Tr-ờng Đại học vinh Khoa ngữ văn ---- o0o ---- Khoá luận tốt nghiệp đại học chuyên ngành: văn học việt nam trung đại so sánh các bài có câu lục ngôn trong thơ nôm nguyễn trãi và nguy
Trang 1Tr-ờng Đại học vinh Khoa ngữ văn o0o
Khoá luận tốt nghiệp đại học
chuyên ngành: văn học việt nam trung đại
so sánh các bài có câu lục ngôn trong thơ nôm nguyễn trãi và nguyễn bỉnh khiêm
Giáo viên h-ớng dẫn: Th.S Hoàng Minh Đạo Sinh viên thực hiện: Thái Thị Thu
Lớp: 43B1 – Văn
Vinh, 5/2006
Trang 2a Phần mở đầu
1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu:
Văn học trung đại Việt Nam bắt đầu từ những sáng tác có ảnh h-ởng của nền văn học dân gian và kết thúc bằng những vần thơ trào lộng của Nguyễn Khuyến - Tú X-ơng Trong quá trình phát triển lâu dài và rực rỡ ấy, phải kể đến
đóng góp của Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm Họ là đại biểu xuất sắc cho nền văn ch-ơng trung đại Việt Nam
Có thể nói rằng: cả hai ông đều có tài năng, có đóng góp lớn lao lâu dài cho nền văn học n-ớc nhà Họ tuy là hai con ng-ời khác nhau, sống và sáng tác ở thời kỳ khác nhau, sự nghiệp văn học không giống nhau nh-ng họ gặp nhau ở việc sáng tác thành công văn học chữ Nôm Đây là loại văn ch-ơng mà không phải nhà văn, nhà thơ nào cũng thành công Nhờ sự đam mê miệt mài trong sáng tạo mà Nguyễn Trãi - Nguyễn Bỉnh Khiêm đã làm cho nền văn học chữ Nôm phát triển mạnh mẽ, phong phú, đa dạng
Vì vậy, có rất nhiều ng-ời quan tâm nghiên cứu về những đóng góp này của hai tác giả Một điều đặc biệt nữa trong sáng tác thơ Nôm là cả Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm đều dùng câu lục ngôn
Nh- đã biết, thơ Nôm của hai tác giả này chủ yếu làm theo: mỗi bài 8 câu môi câu 7 chữ, nh-ng có sự trùng lặp là họ đều dùng một số câu 6 chữ xen vào
Đó là điều khiến ta quan tâm cần nghiên cứu Tại sao tác giả lại dùng nh- vậy ? Lựa chọn đề tài khoá luận "So sánh các bài có câu lục ngôn trong thơ Nôm Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm", chúng tôi cố gắng tìm hiểu một cách có
hệ thống ở một số bài có câu lục ngôn của hai tác giả Qua đó rút ra điểm t-ơng
đồng, điểm khác biệt trong cách sử dụng câu lục ngôn của Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm về cả hai ph-ơng diện nội dung và hình thức Đặc biệt để sáng tạo ra câu lục ngôn trong thơ mình, cả hai tác giả đều chịu ảnh h-ởng của
Trang 3văn học dân gian Đến l-ợt mình, Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm đã làm cho văn học dân gian hoàn thiện, sâu sắc hơn
Đi vào tìm hiểu đề tài chúng ta thấy rõ mối quan hệ giữa Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm trong sáng tác thơ Nôm đặc biệt là sử dụng câu lục ngôn thành công Nhờ đó họ đã gặp nhau, bổ sung cho nhau làm cho thơ Nôm phát triển hơn, đậm đà bản sắc dân tộc Từ đó khẳng định đóng góp lớn lao của Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm trong tiến trình thơ Nôm Việt Nam Nó còn giúp cho ta giảng dạy tốt hơn, có hiệu quả hơn những bài thơ Nôm của Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm trong nhà tr-ờng
2 Đối t-ợng và phạm vi nghiên cứu:
Đối t-ợng nghiên cứu:
Thực hiện đề tài này chúng tôi nghiên cứu ở những bài có câu lục ngôn trong các văn bản:
Vũ Văn Kính: "Quốc âm thi tập" (Nguyễn Trãi), Nxb trẻ, H 1995
Bùi Văn Nguyên: "Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm" tập 1
Để thực hiện đề tài này chúng tôi sử dụng ph-ơng pháp khảo sát thống kê,
so sánh đối chiếu Dùng ph-ơng pháp ấy để thấy đ-ợc sự t-ơng đồng và khác biệt khi sử dụng câu lục ngôn trong thơ Nôm Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm về nội dung cũng nh- hình thức Đồng thời thấy rõ ảnh h-ởng văn học dân gian trong sáng tác câu lục ngôn của hai tác giả
Trang 4Bên cạnh đó chúng tôi sử dụng ph-ơng pháp phân tích tổng hợp nhằm khái quát hoá, cụ thể hoá từng vấn đề, đ-a ra những nhận xét đánh giá xác đáng có cơ
sở khoa học đúng đắn để nhằm khẳng định điểm giống, khác nhau trong cách sử dụng câu lục ngôn của Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm
Hơn nữa đây là vấn đề thuộc quá khứ nên chúng tôi quán triệt quan điểm lịch sử khi nghiên cứu
