số lượng quan trọng trong chế độ ăn của chúng hoặc có số lượng không nhiều nhưng có ý nghĩa sinh học lớn và được gọi là thức ăn chủ yếu Loại thức ăn mà thú ăn với số lượng ít hơn được gọi là thức ăn thứ yếu Những loại

Trang 38

thức ăn mà thú ăn rất ít không thường xuyên gọi là thức ăn ngẫu nhiên Rái cá vuốt ở nước ta ăn chủ yếu là cá trong đó hầu hết là cá cỡ nhỏ, ngoài ra chúng còn

ăn thêm một số loài thân mềm như ốc, hến, một số loài tôm, cua Rất ít khi chúng ăn chuột Tuy nhiên, việc phân chia thức ăn trong chế độ ăn của một loài thú như vậy, trong nhiều trường hợp được coi là hình thức Bởi lẽ số lượng của một loại thức ăn hay loại mồi mà chúng sử dụng, trong nhiều trường hợp không phụ thuộc vào sự ưa thích của loài thú đó, mà phụ thuộc vào sự phong phú ít hay nhiều của nguồn thức ăn đó trong thiên nhiên cộng với khả năng loài thú đó có thể lấy được bắt được loại thức ăn đó hay loại mồi đó Trong thực nghiệm hoặc qua theo dõi và quan sát tập tính săn bắt mồi hoặc đi kiếm ăn của thú ngoài tự nhiên người ta đã phát hiện ra ở mỗi loài thú có những loại thức ăn hay loại mồi

mà chúng đặc biệt ưu thích Đó là loại thức ăn có ý nghĩa sinh học quan trọng và rất cần thiết đối với đời sống của một loài thú nào đó ở một vùng nào đó, vào một mùa nhật định nào đó Thức ăn đặc biệt ưu thích này thay đổi tuỳ thuộc vào từng lứa tuổi cũng không giống nhau ở thú đực và thú cái Mặt khác người ta cũng phát hiện ra loại thức ăn rất hấp dẫn đối với các loài thú Loại thức ăn này không phải lúc nào cũng là loại thức ăn chiếm một thành phần quan trọng trong chế độ ăn của nó và trong một số trường hợp nó có thể có hại đối vớơi loài thú

sử dụng nó Những loại thức ăn này có thể gây ngộ độc đối với những loài thú sử dụng nó Ngoài ra cũng có một số loài thú có khả năng miễn cảm đối với tính độc của cây hoặc nọc độc của động vật Thỏ rừng có thể miễn độc đối khi ăn một

số cây cỏ có chứa những hợp chất độc

Người ta còn phát hiện ra thức ăn bắt buộc Đó là những loại thức ăn thú buộc phải sử dụng trong thời kì thiếu đói Nhiều loài thú đã phải ăn phân của bản

Trang 39

thân hoặc phân của những loài thú khác Đó là trường hợp thường hay gặp ở chó, cáo, lợn, thỏ rừng

Chế độ ăn của một loài thú không phải là cố định mà thay đổi theo mùa Điều này cũng dễ hiểu, vì khí hậu ở một nơi thường thay đổi Sự thay đổi khí hậu gây nên sự thay đổi hệ thực vật trong vùng và ảnh hưởng trực tiếp đến các động vật sống trong đó Như chung ta đã biết, thức vật và động vật là nguồn thức ăn chính của thú Đấy chưa kể qua các mùa nhu cầu sinh lí có thể thay đổi, nên thú đòi hỏi những loại thức ăn khác nhau Do đó chế độ ăn của thú thay đổi theo mùa

là điều dĩ nhiên Ở vùng ôn đới và hàn đới khí hậu trong một năm từ mùa xuân đến mùa đông khí hậu thay đổi rất rõ rệt làm thay đổi nguồn thức ăn của thú cũng thay đổi rõ rệt theo chu kì Vùng nhiệt đới nóng và ẩm ăn thay đổi khí hậu qua các mùa trong năm không rõ rệt lắm, nên bảo đảm cho thú có nguồn thức ăn quanh năm đa dạng và phong phú Do đó mà ở vùng nhiệt đới có nhiều loài thú

