1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu một số di tích lịch sử văn hoá và lễ hội truyền thống ở làng quỳ chữ (hoằng hoá thanh hoá)

92 47 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu một số di tích lịch sử văn hoá và lễ hội truyền thống ở làng Quỳ Chữ (Hoằng Hoá - Thanh Hoá)
Tác giả Lê Thị Thanh
Người hướng dẫn GVC. ThS. Hoàng Quốc Tuấn
Trường học Đại học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử văn hoá
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2006
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 747,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quỳ Chữ mảnh đất có bề dày lịch sử hàng ngàn năm, cộng đồng c- dân Quỳ Chữ trong quá trình lao động và đấu tranh lâu dài, khai thác đất đai, xây dựng và bảo vệ quê h-ơng đất n-ớc, đã tạo

Trang 1

Tr-êng §¹i häc Vinh

lÔ héi truyÒn thèng ë lµng quú ch÷

Trang 2

lời cảm ơn

Để hoàn thành công trình nghiên cứu này, bản thân tôi luôn nhận đ-ợc sự h-ớng dẫn tận tình của thầy giáo h-ớng dẫn GVC.Ths Hoàng Quốc Tuấn cùng các thầy cô giáo trong Khoa Lịch sử Tr-ờng Đại học Vinh Với sự cố gắng nổ lực của bản thân, sự động viên khích lệ của bạn bè đã giúp tôi hoàn thành bài tập tiểu luận của mình

Qua đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo h-ớng dẫn GVC Ths Hoàng Quốc Tuấn cùng các thầy, cô giáo trong Khoa Lịch sử và xin gửi đến các thầy, cô giáo lời cảm ơn chân thành nhất

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn UBND xã Hoằng Quỳ, cán bộ và nhân dân làng Quỳ Chữ đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình điền dã và s-u tầm tài liệu tại làng

Vì thời gian và nguồn tài liệu có hạn, chắc chắn đề tài còn nhiều thiếu sót, kính mong nhận đ-ợc các ý kiến đóng góp của các quý thầy, cô giáo và các bạn sinh viên

Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!

Vinh tháng 5 năm 2006

Tác giả

Trang 3

Phần mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Tìm hiểu về lịch sử văn hoá làng vốn từ lâu đã đ-ợc nhiều ng-ời quan tâm nghiên cứu, trong mỗi làng th-ờng có những nét độc đáo và mang trong mình tính đa dạng nh-ng cũng hết sức phức tạp, làng là một sản phẩm của lịch

sử, là tế bào của đất n-ớc, ở đó luôn thu nhận những thay đổi của lịch sử

Từ x-a, ng-ời nông dân nông thôn đã gắn bó mình với cộng đồng làng xóm, tình yêu quê h-ơng đã làm nên sức mạnh để xây dựng và bảo vệ xóm làng

và đất n-ớc Truyền thống văn hoá làng có ảnh h-ởng sâu sắc đến phẩm chất tốt

đẹp của những con ng-ời sống trong thôn mạc Có thể nói, văn hoá làng chính

là cái gốc nhân cách của con ng-ời Việt Nam

Xây dựng một nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc nh- chủ tr-ơng hiện nay của Đảng, thiết nghĩ chúng ta nên đi từ b-ớc đầu tiên

là bảo l-u, gìn giữ phát huy văn hoá làng trong hoàn cảnh mà tác động của kinh

tế thị tr-ờng đang làm biến đổi nhiều yếu tố văn hoá truyền thống thì việc làm này càng có ý nghĩa

Làng Quỳ Chữ - xã Hoằng Quỳ - huyện Hoằng Hoá là một trong những làng đang còn bảo tồn đ-ợc những giá trị văn hoá truyền thống từ xa x-a Quỳ Chữ mảnh đất có bề dày lịch sử hàng ngàn năm, cộng đồng c- dân Quỳ Chữ trong quá trình lao động và đấu tranh lâu dài, khai thác đất đai, xây dựng và bảo

vệ quê h-ơng đất n-ớc, đã tạo nên những giá trị văn hoá tốt đẹp trong nền văn hoá thống nhất của dân tộc, đó là hệ thống các di tích lịch sử văn hoá và lễ hội truyền thống của làng

Quỳ Chữ có truyền thống lịch sử văn hoá lâu đời, phong phú độc đáo vừa giàu tính dân tộc, vừa thể hiện sắc thái văn hoá riêng của làng Quỳ Chữ, còn là mảnh đất hiếu học, khoa bảng nổi tiếng từ xa x-a

Để khôi phục và phát huy những di tích lịch sử văn hoá và lễ hội truyền thống của làng, trong những năm vừa qua cán bộ và nhân dân làng Quỳ Chữ

đặc biệt chú trọng đến việc chăm lo phát triển và gìn giữ những giá trị văn hoá

cổ truyền của cha ông cả về văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần mà cụ thể là khôi phục, bảo tồn những di tích lịch sử văn hoá của làng cũng nh- những lễ hội truyền thống của làng nhằm gìn giữ những giá trị văn hoá cho quê h-ơng,

Trang 4

cho muôn đời sau Việc đi vào tìm hiểu các di tích lịch sử văn hoá và lễ hội truyền thống của làng Quỳ Chữ - xã Hoằng Quỳ - huyện Hoằng Hoá - tỉnh Thanh Hoá không chỉ đ-a lại những đóng góp về mặt lý luận khoa học mà còn

có ý nghĩa thực tiễn to lớn Từ đó giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện đầy đủ hơn về làng Quỳ Chữ ,với quá trình hình thành và phát triển cũng nh- các di tích lịch sử văn hoá vàlễ hội truyền thống đã đ-ợc c- dân nơi đây tạo dựng nên

từ xa x-a Đồng thời thấy đ-ợc ý nghĩa của các giá trị văn hoá này đối với đời sống c- dân trong làng và thực trạng của nó hiện nay

Là một sinh viên học chuyên ngành Lịch sử văn hoá, nghiên cứu về vấn

đề này là rất phù hợp có thể phát huy đ-ợc những vốn kiến thức đã đ-ợc học, để vận dụng vào phục vụ cho quá trình nghiên cứu đề tài có kết quả tốt hơn

Bởi những lý do trên mà tôi quyết định chọn đề tài: "Tìm hiểu một số di

tích lịch sử văn hoá và lễ hội truyền thống ở làng Quỳ Chữ" làm khoá luận

trình thực sự sâu sắc của nhóm tác giả "Nông thôn Việt Nam trong lịch sử" (2

tập) Trong đó tổng hợp các bài viết trên cơ sở đánh giá vai trò của làng, của

nông thôn trong lịch sử Công trình của tác giả Toan ánh "Nếp cũ, làng xóm Việt Nam" cũng đã đi sâu tìm hiểu các tập tục lễ nghĩa của làng … và rất nhiều

Trang 5

nào, một công trình nào đi sâu tìm hiểu một cách chi tiết cụ thể về các di tích lịch sử văn hoá ở làng Quỳ Chữ Có chăng chỉ là những bài viết chung chung hoặc đề cập đến một khía cạnh nào đó của văn hoá làng Quỳ Chữ Cụ thể nh-:

Năm 1986 tác giả Trọng Miễn đã tiến hành khảo sát văn hoá truyền

thống Quỳ Chữ và cho ra đời cuốn "Văn hoá làng Quỳ Chữ" Thế nh-ng trong

công trình này tác giả chỉ tập trung khai thác, đánh giá về văn hoá làng Quỳ Chữ ở lĩnh vực văn học, văn hoá dân gian

Rồi trong "Địa chí văn hoá Hoằng Hoá" của Ninh Viết Giao cũng đã

giành một số tranh đề cập đến địa điểm khảo cổ học Quỳ Chữ và đ-a ra những căn cứ xác định nguồn gốc ra đời của làng Quỳ Chữ

Ngoài ra còn có một số bài viết về văn hoá làng Quỳ Chữ nh- trong cuốn

"Những làng văn hoá tiêu biểu tỉnh Thanh" tác giả chỉ đề cập đến làng Quỳ

Chữ với t- cách là một làng văn hoá tiêu biểu - điểm sáng trong văn hoá làng xứ Thanh

Hay trong cuốn "Xây dựng làng văn hoá Thanh Hoá" của Sở văn hoá

thông tin Thanh Hoá có bài của tác giả Đăng Hùng viết về làng Quỳ Chữ, với việc gìn giữ và phát huy những trò diễn truyền thống

Nh- thế, việc nghiên cứu về văn hoá làng Quỳ Chữ từ tr-ớc cho tới nay thật đang quá ít ỏi, do vậy chúng ta ch-a biết nhiều về làng Quỳ Chữ Mặc dù vậy, những bài viết đó, những công trình nghiên cứu đó sẽ là cơ sở ban đầu để giúp chúng tôi thuận lợi hơn trong quá trình tìm hiểu về văn hoá làng Quỳ Chữ

mà cụ thể là "Tìm hiểu một số di tích lịch sử văn hoá và lễ hội truyền thống ở làng Quỳ Chữ"

Với công trình này, tác giả hy vọng giới thiệu về một làng quê tiêu biểu với quá trình hình thành phát triển của làng, và đặc biệt là các di tích lịch sử văn hoá nh- đình - đền - từ đ-ờng và lễ hội truyền thống để qua đó nhận diện về một làng quê tiêu biểu ở tỉnh Thanh, vốn là một làng quê có bề dày truyền thống lịch sử văn hoá

3 Đối t-ợng và ph-ơng pháp nghiên cứu

Đối t-ợng nghiên cứu của đề tài là "Tìm hiểu một số di tích lịch sử văn hoá và lễ hội truyền thống ở làng Quỳ Chữ"

Về ph-ơng pháp nghiên cứu:

Trang 6

Để hoàn thành khoá luận này, chúng tôi đã vận dụng ph-ơng pháp duy vật lịch sử, duy vật biện chứng để nghiên cứu về quá trình hình thành phát triển của làng, cũng nh- đặc điểm dân c- Để từ đó xác định đ-ợc những yếu tố thuận lợi tác động đến việc hình thành các di tích lịch sử văn hoá và sự ra đời lễ hội truyền thống ở đây

Vận dụng ph-ơng pháp tổng hợp liên ngành của các bộ môn khảo cổ học, lịch sử, mỹ thuật, kiến trúc … để tìm hiểu về các di tích lịch sử văn hoá - làm rõ các vấn đề về nguồn gốc lịch sử và đặc điểm kiến trúc điêu khắc của mỗi

di tích

Sử dụng ph-ơng pháp điền giã, ghi chép, chụp ảnh, phân tích, miêu tả các giá trị nghệ thuật, lịch sử, văn hoá của các di tích

4 Đóng góp của bài tập tiểu luận

Với đề tài này chúng tôi tập trung giới thiệu về các vấn đề sau:

+ Khái quát về làng Quỳ Chữ cổ truyền

+ Giới thiệu một cách chi tiết cụ thể về các di tích lịch sử văn hoá ở Quỳ Chữ, từ nguồn gốc lịch sử đến đặc điểm đối t-ợng thờ tự, đặc điểm quy mô kiến trúc và ý nghĩa của nó đối với đời sống tâm linh c- dân địa ph-ơng

+ Xác định loại hình lễ hội truyền thống ở Quỳ Chữ sau đó đi vào nội dung của lễ hội Kỳ Phúc tháng hai, và nhận xét về lễ hội ở Quỳ Chữ

Với những vấn đề đó, chúng tôi cố gắng làm sáng tỏ các giá trị lịch sử, văn hoá, kiến trúc điêu khắc và ý nghĩa- vai trò của các di tích, lễ hội của làng Quỳ Chữ

Trang 7

phần nội dung

Ch-ơng 1

Làng Quỳ Chữ cổ truyền

1.1 Đặc điểm địa lý - dân c- làng Quỳ Chữ:

1.1.1 Đặc điểm địa lý và điều kiện tự nhiên

Làng Quỳ Chữ thuộc xã Hoằng Quỳ - huyện Hoằng Hoá - tỉnh Thanh Hoá, cách Thành phố Thanh Hoá 10km về phía Bắc Quỳ Chữ nằm về tả ngạn sông Mã, phía Bắc giáp Hoằng Phú, Hoằng Quý, phía Nam giáp với làng ích Hạ, phía

Đông giáp với làng Đông Khê, phía Tây giáp với làng An Phú - xã Hoằng Hợp

Đến đầu thế kỷ XIX Quỳ Chữ có 3 thôn: Thôn Đông, thôn Trung và thôn Thịnh Mỹ Từ năm 1862 - 1936 có thêm thôn Quỳ Thanh và giáp Thuận Đức Nh-ng đến năm 1953 Quỳ Thanh tách khỏi Quỳ Chữ nhập vào xã Hoằng Hợp Năm 1947 Quỳ Chữ thuộc xã Mỹ Lý sau đổi thành xã Hoằng Lý Hiện nay Quỳ Chữ thuộc xã Hoằng Quỳ - huyện Hoằng Hoá Nh- vậy cho đến thời điểm này Quỳ Chữ chỉ có 3 thôn là: Thôn Đông, thôn Trung và thôn Thịnh Mỹ

Quỳ Chữ nằm ở vị trí trung tâm xã Hoằng Quỳ, có đ-ờng Quốc lộ 1A và

đ-ờng sắt Bắc - Nam đi qua Một vị trí giao thông rất thuận lợi cho giao l-u và phát triển kinh tế

Về địa hình của làng: Từ trên cao nhìn bao quát xuống thì ta thấy làng

Quỳ Chữ có hình dáng giống một con rùa đang bơi trên mặt hồ, chính vì vậy

mà gọi là Kim Quy

"Trở về gò đất quê ta Kim Quy chữ đặt kể đà từ lâu Nổi lên giữa cánh đồng sâu

Tứ bề thấp trũng giữa cao tuyệt trần"

(Ca dao Quỳ Chữ)

Đề phòng tránh thú giữ và nhất là để chống trộm c-ớp nên bao bọc xung quanh làng có hàng rào tre dày đặc, (đây không chỉ là nét đặc tr-ng của làng

Quỳ Chữ mà còn là của làng quê Việt Nam Nói đến làng quê Việt Nam ngoài

hình ảnh cây đa - giếng n-ớc - sân đình thì còn có hình ảnh luỹ tre làng - một yếu tố không thể thiếu đ-ợc của mỗi làng quê Luỹ tre làng đã trở thành biểu

Trang 8

t-ợng của nông thôn Việt Nam Luỹ tre không chỉ dừng lại là hàng rào bảo vệ làng, mà nó còn có nhiều ý nghĩa khác trong đời sống sinh hoạt xóm làng)

"Phong cảnh làng Tổ quê ta Nhìn gần cũng đẹp nhìn xa tuyệt trần

Bốn bề tre phủ nơi nơi Tựa nh- áo giáp của ng-ời chiến binh"

(Ca dao)

Điều 19 trong h-ơng -ớc của làng Quỳ Chữ ghi "Xung quanh làng ta từ x-a đã có luỹ tre xanh bao bọc để chống gió bão và trộm c-ớp Vì sự thay đổi này thuộc về t- nhân, nhà ai ở gần luỹ tre phải bảo vệ cho kín đáo, nếu lấy dùng thì phải trồng tiếp, không đ-ợc phá … "