là thể thơ này cấu tạo 2 phần: luật Đ-ờng và không phải luật Đ-ờng Nh-ng
trong Quốc âm thi tập không phải câu 7 nào cùng là Đ-ờng luật.[9, trang 24] Tuy nhiên ở đây cần làm rõ: trong Quốc âm thi tập những câu 7 ngắt nhịp 3
- 4, những câu 6 ngắt nhịp 2 - 2 - 2, 2 - 4, 4 - 2, 1 - 3 - 2 tức là phần cuối có nhịp chẵn, những câu này đ-ợc tạo ra phải chăng chủ yếu là do tác động của thơ
ca dân gian Việt Nam
Cuối cùng tác giả khẳng định "Qua trình bày ở trên thấy rõ quá trình sáng tác thơ bằng tiếng Việt, Nguyễn Trãi đã tiếp thu sâu sắc thi pháp luật Đ-ờng thế nào? Điều đáng chú ý từ tiềm năng quý báu của thể thơ Trung Quốc, Nguyễn Trãi đã có một cố gắng để xây dựng một lối thơ Việt Nam, một thi pháp Việt Nam ở giai đoạn văn học chữ Nôm mới bắt đầu hình thành và phát triển" [9, trang 25]
Nh- vậy, ở bài viết này Phạm Luận đã chứng minh cho chúng ta thấy thể thơ Thất ngôn chen lục ngôn tiếp thu từ thi pháp luật Đ-ờng Nh-ng cách tiếp
Trang 5thu của Nguyễn Trãi có chọn lựa, biến thành sản phẩm của chính mình, khẳng
định vai trò Nguyễn Trãi trong tiến trình thơ Nôm Việt Nam
Tuy nhiên, khi nói cách ngắt nhịp chẵn ở câu 6 chữ tác giả cho rằng: "phải chăng chủ yếu do tác động thơ ca dân gian Việt Nam" nh-ng ch-a chứng minh
điều đó
4.2 Bài viết của Nguyễn Tài Cẩn "Thử tìm cách xác địng tác giả một số bài thơ hiện ch-a rõ là Nguyễn Trãi hay Nguyễn Bỉnh Khiêm" (Tạp chí văn học số 3/1986)
ở bài viết này, tác giả đi vào phân loại những bài thơ lâu nay ng-ời ta lẫn lộn giữa Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm Mở đầu bài viết, Nguyễn Tài Cẩn nói rõ
"đây là vấn đề phức tạp đòi hỏi cần sự cân nhắc về nhiều ph-ơng diện" [2, trang 76] Mặc dù phức tạp nh-ng Nguyễn Tài Cẩn đã tìm ra cách để phân biệt "Đứng
về mặt ngôn ngữ so sánh 2 dị bản trong mỗi bài này có thể thấy bao giờ mỗi di bản cũng có yếu tố chung và yếu tố riêng
VD: Câu đầu trong bài 161 (Nguyễn Trãi)
Câu đầu trong bài 6 (Nguyễn Bỉnh Khiểm)
Nguyễn Trãi: Yêu nhục nhiều phen vẫn đã từng
Nguyễn Bỉnh Khiểm: Vinh nhục ba phen hẳn đã từng
Nghĩa là: Yêu, nhiều chỉ thấy Nguyễn Trãi
Từ cách phân chia đó tác giả đề ra ph-ơng h-ớng so sánh "Xét cho cùng không có cách nào khác hơn là phải chịu khó đi vào chi tiết rất cụ thể, càng cụ thể càng tốt" [2,77]
Nhờ đi vào chi tiết cụ thể, cuối cùng tác giả phân ra bài nào của Nguyễn Trãi, bài nào của Nguyễn Bỉnh Khiêm
VD: Bài 58 (Nguyễn Trãi) tức 113 Nguyễn Bỉnh Khiêm, mọi nét ngả về Nguyễn Bỉnh Khiêm
Trang 6Đây là công trình nghiên cứu công phu, tỷ mỉ của Nguyễn Tài Cẩn Qua đây giúp ta biết đ-ợc những nét riêng biệt về Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm trong sáng tác, đặc biệt là cách dùng từ Tuy nhiên cách xác định đó chỉ có ý nghĩa t-ơng đối
4.3 Bài viết của tác giả Bùi Văn Nguyên "Âm vang tục ngữ, ca dao trong thơ Quốc âm thi tập - Nguyễn Trãi" (Tạp chí ngôn ngữ số 3/1980)
Tác giả đã đề cập đến ảnh h-ởng của văn học dân gian đối với thơ Nôm của Nguyễn Trãi Tác giả viết: "có thể nói yếu tố tục ngữ ca dao khá đậm đà trong nhiều câu, nhiều bài thơ của ức Trai tiên sinh Tiếng của tổ tiên ta đ-ợc truyền lại gần nh- nguyên vẹn trong tục ngữ, ca dao qua bao thế hệ Tuy nhiên cho đến nay, chúng ta khó biết đích xác đ-ợc xuất xứ nhiều câu tục ngữ, ca dao cổ
truyền Chính nhờ Nguyễn Trãi ghi lại một số câu tục ngữ ca dao trong thơ Quốc
âm của mình mà chúng ta có đ-ợc cái mốc lịch sử chắc chắn để tìm hiểu đ-ợc
một dạng về tục ngữ ca dao với ý nghĩa lịch đại của nó"
Chẳng hạn câu tục ngữ "Miệng ăn núi lở" đ-ợc Nguyễn Trãi vận dụng viết câu:
"Làm biếng hay ăn lở non" (Bài 22- Bảo kính cảnh giới)
Cuối cùng tác giả khẳng định "Cách khai thác vốn có trong tục ngữ ca dao của Nguyễn Trãi cũng linh hoạt sáng tạo" [11, trang 36]
Nguyễn Trãi lấy tục ngữ, cao dao trong hai cách sau:
Một là lấy trọn vẹn cả từ lẫn ý, hoặc gần nh- trọn vẹn và có chỉnh lý chút ít Hai là lấy ý chính trong một câu thơ cách luật hoặc lấy chí chính qua 2 câu khác nhau, ghép lại thành hai câu thơ cách luật đối nhau trong phần thực hoặc luận Bài viết này tác giả Bùi Văn Nguyên đã nêu khái quát về ảnh h-ởng của tục ngữ, ca dao trong thơ Nôm Nguyễn Trãi Đồng thời khẳng định sự sáng tạo trong cách vận dụng văn học dân gian vào thơ Nôm của ông, góp phần nâng cao giá trị văn học của tiếng Việt, làm cho tiếng Việt thêm giàu, thêm đẹp