ăn chuyên và ăn hẹp Nói như vậy không có nghĩa ở những nước thuộc vùng nhiệt đới như nước ta chế độ ăn của thú không thay đổi theo mùa, mặc dù mức

độ thay đổi không thật rõ rệt Chúng ta có thể lấy ví dụ trường hợp gấu ngựa Những loại quả được gấu ưu thích là quả dẻ gai, sung, vả, bứa tuy có thể gặp quanh năm nhưng tập trung nhất vào mùa hè - thu Trong thời kì này gấu kiếm

ăn hoàn toàn trên thân cây Vào khoảng tháng 12 đến tháng 3 khi đó quả rừng khan hiếm, gấu phải kiếm thức ăn trên mặt đất và tìm các loại rễ củ Khi đó các loại thức ăn này trở thành thức ăn chính Cầy giông là loại thú ăn tạp, nhưng chủ yếu ăn động vật Côn trùng, ếch nhái, giun đất và chuột là thức ăn ưu thích Cào cào, châu chấu, dế và các loại cánh cứng vì có mặt trong cả năm nên trong suột

cả năm được cầy dùng làm thức ăn Nhưng trong những năm nạn chuột khuy

Trang 40

xuất hiện Số lượng chuột khuy bị săn bắt nhiều hẳn lên ở Hoà Bình người ta phát hiện trong một ngày đêm một con cầy giông có thể ăn tới 3,4 con chuột

Cũng như cầy giông , cầy hương là một loài thú ăn tạp, cũng ăn động vật

là chủ yếu Trong thực đơn của chúng thì giun đất và côn trùng đượccầy sử dụng dường như trong suột cả năm Chuột cũng là loại mồi cầy ưu thích, nhưng vì hiếm nên trong năm chỉ có tháng 4 được cầy săn bắt nhiều nhất ( đây là thời gian chuột có nhiều sau mùa sinh sản)

Chế độ ăn của một loài thú còn thay đổi theo các giai đoạn sinh trưởng Bởi vì mỗi lứa tuổi con vật phải sử dụng những chất dinh dưỡng khác nhau cần thiết để ưu tiên cấu tạo một loại mô nhất định Quả vậy khi còn nhỏ, thú đòi những loại thức ăn cần thiết để cấu tạo bộ xương, khi thú đang lớn thì chính là những loại thức ăn để phát triển hệ thống cơ bắp và cuối cùng thì là để tăng cường sự tích luỹ mỡ Nếu không có những loại thức ăn phù hợp với yêu cầu của lứa tuổi, thì cùng với một loại thức ăn nhất định nhưng ở thú con thì phải dùng nhiều nhất để cấu tạo bộ xương, ở thú choai - bắp thịt, còn thú trưởng thành thì tích luỹ mỡ.Thức ăn của thú sơ sinh là sữa, đây là loại thức ăn có đầy đủ chất dinh dưỡng cần thiết cho một cơ thể đang phát triển và không thể so sánh với bất

kì một loại thức ăn nào sẵn có trong tự nhiên; tuy nhiên, thành phẫn mẹ không cố định mà thay đổi theo thời gian thú mẹ nuôi con Sữa đầu là sữa mẹ tiết ra trong những thời gian đầu thú mẹ mới sinh nở Tỉ lệ các chất dinh dưỡng trong sữa đầu cao hơn trong sữa bình thường rất nhiều Sữa đầu còn có những chất chống các bệnh truyền nhiễm nữa

Trong thực tế cũng có những trường hợp đặc biệt trong đó một nhóm cá thể của một loài thú nào đó thích nghi với một chế độ ăn uống đặc biệt do ngẫu nhiên mà có