Quỳ Chữ là một làng cổ có gốc tích, có cứ liệu rõ ràng, từ buổi hồng hoang cho tới ngày nay Theo các cụ trong làng và tài liệu s-u tầm của làng cho biết một mảnh đất mênh mang kéo dài từ Tây Bắc đến Đông Nam -ớc chừng khoảng 2,5km, từ Tây Nam đến Đông Bắc khoảng 2km với gần 40 cồn gò tạo thành những vùng đất cao nằm giữa những cánh đồng ô trũng đ-ợc phù sa lấp

đầy, những cánh đồng chính trồng lúa n-ớc, những cồn gò này thành những dải nằm hai bên sông Dọc Phần lớn cồn gò tập trung ở bờ Bắc sông Dọc

Về sông ngòi :Nh- trên đã nói Quỳ Chữ là nơi có sông Dọc chảy qua,

sông Dọc là nhánh của sông Mã, chảy qua men theo rìa làng về phía Nam -

Đông Nam xuyên qua đ-ờng Quốc lộ 1A hiện nay nối với sông NGu Giang (tức sông Tuần, sông Bút hiện nay) chỗ địa phận Hoằng Cát rồi đổ ra biển

Huyền thoại và truyền thuyết ở Quỳ Chữ nói về sông Dọc khá nhiều, các

gia phả, thần phả của làng đều ghi ''Hai bên bờ sông Dọc là địa điểm thuận lợi

để con ng-ời sinh c- lập nghiệp" Đặc biệt sông Dọc còn l-u lại một số vết tích

của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, Tây Bến, Tây Năng Và theo truyền thuyết, Lê Lợi - lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn cũng đã về đây Chính ông đã đổi tên cho làng từ "Tổ Cá Ph-ờng" thành làng Quỳ Chữ (tức bến rau Quỳ) Tuy nhiên qua quá trình biến đổi của tự nhiên sông Dọc đã bị lấp chìm, ngày nay chỉ còn lại tên gọi trong các câu chuyện và dấu tích trong lòng đất

Ngoài ra Quỳ Chữ còn là nơi có rất nhiều ao chuôm Theo truyền thuyết,

ca dao thì làng có 99 cái ao

"Quanh làng ao n-ớc trong xanh

Trang 9

Chín m-ơi chín cái rành rành không sai''

Chính vì vậy mà c- dân ngoài Bắc, mà cụ thể là vùng Nam Hà đã di c- vào đây làm ăn sinh sống và phát triển nghề nuôi cá giống Với hệ thống ao chuôm dày đặc nh- vậy đã tạo điều kiện cho nghề nuôi cá giống phát triển, trở thành nghề truyền thống của làng Trong h-ơng -ớc của làng ghi rất rõ ràng

"Quỳ Chữ là nơi có rất nhiều ao chuôm kể cả công và t- nhân ."

Về đất đai : Quỳ Chữ có diện tích đất tự nhiên là 405 mẫu: đất canh tác

325, 60 mẫu Trong đó đất cấy hai vụ lúa là: 217,70 mẫu, đất màu (ruộng 5%) 17,90 mẫu Đất ở, ao hồ, hộc dấu là 89,55 mẫu

Về vấn đề ruộng công thì theo h-ơng -ớc làng Quỳ Chữ ghi rằng "Cả làng có 40 mẫu ruộng công điền ở Đồng Quan.Trừ số ruộng cấp cho lính còn lại chia cho nam giới tuổi từ 18 - 55" Điều 14 trong h-ơng -ớc có ghi " ngoài

lễ phật đản, các lễ th-ờng là giao cho thầy chùa trích hoa lợi, chi h-ơng đăng hoa qủa cúng phật" Điều 4 ghi "Quỳ Chữ có cánh đồng Tến: Tến là do đọc từ chữ Tiến mà ra, tiến là cúng tiến, nghĩa là cánh đồng do dân tiến cúng dùng hoa lợi cho vào việc cúng tế Lê Phụng Hiểu, cũng vì vậy mà ng-ời Quỳ Chữ còn gọi ngài Lê Phụng Hiểu là Ngài Tến Nh- vậy ruộng công Quỳ Chữ gồm có ruộng công của làng 40 mẫu, ruộng cúng nhà chùa, ruộng cúng đền, ruộng công của phe giáp xóm ngõ …'' Ngoài những ruộng công này, ruộng công Quỳ

Chữ còn có ruộng họ dùng vào việc h-ơng hoả, giỗ kỵ Không có số liệu nào cho biết chính xác tổng số ruộng công này là bao nhiêu Trừ 40 mẫu ở Đồng Quan , việc phân chia ruộng công nh- h-ơng hoả đã ghi tức là -u tiên binh lính sau đó bình quân cho nam d-ới từ 18 tuổi (chính suất) đến 55 tuổi thời hạn chia cũng không nhất thiết giống nhau, có khi là 3 năm, có khi là 5 năm, có khi lại chỉ một năm chia một lần

Về khí hậu: Quỳ Chữ nằm trong khu vực nhiệt đới nh-ng lại gần biển

nên hàng năm nhận đ-ợc 3 luồng gió là gió mùa Đông Bắc, gió Tây Nam và gió

Đông Nam mát mẻ Cũng nh- Hoằng Hoá thời tiết, khí hậu Quỳ Chữ chia làm hai mùa rõ rệt là mùa nóng và mùa lạnh Quỳ Chữ nằm trong tiểu vùng khí hậu

đồng bằng của Hoằng Hoá, có nhiệt độ cao, mùa đông không lạnh lắm, mùa hè t-ơng đối nóng, m-a ở mức trung bình, định h-ớng của nắng hạn và gió Tây khô nóng th-ờng xuyên xẩy ra Nh-ng cũng không đáng lo ngại lắm bởi thuỷ lợi hoá rất tốt Thiên tai nguy hiểm th-ờng là rét đậm kéo dài, x-ơng muối, bão lụt Cũng nh- c- dân Hoằng Hoá nói chung, c- dân Quỳ Chữ đã vất vả trong

Trang 10

việc chịu đựng và chế ngự khí hậu thời tiết khá khắc nghiệt để sinh sống Song

so với nhiều địa ph-ơng khác thì c- dân Quỳ Chữ vẫn còn đang đ-ợc thiên nhiên -u đãi và tạo điều kiện thuận lợi cho làm ăn sinh sống

Nh- vậy có thể nói rằng Quỳ Chữ nằm ở vị trí trung tâm đồng bằng phì nhiêu của sông Mã, sông Dọc, thuận lợi cho việc tiếp thu văn hoá, văn minh sớm Là nơi có vị trí giao thông rất thuận lợi đó là điều kiện khách quan , thiên thời địa lợi tạo dựng nên một Quỳ Chữ trù phú với bề dày văn vật, là mảnh đất của hội hè đình đám do nhiều dòng họ vun đắp qua nhiều thế hệ Quỳ Chữ còn

là điểm sáng về học hành đỗ đạt cao trong lịch sử giáo dục qua nhiều thế kỷ của Nhà n-ớc phong kiến Việt Nam

1.1.2 Tình hình dân c-:

Theo các nhà khảo cổ học, Quỳ Chữ là nơi xa x-a nhất của Hoằng Hoá

Ng-ời Việt cổ đã đến đây sinh cơ lập nghiệp (từ nửa cuối thiên niên kỷ II tr-ớc Công nguyên tức cánh ngày nay khoảng 3.500 năm) Không những thế các di

chỉ khảo cổ học Quỳ Chữ đã cho thấy là c- dân Việt Cổ liên tục sinh sống và phát triển qua các giai đoạn lịch sử, từ hậu kỳ thời đại đồ đồng thau qua thời kỳ

đồ sắt đến Bắc thuộc, đến thời phong kiến và tồn tại cho đến tận ngày nay Điều

đó đ-ợc biểu hiện qua các tầng văn hoá rất dày( từ 1m - 1,6m) phát triển liên tiếp không có sự cắt đoạn nh- nhiều nơi khác Các nhà khảo cổ học đã khai quật 3 di chỉ ở làng Quỳ Chữ gồm:

- Khu mộ táng bãi chùa Đây là khu mộ táng bằng đất của c- dân Việt

Cổ, có niên đại từ tr-ớc thiên niên kỷ II TCN Tầng văn hoá dày từ 1 - 1,3m tại

đây đợt khai quật tháng 3 năm 1978 đã phát hiện đ-ợc 32 ngôi mộ trong 140m2

hố khai quật [7 tr 170]

- Khu mộ táng Đồng Cáo (Cồn Cáo) là khu mộ có quan tài bằng gốm hay

mộ vò

- Khi di chỉ c- trú bãi chùa

Với di vật tìm đ-ợc ở các di chỉ khảo cổ này cho thấy buổi ban đầu c- dân Việt cổ sinh sống ở đây ngoài kinh tế nông nghiệp, chăn nuôi, chế tác đồ gốm và đồ đồng, ng-ời Việt Cổ đã biết thành thạo nghề đan lát và dệt vải Phần

đáy đồ đựng đều in dấu những tấm đan bằng tre, nứa với kỹ thuật đan lóng mốt, lóng đôi rất đều, rất đẹp Trên một mảnh đồ đồng có kích th-ớc 8,5cm x 8cm

Trang 11

phía trong còn dính x-ơng mặt ngoài bám chặt một lớp vải thô, sợi rất săn và to bằng sợi chỉ

Ng-ời Việt cổ ở Quỳ Chữ có sự mở ruộng quan hệ giao l-u kinh tế với các nơi khác Bằng chứng các nhà khoa học đã tìm thấy một tỷ lệ đồ gốm mang

đặc tr-ng Quỳ Chữ khá cao, có mặt ở chợ Gành (Ninh Bình), Nam Chính (úng Hoà - Hà Tây) Đồ đồng Quỳ Chữ với những di vật độc đáo nh- rìu xoè cân

đ-ợc tìm thấy ở rú Trăn (Nghệ An) Ng-ợc lại với những hiện vật đặc tr-ng của văn hoá gò Mun (Vĩnh Phú) cũng gặp khá nhiều ở Quỳ Chữ nh- mũi tên đồng hình cánh én, dao khắc gốm [7 tr 177]

Từ những căn cứ trên ta có thể khẳng định rằng c- dân Quỳ Chữ chủ yếu là dân bản địa đã tụ c- từ rất lâu trên mảnh đất này Về sau có cả c- dân từ nơi khác

đến làm ăn sinh sống thì cũng chỉ ở chen vào những nơi sinh sống của c- dân bản

địa còn th-a thớt mà thôi Điều đó cho thấy tình hình dân c- ở làng Quỳ Chữ qua quá trình tồn tại và phát triển t-ơng đối ổn định, ít có sự biển đổi, ít có sự hỗn c- pha trộn từ vùng khác đến mà chủ yếu là dân thổ c-

Nơi c- trú đầu tiên của ng-ời Việt cổ trên đất Quỳ Chữ là đồng Cáo

Đồng Cáo là gò đất cao nổi lên giữa cánh đồng chiêm trũng rộng lớn

"Lần theo đồng ruộng quê mình Lên thăm đồng Cáo nơi sinh thôn mình Một vùng cây cối xanh xanh Tầng xây bao mộ xung quanh um tùm"

(Ca dao)

Đồng Cáo còn là nơi c- trú của ng-ời sống, vừa là nơi chôn cất ng-ời chết Nh-ng về sau do dân c- của làng tăng lên, Đồng Cáo không còn đủ chỗ cho họ c- trú nữa Dân c- dần dần phải chuyển về phía Nam đồng Cáo và c- trú hẳn ở đó - tức làng hiện nay

Ph-ơng tiện c- trú - tức nhà ở của c- dân Quỳ Chữ thời cổ nh- thế nào đến nay ch-a tìm thấy đ-ợc dấu tích gì để lại Chỉ biết trong di chỉ khảo cổ đồng Cáo

có một số lỗ, các nhà khảo cổ nghi rằng đó có thể là lỗ chôn cột nhà

Ngày nay trong điều kiện kinh tế xã hội phát triển, nhà ở đã đ-ợc xây dựng rất phong phú đa dạng với rất nhiều kiểu kiến trúc Tuy nhiên ở Quỳ Chữ hiện vẫn còn tồn tại nhiều ngôi nhà theo kiểu kiến trúc cổ x-a Có nhà thấp trệt,

có nhà tre, nhà gỗ, nhà luồng nh-ng trong đó phổ biến nhất là nhà gỗ chôn cột

Trang 12

và th-ng gỗ xung quanh, nhà có chái để làm buồng hoặc là nơi để đựng dụng cụ lao động, đựng l-ơng thực thực phẩm

Đời sống kinh tế của ng-ời dân Quỳ Chữ chủ yếu là nông nghiệp trồng lúa, thâm canh hoa màu, ngô, khoai, lạc và nhiều cây trồng khác Nh-ng bên cạnh đó do có nhiều ao hồ cho nên nghề nuôi và đánh bắt cá phát triển Ngoài

ra chăn nuôi gia súc và trồng bông dệt vải cũng là những nghề truyền thồng của làng Nh- vậy bên cạnh kinh tế nông nghiệp là chính thì vào những lúc nông nhàn họ đã làm thêm nhiều nghề thủ công Chính sự kết hợp giữa nông nghiệp

và làm thủ công này đã tạo điều kiện cho đời sống kinh tế c- dân trong làng

đ-ợc ổn định hơn Ban đầu họ làm ra những sản phẩm thủ công chỉ nhằm phụ

vụ cho gia đình, sau đó cho làng xóm Và dần dần do sản phẩm có chất l-ợng, mẫu mã đẹp đ-ợc nhiều ng-ời -a thích nên sản phẩm đó đ-ợc đem đi trao đổi ở nhiều nơi Trong đó nổi tiếng có nghề trồng bông dệt vải, đến tr-ớc cách mạng tháng 8, trồng bông dệt vải đang là nghề chính của c- dân trong làng Trong văn học dân gian Quỳ Chữ phản ánh nghề trồng bông dệt vải khá nhiều:

"Cò kè cút kít cút xa Thừa ăn thừa mặc thừa ra nuôi chồng Còn thừa mua chiếc thuyền rồng

Đem ra cửa biển cho chồng rong chơi

Chị em làng xóm ta ơi Chồng tôi sang trọng nhờ tôi cò kè …"

đánh bắt cá là những nghề chính của Quỳ Chữ Sự kết hợp giữa những ngành nghề kinh tế đã dần dần thoát khỏi nền kinh tế tự cấp tự túc tiến tới giành một phần sản phẩm d- thừa đem trao đổi với nhiều địa ph-ơng khác Trung tâm trao

đổi của làng là chợ Tổ, chợ Tổ là một trong những chợ lớn trong vùng H-ơng

-ớc làng có ghi rằng " Tiền nhân đã mở cái gọi là chợ Tổ cho tiện việc mua bán, chợ mỗi tháng có 12 phiên, chợ có 4 cổng ra vào Việc thu thuế bán hàng thì phụ thuộc vào giá hàng khinh trọng mà thu thuế nộp quốc khố Còn bao

Trang 13

nhiêu sẽ trích ra một phần để trả thù lao cho ng-ời thu thuế còn lại nhập vào quỹ để tu bổ chợ'' Chợ Tổ là một điển hình về chợ nông thôn Thanh Hoá tr-ớc