4.4 Bài viết của Nguyễn Hữu Sơn "Góp phần tìm hiểu hình thức câu thơ lục ngôn trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm" (Tạp chí văn học số 3/1987)
Trang 7Mở đầu bài viết, tác giả nói đến nguồn gốc thể thơ "nói đến Nguyễn Bỉnh Khiêm ở bộ phận thơ chữ Nôm sáng tác theo thể thơ Đ-ờng luật thất ngôn bát cú
là có ý dựa vào các bài thơ đó về mặt hình thức Trở lại nguồn gốc sinh thành của chúng, đó là thể thất ngôn pha lục ngôn (thất ngôn pha câu 6 chữ) Một thể thơ
Đ-ờng nh-ng đã chuyển đổi sáng tạo theo h-ớng mới, hợp với nếp cảm nếp nghĩ
và lỗi diễn đạt ng-ời Việt Nam" [17, trang 79]
Sau khi phân tích những ý kiến khác về thể thơ lục ngôn, tác giả khẳng định
"song, đi sâu vào thống kê phân loại một cách tỉ mỉ chi tiết và xếp đặt vị trí câu thơ 6 chữ vào từng nhóm, từng hệ thống theo mỗi loại bài thất ngôn pha lục ngôn thì chúng ta sẽ dễ dàng phát hiện ra đặc điểm chung nhất của chúng" [17, trang 80]
Có thể tóm lại cách phân loại nh- sau:
Loại bài thất ngôn pha 1 câu 6 chữ
Loại bài thất ngôn pha 2 câu 6 chữ
Loại bài thất ngôn pha thơ 6 chữ khác
Nh- vậy ở bài viết này đề cập tới 2 vấn đề chính: nguồn gốc thể thơ thất
ngôn chen lục ngôn và thống kê phân loại bài có câu 6 chữ trong thơ Quốc âm của Nguyễn Bỉnh Khiêm Tác giả đã đi vào chi tiết cụ thể ở thơ Quốc âm
Nguyễn Bỉnh Khiêm gần 200 bài Đó là công trình nghiên cứu công phu và đảm bảo tính khoa học trong nghiên cứu văn học Đây là bài viết giúp bản thân có cơ
sở, có học hỏi khi so sánh bài có câu lục ngôn trong thơ Nôm Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm
Nhìn chung những bài viết trên đều đề cập đến thể thơ thất ngôn chen lục ngôn Nh-ng tất cả ý kiến đó đều nhận xét riêng biệt từng nhà thơ, ch-a có điểm
so sánh đối chiếu Trên cơ sở đó chúng tôi đi vào nghiên cứu so sánh đối chiếu thể thơ thất ngôn chen lục ngôn trong thơ Nôm Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm
Trang 8b Phần nội dung
Ch-ơng I: Những vấn đề chung
1.1 Vị trí của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm trong tiến trình thơ Nôm trung đại Việt Nam
1.1.1 Vị trí của Nguyễn Trãi trong tiến trình thơ Nôm trung đại Việt Nam
Nguyễn Trãi (1380-1442) quê Hải D-ơng Ông sống lao động nghệ thuật hết mình và cống hiến cho đời ở nhiều mặt Trong số đó phải kể đến ph-ơng diện văn học - một nhà văn xuất sắc trong mọi thời đại Nguyễn Trãi thành công về cả chữ Hán lẫn chữ Nôm, cả thơ lẫn văn
Về văn chính luận ta biết đến ông qua: Quân trung từ mệnh tập và Bình ngô đại cáo
Về thơ: Thơ chữ Hán ức trai thi tập gồm 105 bài
Thơ chữ Nôm Quốc âm thi tập gồm 254 bài
và một số bài thơ khác
Tất cả các thành công ấy nhờ niềm đam mê văn ch-ơng, cái tâm của ng-ời cầm bút Trong đó sáng tác thơ Nôm đóng vai trò quan trọng giúp nhà văn thể hiện tấm lòng của mình, cảm nhận của mình tr-ớc thế cuộc, những tình cảm sâu sắc của một con ng-ời luôn sống vì nhân dân, vì Tổ quốc thân yêu
Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi với 254 bài là khối l-ợng thơ Nôm cổ
nhất hiện còn Tập thơ này của Nguyễn Trãi đ-ợc Xuân Diệu ghi nhận: "đây là
tác phẩm mở đầu của nền thơ cổ điển Việt Nam" Sức mạnh có thực của Quốc
âm thi tập - với t- cách là một tập thơ đã truyền đ-ợc cảm xúc tinh tế của thời
đại Nguyễn Trãi cho hậu thế Đó chính là lý do chính để lịch sử thơ ca Việt Nam ghi nhận công đầu cho Nguyễn Trãi
Trang 9Nguyễn Trãi là ng-ời làm thơ tiếng Việt khi ngôn ngữ Việt ch-a chiếm lĩnh
vị trí đáng kể trong văn học dân tộc (Bởi vì thơ Nôm đang hình thành trên đ-ờng
đi vào ổn định và phát triển) Thế nh-ng Nguyễn Trãi đã đem ngôn ngữ tiếng
Việt phong tục vào thơ một cách phổ biến, có thể nói trong'' quốc âm thi tập''
ngôn ngữ có sự đan cài giữa ngôn ngữ bác học và ngôn ngữ đời th-ờng, ngôn ngữ nghệ thuật và những từ rất bình dị, thông tục Thành công của tác giả là biết kết hợp đan xen giữa các ngôn ngữ ấy Vì thế tập thơ có tính thông dụng: mọi ng-ời đọc dễ cảm nhận, dễ hiểu
Nguyễn Trãi viết'' Quốc âm thi tập'' khi luật thơ tiếng Việt có lẽ ch-a hoàn