Ngày đăng: 27/07/2021, 16:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Thị Trân Châu, Trần Thị Ánh, 1998, Hoá sinh học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoá sinh học
Nhà XB: NXB Giáo dục
2. Nguyễn Văn Hoàn, 1981, Hỏi đáp về nuôi thỏ, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp về nuôi thỏ
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
3. Lê Vũ Khôi, 1988, Tìm hiểu các loài chim, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu các loài chim
Nhà XB: NXB Giáo dục
4. Lê Vũ Khôi, 1988, Tìm hiểu các loài thú, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu các loài thú
Nhà XB: NXB Giáo dục
5. Trần Kiên, 1981, Thế giới kì lạ của các loài ếch nhái, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới kì lạ của các loài ếch nhái
Nhà XB: NXB Giáo dục
6. Trần Kiên và Đoàn Trọng Bình, 1980, Động vật xương sống (tập III), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Động vật xương sống (tập III)
Nhà XB: NXB Giáo dục
7. Trần Khương Kiều, 1988, Cơ sở khoa học của tập tính và ứng dụng, NXB Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học của tập tính và ứng dụng
Nhà XB: NXB Đồng Nai
8. Vũ Quang Mạnh, 1999, Tập tính động vật và ứng dụng trong gây nuôi cà cuống, bò cạp, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập tính động vật và ứng dụng trong gây nuôi cà cuống, bò cạp
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
9. Vũ Quang Mạnh, 2000, Tập tính học động vật, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập tính học động vật
Nhà XB: NXB Giáo dục
10. Vũ Quang Mạnh, 2001, Hỏi đáp về tập tính động vật, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp về tập tính động vật
Nhà XB: NXB Giáo dục
11. Hoàng Đức Nhuận và Nguyễn Đức Khảm, 1993. Đời sống ong, kiến, mối, NXB Khoa học và Kĩ Thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đời sống ong, kiến, mối
Nhà XB: NXB Khoa học và Kĩ Thuật
12. Phan Cự Nhân, 1998, Cơ sở di truyền tập tính, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở di truyền tập tính
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
13. Võ Quý, 1971, Sinh học của các loài chim thường gặp ở Việt Nam, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh học của các loài chim thường gặp ở Việt Nam
Nhà XB: NXB Giáo dục
14. Đào Văn Tiến, 1971, Động vật có xương sống tập II, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Động vật có xương sống tập II
Nhà XB: NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp
15. Đào Văn Tiến, 1987, Tập tính học là gì?, NXB Khoa học và Kĩ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập tính học là gì
Nhà XB: NXB Khoa học và Kĩ thuật
16. Cao Văn Sung, Đặng Huy Huỳnh, Bùi Kính, 1980, Những loài gặm nhấm ở Việt Nam, NXB Khoa học và Kĩ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những loài gặm nhấm ở Việt Nam
Nhà XB: NXB Khoa học và Kĩ thuật
17. Igor Akimuskin, Động vật di cư, NXB Khoa học kĩ thuật Hà Nội, 18. F.Bourlière, 1951, Vie et moeurs des mammifèrs Sách, tạp chí
Tiêu đề: Động vật di cư", NXB Khoa học kĩ thuật Hà Nội, 18. F.Bourlière, 1951
Nhà XB: NXB Khoa học kĩ thuật Hà Nội
19. W.D.Phillips, T.J. Chilton, 1991, Sinh học (tập I), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh học (tập I)
Nhà XB: NXB Giáo dục
20. Lorenz Konrad, 1968, Il parlait avec les poissons, les oiseaux, les mammifères, NXB Paris Sách, tạp chí
Tiêu đề: Il parlait avec les poissons, les oiseaux, les mammifères
Nhà XB: NXB Paris
21. Lorenz Konrad, 1970, Essais sur le comportement animal et humain, NXB Paris Sách, tạp chí
Tiêu đề: Essais sur le comportement animal et humain
Nhà XB: NXB Paris

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w