đây Hầu nh- tất cả các sản phẩm của ng-ời nông dân và thợ thủ công trong làng làm ra đều có mặt ở chợ Tổ Bông vải là đặc sản của làng Tổ và cũng là mặt hàng đ-ợc nhiều nơi -a thích Ngoài ra trong thành phần dân c- Quỳ Chữ còn có một bộ phận những ng-ời thợ, đây là lực l-ợng t-ơng đối đông Vào vụ chính thì họ ở nhà làm nông nh- khi mọi việc xong xuôi thì họ tản đi khắp nơi làm nhiều nghề khác nhau nh- : Làm mộc, thợ xây … đồng thời còn có một lực l-ợng những ng-ời buôn bán và chính lực l-ợng này đã tản đi nhiều nơi và tiếp thu nhiều giá trị văn hoá từ nhiều địa ph-ờng trên đất n-ớc mang về góp thêm vào truyền thông văn hoá của làng

Nh-ng đáng kể nhất vẫn phải nói đến tầng lớp ,hay là một bộ phận trí thức trong làng Họ là những ng-ời đ-ợc học hành, đ-ợc đào tạo không chỉ bởi cái nôi, cái truyền thống giáo dục của làng Mà còn đ-ợc đào tạo chung trong nền giáo dục khoa cử Việt Nam qua các thời đại Chính những ng-ời này không chỉ đã có vai trò rất lớn trong việc xây dựng xóm làng, xây dựng nên cái truyền thống văn hoá với bề dày văn vật cho làng Quỳ Chữ Mà họ còn có nhiều đóng góp cho sự nghiệp dựng n-ớc và giữ n-ớc trong mọi thời kỳ lịch sử

Về dân số của làng, theo số liệu mới nhất của Ban dân số tỉnh Thanh Hoá thì đến đầu năm 2004 làng Quỳ Chữ có 2.900 nhân khẩu với 680 hộ gia đình

Từ khi khai sơn lập địa cho đến tận ngày nay đã có nhiều các dòng họ quy tụ tại

đây làm ăn sinh sống Họ cùng nhau đoàn kết chống thiên tai, bão lụt, chống lại

sự áp bức của bọn c-ờng hào, chống lại những thói h- , tất xấu, chống lại kẻ thù xâm l-ợc Họ đã cùng nhau góp sức, chung lòng xây dựng quê h-ơng làng xóm mình ngày càng đông vui trù mật

- Tiêu biểu nh- dòng họ Nguyễn Đình, Lê Đình, Lê Sỹ … là những dòng

họ lớn có lịch sử lâu đời ở làng, con cháu của các dòng họ này chiếm đa số dân c- trong làng Là những dòng họ có truyền thống yêu n-ớc , truyền thống hiếu học từ rất lâu đời, thế hệ con cháu của các dòng họ đã đỗ đạt cao, có đức, có tài, công tác trong nhiều lĩnh vực, nhiều ng-ời đ-ợc bổ nhiệm vào bộ máy Nhà n-ớc

Nh- vậy Quỳ Chữ là nơi có tình hình dân c- t-ơng đối ổn định, có số l-ợng dân c- đông đúc Nhiều dòng họ cùng quần c- sinh sống trong cùng xóm làng, có các ngành nghề phong phú đa dạng C- dân Quỳ Chữ đã có đ-ợc sự ổn định về

Trang 14

mặt xã hội, sự phát triển về mặt kinh tế Đó chính là điều kiện thuận lợi, là yếu tố nhân hoà để xây dựng lên làng Quỳ Chữ có truyền thống văn hoá lâu đời

1.2 Truyền thống lịch sử

1.2.1 Khái quát về sự hình thành và phát triển của làng Quỳ Chữ:

Quỳ Chữ là một làng cổ nằm ở vùng ven Bắc sông Mã Nơi đây tại Đồng Cáo, các nhà khảo cổ học đã phát hiện và khai quật một di chỉ văn hoá điển hình thuộc thời đại đồng và sắt sớm, cách ngày nay trên 3.000 năm (và gần đây năm 2003 di chỉ Đồng Cáo đã đ-ợc Bộ văn hoá xếp hạng là di tích cấp quốc gia) Nhờ đó mà chúng ta đã có đủ bằng chứng và cơ sở để khẳng định rằng Từ thời các vua Hùng dựng n-ớc đến tr-ớc nghìn năm Bắc thuộc Đã có một bộ phận c- dân ng-ời việt đã đến đây khai phá, mở mang vùng đất hoang sơ ven sông Mã một cách bền bỉ, kiên trì để tạo lập ra một địa bàn c- trú ổn định lâu dài cho đến tận sau này

Quá trình hình thành và phát triển của làng trong một không gian văn hoá đặc biệt với sự thay đổi tên gọi qua hàng ngàn năm của huyện Hoằng Hoá

Qua tham khảo, tra cứu các loại sách "d- địa chí" x-a và nay chúng ta có thể

biết rõ địa bàn làng Quỳ Chữ thời Văn Lang - Âu Lạc thuộc đất bộ Cửu Chân, thời thuộc Hán huyện T- Phố , thời Năm Bắc triều thuộc huyện Kiến Sơ rồi Cao

An, thời thuộc Tuỳ thuộc huyện Long An, thời thuộc Đ-ờng thuộc huyện Sùng

An rồi Sùng Bình, thời Ngô - Đinh - Lê (thế kỷ X) thuộc giáp Cổ Đằng Thời Trần thuộc huyện Cổ Đằng, từ năm 1397 thuộc huyện Cổ Linh, thời thuộc Minh lại thuộc huyện cổ Đằng Đến năm Quang Thuận thứ 10 (1469) huyện Cổ

Đằng đ-ợc đổi là huyện Hoằng Hoá thuộc phủ Hà Trung thì từ đó trở đi Quỳ Chữ đều thuộc huyện Hoằng Hoá

''Thời Nguyễn vào năm Minh Mệnh thứ 19 (1838) trở về tr-ớc làng Quỳ Chữ (hay gọi xã Quỳ Chữ gồm 3 thôn Đông - Trung và Thịnh Mỹ) tổng Lỗ Đô

huyện Hoằng Hoá (theo sách tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX của viện nghiên cứu Hán Nôm: NXB năm 1981) Nh-ng từ năm Minh Mệnh thứ 19

(1383) huyện Mỹ Hoá thành lập (do tách tổng Đại Lý của huyện Hậu Lộc, Hai tổng Lỗ H-ơng và H-ơng Sơn của huyện Hoằng Hoá và 3 xã Bái Xuyên, Hà Thuỷ, Trung Tiết của Tổng Bút Sơn huyện Hoằng Hoá) Và từ 1838 đến năm Thành Thái thứ nhất (1889) thì làng (xã) Quỳ Chữ lại thuộc về tổng D-ơng Thuỷ -

huyện Mỹ Hoá (sách Đồng Khánh d- địa chí) ''[24 tr 2]

Trang 15

Khi bỏ huyện Mỹ Hoá vào 1889 trả tổng Đại Lý về Hậu Lộc thì địa giới Hoằng Hoá ổn định cho đến sau này, từ năm 1889 đến tháng 8 năm 1945 làng (xã)Quỳ Chữ đều thuộc về tổng D-ơng Thuỷ, huyện Hoằng Hoá Từ sau năm

1954 trở đi cái tên xã Hoằng Quỳ mới ra đời và từ đó cho đến nay làng Quỳ Chữ luôn trực thuộc đơn vị mới xã Hoằng Quỳ này

Đó là những bằng chứng xác thực lý giải cho sự ra đời của các dòng họ lớn, nhỏ Tại đây đã sản sinh vun đắp nên nhiều nhân tài, nơi tr-ờng ốc học giỏi

đỗ cao, nơi chiến tr-ờng làm t-ớng đánh giặc lập nhiều công lớn

Theo truyền thuyết làng Quỳ Chữ có từ tr-ớc thời Bắc thuộc lúc đầu chỉ

là một ph-ờng cá từ ngoài Nam (vùng Nam Hà) vào nuôi và bán cá giống có

tên là (Tổ cá ph-ờng) dần dần con cháu của họ đồng dân lên, ngoài nghề nuôi

cá và bán cá họ còn khai khẩn đất hoang trồng lúa cùng với nhiều hoa màu

khác Vì thế cũng dần dần bỏ hai từ " Cá ph-ờng" chỉ để lại "Tổ" Tổ là tên Nôm, đứng tr-ớc từ Tổ là từ "Kẻ" thành ''Kẻ tổ" Từ kẻ đ-ợc đặt tr-ớc tên Nôm

để gọi một đơn vị c- trú t-ơng đ-ơng với xã thôn hiện nay (tr-ớc đây th-ờng gọi là Kẻ Chiềng, Kẻ Chạ) Quỳ Chữ có câu ph-ơng ngôn:"ăn chịu đ-ợc với Kẻ

Tổ nổ x-ơng hom" (ca dao Quỳ Chữ)

Từ kẻ là một bộ phận của tên Nôm nh-ng không phải là một bộ phận cố

định, tên Nôm có thể gọi kèm với từ kẻ (Nh- kẻ Tổ) hoặc không có từ kẻ nh- :

"Vải tổ đã ấm lại bền Tuy rằng thô bố giữ nền nếp x-a"

(Ca dao Quỳ Chữ)

Thông th-ờng làng nào vừa có tên Nôm, vừa có tên chữ thì làng ấy là làng cổ, tên Nôm có tr-ớc, tên chữ có sau Tên Nôm dùng để gọi, tên chữ dùng

để viết

D-ới thời kỳ Bắc thuộc ng-ời dân trong làng sinh hoạt theo các dòng họ, làng xóm Vì vậy mỗi họ đều có một ông tr-ởng tộc để duy trì kỷ c-ơng, gia phong của dòng họ

D-ới triều đại phong kiến đã hình thành một bộ máy cai trị ở làng gồm: Hội đồng tộc biểu, hội đồng Lý H-ơng gồm có: Lý tr-ởng, Phó lý, H-ơng bạ, H-ơng kiểm, H-ơng mục, H-ơng bản, H-ơng dịch Trên nữa là Chánh tổng, Tri phủ

Về tên gọi của làng theo truyền thuyết đến thế kỷ( XV) Lê Lợi đổi tên

cho làng từ (Tổ cá ph-ờng) thành làng Quỳ Chữ Nhân dân làng có sự tích về

Trang 16

tên làng của mình gắn liền với công đức của Lê Lợi Chuyện kể rằng "Một lần

bị giặc Minh đuổi theo, Lê Lợi cùng với quân sĩ chạy đến sông Dọc thì trời vừa tối Bên kia sông thấy ánh đèn le lói, ông vội bơi qua và đ-ợc bà lão chủ nhân ngôi nhà chỉ cho chỗ ẩn náu Giặc Minh đuổi tới nh-ng không thấy tăm hơi gì liền kéo nhau đi Bà lão vội nhóm bếp thổi cơm tiếp đãi Lê Lợi Bữa cơm đạm bạc, vài cọng rau hái trên sông dọc và một đĩa tép đồng nh-ng vị chủ t-ớng ăn rất ngon lành Lê Lợi vừa ăn, vừa hỏi chuyện bà lão đ-ợc biết làng bà có tên là

Tổ cá ph-ờng (ph-ờng nuôi cá) Thiên hạ đại định lên ngôi Hoàng đế nhớ lại

chuyện trong những ngày khốn đốn nên cho đặt lại tên làng từ Tổ Cá Ph-ờng

thành làng Quỳ Chữ (tức bến rau quỳ) làng bắt đầu có tên mới từ ngày ấy [18 tr

197]

Nh- vậy đến thế kỷ XV tên ''Làng Quỳ Chữ" mới xuất hiện, nó tồn tại

cho đến tận ngày nay và trong quá trình tồn tại phát triển của làng Quỳ Chữ luôn có đ-ợc sự ổn định, ít biến động

Từ buổi ban đầu khai khẩn lập quê ng-ời dân Quỳ Chữ lấy nghề lúa n-ớc làm chính ngoài ra còn có nghề trồng bông dệt vải, l-ới chài nuôi cá … nổi tiếng một thời Qua lao động sản xuất đã tạo ra phong cảnh đồng đất quê h-ơng rất trù phú, giá trị vật chất và tinh thần trở thành những di sản văn hoá, là quê h-ơng của những hội hè, đình đám với những đình chùa, lễ tục phong phú đ-ợc chọn lọc bổ sung xây dựng Chính vì vậy mà Nhà n-ớc đã công nhận di tích

Đồng Cáo, di tích đền thờ Lê Phụng Hiểu và từ đ-ờng họ Nguyễn Đình là di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh và cấp quốc gia Ngoài ra mới vừa đây năm 2005

Sở văn hoá thông tin tỉnh Thanh Hoá cũng đã lập hồ sơ công nhận thêm hai di tích nữa tại làng Quỳ Chữ là di tích Đình Trung và đề Mẫu (Phủ Nhà Bà ) là di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh

Trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử và xâm thực của thời gian Nhân dân Quỳ Chữ đã đấu tranh giữ gìn, sáng tạo và xây dựng nên nền văn hoá đặc tr-ng của làng, trở thành những tác phẩm dân gian, v-ợt qua khuôn khổ của làng để l-u truyền rộng rãi trong nhân dân Chính quyền và nhân dân làng Quỳ Chữ luôn luôn cố gắng, nỗ lực nhằm phát huy giữ gìn vốn văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc và hoà đồng tinh hoa văn hoá mới, để nâng cao đời sống văn hoá trên cơ sở phát triển kinh tế theo đ-ờng lối đổi mới của Đảng ta, Nhà n-ớc ta, h-ớng tới xây dựng cộng đồng làng xã giàu mạnh, sống lao động, học tập theo

pháp luật và thực hiện "Phép n-ớc lệ làng" tiến bộ

Trang 17

Phát huy những giá trị văn hoá truyền thống của làng Truyền thống xã Hoằng Quỳ - Đơn vị anh hùng lực l-ợng vũ trang nhân dân, thực hiện đ-ờng lối

đổi mới của Đảng và Nhà n-ớc Trong những năm qua cán bộ và nhân dân làng Quỳ Chữ đã không ngừng phấn đấu v-ơn lên thực hiện 5 tiêu chí xây dựng làng văn hoá Thực hiện có kết quả mục tiêu kinh tế xã hội hàng năm, đoàn kết giúp

đỡ nhau xoá đói giảm nghèo, đ-a ph-ơng tiện khoa học kỹ thuật vào sản xuất phát triển ngành nghề, thu hút và đào tạo công ăn việc làm cho ng-ời lao động Hiện nay tỷ lệ hộ nghèo trong làng d-ới 4% Đ-ờng làng ngõ xóm đã bê tông hoá 100%, ban đêm có hệ thống đèn chiếu sáng Có nhà trẻ, tr-ờng mần non khang trang, có đủ điều kiện để các lớp học tập, vui chơi, công tác vệ sinh môi tr-ờng đ-ợc duy trì th-ờng xuyên và trở thành ý thức chung của nhân dân trong làng Nếp sống văn minh trong việc c-ới, việc tang đ-ợc thực hiện tốt Để thực hiện xây dựng làng văn hoá trong sạch, lành mạnh, đã tổ chức cho nhân dân ký cam kết gia đình không có ng-ời vi phạm tệ nạn xã hội, không vi phạm pháp luật, không làm cỗ đám c-ới và không đi ăn đám c-ới Hàng năm làng duy trì bình xét, khen th-ởng các gia đình văn hoá, dòng họ văn hoá, số gia đình văn hoá luôn đạt từ 85 - 90% Các hoạt động văn hoá t- t-ởng , thể dục thể thao