thiện Vì thế Nguyễn Trãi tận dụng thi pháp thơ Đ-ờng của Trung Quốc để sáng tác Thế nh-ng Nguyễn Trãi không đắm mình trong thơ ca cổ điển Trung Quốc,
mà ông sáng suốt tỉnh táo rời bỏ những cái không cần thiết trong thơ Đ-ờng Trung Quốc, tìm kiếm hình thức riêng để biểu đạt ngôn ngữ thơ ca dân tộc Bằng nhiều cách, Nguyễn Trãi dùng đ-ợc câu 6 chữ đặt ở vị trí khác nhau trong âm vận cho phép của thơ Việt mà không mất đi tính chất đối của thơ đ-ờng Lối viết thơ Nôm có tiếp thu, có sáng tạo là cống hiến có ý nghĩa đối với văn học nuớc nhà Nguyễn Trãi đ-ợc coi là ng-ời mở đầu trong việc sáng tác thơ Nôm hoàn chỉnh, có hiệu quả ở Việt Nam Là ng-ời đầu tiên sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt trong thơ ca Để thấy đ-ợc tầm quan trọng, đóng góp to lớn của Nguyễn Trãi trong tiến trình thơ Nôm Việt Nam ta đem so sánh với văn học tr-ớc và sau đó
Thử so sánh Quốc âm thi tập (Nguyễn Trãi) với thơ Quốc âm của Hội Tao Đàn
thời Hồng Đức ta thấy: vẫn là tiếng Việt đó, song tiếng Việt mà các vị khoa bảng trong cung đình Lê Thánh Tông dùng tuy đã có những vật lộn tìm tòi, nh-ng
ngày nay đọc lại khuôn sáo, quanh quẩn và câu nệ Còn Quốc âm thi tập
(Nguyễn Trãi) dù ra đời cách xa thời đại mới nh-ng nó vẫn toả sáng đ-ợc ng-ời sau khen ngợi
Đối với các nhà thơ Nôm sau này nh-: Nguyễn Du, Hồ Xuân H-ơng, Nguyễn Đình Chiểu, thì Nguyễn Trãi vẫn là nhà thơ Nôm vĩ đại và sống mãi với thời gian
Trang 10Không chỉ dừng ở đó, Nguyễn Trãi còn sử dụng chất liệu văn học dân gian trong sáng tác thơ Nôm Ông vận dụng một cách sáng tạo tục ngữ, ca dao, thành ngữ làm cho câu thơ dễ đọc, dễ hiểu Giúp ng-ời đọc sau mỗi lần cảm nhận đều thấy vị ngọt, vị cay, vị đắng của làng quê Việt Nam Trong lĩnh vực văn học,
đóng góp lớn nhất là đẩy mạnh phát triển thơ Nôm Kế thừa tác phẩm đời Trần,''
Quốc âm thi tập khẳng định vị trí quan trọng của văn học chữ Nôm trong dòng
văn học viết
Có thể nói, Nguyễn Trãi có đóng góp lớn lao cho tiến trình thơ Nôm Việt
Nam Quốc âm thi tập đã chứng tỏ đ-ợc điều đó Đóng góp của Nguyễn Trãi cả
về ph-ơng diện nội dung lẫn hình thức Nội dung trong thơ Nôm của ông không chỉ đơn thuần nói về chốn quan tr-ờng nơi lầu son gác tía mà ở đó có cả hình
ảnh của một con ng-ời luôn suy nghĩ, chiêm nghiệm cuộc đời ở đó có cả nơi
mà nhà văn từng làm quan, có cả nơi tác giả ở ẩn Là chốn thôn quê dân dã, bình
dị mà thấm đ-ợm tình ng-ời Đó còn là suy nghĩ của một con ng-ời vì dân, vì n-ớc đang chứng kiến cái trớ trêu, ng-ợc đời Hình thức trong thơ Nôm có truyền thống, có hiện đại, có cả ngôn ngữ bác học và bình dân và sự ảnh h-ởng sâu sắc văn hóa dân gian Vì thế '' Quốc âm thi tập'' không chỉ có ích cho quá khứ, hiện tại mà cho cả t-ơng lai Nền văn học chữ Nôm từ đó tồn tại, phát triển rực rỡ
Nhân kỷ niệm 520 năm ngày mất của Nguyễn Trãi, Phạm Văn Đồng đã viết
"Thơ của Nguyễn Trãi là tâm hồn của Nguyễn Trãi trong sáng và đầy sức sống
Có ng-ời nói thơ của Nguyễn Trãi buồn vì cảnh đời của Nguyễn Trãi buồn Thơ của Nguyễn Trãi có bài buồn, có câu buồn vì lẽ gì chúng ta đều biết nh-ng cả tập thơ của Nguyễn Trãi là thơ của một ng-ời yêu đời, yêu ng-ời, tâm hồn của Nguyễn Trãi sống một nhịp với non sống đất n-ớc t-ơi vui" [5,trang 13]
Đọc những lời của Phạm Văn Đồng về Nguyễn Trãi, ta mới thấy sức mạnh
to lớn của thơ Nguyễn Trãi đối với thơ Nôm nói riêng và thơ ca Việt Nam nói chung Nguyễn Trãi mãi là đỉnh núi luôn in bóng xuống dòng sông, là ngọn đuốc sáng cho thế hệ sau học tập và noi theo
Trang 11Nhân tài không bao giờ hết, tiếp sau Nguyễn Trãi có một ng-ời đóng góp không nhỏ cho thơ Nôm Việt Nam Đó là Nguyễn Bỉnh Khiêm
1.1.2 Vị trí của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong thơ Nôm trung đại Việt Nam
Cùng, thông, đắc, táng ta có lo chi cho riêng mình
Nguyễn Bỉnh Khiêm đã viết nh- vậy trong một bài thơ tự thuật bày tỏ niềm -u ái sâu sắc của chính mình Chính cuộc đời và sự nghịêp thơ văn của ông đã phần nào thể hiện nỗi chân tình ấy Nguyễn Bỉnh Khiêm đã sống cống hiến cho văn học gần suốt một thế kỷ Đây là giai đoạn mà giai cấp phong kiến đi dần đến sào huyệt suy thoái Với tâm huyết sống và viết hết mình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã thành công ở chữ Hán, chữ Nôm và một số bài văn tế