đ-ợc duy trì và phát triển rộng rãi, các hình thức sinh hoạt của câu lạc bộ gia

đình văn hoá, câu lạc bộ làm thơ, bình thơ đọc sách báo, giao l-u văn nghệ quần chúng đều mang lại hiệu quả thiết thực trong đời sống nhân dân Để nâng cao chất l-ợng sinh hoạt của hoạt động văn hoá t- t-ởng , thể dục thể thao làng

đã đầu t- xây dựng cơ sở vật chất và ph-ơng tiện kỹ thuật phục vụ cho các hoạt

động của dân làng

Chính nhờ có sự quan tâm đầu t- nh- thế mà truyền thống văn hoá của làng Quỳ Chữ đ-ợc giữ gìn và phát huy những giá trị tốt đẹp cho đến tận ngày nay Làng văn hoá Quỳ Chữ thực sự là một điểm sáng trong phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá Xứng đáng là một làng văn hoá cấp tỉnh tiêu biểu cho xứ Thanh

Tóm lại nhìn một cách khái quát về lịch sử hình thành và phát triển của làng Quỳ Chữ ta có thể thấy rằng Quỳ Chữ là một làng cổ, có bề dày truyền thống lịch sử văn hoá, là một làng có quá trình lịch sử t-ơng đối ổn định, ít biến động thay đổi không nhiều Phải chăng đây chính là điều kiện tốt, là mảnh

đất thiêng mà các cụ gọi là địa linh để hình thành nên các di tích lịch sử văn hoá nh- (đình, chùa, đền, miếu…) Quỳ Chữ còn xây dựng đ-ợc cho mình đời sống tinh thần phong phú đa dạng, đây là vùng quê có nhiều hội hè đình đám , những lễ hội truyền thống nổi tiếng cả vùng

1.2.2 Truyền thống đấu tranh dựng n-ớc và giữ n-ớc

Trang 18

Ngay tụ khi ra đời ,truyền thống “Thương nước, thương nh¯, thương mình, thương người” đ± có trong con người Quự chử, v¯ chính c²i truyền thống này đã đ-ợc ng-ời dân Quỳ Chữ thể hiện qua quá trình đấu tranh dựng n-ớc và giữ n-ớc.Truyền thống tốt đẹp này ngày càng đ-ợc củng cố và phát huy Bởi vậy không chỉ thể hiện ở những giai đoạn sau này nh- trong phong trào Cần V-ơng, cách mạng tháng 8 hay trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp-Mỹ

Mà nó đã thể hiện ngay trong thời kì đầu dựng n-ớc và giữ n-ớc

Ngay từ thời xa x-a tuy đây khong phải là vùng căn cứ địa của công cuộc ssấu tranh giải phóng dân tộc mh-ng các tầng lớp nhân dan Quỳ Chữ đã có nhiều gắn bó với phong trào chống ngoại xâm Tại đây đã nhiều phong trào ủng

hộ nghĩa quân chống giặc

Trong suốt hơn 1000 năm Bắc thộc nhân dân Quỳ Chữ đã không ngừng v-n lên cùng với nhân dân Thanh Hoá kiên trì đấu tranh chống âm m-u đồng hoá của kẻ thù ph-ơng Bắc, tạo nên một sắc thái riêng biệt cho địa ph-ơng mình

Và cũng trong suốt thời kỳ chống Bắc thuộc, Quỳ Chữ không chỉ tỏ rõ vai trò và vị trí quan trọng của một hậu ph-ơng trong xây dựng, mà cả trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc Những dấu tích ấy mặc dù không còn l-u lại qua sách vở, tài liệu cụ thể nh-ng nó còn l-u lại rất rõ nét qua các câu truyện, các sự tích dân gian

Theo các câu truyện dân gian thì vùng đất Kẻ Tổ –Quỳ Chữ còn là địa bàn có nhiều gắn bó, kỷ niệm với nữ t-ớng Triệu Thị Trinh(tức Bà Triệu ) trong nhửng ng¯y chống Ngô(năm 248) S²ch “Văn ho² l¯ng Quự Chử’’ (của tác giả Trọng Miễn) đ± chép truyện “Đôi đủa ng¯’’ một c²ch sinh động lòng người như sau “Lần ấy trên đường h¯nh quân tụ nũi Nưa ra Bồ Điền đ²nh Lúc Dận , b¯ Triệu dừng chân ở Quỳ Chữ cho quân sĩ nghỉ nghơi và ăn cơm, Khi quân sĩ ăn cơm xong thì trời đã tối mịt theo lệnh bà quân sĩ lặng lẽ hành quân ra Bồ Điền

Ví xuất nên những ng-ời hầu bà bỏ quên đôi đũa ngà của bà ở lại Quỳ Chữ, họ liền vội vàng quay lại Quỳ Chữ lấy đôi đũa ngà Đi đ-ợc nửa đ-ờng thì họ gặp một toán ng-ời Quỳ Chữ, đem đôi đũa ngà dâng lên bà Toán quân sĩ và toán ng-ời Quỳ Chữ đều quý mến, cảm kích nhau tr-ớc sự tôn kính, ng-ỡng mộ ng-ời nữ t-ớng họ Tiệu Toán quân sĩ lại toàn là ng-ời Bồ Điền cho nên họ đã giâo hiếu kết chạ với nhau

Sau này dân Bồ Điền còn chở đá làng mình vào xây cầu ao ở thôn Trung làng Quỳ Chữ Cho đến tận bây giờ, lành Quỳ Chữ vẫn còn l-u truyền bài ca dao

Hòn đá là hòn đá đen

Rửa chân cho sạch lên đền r-ớc vua

Trang 19

R-ớc vua về ngự đình Trung

Ba thôn bốn giáp tế chung một đình

Mỗi lần hội làng tổ chức ăn mừng đ-ợc mùa, ăn mừng đ-ợc nhà vua phong sắc, Quỳ Chữ đều mời làng Bồ Điền vào dự Khi đi lang Bồ Điền r-ớc b²t hương ở đền b¯ Triệu v¯o chỗ “Vua’’ trong b¯i ca dao n¯y chỉ b¯ Triệu …’’

Sau khi chấm dứt thời kỳ Bắc thuộc đất n-ớc b-ớc vào thời kỳ độ lập tự chủ , d-ới thời kỳ phong kiến đất n-ớc ta cũng phải chống lại nhiều thế lực ngoại xâm hùng mạnh Để đánh đuổi đ-ợc mọi kẻ thù ngọi xâm c-ớp n-ớc, nhân dân cả n-ớc phải đồng lòng hợp sức để bảo vệ tổ quốc Mà tiêu biểu nhất

là một số các anh hùng hoà kiệt vì dân vì n-ớc đã đ-ợc sử sách nghi tên, nhân dân ng-ỡng mộ và đ-ợc các triều đại phong kiến cho lập đền thờ, dựng bia đá,

có ng-ời đ-ợc phong là thành hoàng làng…

Trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, trải suốt 10 năm nếm mật nằm ngai đến ngày toàn thắng Lê Lợi cùng nghĩa quân luôn đ-ợc nhân dân hết lòng ủng hộ , không ít ng-ỡng chiến sĩ vô danh của Hoằng Hoá nói chung và Quỳ Chữ nói riêng đã có mặt trong đoàn quân cứu n-ớc ấy nh-ng sử sách không có điều kiện nghi lại Song nhiều giai thoại, truyện kể , truyền thuyết trong làng đã phản ánh sinh động lòng ng-ời Quỳ Chữ đối với nghĩa quân Lam Sơn, nh- câu truyện

“B¯ l±o Quự Chử’’

Trong những năm Lê-Mạc phân tranh, Hoằng Hoá có nhiều ng-ời phò

Lê diệt Mạc, họ là con cháu của các cựu thần nhà Lê, họ ra sức tôn phù nhà Lê

dù phải chịu bao hy sinh mất mát Hoằng Hoá là đất tiền đồn phải trực tiếp

đ-ơng đầu trong những trận đàu tiên khi lực l-ợng đối ph-ơng còn mạnh.Trong hoàn cảnh lịch sử ng- vậy, đã tôi luyện nên nhiều danh t-ớng, sâu này đ-ợc tôn làm nhữnh bậc khai quốc công thần nhà Lê Trung H-ng Tên tuổi các danh t-ớng th-òi ấy còn l-u lại trong bia ký, gia phả các dòng họ ,đền thờ sắc phong Nh- Lê Tuấn Kiệt ở Trung Hoà(Hoàng Tân) Lê Ngọc Tân ở Hạ Vũ (Hằng

Đạt) Lê Hữu Khanh ở Hội Triều (Hăng Phong )…và Nguyễn Đình Hội ở Quỳ Chữ (Hằn Quỳ ) CụNguyễn Đình Hội tên chữ là Pháp Chính hiệu là Vào, là chúa nội của cụ Nguyễn Đình Khuynh Ngài có công lớn trong cộc chiến tranh

đ²nh b³i nh¯ M³c lập nên triều Lê Trung Hưng “Bậc tôn thần cao quý, thượng th-ợng đẳng, trubg trật khắc tỉnh giúp rập bảo vệ sự nghiệp dấy h-ng đất n-ớc, phong thêm danh hiệu đẹp “L±ng thắng sơn’’ (ngi trên b¯i vị )v¯ được sắc phong “Đặc tiến kim từ vinh lộc đ³i phu thương tướng quân cẩm y vệ đô chỉ huy sứ phù nghĩa hầu

“ tổ quốc nghiệp truyền gia văn chiếm bảng

cẩm y phù quốc võ phong hầu

Nghĩa là :

Trang 20

Nghiệp sẵn lối nhà văn chiêm bảng

T-ớng công giúp n-ớc võ phong hầu

Đến cuói thế kỉ XIX khi n-ớc ta đã bị thực dân Pháp xâm l-ợc triều đình nhà Nguyển đã bất lực Tr-ớc tình hình đó các sĩ phu phong kiến yêu n-ớc đã cùng với nhân dân cả n-ớc đứng lên chống lại sự xâm l-ơc của thực dân Pháp Rất nhiều các phong trào đáu tranh đã nổ ra trên một địa bàn khá rộng và Thanh Hoá cũng là một địa bàn chính của phong trào Cùng với nhân dân Thanh Hoá thì nhân dân Quỳ Chữ cũng đóng góp một phần sứcng-òi sức của cho phong trào Cân V-ơng chông Pháp Nổi bật lên những cá nhân tiêu biểu đã

đem công sức ,tài sản riêng của mình để góp sức cho phong trào trong đó co rất nhiêu những tâm g-ơng vì dân vì n-ớc đó là bà Lê Thị Nhu đã mua súng đạn ,cung cấp l-ơng thực nuôi nghĩ quân Ba Đình Theo gia phả viết bằng ch- quốc ngử cða dòng họ Lê Đình có ghi ”T³i l¯ng Quự Chử có b¯ Lê Thị Nhu tữc b¯ Bá Hộ giàu nhất làng chiêu mộ đ-ợc 50 ng-òi khoe mạnh để luyện tập và cung cấp cho nghĩa quân Cần V-ơng

Từ khi có Đảng lãnh đạo ,những truyền thống yêu n-ớc và ý chí đấu tranh cách mạng của dân tộc ta đ-ợc nhân lên gấp bội Sức mạnh đó đã liên tiếp

đánh bại mọi kẻ thù xâm l-ợc để giữ vững nền độc lập của dân tộc Trong đó có

sự hoà nhập của nhân dân làng Quỳ Chữ đ-ợc ghi nhận trong các thời kì nh- thời kì thành lập hội t-ơng tế ái hữu tại làng Quỳ Chữ vào năm 1939<Đây là hình thức tập hợp quần chúng tiến bộ yêu n-ớc của Đảng cộng sản Đông D-ơng >hai thanh niên của làng là Lê Văn Hoát và Lê Duy Cân đã sớm tiếp thu t- t-ởng mới ,t- t-ởng cách mạng vô sản và thành lập hội t-ơng tế Aí Hữu –hội hoạt động từ 1939-1940:Thời kì lựa chọn trung kiên để kết nạp và thành lập chi bộ từ 1945-1947 tại Quỳ Chữ đặt tên chi bộ là Hồ Chí Minh ,ng-ời bí th- chi bộ đầu tiên là ông Lê Duy Cân.Từ đó cơ sở của chi bộ đ-ợc phát triển sâu rông trong các thôn xóm Vai trò lãnh đạo của Đảng đã có uy tín với tất cả các tầng lớp dân c- thông qua sự của chi bộ và cùng toàn dân làm nên những chiến tích hào hùng ,vẻ vang đối với xã huyện nói chung và đối với đân làng nói riêng

đẻ b-ớc vào một thời kì mới đầy khó khăn gian khổ nh-ng cũng rất đỗi hào hùng

Cao trào chuận bị lực l-ợng cho cuộc tổng khởi nghĩa ngày 19/8/1945 dồn dập bay về các thôn xóm ,đặc biệt là cuộc khởi nghĩa ngày 24/7 của nhân dân huyện Hoằng Hoá đã trức tiếp tác động đến nhân dân làng Quỳ Chữ Nhân dân làng Quỳ Chữ đang trông chờ một tổ chức có đầy đủ quyên lực và uy tín ,đứng ra tập hợp mọi lực l-ợng yêu n-ớc để vùng dậy đập tan bộ máy cai trị của bọn phong kiến và thực dân ở địa ph-ơng Đáp ứng yêu cầu chính đáng của nhân dân Quỳ Chữ ,đ-ợc sự chỉ đạo trực tiếp của tổng uỷ Việt Minh đứng đầulà

Trang 21

ông Lê Khắc Song Đầu tháng 8/1945 ban cán sự Việt Minh ở làng đã đ-ớc thành lập để chỉ đạo và điều hành công việc chung của cả làng ,ban cán sự này

do ông Lê Duy Cân làm chủ nhiệm

Qua một thời gian ngắn các bộ phận lãnh đạo đã đựoc xong và khẩn tr-ơng tổ chức ba cuộc biểu tình lớn để biểu d-ơng lực l-ợng đó là

-Cuộc biểu tình Chống Nhật khủng bố và ủng hộ Việt Minh

-Mừng thắng lợi của cuộc khởi nghĩa giành chính quyền của huyện

Với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, cán bộ và nhân dân Quỳ Chữ luôn phát huy truyền thống yêu n-ớc th-ơng nhà sẵn sàng hy sinh cả nhân lực và vật lực cho tiền tuuến , cho cuộc kháng chiến trừng kì của dân tộc Khong chỉ anh dũng giết giạc lập công trên chiến tr-ờng mà ở quê nhà chính quyền và nhân dân Quỳ Chữ luôn cố gắng tăng gia sản xuất xây dựng một hậu ph-ơng vững chắc , một mặt đẻ các chiến sĩ ngoài mặt trận yên tâm chiến đấu, một mặt để

đảm bảo số l-ợng l-ơng thực để cung cấp cho kháng chiến chống thực dân Pháp Thanh niên nô nức lên đ-ờng tòng quân

Kết quả sau 9 năm kháng chiến thanh niên Quỳ Chữ đã ra nhập lực l-ợng

vũ trang là 18 ng-ời Trong đó có 14 ng-ời hy sinh và 6 th-ơng binh Trong lúc thanh niên sẵn sàng ra nhâp ngũ thì nhiều đợt dân công phục vụ cho các chiến dịch cũng đ-ợc phát động sôi nổi, hơn 800 l-ợt ng-ời ngánh bộ, xe đạp thồ ngày đêm chèo đèo lội suối gánh từng cân gạo, từng viên đạn góp phần làm nên những thắng lợi của các chiến dịch Ng-ời ít nhất là hai đợt, ng-ời nhiều nhất là

là 12 đợt Trong lúc đang làm nhiệm vụ đã có 3 ng-ời hy sinh đó là ông Vũ Duy Thợi, Lê Đắc Vát , Lê Hữ Thịnh

Qua các đợt dân công , dân công Quỳ Chữ đều hoàn thanh và v-ợt chỉ tiêu đ-ợc giao, đ-ợc dẫn đầu toàn xã lúc bấy giờ Vinh giự đ-ợc Chính phủ tặng th-ởng huân ch-ơng chiến công hạng nhất cho anh Lê Văn Năm, L-u Văn Núi , ng-ời tiêu biểu cho năng suất lao động – ý chí kiên cừơng

Với sức đóng góp bàng mồ hôi x-ơng máu bàng lòng dũng cảm kiên c-ơngd của nhân dân Quỳ Chữ Chính vì vậy luôn đ-ợc Chính phủ khen th-ởng

Tiếp tục phát huy truyền thống của 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, cán bộ nhân dân Quỳ Chữ lại tiếp nối một cuộc hành trình mới cùng với dân tột

Trang 22

đầy gian nan nh-ng cũng đã làm rạng rỡ thêm truyền thống tốt đẹp cho quê h-ơng Trong kháng chiến chống Mỹ, bàng những chiến tích vẻ vang , cán bộ

và nhân dân Quỳ Chữ luôn đ-ợc Chính phủ tặng th-ởng

Năm 1975 đất n-ớc thống nhất giang sơn thu về một mối Bắc Nam sum họp một nhà tạo thành sức mạnh dời non lấp biển Cả n-ớc b-ớc vào thời kì khôi phục – xây dựng và phát triển kinh tế văn hoá xã hội hàn gắn vết th-ơng chiến tranh Cán bộ và nhân dân Quỳ Chữ b-ớc vào thời kì mới vì mục tiêu dân giàu n-ớc mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh Và kể từ ngày giành đ-ợc

độc lập cho đến ngày nay với một khoảng thời gian 30 năm- khong quá ngắn nh-ng cũng không phải là dài so với tiến trình lịch sử Song với nhiệm vụ đặt ra cho nhân dân Quỳ Chữ thì đây là một thời kì thử thách mới

Tự hào với chiến công hiển hách qua hai cuộc chiến tranh thần thánh của dân tộc Trong đó nhân dân Quỳ Chữ đã góp một phần công sức và x-ơng máu của con em mình để bảo vệ nền độc lập tự do cho tổ quốc

Thực hiên nhiệm vụ chiến l-ợc của đảng Chính phủ nhân dân Quỳ Chữ lại cùng nhau tiếp b-ớc một cuộc hàn trình mới đầy khó khăn thử thách Song nhândân Quỳ Chữ vẫn một lòng một dạ đi theo Đảng – Bác Hồ quyết tâm thực hiện mục tiêu đã lựa chọn

Nói tóm lại với truyền thống đấu tranh anh dũng bất khuất của nhân dân Quỳ Chữ trong mọi thời kì lịch sử, trong mọi lĩnh vực cả sản xuất và chiến đấu, cả hậu ph-ơng và tiền tuyến, cả tập thể và cá nhân, cả thế hệ liền tr-ớc và thế hệ liền sau, cả già lẫn trẻ, cả nam lẫn nữ… đã tạo nên những chiến công kì diệu có giá trị lịch sử lâu dài Có thể nói trong bức tranh chiến tháng hào hùng của dân tộc Hoằng Hoá nói chung và Quỳ Chữ nói riêng đã góp những hình ảnh hùng tráng ởnhững giai đoạn lịch sử mà thử thách thật ác liệt nh-ng chiến thắng cũng rất đỗi vẻ vang

Quỳ Chữ là mảnh đất của khoa bảng ,mảnh đất này đã sinh ra nhiều ông

cử ,ông trí ,ông đồ d-ới các triều đại phong kiến có nhiều ng-ời ra làm quan là những quan lại có phẩm chất ,tài năng có nhiều đóng góp lớn lao vào sự nghiệp phát triển văn hoá dân tộc ,xây dựng và bảo vệ tổ quốc Tuy nhiên trải qua quá trình phát triển lâu dài của lịch sử dân tộc nói chung lịch sử Quỳ Chữ nói riêng biết bao thăng trầm biến động trong lịch sử Nhiều tài liệu văn tự ghi chép

Trang 23

những thành tích đỗ đạt của những ng-ời con Quỳ Chữ bị mất đi không còn tài liệu nào nhắc đến Nh-ng theo lời kể của các cụ trong làng ,qua các câu chuyện truyền tụng trong dân gian Thanh Hoá thì từ rất xa x-a từ chế độ giáo dục khoa

cử đ-ợc xác lập trên đất n-ớc Việt Namthì Quỳ Chữ đã trở thành một trong những cái rốn của khoa bảng Xứ Thanh Nhiều ng-ời con của làng đã đỗ đạt cao ,nhiều gia đình ,nhiều dòng họ kế tiếp nhau co truyền thống hiếu học và đỗ

đạt Thế nh-ng những tài liệu ghi chép về họ hiên nay không còn mà chỉ còn lại những tài liệu ghi chép về những ng-ời đỗ đạt ở thế kỉ 16 ,tiêu biểu nhất là cụ L-u Đình Chất –là con của lâm quận công L-u Đình Th-ởng ông đậu thi h-ơng ,đ-ợc cử làm cấp sự trung lại khoa Đến năm 1607 mặc dù ông đã 42 tuổi nh-ng vân thi tiến sĩ đậu đến đình nguyên

Năm 1613 đ-ợc phong chức tự khanh, phong t-ớc nhân lĩnh bá rồi đ-ợc

cử làm chánh sứ sang công minh, khi về đ-ợc thăng tả thị lang bộ lại t-ớc hầu

Năm 1623 ông có công trong việc dẹp loạn Trịnh Xuân, đ-ợc chúa Trịnh biết tài và mến đức Do công ấy ông được phong Đô Ngứ Sừ rồi phong “t² lý công thần “ đưa v¯o phð chũa l¯m tham túng <tể tướng> l¯m thiếu b°o, gia th-ớc phuc quận công Năm 1627 ông mất, thọ 62 tuổi đ-ợc truy tặng thiếu s- [23 trang315]

Đặc biệt là từ thời Lê Trung H-ng đến cuối triều nguyên Quỳ Chữ đã có tới 49 ng-ời đỗ tú tài, cử nhân, phó bảng, đ-ợc làm quan trong triều, quan phủ huyện <hiện còn d-ợc l-u gĩ- trong văn bia của làng > Sau đay trích dẫn tên tuổi cua những ng-ời đã đỗ cử nhân trung khoa

Trang 24

- Nguyễn Đình Trạch

+Khoa ất Mão niên hiệu Cảnh H-ng 20 (1759) đời Lê Hiển Tông

-Nguyễn Quốc Nhuân

+Khoa Mậu Tý niên hỉệu Cảnh H- ng 31 (1768) đời Lê Hiển Tông

- L-u Đình Thiện + Khoa Tân Mão niên hiệu Cảnh H-ng 34 (1771) đời Lê Hiển Tông

- Nguyễn Đình Viên + Khoa Canh Tý niên hiệu Cảnh H-ng 41(1780) đời Lê Hiển Tông

về quê mở lớp dạy học, dạy chữ nho Dạy đạo thánh hiền cho con em trong làng, nhiều ng-ời lại làm nghề bốc thuốc chữa bệnh

Để đạt đ-ợc ngững thành tựu rực rở trong khoa cử ở Quỹ Chữ nh- vậy là cũng nhờ vào những chính sách trọng dụng nhân tài của triều đại, với chủ tr-ơng khuyến khích việc hoc hành của làng xã, cùng với truyền thống hiếu học của nhân dân và sự nổ lực lớn lao của các thế hệ thầy va trò ở Quỳ Chữ

Với chính sách trọng dụng hiền tài từ thời Lê Sơ trở đi việc đào tạo, tuyển dụng nhân tài, của nhà n-ớc phong kiến thực hiện chủ yếu bằng con đ-ờng khoá cử Chủ tr-ơng này đ-ợc khảng định qua nội dung bài ký đè danh tiến sĩ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đaih B°o thữ 3 (1442) ” Hiền t¯i l¯ nguyên khí cða quốc gia ,nguyên khí mạnh thì thế n-ớc mạnh rồi lên cao ,nguyên khí suy thì thế n-ớc yếu rồi xuống thấp Vì vậy các thánh đế Minh V-ơng chăng ai không lấy việc bồi d-ỡng nhân tài ,kén chọn kẻ sĩ , vun trông nguyên khí làm việc đầu tiên kẻ sỉ quan hệ với quốc gia nh- thế nào là cùng …” [ 32 tr 31-35 ]

Từ quan điểm đó nhà n-ớc phong kiến đã đề ra nhiều chính sách quy định những quyền lợi của nho sỉ ,sĩ tử nhằm động viên khuyến khích ng-ời học Việc chăm lo hỗ trợ của xã hội đ-ợc biểu hiện ở nhiều mặt, đó là sự tồn tại của làng văn với những quy -ơc riêng để gia nhập , đó là những biện pháp động viên

Trang 25

khuyến khích những ng-ời có ý thức học tập và rèn luyện của làng ,của từng dòng họ ,từng gia đình Việc giáo dục học hành ở Quỳ Chữ từ xa x-a đã đ-ợc mọi tầng lớp nhân dân trong cộng đồng làng xã quan tâm

Quỳ Chữ có một lực l-ợng tri thức nho sĩ đông đảo nên từ x-a ở đêy đã lập làng văn Làng văn do ng-ời có học thức cao nhất trong làng đứng đầu và có một hạp trửơng đứng đầu làm chức năng th- kí Hạp là chức danh do làng đặt

ra, có nhiệm vụ giữ và ghi sổ sách cho làng, tổ chức việc tế lễ ở văn chỉ, khi hạp tr-ỏng qua đời thì đ-ợc h-ởng vinh dự ngang với các ông tú tài

Nhiệm vụ của làng văn là khuyến khích việc học hành của kẻ sĩ, thắp h-ơng

ở văn chỉ – nơi thờ Khổng Tử và những vị quan hiển đạt, viết và đọc văn tế ở

đình miếu, tổ chức các đợt bình văn thơ giảng sách Làng văn có uy tín đối với dân làng nên quan trên cũng phải kính nể Đối với thành viên của mình, làng văn có hình thức giáo dục phải đảm bảo t- cách đạo đức tốt giữ gìn danh dự của ng-ời có học, những ng-ời không chấp nhận điều lệ của làng văn, có thái độ, hành động trái với lệ làng phép n-ớc thì sẽ bị xoá tên trong sổ làng văn

Với vị trí và ý nghĩa của làng văn dẫn đến con em trong làng dù là những gia

đình nghèo khó cũng luôn phấn đấu học hành để có đ-ợc trình độ học vấn, để

đ-ợc vào làng văn và có vị trí trong các hoạt động của làng xã

Về tinh thần giảng dạy –học tập của thầy và trò Quy Chữ thì ít ng-ời đ-ợc theo học ở Quốc Tử Giám, mà phần đông là theo học ở tr-ờng làng, dìu dắt kèm cặp họ là những ng-ời thầy địa ph-ơng Tài năng phẩm hạnh của những ng-ời thầy trong giảng dạy cùng với sự miệt mài chăm chỉ của học trò trong học tập, rèn luyện la hai yếu tố quan trọng hàng đầu tạo nên nhiều thế hệ thành

đạt Bên cạnh những ông thầy đã trải qua quan tr-ờng thì ở làng con có một đội ngũ thầy đồ những ng-ời không có học vị hoặc có học vị nh-ng không ra làm quan mà dạy học ở tr-ờng làng hoặc ở các địa ph-ơng xa Thế hệ nho sĩ này

đều đ-ợc dân làng kính trọng bởi t- cách đạo đức, bởi tấm lòng thanh bạch Ng-ời Quỳ Chữ thành đạt nhiều tr-ớc tiên là nhờ sự dạy dỗ của lớp ng-ời thầy này

Các nho sĩ đã công phu khổ luyện trong học tập, tự trau dồi cho mình những kiến thức và bản lĩnh Có nhiều tấm g-ơng điển hình về sự phấn đấu kiên trì trong học hành và khoa cử, họ là những ng-ời biết v-ợt lên tất cả những khó khăn trở ngại để nhằm mục đích xây dựng một cuộc sống mới tốt đẹp hơn t-ơi sáng hơn

Truyền thống hiếu học bắt đầu từ mỗi gia đình, mỗi dòng họ,có nhiều dòng

họ đã kế thừa đăng khoa, tiêu biểu nh- dòng họ Nguyễn Đình, dòng họ Lê Sĩ…với truyền thống cha dạy con, ông dạy cháu, anh dạy em, rất phổ biến trong làng xã

Trang 26

D-ới thời phong kiến Quỳ Chữ đã có một lực l-ợng nho sĩ đông đảo điều đó chứng tỏ rằng iệc học hành của nhân dân Quỳ Chữ đã trở thành một truyền thống tốt đẹp và lâu đời

Nh-ng khi thực dân Pháp xâm l-ợc đã áp đặt ách thống trị, với sự thay đổi chế độ giáo dục khoa cử cũng nh- sự căm thù thực dân Pháp đã khiến cho quần chúng nhân dân chán nản và truyền thống hiếu học có giảm đi, tuy nhiên so với làng khác thì vẫn còn duy trì đ-ợc Và truyền thống hiếu học-khoa bảng của nhân dân Quỳ Chữ không chỉ đ-ợc thể hiện d-ới thời kì phong kiến mà nó con

đ-ợc phát huy hơn nữa cho đến tận ngày nay Ngày nay con em làng Quỳ Chữ vẫn phát huy truyền thống hiếu học của quê h-ơng, nhiều ng-ời đã đỗ đạt là kĩ s-, bác sĩ , nhà giáo -u tú, hàng chục phó giáo s-, tiến sĩ, t-ớng tá trong quân

đội…Công tác khuyến học đ-ợc các gia đình, dòng họ va làng xã quan tâm, hầu hết các dòng họ đều có quỹ khuyến học Hằng năm các dòng họ cùng với làng duy trì tổ chức trao giải th-ởng cho con em có thành tích học tập và khuyến khích những học sinh nghèo v-ợt khó, những học sinh có hoàn cảnh đặc biệt, kịp thời biểu d-ơng để con em trong làng thi đua học tập rèn luyện và tiến bộ Phát huy truyền thống đó nhân dân làng Quỳ Chữ đã và đang tiếp tuc kế thừa và phát huy truyền thống của ông cha để xây dựng nên quê h-ơng ngày c¯ng gi¯u đẹp, xững đ²ng l¯ nơi “Địa linh nhân kiệt”