Thơ chữ Hán: Bạch vân am thi tập
Thơ chữ Nôm: Bạch vân quốc ngữ thi tập
Bạch vân quốc ngữ thi tập là tập thơ có giá trị gồm 200 bài làm theo thể
Đ-ờng luật và thể thất ngôn chen lục ngôn Điều đặc biệt là tập thơ Bạch vân quốc ngữ thi tập không có đề mục cụ thể cho từng bài nh- thơ Nôm Nguyễn Trãi
hay các tác giả Hồng Đức ở thơ Nôm Nguyễn Trãi tuy không có đề mục từng
bài cụ thể nh-ng lại có đề mục cho từng phần, mỗi phần gồm các bài
VD: Bảo kính cảnh giới (254 bài)
ở thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm từ bài1 đến bài 20 chỉ là số thứ tự không có
đề mục từng bài, cũng không có đề mục từng phần
Nguyễn Bỉnh Khiêm có vai trò quan trọng cho giai đoạn văn học thế kỷ XVI Sáng tác của ông là tiếng nói chung của cả một tầng lớp trí thức dân tộc phải sống trong buổi suy vi của chế độ phong kiến Đề bày tỏ nỗi lòng ấy ông tìm đến thơ Nôm nh- ng-ời bạn tâm giao để gửi gắm tâm sự
Trong sáng tác văn học dù đề tài thể thơ giống nhau nh-ng mỗi nhà văn có phong cách riêng biệt Thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm mang phong cách độc đáo riêng biệt không lẫn với bất cứ ai
Trang 12VD: Cả Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Trãi đều nói đến cảnh nhàn tản nh-ng ở Nguyễn Bỉnh Khiêm không chứa đựng niềm u uất của một nhân cách cao đẹp bị chèn ép mà chứa đựng sự chán nản về cuộc đời và suy t- triết lý sâu sắc Hiểu đ-ợc nh- vậy ta mới khẳng định đóng góp Nguyễn Bỉnh Khiêm đối với thơ Nôm n-ớc nhà
Ngôn ngữ trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm có phần bắt nguồn từ chất liệu văn học dân gian Ông tiếp thu có chọn lọc, cải tạo ,biến hoá câu tục ngữ, ca dao để trở thành câu thơ của mình Sự biến hoá ấy tạo nên câu thơ vừa mang âm h-ởng dân gian vừa mang đậm phong cách Nguyễn Bỉnh Khiêm Nhờ đó nhịp
điệu vững chắc và chất phác khoẻ mạnh của hình t-ợng thơ Với cách dùng thi liệu văn học dân gian Nguyễn Bỉnh Khiêm đã đóng góp một phần không nhỏ cho ngôn ngữ thơ Nôm Việt Nam vừa bình dị mà triết lý sâu sắc
Bên cạnh đó, thiên nhiên đất n-ớc và cuộc sống con ng-ời đ-ợc miêu tả với phong vị đậm đà cụ thể sinh động Đó là sản vật quê h-ơng, lối ăn, lối mặc nếp nghĩ của ng-ời Việt Nam Rõ ràng viết bằng tiếng mẹ đẻ, thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm đã phản ánh đậm đà nét đời sống của nhân dân, làm cho thơ Nôm đi vào lòng ng-ời một cách dễ dàng
Thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm tiếp thu ảnh h-ởng của nguồn văn liệu Hán học, thành ngữ Hán học, khẩu ngữ Hán học đ-ợc Việt hoá
VD:'' Hậu sinh khá uý ''(sách luận ngữ) (kẻ sinh sau là đáng sợ)
Nguyễn Bỉnh Khiêm viết "Dẫu thấy hậu sinh thì dễ sợ
Trang 13Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm ta có thể khẳng định sự giản dị, thuần thục, thanh thoát của ngôn ngữ văn học Việt, trong việc đồng hoá thi liệu Hán học, tiếp thu
ảnh h-ởng ngôn ngữ bình dân và văn học dân gian
Nhờ cách sử dụng ngôn ngữ nh- thế nên nội dung trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm phong phú, đa dạng Nó không phải là cái gì cao siêu, xa lạ trên bầu trời xanh thẳm mà tất cả những gì gần gũi quanh ta, đang diễn ra hàng ngày, hàng giờ
Đó là lời khuyên răn của ng-ời đi tr-ớc đối với con cháu, suy nghĩ về cuộc
đời về nỗi khổ của ng-ời dân Tất cả là nỗi lòng tâm tình của Nguyễn Bỉnh Khiêm đối với đời, với Tổ quốc non sông Đặc biệt thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm làm theo thể Hàn luật hoặc Hàn luật pha thể lục ngôn, tức là thể tài thơ Nôm có từ tr-ớc Trong gần 200 bài thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm thì số bài là thể lục ngôn chiếm -u thế Nh- vậy thể Hàn luật theo của Đ-ờng còn ít mà Hàn luật pha lục ngôn chiếm -u thế, thông dụng hơn Để chứng minh cho điều đó, tác
giả Đinh Gia Khánh đã viết "Tất cả những bài thơ trong Bạch vân quốc ngữ thi tập đều viết thể Hàn luật pha lục ngôn, một thể thơ rất quen thuộc trong Quốc
âm thi tập của các tác giả cuối thế kỷ XV" (Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm Nxb văn
học, H.1983) [Trang 42]