Trang 27

Ch-ơng 2

Các di tích lịch sử văn hoá ở làng Quỳ Chữ

2.1 Khái quát chung về các di tích lịch sử văn hoá ở làng Quỳ Chữ

Quỳ Chữ là một làng cổ có bề dày truyền thống lịch sử văn hoá cùng với quá trình tồn tại con ng-ời nơi đây đã tạo dựng nên những giá trị văn hoá vật chất và tinh thần để lại cho con cháu đời sau Làng có một hệ thống di tích đình ,chùa, đền, miếu … cổ linh thiêng Mang đậm nét đặc tr-ng của làng quê Việt Nam

Và cũng cần phải nói rằng, Quỳ Chữ là mảnh đất có quần thể di tích lịch

sử văn hoá dày đặc, thờ phụng các vị thần linh để tôn vinh các nhân vật lịch sử

đ-ợc nhân dân nhớ ơn và tôn thờ Quỳ Chữ có tới 4 ngôi đình, 4 ngôi đền, 2 ngôi chùa, đó là ch-a kể văn chỉ thờ đức Khổng Tử và từ đ-ờng các dòng họ Các di tích này có di tích ra đời sớm, có di tích ra đời muộn nh-ng nó đều có vai trò và ý nghĩa rất lớn đối với đời sống của c- dân địa ph-ơng, đồng thời phản ánh đời sống vật chất, tinh thần của họ lúc bấy giờ

Tr-ớc tiên phải đề cập đến mảng kiến trúc đình làng của Quỳ Chữ Và nh- chúng ta đã biết, đình làng là nơi sinh hoạt văn hoá cộng đồng, là tụ điểm tập trung của cả làng mỗi khi làng có việc gì, nói đúng hơn, đình làng là mái nhà chung của cả dân làng Bởi vậy, mỗi làng th-ờng chỉ làm có một đình, nh-ng Quỳ Chữ có tới 4 ngôi đình, tại sao lại nh- vậy? Chúng tôi sẽ đề cập ở phần sau Đình Quỳ Chữ nhìn chung ra đời khoảng đầu thời nhà Nguyễn, nó chứa đựng nhiều giá trị về mặt lịch sử, văn hoá, nghệ thuật, tín ng-ỡng, nh- bao nhiêu đình làng khác trên đất n-ớc Việt Nam

Nếu nh- đình làng là trung tâm sinh hoạt chính trị, tôn giáo, văn hoá xã hội của cả làng, thì đền là trung tâm tín ng-ỡng dân gian của cả vùng Đền không phải là nơi bàn bạc công việc làng xã nh- đình, đền chỉ có một chức năng giống đình đó là chức năng tôn giáo, bởi vậy hiểu một cách thông th-ờng

đền là ngôi nhà thờ thần thánh, hoặc nhiều khi là nơi thờ tổ tiên của các dòng

họ với nghĩa là từ - từ đ-ờng ở Quỳ Chữ có tới 4 đền thờ 4 vị đức thánh của làng, họ đều là những nhân vật lịch sử, những ng-ời có công với làng với n-ớc,

Trang 28

sau khi mất đ-ợc nhân dân địa ph-ơng huyền thoại hoá, thần thánh hoá trở thành những vị thần linh thiêng và lập đền thờ

Về chùa chiền thì tr-ớc đây Quỳ Chữ có 2 ngôi chùa: chùa Cũ và chùa H-ng Viên Chùa Cũ xây dựng năm nào hiện nay không còn ai nhớ mà cũng không còn dấu tích gì để lại Chùa H-ng Viên xây dựng năm nào cũng thất truyền, chỉ biết theo văn bia của làng năm 1745 tu sửa lần thứ nhất, năm 1781

tu sửa lần 2 Chùa H-ng Viên đ-ợc xếp vào một trong những ngôi chùa cỡ lớn ở Thanh Hoá, chùa có tiền đ-ờng 5 gian, tam quan 8 mái với vẻ cổ kính linh thiêng, muôn vẻ kỳ lạ Tuy nhiên nay chùa đã không còn nữa, chỉ còn lại dấu tích mà thôi

Ngoài những di tích lớn là những ngôi đình, đền, chùa của làng tác động trực tiếp và có ảnh h-ởng đến cuộc sống văn hoá của hầu hết c- dân trong làng,

ở Quỳ Chữ còn có một loại hình kiến trúc tín ng-ỡng khá phổ biến xuất hiện từ khá sớm và tiếp tục duy trì cho tới ngày nay Đó là những ngôi từ đ-ờng thờ cúng tổ tiên các dòng họ, loại hình di tích này không phải của chung cả làng, song tác động của nó tới đời sống xã hội chung không phải là nhỏ Nó thể hiện tính cộng đồng bền chặt của mối quan hệ thân tộc, là chỗ dựa của các cá nhân, gia đình trong mối quan hệ làng xóm tr-ớc những biến động thử thách của thiên nhiên, xã hội

Thông th-ờng mỗi dòng họ ở Quỳ Chữ đều có nhà thờ tuỳ theo điều kiện gia đình, dòng họ mà từ đ-ờng có kiến trúc to hay nhỏ Có những dòng họ nhỏ,

ít đinh thì thờ cúng tổ tiên ngay trong nhà tr-ởng tộc Ng-ợc lại có những dòng

họ lớn có ng-ời làm quan hay kinh tế khá giả … thì xây dựng ngôi từ đ-ờng khang trang rộng rãi để làm nơi thờ cúng Trong số những ngôi từ đ-ờng của các dòng họ có những ngôi mới đ-ợc tân trang, sửa chữa theo kiểu kiến trúc hiện đại, có mang dáng dấp truyền thống Ng-ợc lại cũng có những ngôi từ

đ-ờng đ-ợc xây dựng từ nhiều thế kỷ tr-ớc nay còn đ-ợc l-u giữ Trong đó có nhiều hiện vật quý, với nhiều t- liệu thành văn … chứa đựng những giá trị lịch

sử văn hoá Tiêu biểu nh- từ đ-ờng họ Nguyễn Đình Đây là ngôi từ đ-ờng tiêu biểu của một dòng họ lớn trong làng, hiện đã đ-ợc Sở văn hoá thông tin tỉnh Thanh Hoá công nhận và xếp hạng là di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh

Tóm lại, Quỳ Chữ là mảnh đất có truyền thống lịch sử văn hoá lâu đời tại

đây con ng-ời Quỳ Chữ dù phải trải qua nhiều khó khăn của thiên nhiên m-a nắng, lụt bão, chiến tranh tàn phá vẫn không ngừng v-ơn lên, từ thế hệ này đến

Trang 29

thế hệ khác đã dày công xây dựng vun đắp bao nhiêu công trình văn hoá nghệ thuật, với bao loại hình kiến trúc khác nhau, mang những giá trị khác nhau Nh-ng đáng tiếc ngày nay số l-ợng còn lại không nhiều nh-ng chúng vẫn là những di tích lịch sử văn hoá có giá trị về nhiều mặt

2.2 Đình làng Quỳ Chữ

2.2.1 Nguồn gốc lịch sử

Phần lớn các tài liệu hiện nay đều cho rằng, đình xuất hiện sớm nhất là vào thế kỷ XVI Những ngôi đình nổi tiéng hiện nay đều có niên đại là thế kỷ XVI Nh-ng nhiều nhà nghiên cứu không nhất trí với quan điểm này, họ cho rằng nó xuất hiện sớm hơn

Theo Giáo s- - Hà Văn Tấn, nói với t- cách đình là ngôi nhà chung thì

nó ra đời cùng với sự xuất hiện của làng xã ng-ời Việt Chỉ có điều vật liệu lúc bấy giờ là bằng tre, nứa, gỗ, kiến trúc đơn giản Bởi vậy nó không trụ đ-ợc với thời gian

Qua quá trình tồn tại và phát triển, vai trò của cái đình đã có sự biến đổi đa dạng theo từng thời kỳ Nh-ng kể từ khi nó trở thành biểu t-ợng của làng thì việc xây dựng đình làng đ-ợc gắn với nhiều yếu tố thiêng liêng, chẳng hạn xây dựng

đình thì phải chọn vị trí là nơi địa linh (đất thiêng), vật liệu xây dựng cũng phải

đ-ợc chọn lựa rất kỹ l-ỡng, hay nh- việc lấy h-ớng đình cũng rất quan trọng bởi

họ quan niệm h-ớng đình là vận mệnh của cả làng

Khi nho giáo du nhập vào n-ớc ta thì kiến trúc của ngôi đình cũng nh- nội dung sinh hoạt ở đình cũng mang đậm chất nho giáo đó là nó có sự phân biệt

đẳng cấp rất rõ rệt Từ chỗ đình là ngôi nhà chung của làng xã thì bây giờ nó trở thành nơi làm việc của chức sắc tức của tầng lớp trên trong làng xã, góc chiếu chốn đình chung đã trở thành sự phấn đấu cho dân trong làng xã

Và nh- vậy đình của ng-ời Việt không còn là ngôi nhà chung nh- lúc ban đầu nữa mà nó đã bao hàm chức năng tôn giáo tức là nơi thờ các vị thần của làng Chức năng hành chính tức đình làng là nơi làm việc của quan làng xã Và một chức năng quan trọng nữa của đình đó là chức năng văn hoá, nghĩa là đình

đã trở thành nơi sinh hoạt văn hoá của làng, mọi hoạt động văn hoá nh- tế lễ, hội hè, đình đám … đều tổ chức ở đình làng Đình làng trở thành trung tâm chính trị - tôn giáo - văn hoá xã hội của c- dân trong làng

Trang 30

Trên cái nền chung ấy, đình cũng xuất hiện ở làng quê Quỳ Chữ cổ truyền Nh-ng có một điều đặc biệt mà hẳn ai cũng phải thắc mắc, bởi vì thông th-ờng ở các làng quê ở nông thôn Việt Nam thì mỗi làng chỉ có một đình -

đình là nơi sinh hoạt văn hoá chung của cộng đồng làng xã, thế nh-ng ở Quỳ Chữ lại khác, tại làng quê này đã có tới 4 ngôi đình gồm đình Trung, đình

Đông, đình Thịnh Mỹ và đình Thuận Đức, phải chăng đây là nét riêng biệt, đặc tr-ng tiêu biểu của làng Quỳ Chữ Về vấn đề này cũng đã có rất nhiều ng-ời khi tìm hiểu về văn hoá làng Quỳ Chữ đều đã đ-a ra giả thiết cho rằng, làng Quỳ Chữ tr-ớc đây do một số làng nhỏ sát nhập lại với nhau nên mới có nhiều đình làng nh- vậy Nh-ng qua tìm hiểu các tài liệu viết về làng, cũng nh- các bằng chứng khảo cổ học … cho ta thấy Quỳ Chữ là một làng cổ có quá trình tồn tại hơn 2000 năm, chính vì vậy không thể là sự sát nhập các làng nhỏ lại tạo nên làng Quỳ Chữ đ-ợc

Tuy nhiên khi tìm hiểu về nguồn gốc dẫn đến sự ra đời của các đình làng Quỳ Chữ thì nó cũng đã phần nào lý giải đ-ợc vấn đề nói trên Bởi vì từ xa x-a làng Qùy Chữ đã có ba thôn nhân dân địa ph-ơng lại quen gọi là làng Đông - làng Trung và làng Thịnh Mỹ Theo tập truyền, buổi ban đầu cả làng chỉ có một ngôi đình chung, nh-ng về sau do dân c- ngày càng đông đúc, cùng với việc các thôn có sự bất hoà với nhau, dân đến mỗi thôn mà đại diện là các dòng họ lớn trong mỗi thôn đã chung góp lại cùng nhau xây dựng ngôi đình riêng cho thôn mình, để thờ cúng, tế tự, tổ chức hội hè đình đám … Từ đó đã dẫn đến việc trong một làng có tới 3 đình của 3 thôn là đình Đông, đình Trung và đình Thịnh

Mỹ Còn đình Thuận Đức mãi về sau mới đ-ợc xây dựng bởi do ở thôn Trung dòng họ Lê Sĩ đa có sự bất hoà với một số dòng họ khác nên đã tự tách ra thành lập 1giáp riêng gọi là giáp Thuận Đức, và họ cũng xây cho mình một ngôi đình mới - đình Thuận Đức

Và nh- vậy, cả 4 ngôi đình ở làng Quỳ Chữ đều trụ sở biệt lập của 4 thôn, mặc dù cả 4 thôn đều có 4 đình riêng để họp bàn, tế tự … Nh-ng mỗi khi làng có việc lớn thì cả làng đều tập trung về đền đức Thánh Cả (tức đền Lê Phung Hiểu) để tổ chức, hoặc vào những năm mở hội làng ăn mừng đại đình thì làng cho dựng đình Đụn trên nền phúc gần chợ Tổ để tổ chức, lễ hội xong lại dỡ

đi Tuy là 4 thôn đều có đình riêng nh-ng không phải vì thế mà làng có sự chia cắt biệt lập mà đình của mỗi thôn này chỉ là nơi sinh hoạt riêng của mỗi thôn, còn công việc chung của cả làng thì các thôn phải đoàn kết chung sức lại với

Trang 31

nhau để làm Ví nh- trong lễ hội Kỳ Phúc tháng Hai của làng - Với một triều

Đại Tế - buổi đầu tiên là tế chung cả làng, còn các buổi sau đó là các buổi tu lễ của các thôn, hay nh- trong phần hội cũng vậy, 4 thôn với 4 đội tham gia thế nh-ng lại tham gia tổ chức ở 1 không gian lễ hội chung của cả làng chứ không

có sự riêng rẽ tách biệt

Về thời gian xây dựng và trùng tu các ngôi đình làng ở Quỳ Chữ thì cho

đến nay không còn tài liệu nào nhắc đến một cách cụ thể chính xác là đ-ợc xây dựng vào năm nào, trùng tu ra sao … Nh-ng nhờ căn cứ vào câu đối cũng nh- dấu tích còn lại mà ng-ời ta xác định rằng các đình làng ở Quỳ Chữ (trừ đình Thuận Đức) thì các đình kia đều đ-ợc xây dựng vào khoảng thời gian đầu thời nhà Nguyễn Về sau do sự thử thách khắc ngiệt của thời gian - sự tàn phá của bom đạn chiến tranh, hầu hết các đình làng ở Quỳ Chữ đã bị tàn phá, chỉ còn lại duy nhất một ngôi đình ở thôn Trung Đình Trung còn tồn tại cho đến năm

1987, do phong trào hợp tác hoá đình Trung đã bị dỡ đi nh-ờng chỗ cho tr-ờng học và làm nhiều công tác phúc lợi khác Nh-ng đến những năm đầu của thập niên 90 với chủ tr-ơng phục hồi di tích lịch sử văn hoá truyền thống, cán bộ và nhân dân làng Quỳ Chữ đã nhanh chóng tập hợp các di vật còn sót lại, dựng một vọng lâu ở giữa hồ sen tr-ớc đình Trung rất đẹp để thờ tứ vị Đức Thánh của làng và những ng-ời đỗ đạt thời tr-ớc cùng với các liệt sĩ chống Pháp - Mỹ thời nay