ý kiến đánh giá ấy tuy đúng nh-ng có chỗ cần bàn thêm Bởi vì khi đi sâu vào khảo sát cụ thể ta vẫn thấy có những bài không có câu lục ngôn
VD :Bài 5 thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm
Nói nh- vậy là để khẳng định vị trí -u thế của thơ Hàn luật pha lục ngôn Qua
đó thấy đ-ợc vị thế đóng góp của Nguyễn Bỉnh Khiêm đối với sáng tác thơ Nôm Thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm kết hợp đ-ợc cái gân guốc khoẻ mạnh của thơ Nôm Nguyễn Trãi với sự thuần thục của thơ Nôm thời Lê Thánh Tông Sự kết hợp ấy tạo nên chất liệu thơ đặc biệt mang phong cách rất Nguyễn Bỉnh Khiêm Thành tựu về thơ của ông xứng đáng với truyền thống thơ ca hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam
Trang 14Nguyễn Bỉnh Khiêm là cầu nối giữa văn học truyền thống và văn học giai
đoạn mới Ông tiếp thu có chọn lọc truyền thống thơ ca dân gian, của các tác giả
đi tr-ớc đồng thời luôn đổi mới mình để phù hợp xu thế thời đại Bởi văn ch-ơng cần sự sáng tạo, "khơi nguồn ch-a ai khơi, sáng tạo những gì ch-a có" (Nam Cao) Tóm lại Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm là những tác giả tiêu biểu văn học trung đại nói riêng, văn học Việt Nam nói chung, thành công ở thể loại thơ Nôm Họ gặp nhau sử dụng thể thất ngôn chen lục ngôn, chất liệu văn học dân gian để nói về cuộc đời, nhân tình thế thái
1.2 Về thể thơ thất ngôn chen lục ngôn trong văn học trung đại Việt Nam
Trong văn học Việt Nam trung đại đã xuất hiện thể thơ: Thất ngôn chen lục ngôn ở thơ Nôm Thể thơ này đã đ-ợc nhiều tác giả sử dụng nh-ng phổ biến và thành công nhất là Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm
Đây là thể thơ đ-ợc sử dụng suốt thời gian dài từ nữa sau thế kỷ XV đến XVIII (Nguyễn Trãi - Nguyễn Hữu Chỉnh) Do vai trò của thể thơ này trong nền thơ viết bằng tiếng Việt thời cổ, một vai trò không thể phủ nhận đ-ợc nên ng-ời
ta phải định cho nó một cái tên và xếp nó vào loại thơ khác nhau
1.2.1 Nguồn gốc thể thơ
Mỗi thể thơ đều có nguồn gốc nhất định, nh-ng để xác định nó sinh ra từ đâu thì cả một vấn đề Đối với các thể loại khác có thể xác định nguồn gốc dễ dàng hơn, riêng thể thơ thất ngôn chen lục ngôn có rất nhiều ý kiến Mỗi ý kiến có quan điểm, cách giải thích riêng nh-ng có 2 luồng ý kiến: Có một số ng-ời cho rằng thể thơ này
là bắt ch-ớc của Trung Quốc, có ng-ời cho là của ng-ời Việt Nam tự tạo ra Vậy về thể thơ này các nhà nghiên cứu đã xem xét nguồn gốc của nó thế nào ?
Trong "Việt Nam văn học sử yếu": D-ơng Quảng Hàm định danh cho nó là
"Lục ngôn thể" "Lối thơ thất ngôn xen vào vài câu chỉ có 6 chữ" Tác giả xếp nó vào loại bắt ch-ớc của Tàu [trang 115]
Trong cuốn "Hợp tuyển thơ văn Việt Nam'' tập II, Nxb văn học, H.1976, các tác giả cũng định danh đây là thể "Thơ Đ-ờng luật có pha lục ngôn".[trang 316]
Trang 15Hai tác giả Bùi Văn Nguyên, Hà Minh Đức trong cuốn "Thơ ca Việt Nam hình thức và thể loại" cho rằng: "Một trong các thể thơ đặc biệt" của thơ luật Đ-ờng
[12, trang 307] Đồng thời khẳng định: "Trong thơ Quốc âm ta x-a thể thơ thất ngôn
bát cú có xen vào một số câu 6 từ ng-ời ta cũng gọi là thể thơ lục ngôn Thật ra nên gọi thể pha lục ngôn và phải đúng niên luật nh- câu 7 chữ" [12,trang307]
Nh- vậy, về nguồn gốc thể thơ luồng ý kiến một cho rằng :đó là thể thơ Trung Quốc bắt nguồn từ thơ đ-ờng Trung Quốc Theo chúng tôi đó là ý kiến có phần đúng, có phần ch-a đúng Để chứng minh điều đó ta đi sâu nghiên cứu sẽ thấy Mặt đúng ở chỗ: dù ng-ời Việt Nam có sáng tạo chuyển đổi nh-ng nguồn gốc xuất phát vẫn là thơ Đ-ờng Trung Quốc Vì nguồn gốc, cội nguồn là cái mà
ta cần phải nhớ, phải để ý dù nó đã biến đổi Trong văn học có văn học nội sinh
và văn học ngoại nhập Văn học nội sinh là văn học hoàn toàn do ng-ời Việt sáng tạo, còn văn học ngoại nhập là ta vay m-ợn của n-ớc khác nh-ng có sự sáng tạo của ng-ời Việt Nam Do đó thể thơ thất ngôn chen lục ngôn thuộc loại văn học ngoại nhập
Phần không đúng: dù đó là thể ngoại nhập những đã đ-ợc chuyển đổi sáng tạo theo h-ớng mới, theo nếp cảm, nếp nghĩ và lối diễn đạt ng-ời Việt Nó phù hợp với ng-ời Việt trong cách sử dụng cách thể hiện đúng đắn lúc đó trở thành thơ ca ng-ời Việt thực sự Trong văn học đòi hỏi sự sáng tạo, sáng tạo là th-ớc
đo cho thành công Nếu thơ Đ-ờng không có sự tham gia sáng tạo tiếp nhận ng-ời Việt thì mãi mãi vẫn của Trung Quốc Nh-ng khi đ-ợc ng-ời Việt vay m-ợn biến đổi nó trở thành một thể thơ mới: "Thể thơ thất ngôn chen lục ngôn" Luồng ý kiến thứ hai cho rằng: đó không phải là thể thơ vay m-ợn mà sản phẩm sáng tạo của các nhà thơ Việt Nam tức là thể loại thuộc văn học nội sinh
nó không liên quan gì đến ngoài n-ớc cả Tiêu biểu cho nhóm ý kiến này là tác giả Phạm Luận (Tạp chí văn học, số 4/1991)
Tác giả phủ nhận các ý kiến cho là thể thơ thất ngôn chen lục ngôn bắt ch-ớc của tàu "Quan sát câu thơ Nôm 6 chữ trong một bài thơ cụ thể ta thấy rõ
đ-ợc xây dựng trên cơ sở của một trong bốn kiểu câu thất ngôn luật [9, trang 25]
Trang 16Đồng thời khẳng định: "Trong Quốc âm thi tập những câu 7 ngắt nhịp 3-4
những câu ngắt nhịp 2 - 2 - 2, 2 - 4, 4 - 2, 1- 3 - 2 Tức là phần cuối có nhịp chẵn, những câu này đ-ợc tạo ra phải chăng chủ yếu là do tác động thơ ca dân gian Việt Nam" [9,trang 25]
Nh- vậy, tác giả Phạm Luận đã đ-a lý lẽ bảo vệ ý kiến của mình đến cùng cho rằng:" Thể thơ thất ngôn chen lục ngôn hoàn toàn do ng-ời Việt Nam sáng tạo"
Để biết xem ý kiến đó đúng hay sai ta nên xem xét cụ thể từng bài thơ Nếu tất cả đều đúng nh- vậy thì tác giả đúng còn có ngoaị lệ thì không hoàn toàn đúng
Đi sâu vào chi tiết các bài thơ ta thấy ý kiến đó đúng ở chỗ: có một số bài có câu lục ngôn là sản phẩm sáng tạo của nhà thơ viết bằng cách vận dụng nền văn học dân gian để viết nên câu 6 chữ thật hay, dễ hiểu
VD: Giàu ba bữa, khó hai niêu
(Bài 3 - thơ Nôm - Nguyễn Bỉnh Khiêm)
(Bài 10 - Bảo kính cảnh giới - Nguyễn Trãi)
Hai câu thơ của Nguyễn Bỉnh Khiểm và Nguyễn Trãi đều bắt nguồn từ văn học dân gian Việt Nam Đó là nguồn văn học rất quý báu của dân tộc Việt Nam Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm đã vận dụng tinh hoa văn hoá dân tộc tạo nên câu thơ dễ đọc, dễ hiểu Tạo nên thể thơ thất ngôn chen lục ngôn hoàn toàn
do sáng tạo ng-ời Việt không hề vay m-ợn
Nh-ng ý kiến Phạm Luận ch-a đúng ở chỗ: Không phải tất cả các câu lục ngôn trong thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm đều bắt nguồn từ văn học dân gian và do cha ông ta sáng tạo ra
Trang 17Vậy những câu thơ này từ đâu mà có, tại sao trong một bài thơ 7 chữ lại xem các câu 6 chữ mà ta không biết nguyên do? Đây là một vấn đề cần nghiên cứu thật kỹ càng, cụ thể từng bài
Theo chúng tôi thể thơ thất ngôn chen lục ngôn không hoàn toàn là của Trung Quốc, không hoàn toàn là của Việt Nam Mà nó là thể thơ của văn học Việt Nam nh-ng thuộc văn học ngoại nhập Từ việc vay m-ợn ban đầu là của Trung Quốc nh-ng do sáng tạo tìm tòi biến đổi phù hợp cách nói, cách nghĩ ng-ời Việt nên là thể thơ của Việt Nam Nh-ng dù sao ta không thể quên nguồn gốc sinh thành ,nơi đã sinh ra nó Để từ nay ta có thể thơ mới "Thất ngôn chen lục ngôn"
1.2.2 Đặc điểm cấu trúc
Một bài thơ gọi là làm theo thể thất ngôn chen lục ngôn là bài thơ có 8 câu trong đó có cả câu 7 chữ và có cả câu 6 chữ
(Bài 26- Bảo kính cảnh giới - Nguyễn Trãi) Bài thơ trên làm theo thể thất ngôn chen lục ngôn: 7 câu 7 chữ, 1 câu 6 chữ Với nó là câu 6 chữ chen lẫn trong câu 7 chữ nên câu 6 chữ đó cũng phải xem mình là câu 7 chữ thực sự giống câu 7 chữ
Bởi thế Bùi Văn Nguyên - Hà Minh Đức đã cho rằng :"Chữ thứ 3 của câu 6
sẽ làm nhiệm vụ của chữ thứ t- trong câu để niêm với chữ thứ 4 của câu 7 chữ và chữ thứ 5 trong câu 6 phải làm nhiệm vụ của chữ thứ 6 để niêm đ-ợc với chữ thứ
6 trong câu 7" [2; trang 307]
Trang 18Có nh- vậy câu thơ lục ngôn mới tồn tại và kết hợp với các câu khác tạo nên bài thơ cân đối, nhịp nhàng Nên khi ta đọc bài thơ theo thể thất ngôn chen lục ngôn cũng giống nh- các bài thơ khác nó trôi chảy,dễ cảm, dễ đọc
Nói đến đặc điểm thể thơ này, tác giả Phạm Luận đã khẳng định :"Nó vốn là câu thất ngôn luật bị bớt đi một chữ'' [ 9,trang 25]
Đồng thời tác giả đi sâu chứng minh ý kiến của mình trong thơ Nôm Nguyễn Trãi
VD: Bài 219 thơ Nôm Nguyễn Trãi (Quốc âm thi tập)
Nguyên thể là câu 7 chữ bớt đi chữ thứ 5 âm tiết bằng (thất ngôn luật b)
T T B B (B) T T -> T T B B T T
Cội rễ bền dời lâu chẳng động -> Cội rễ bền dời chẳng động