Năm 2003 - 2004 với sự cố gắng nỗ lực của chính quyền xã - thôn và

đóng góp của nhân dân Đình Trung đã đ-ợc phục hồi gần đúng nh- quy mô x-a theo kiến trúc cổ truyền Rất đáng quý là ngôi đình mới đ-ợc phục dựng này cũng là kiến trúc gỗ đ-ợc làm theo kiểu chồng r-ờng, kẻ bẫy và chạm khắc cầu kì không thua kém gì kiến trúc x-a

2.2.2 Đặc điểm của đối t-ợng thờ tự

Có một điều đặc biệt là đình làng ở Quỳ Chữ không thờ thần thánh Hoàng riêng biệt mà thờ vọng tất cả 4 vị thần (dân gian ở địa ph-ơng tôn phong

là Đức Thánh) đ-ợc thờ chính ở 4 đền Còn Thần Thành Hoàng đ-ợc thờ ở đền riêng Những lễ cúng nhỏ, thanh minh, đoan ngọ, rằm tháng 7, rằm tháng 8, … thì thôn nào cúng ở đình thôn đó Đình mỗi thôn là nơi hội họp của thôn mình, mỗi lần làng họp chung thì họp ở đền thờ Lê Phụng Hiểu , những năm làng tổ

Trang 32

chức hội làng ăn mừng đại đình, khao vọng, đón sắc phong… thì làng cho đóng

đình Đụn

Tứ vị Đức Thánh đ-ợc thờ vọng ở đình làng Quỳ Chữ gồm:

- Đức Thánh Cả: tức Lê Phụng Hiểu - một danh t-ớng triều Lý, có rất

nhiều công lao ở thế ký XI "Là ng-ời đã có công dẹp cuộc nổi loạn tranh ngôi báu của các hoàng tử Đông Chính V-ơng - Dực Thánh V-ơng và Vũ Đức V-ơng giúp thái tử Lý Phật Mã lên ngôi" [4 tr 297] Đây là một nhân vật lịch sử anh

hùng có thật đ-ợc huyền thoại hoá thành Đức Thánh B-ng, với nhiều truyền thuyết rất sinh động ở xứ Thanh mà nhiều nhất là ở Hoằng Hoá, Hà Trung, Hậu Lộc, có rất nhiều địa ph-ơng lập đền thờ

ở Quỳ Chữ cũng lập đền thờ ngài Lê Phụng Hiểu gọi là đền Tến (nghè

Sen) tại đây ngài có duệ hiệu là "Khuông quốc đô thông, dực bảo trung h-ng trác vĩ th-ợng th-ợng đẳng tối linh thần" Riêng chỗ nghè sen ở thôn trung -

nơi thờ Lê Phụng Hiểu, dân gian nói chỗ hồ mái chính là dấu tích vết chân ngài lún dâu xuống thành hồ Và tại đình làng Quỳ Chữ cũng thờ vọng Lê Phụng Hiểu - tức đức thánh B-ng đ-ợc dân suy tôn là Đức Thánh Cả - vị thần linh thiêng đứng trên các vị thần linh khác của làng

- Đức Thánh đệ Nhị: Qua tìm hiểu thần phả và l-u truyền của dân gian

chỉ biết ngài là vị t-ớng rất nghĩa khí của nghĩa quân Lam Sơn thời Bình Ngô khai quốc (thế kỷ XV) Còn tên tuổi, quê quán cụ thể thần phả không thấy chép

Theo t- liệu s-u tầm của làng Quỳ Chữ (bản đánh máy do cụ Nguyễn Văn Khai và Lê Văn H-ng biên soạn) Thoạt kỳ thuỷ ngài là chủ suý của một tổ

chức nghĩa quân chống lại quan quân nhà Minh, từng làm cho bọn Tr-ơng Phụ nhiều phen khốn đốn Tr-ơng Phụ đã nhiều lần tìm mọi thủ đoạn mua chuộc ngài nh-ng ngài đều tỏ ý không quy phục và mắng trả thậm tệ Lam Sơn khởi nghĩa ngài đem nghĩa quân h-ởng ứng đại nghĩa Trong một trận phục kích, nghĩa quân bị bao vây nguy ngập Ngài đã tuẫn tiết không chịu để giặc bắt, để quyết nêu cao chí khí bất khuất, thi hài ngài đã đ-ợc nghĩa quân mở đ-ờng máu, bí mật đ-a về an táng và bảo vệ tại căn cứ Bái Cơm Mộ ngài đặt tại góc Tây Nam khu đình thôn Thịnh Mỹ và đ-ợc bảo tồn cho mãi tới sau này

Nhân dân nhớ ơn ngài, vị anh hùng cứu n-ớc hộ dân, đã lập đền thờ ngài

để đời đời h-ơng hoả

Trang 33

Các triều đại Lê - Nguyễn đều có sắc phong "Th-ợng đẳng thần bảo quốc hộ dân"

Còn truyền thuyết địa ph-ơng thì lại chép "… Trong một trận phục kích quấy rối bọn giặc Minh, nhằm phân tán lực l-ợng địch, đỡ đòn cho Lam Sơn

đang bị giặc âm m-u vây hãm, tiêu huỷ đầu não, ngài đã bị giặc bắt Giặc Minh

dụ hàng không đ-ợc, đem tống ngục …, Ngài tự vẫn, không chịu để giặc làm nhục Nghĩa quân đã bí mật tập kích vào ngục, c-ớp đ-ợc thi hài ngài đ-a về

cứ địa mai táng và bảo vệ khu Bái Cơm, góc Tây Nam đình thôn Thịnh Mỹ …"

Ngài đ-ợc thờ chính ở nghè Th-ợng , sắc phong các triều đại đều ghi duệ

hiệu là "Gia lãng Thắng Sơn, tủng bạt khắc tểnh, th-ợng đẳng tôn thần" Bức

đại tự ở nghè Th-ợng có ghi 4 chữ "Địa Linh - nhân kiệt" còn đôi câu đối ở

nghè có ghi là:

"Tuyết quốc sĩ, báo cứu thù, tr-ơng phụ tặc đồ tu chính diện

Hách thần công, l-u chiến tích Lam Sơn danh t-ớng biểu trung thần"

Nghĩa là:

''Rửa nhục n-ớc báo thù sâu, Tr-ơng phụ giặc cuồng b-ng mặt thẹn Rực công thần, ngời thắng lớn, Lam Sơn t-ớng giỏi tỏ lòng trung"

Nh- vậy, vị thần (đ-ợc dân gian suy tôn là Đức Thánh Đệ Nhị, thờ chính

ở đền Th-ợng, và cũng đ-ợc thờ vọng tại đình làng Tuy ch-a biết tên cụ thể nh-ng theo thần phả và truyền thuyết thì chỉ biết đó chính là một danh t-ớng thời Bình Ngô (chống Minh thế kỷ XV) Theo sự khảo cứu của một số cụ cao niên ở Quỳ Chữ thì vị thần này rất có thể là Đặng Dung nh-ng cần phải đ-ợc xác định thêm …

- Đức Thánh Đệ Tam: tức "Thiên tiên công chúa chi thần" - một vị nữ thần tràng sách "Thanh Hoá ch- thần lục" một cuốn sách thống kê các vị thần

ở tỉnh Thanh Hoá d-ới triều Nguyễn

Vị nữ thần này đ-ợc thờ chính ở đền Mẫu (tức phủ Nhà Bà) ở cuối thôn Trung - trên gò đất cao ở Đồng Cáo - Vì sự cung kính, linh thiêng vị nữ thần này cũng đ-ợc r-ớc vào thờ tại đình làng

Chép về sự tích Đức Thánh Bà (tức thiên tiên công chúa chi thần), cuốn

s-u tầm "Lịch sử, di tích văn hoá" của làng Quỳ Chữ (bản đánh máy) có nêu cụ

thể nh- sau:

Đức Thánh Bà thờ chính tại phủ Nhà Bà Bà có tên huý là cô Mè, giáng sinh vào họ Lê Đắc thôn Thịnh Mỹ làng Quỳ Chữ vào thời Lê Mạt, có duệ hiệu

Trang 34

ghi theo sắc phong là: ''Thiên tiên công chúa dực bảo trung h-ng, linh phù, trai tểnh, trang huy, th-ợng đẳng tôn thần"

Bà thuở thiếu thời là một cô thôn nữ xuân sắc nết na, nổi tiếng cả vùng về

đức về tài, đủ mọi mặt công, dung, ngôn, hạnh Bà sớm biết cảm hiểu mẹ, cha trong cuộc sống thanh bần … từ tấm bé Bà đã tỏ ra là một ng-ời con gái hiếu thảo đủ đ-ờng, khác lối th-ờng tình Bà có một tấm lòng kiên trung, hiếu hậu, sống trọn đời để thờ cha kính mẹ

Vào tuổi 18 đôi m-ơi, bà đã nổi tiếng khắp vùng về sắc, về tài hoa, về nết

na đôn hậu Nh-ng khác biệt ng-ời Bà kh-ớc từ mọi chuyện cầu hôn, rắp ranh bắt sẻ, thích sống hồn nhiên, thanh thoát nhất định không thay lòng đổi dạ Dù

mẹ cha có năn nỉ, làng xóm tỉ tê, tấm lòng trinh hiếu ở Bà vẫn thuỷ chung nh- nhất Tài sắc càng lừng danh, bà càng treo giá ngọc, và trong âm thầm bà quyết chọn một lối đi thoát tục

Một đêm lịch sử, một đêm huyền bí linh thiêng đã đến đó là đêm ngày 8/4 (đêm Phật đản), bà lên chùa Liên Hoa tự dự lễ bụt sinh, m-ợn thời cơ lấy dải lụa đào quấn vào cổ và treo mình tự vẫn ở ngay cây đại tr-ớc cửa chùa, từ giã cõi phàm tục để vĩnh viễn đi vào cõi thiên thu cực lạc …

Sự tích của bà là sự tích vừa bậc tài hoa, chí hiêu, siêu phàm, phổ độ, đức cao hiếu hậu của bà để lại cho đ-ơng thời bao nỗi tiếc th-ơng, cho đời sau ng-ỡng mộ Sự tích của bà là có thật, nh-ng diễn biến thì đậm nét huyền diệu

Truyền thuyết "Mối đùn quá nửa thi hài bà" khi xóm làng tìm thấy, rồi nhiều

lần bói ra khoa thấy báo mộng thần dân … Phủ Bà đã đ-ợc tôn tạo từ một ngôi miếu tranh đổi thành miếu ngói, từ tiểu từ trở thành đền phủ với tam cung tứ phủ nguy nga tráng lệ, sớm hôm h-ơng hoả phụng thờ

Qua nhiều triều đại, bà đều có sắc phong:

- Đời Thành Thái và Duy Tân: ''Sắc phong dực bảo trung h-ng linh phù tôn thần''

- Đời Bảo Đại thứ 13 gia phong:'' Thiên tiên công chúa trai tểnh th-ợng

đẳng tôn thần''

- Đời Bảo Đại thứ 14 gia phong:''Trang huy th-ợng đẳng tôn thần''

Nh- vậy, vị nữ "Thiên tiên công chúa" mà dân gian địa ph-ơng ở Quỳ

Chữ tôn phong là Đức Thánh Đệ Tam , chỉ là một cô gái quê, tên tục là Mè đẹp

đẽ hiếu để, nết na, dịu hiền, trinh tiết, đoan trang điển hình, tiêu biểu ít thấy ở

đời, nên khi cô tự vẫn để thoát khỏi một cuộc sống trần tục trong một đêm phật

Trang 35

đản, thì đã trở thành một vị nữ thần thiêng liêng đ-ợc thần thoại hoá rất đậm nét

và sinh động Trong xã hội thời Lê mạt khi mà lễ giáo phong kiến đã có rất nhiều chuyện nhiễu nh-ơng thì hình ảnh những ng-ời con gái vừa tài sắc biết giữ trinh tiết, phẩm hạnh, và một lòng thờ mẹ kính cha nh- cô Mè vừa là một hiện thực, vừa là sự -ớc mong về đạo lý đẹp đẽ của ng-ời phụ nữ Việt Nam đã trở thành một nữ thần rất thiêng liêng luôn che chở, bảo vệ cho những ng-ời phụ nữ tránh đ-ợc sự cám dỗ tầm th-ờng Đây chính là giá trị và ý nghĩa của nhân vật thờ ở Quỳ Chữ này Chính vì sự ng-ỡng mộ của dân gian mà cô Mè từ một ng-ời con gái nghèo về kinh tế mà giàu về phẩm hạnh, khi không còn trên cõi đời này nữa lại nhanh chóng đ-ợc dân suy tôn là nữ thần thiên (tức Đức

Thánh Đệ Tam), còn Triều đình thì sắc phong là "Thiên tiên công chúa th-ợng

đẳng tôn thần" hoặc "Ngọc ph-ơng thiên tiên công chúa chi thần" Sự tôn

phong của dân gian và triều đình phong kiến nh- trên là hoàn toàn khớp với sự

ghi chép của sách "Thanh hoá ch- thần lục"

- Đức Thánh Đệ Tứ: Là một vị quan thái giám có chức Cẩm y vệ t-ớng

quân - ng-ời có nhiều công đức và ân huệ đối với dân làng Quỳ Chữ, nên khi mất đ-ợc dân lập đền thờ, gọi là đền Cẩm y vệ t-ớng quân hay "Thái giám từ"

ở đền có bức hoành phi "Thái Giám Từ" và đôi câu đối:

"Hành quân kỷ luật xung gia t-ớng

Phụng sắc bao phong hộ quốc thần"

Nghĩa là:

Gia t-ớng đ-ợc khen quân kỷ luật

Phúc thần vinh tặng sắc bao phong

Rất tiếc vị quan thái giám có chức Cẩm y vệ t-ớng quân lai lịch và tên tuổi thế nào cho đến nay vẫn ch-a khảo đ-ợc vì thần phả đã mất Còn sự t-ơng truyền của dân gian thì chỉ có ngắn gọn nh- trên

2.2.3 Đặc điểm kiến trúc điêu khắc

Có thể nói rằng về quy mô kiến trúc của đình làng Quỳ Chữ x-a kia (trừ

đình Thuận Đức xây dựng sau này) thì các đình kia đều thuộc loại tầm cỡ Các

đình làng Quỳ Chữ đều đ-ợc xây dựng trên những khu đất rộng, hầu hết các

đình đều có ao phía tr-ớc

Đình làng có t-ờng bao vi, có cổng kính thâm nghiêm, đình có thủ đình trông nom sái tảo, chỉ có ngày lễ tết, hội họp, tế tự … thì đình mới đông ng-ời

Trang 36

còn bình th-ờng thì lúc nào cũng vắng vẻ, u linh, ít ng-ời tự tiện ra vào tạo nên không khí linh thiêng cho đình làng Quỳ Chữ

Về kích th-ớc kiểu mẫu dáng dấp rất quen thuộc trên mọi miền Bắc - Trung Bộ Đình th-ờng có 7 gian 2 dĩ, 14 vì, gạch ngói x-a cỡ lớn nung chai sành,r-ờng cột dùng nguyên cả những thân cây tròn, loại gỗ quý, kiến trúc kiểu chồng r-ờng kẻ bẫy, đủ chân tay rui lim hoành tải Các cột cái và cột quân có chu vi lớn ng-ời ôm không xuể, tất cả những r-ờng, kẻ và bộ vì đều đ-ợc soi

đục các hoạ tiết trang trí hoa lá, rồng ph-ợng chim thú rất tinh xảo Chúng đ-ợc

bố cục trong những đồ án khác nhau nh-ng rất đơn giản Đặc biệt trên các vì, nóc th-ờng chạm hình rồng hổ phù to lớn Các hình chạm không quá r-ờm rà, tham lam nh- các đình cuối thế kỷ XIX ở ngoài Bắc Kỹ thuật chạm khăc ở đây cũng rất đơn giản Nét chạm khoẻ mạnh nhiều mảng lớn uốn l-ợn mềm mại, không r-ờm rà, vụn vặt tạo nên cảm giác nhẹ nhàng, ăn nhịp với từng khối cao rộng của kiến trúc ở các đ-ờng xà không chạm trang trí, nghệ nhân lại tạo nên các đ-ờng soi, kẻ chỉ trơn đẹp, kết hợp với các mộng khít tạo nên cảm giác khung kiến trúc nh- từ một khối thống nhất và chắc chắn

Gian chính giữa đ-ợc làm thêm phía vách hậu mái bán bình thành hậu cung để làm nơi thờ phụng tứ vị Đức Thánh nh- đã nêu trên

Điều đáng tiếc , hiện nay các đình làng ở Quỳ Chữ đã bị triệt phá gần hết chỉ còn lại dấu tích nền móng Duy nhất chỉ còn lại ngôi đình ở thôn Trung -

Đình Trung nh-ng đến 1987 đình bị dỡ đi làm nhiều công việc khác Và gần

đây với chủ tr-ơng khôi phục tôn tạo di tích lịch sử văn hoá x-a kia, nên đình Trung đã đ-ợc phục hồi lại gần đúng nh- quy mô và kiến trúc x-a Và rất đáng quý là ngôi đình mới này cũng là kiến trúc gỗ, đ-ợc làm theo kiểu th-ợng r-ờng hạ kẻ và chạm khắc không kém gì kiến trúc x-a Các tàu mái của đình cong vút và uyển chuyển làm cho kiến trúc của đình rất hài hoà và cân xứng Hai t-ợng võ sĩ phía tr-ớc đình mới đ-ợc đắp lại trông thật uy nghiêm

Hiện vật có ở đình Trung

+ ở tiền đ-ờng ngôi đình có: một kiệu bát cống, một kiệu long đình, một

kiệu cáng, 3 đôi câu đối, 3 bức đại tự (riêng gian giữa có 4 chữ vạn cổ anh linh)

hai hạc gỗ, hai ngựa hồng bằng gỗ, hai bộ bát biểu, một bức cửa võng, một h-ơng án lớn, một bát h-ơng đồng lớn, 3 ống h-ơng gỗ, một bát h-ơng gốm, 7

đài gỗ, một bình hoa sứ, một bát h-ơng gốm cổ ghi chữ "Quỳ Chữ kim khí"…

Trang 37

+ Hậu cung của đình cung có một chuông đồng, một trúc văn, 2 mâm bồng, một bát h-ơng đồng, hai l- h-ơng đồng, 4 cây nến đồng, hai hạc đồng, 7

đài gỗ…

+ ở vọng lâu trên hồ n-ớc tr-ớc đình, có một bức đại tự, 1 bia văn khoa

vũ khoa, 1 bia liệt sĩ chống Pháp, chống Mỹ, một bia di chỉ Đồng Cáo, hai chiếc ngai thờ, 3 ống h-ơng, 1 đèn gỗ, hộp đựng sắc phong …

Tóm lại đình Trung là một ngôi đình đẹp, có nhiều giá trị về mặt nghệ thuật kiến trúc Giá trị của nó còn đ-ợc nâng cao hơn khi nó đ-ợc phục dựng trên nền móng cũ và gần đúng theo kiến trúc cổ x-a Tuy nhiên hiện nay ở Quỳ Chữ mới chỉ khôi phục lại đ-ợc đình Trung Nh-ng chúng ta hy vọng trong thời gian không xa, với sự quan tâm của chính quyền các cấp, sự cố gắng nỗ lực của nhân dân Quỳ Chữ thì cả 3 đình kia sẽ đ-ợc khôi phục trở lại với những gì nó

ảnh sân đình, cũng nh- vai trò của đình đã trở thành th-ớc đo, hay nói cách khác nó đ-ợc xem nh- một chuẩn mực cho cho mọi hành động ý nghĩ của ng-ời dân trong thôn xóm, bởi mọi việc làm tốt xấu của mỗi cá nhân đều đ-ợc

đ-a ra bàn luận ở đình

Mái đình đã trở thành hình ảnh quen thuộc thân th-ơng của ng-ời dân Quỳ Chữ , là yếu tố không thể thiếu đ-ợc trong đời sống sinh hoạt văn hoá vật chất - tinh thần của c- dân địa ph-ơng Đình còn là chỗ dựa về đời sống tâm linh của ng-ời dân trong thôn xóm, bởi bất cứ lúc nào trong cuộc sống đời th-ờng con ng-ời ta gặp phải những điều bất trắc thì họ đến đình thắp h-ơng, dâng lễ cầu mong các vị thần thánh của làng phù hộ độ trì cho tai qua nạn khỏi Hay nh- trong thôn xóm cũng vậy, mỗi khi gặp tai -ơng biến loạn thì đình làng

là nơi đầu tiên họ h-ớng tới

Trang 38

Cũng nh- bao làng quê khác đình làng đã trở thành biểu t-ợng cuả văn hoá làng, nó có giá trị văn hoá rất lớn cả về vật chất và tinh thần

Ngày nay, do các đình ở thôn Đông, thôn Thịnh Mỹ và Giáp Thuận Đức không còn, chỉ còn lại ngôi đình của thôn Trung tức đình Trung Bởi vậy đình Trung không còn là đình riêng của thôn Trung nữa mà nó đã trở thành đình chung của cả làng Với tất cả những gì hiện có nh- ngôi đình, vọng lâu, cổng

đình, cầu hồ sen và bậc tam cấp x-a còn lại cùng với khu chợ Tổ kề bên, đã tạo

ra cho Quỳ Chữ một thắng cảnh thập hấp dẫn Và nếu nh- x-a kia đình là nơi sinh hoạt văn hoá của mỗi thôn, thì giờ đây nó đã thành trung tâm sinh hoạt văn hoá xã hội, chính trị, tôn giáo của cả làng và nhờ có sự trùng tu tôn tạo một cách cố gắng mà đình Trung đã trở thành tụ điểm văn hoá tinh thần hấp dẫn, sinh động của làng Quỳ Chữ

"Lê Phụng Hiểu là một danh t-ớng đời Lý , lập nhiều chiến công phò vua

giúp n-ớc, bởi vậy sau khi ông mất đ-ợc nhà vua ban sắc phong làm "Th-ợng

Đẳng phúc thần Đại V-ơng" Và sai dân địa ph-ơng lập đền thờ "Bản triều năm

Minh Mạng thứ 4 (1832) cho thờ phụ ở miếu lịch đại đế v-ơng'' [4 tr 297]

Về thời gian xây dựng: Nếu căn cứ vào lịch sử nhân vật đ-ợc thờ thì ngôi

đền này đ-ợc xây dựng từ thời Lý, tức sau khi Lê Phụng Hiểu mất vài ba năm (hoặc bốn năm năm) Nh-ng qua khảo sát thực địa của một số nhà nghiên cứu thấy rằng, qua những thành phần kiến trúc gỗ hoặc các loại vật liệu gạch ngói thời bấy giờ, các nhà nghiên cứu không phát hiện thấy dấu tích gì Nguồi tài liệu ghi chép về việc xây dựng ngôi đền hoặc các lần trùng tu tôn tạo cũng không còn l-u giữ đ-ợc, kể cả tấm bia đá dựng ở đền cũng không còn

Nh-ng nhờ căn cứ vào tờ sắc phong thời Lê Trung H-ng và nghệ thuật kiến trúc điêu khắc của đền Đặc biệt là loại gạch cỡ lớn (dài 0,48m, rộng 0,22m, dày 9cm) dùng để xây t-ờng hầu nh- vẫn nguyên trạng, đã giúp các nhà

Trang 39

nghiên cứu xác định rằng ngôi đền đ-ợc xây dựng lại vào khoảng cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII Đến cuối đời vua Tự Đức thứ 7 ngôi đền lại đ-ợc tu sửa (căn cứ hàng chữ ghi ở th-ợng l-ơng nhà tiền đ-ờng) Điều cơ bản là ngôi đền vẫn ở nguyên vị trí ban đầu, không có sự xê dịch hoặc di chuyển đến địa điểm khác

Trải qua những biến cố của lịch sử, đặc biệt bắt đầu từ chiến tranh leo thang đánh phá miền Bắc của đế quốc Mỹ, nơi đây một trong những trọng điểm

đánh phá của Mỹ, nên rừng cây cổ thụ bị chặt phá đi để làm hầm hào bắc cầu thông xe …Đồng thời một số công trình kiến trúc hoặc bị phá hoặc bị bom Mỹ làm sạt mái và trở nên hoang phế Đến sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, nhân dân địa ph-ơng tu sửa lại để có diện mạo nh- hiện nay

2.3.1.2 Đặc điểm đối t-ợng thờ tự:

Danh t-ớng Lê Phụng Hiểu ng-ời l-ơng Băng Sơn - nay thuộc xã Hoằng Sơn - huyện Hoằng Hoá Truyền thuyết kể lại rằng, thuở thiếu thời, ngài là một chàng trai có tầm vóc lớn, c-ờng tráng, có sức khoẻ phi th-ờng, đánh ngã hổ ham mê võ nghệ, nổi tiếng là một lực sĩ, một đồ vật bậc nhất trong vùng, một trang nghĩa hiệp sẵn sàng xung vào việc nghĩa tr-ớc những hiện t-ợng bất công

của xã hội "Kiến nghĩa bất vi vô dũng dã"

"Năm 1025 mùa đông - tháng 10, vua Lý Thái Tổ (1010 - 1028) thân chinh đi dẹp loạn ở Châu ái (Thanh Hoá) Lê Phụng Hiểu đ-ợc vua Thái Tổ nghe danh, dùng làm t-ớng thăng dần đến chức vũ vệ t-ớng quân Khi vua Lý Thái Tông lên ngôi ba thân v-ơng ( Đông chính V-ơng, Dực Thánh V-ơng, Vũ

Đức V-ơng) gây biến loạn, ông đem vệ sĩ dẹp yên đ-ợc Vua Lý Thái Tông nói

"Sỡ dĩ ta đ-ợc nối nghiệp lớn của tiên đế và trọn đ-ợc thân thể cha mẹ sinh là nhờ có sức của khanh,, lòng trung nghĩa của khanh còn hơn cả Uất Trì Kính

Đức" nên phong chức đô thống th-ợng t-ớng quân Năm 1044, Lê Phụng Hiểu

làm tiên phong theo Lý Thái Tông (1028 - 1054) đi đánh Chiêm Thành phá tan

đ-ợc quân giặc, khi thắng trận trở về vua ban th-ởng t-ớc, Phụng Hiểu xin cho

đứng trên núi Băng Sơn ném đao lớn đi,đao rơi xuống nơi nào trong vùng đất công thì xin ban cho làm sản nghiệp, vua nghe theo Ông lên núi ném đao xa

đến hơn 10 dặm ,đao rơi xuống h-ơng Đa Mi ,vua bèn lấy số ruộng ấy ban cho làm ruộng thế nghiệp không thu thóc thuế của ruộng ném đao ấy Vì vậy ng-ời Châu ái gọi ruộng th-ởng công là ruộng ném đao (thác đạo điền)

Trang 40

Khi ông mất, nhà vua ban sắc phong làm "Th-ợng đẳng phúc thần đại v-ơng"và sai dân địa ph-ơng lập đền thờ "Bản triểu năm minh mạng thứ 4

(1823) cho thờ phụ ở miếu lich đại đế v-ơng'' [4 tr 197]

Để đền đáp ơn nghĩa của đô thống th-ợng t-ớng quân Lê Phụng Hiểu,

nhân dân Thanh ở m-ời bốn xã, thôn lập đền thờ phụng, sách "Thanh Hoá ch- thần lục" chép "Lê Đô Thống tôn thần, 14 nơi thờ là xã Trung Hy, thôn Văn, thôn Dạ, thôn Đông Hạ, thôn Mỹ, thôn Trì Trọng, làng Quỳ Chữ, huyện Hoằng Hoá''[ 21 tr 27]

Đối với Quỳ Chữ nhân dân tôn thờ ông nh- bậc thánh Vì nơi đây nằm trong vùng đất Lê Phụng Hiểu "Ném đao" Ơn nghĩa ấy, nhân dân đã xây dựng

đền thờ ông ở xứ đồng Tến, nên gọi là đền Tến là nghĩa nh- vậy Đời các vua

Lê - Nguyễn đều có sắc phong tặng

Tóm lại: Lê Phụng Hiểu - danh t-ớng thời Lý (thế kỷ XI) có nhiều công lao to lớn trong việc bảo vệ đất n-ớc Tên tuổi, sự nghiệp của ông còn mãi cùng non sông đất n-ớc, ngày nay tên ông đ-ợc đặt tên cho các đ-ờng phố ở Hà Nội

và nhiều Thành phố , thị xã trong cả n-ớc Đền thờ ông ở Quỳ Chữ vẫn bốn mùa toả ngát khói h-ơng , nhân dân trong vùng và du khách thập ph-ơng tôn sùng, ng-ỡng mộ

2.3.1.3 Đặc điểm kiến trúc điêu khắc:

Ngôi đền thờ t-ớng quân Lê Phụng Hiểu xây dựng trên thửa đất cao ráo, thoáng đãng thuộc xứ đồng Tến, đèn dựng theo h-ớng Nam, phí tr-ớc giáp

đ-ờng Liên h-ơng, phía Bắc giáp tr-ờng Phổ thổng cơ sở xã Hoằng Quỳ, Phía

Đông giáp nhà bia t-ởng niệm các anh hùng liệt sĩ, cách quốc lộ 1A khoảng 200m

Về diện mạo và quy mô kiến trúc: Theo các cụ cao niên ở địa ph-ơng cho biết: X-a kia khu đất này cây cối um tùm, rậm rạp, không có dân c-, đ-ợc coi là khu rừng cấm chim muông hội tụ quanh năm Về quy mô kiến trúc gồm có: Tiền đ-ờng (3 gian), chính tẩm (3 gian), bố cục theo hình chữ "Nhị" Ngoài

ra còn có tả vu, hữu vu, bái đ-ờng lát gạch, bình phong và cổng đền (4 cây cột nanh) Chung quanh có t-ờng bao bọc, nhiều cây cổ thụ hai ba ng-ời ôm không xuể

Về nghệ thuật kiến trúc:

Ngày đăng: 27/07/2021, 15:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w