VD : Bài 113 Quốc âm thi tập (Nguyễn Trãi)
Vốn là câu thất ngôn luật kiểu B, bớt đi chữ thứ 5 âm tiết trắc
VD: Trong tạo hoá có cơ mầu
(câu 1 - bài 26 - Bảo kính cảnh giới - Nguyễn Trãi)
Nguyên thể kiểu b bớt đi chữ thứ nhất âm tiết trắc
Hầu hết những câu lục ngôn đều vốn là những câu thất ngôn luật Mọi ng-ời
đều biết cấu trúc của thể thất ngôn luật, bát cú hay tứ tuyệt cũng vậy là sự luân phiên 4 kiểu câu
BB TT TB B (kiểu A)
TT BB TT B ( Kiểu B)
TT BB BT T (Kiểu b)
Trang 19BB TT BB T (kiểu a)
Nh- vậy, về đặc điểm cấu trúc, thơ thất ngôn chủ yếu là do câu thất ngôn luật bớt đi một chữ nh-ng nó vẫn đảm bảo yếu tố nhịp, nội dung nh- câu 7 chữ Mặt khác câu lục ngôn không phải do bớt đi 1 chữ từ câu thất ngôn luật mà sinh
ra nó vốn 6 chữ Chỉ có điều nó vẫn phải làm nhiệm vụ câu 7 chữ Cả hai đặc
điểm đó đều quan trọng, đều đúng Bởi vì khi đi sâu tìm hiểu chi tiết từng bài thơ thấy không có điều sai lệch mà đúng đắn
Tóm lại, về thể thơ thất ngôn chen lục ngôn dù xét nguồn gốc hay đặc điểm
đều có ý kiến khác nhau Mỗi ý kiến có lý lẽ riêng của nó Tuy nhiên để tìm cách hiểu nhất quán cho mình, cần phải đi sâu tìm tòi khám phá đặc điểm chi tiết cụ thể từng bài thơ từng câu
1.3 Sự hiện diện của câu thơ lục ngôn trong thơ Nôm Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm
Thơ Nôm của Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm có nhiều bài sử dụng câu lục ngôn nh-ng chúng tôi chỉ khảo sát mỗi nhà thơ 61 bài Việc đ-a câu lục ngôn vào xen với câu thất ngôn là sáng tạo độc đáo của tác giả Đó còn là dụng
ý nghệ thuật mà nhà thơ muốn gửi gắm đến bạn đọc Có nhiều ý kiến khác nhau
về thể thơ này nh-ng đi sâu khảo sát từng bài ta sẽ thấy rõ quy luật, sự hiện diện của câu lục ngôn
1.3.1 Khảo sát, thống kê, phân loại câu lục ngôn trong" Bảo kính cảnh giới" (Quốc âm thi tập - Nguyễn Trãi)
Xét 61 bài thơ:'' Bảo kính cảnh giới ''( Quốc âm thi tập - Nguyễn Trãi )
chúng tôi rút ra một số điều sau: Có 43/61 bài sử dụng câu lục ngôn, chiếm 71%
Tuy nhiên đây là tỷ lệ t-ơng đối vì ở "Bảo kính cảnh giới" có những bài thơ
trùng với thơ Quốc âm của Nguyễn Bỉnh Khiêm mà ta ch-a xác định cụ thể là của ai
Trong 43 bài có sử dụng câu lục ngôn thì tác giả dùng từ 1 - 4 câu ở các bài
Trang 2017 bài có 1 câu lục ngôn chiếm 40% (gồm các bài: 2, 3, 5, 7, 8,10, 11, 12,
17, 19, 20,22, 23, 24, 26, 38, 53)
17 bài có 2 câu lục ngôn chiếm 40% (gồm các bài: 9, 16, 21, 35, 36, 37, 43,
45, 47, 49, 50, 52, 56, 57, 58, 59, 60)
6 bài có 3 câu lục ngôn chiếm 13% (gồm các bài:27, 28, 34, 39, 42, 48)
3 bài có 4 câu lục ngôn chiếm 7% (gồm các bài:32, 40, 41)
Từ tỷ lệ đó ta thấy rằng: bài thơ sử dụng thể thất ngôn chen lục ngôn thì câu
7 chữ vẫn là chính và chen vào đó một số câu 6 chữ Vị trí mà câu lục ngôn đặt trong bài thơ cũng có sự thay đổi:
ở vị trí đầu bài: có 11 câu chiếm 14%,
ở giữa bài: có 59 câu chiếm 72% (giữa bài gồm các câu từ dòng 2 - 7)
ở cuối bài :có 11 câu chiếm 14%
Vậy là một vấn đề đ-ợc đặt ra: câu lục ngôn rơi vào vị trí đầu và cuối chiếm
tỷ lệ cân xứng, đối sánh nhau Bởi lẽ câu 6 chữ xuất hiện ở đầu, cuối bài thơ nhằm diễn đạt ấn t-ợng mạnh mẽ Một sự phá cách về nhịp điệu nh-ng không phá cách về hình thức kết cấu chung của bài thơ Đầu cuối t-ơng ứng tạo cho bài thơ đậm chất triết lí
Câu lục ngôn đặt ở đầu câu với triết lý nhân sinh về cuộc đời, về con ng-ời T-ơng ứng với nó, Nguyễn Trãi đặt câu lục ngôn ở cuối bài
"Đầu cuối t-ơng ứng" là nghệ thuật đặc sắc trong cách sử dụng câu lục ngôn,làm cho bài thơ chặt chẽ
Trang 2111 bài có 2 câu lục ngôn liền kề (9, 35,36, 37, 47, 49, 52, 57, 58, 59, 60) chiếm 65%
6 bài có 2 câu lục ngôn tách rời (16, 21, 43, 45, 50, 56) chiếm 35%
Những cặp lục ngôn liền kề đều đối nhau (gần 100%) và vị trí câu đối rơi vào câu 5 và 6 Đó chính là quy luật cơ bản của hình thức đối trong thơ Đ-ờng (đối thanh, đối ý, niên luật)
Các cặp đối luôn có t-ơng ứng trong cách ngắt nhịp hô ứng về âm thanh tiết tấu:
(Bài 36 - Bảo kính cảnh giới - Nguyễn Trãi)
Về cách ngắt nhịp: trong câu lục ngôn Nguyễn Trãi sử dụng cách ngắt nhịp phong phú, đa dạng: có sự cân đối nhịp nhàng của ca dao, tục ngữ (3/3), có nhịp chẵn (4/2; 2/2/2), có cả cách ngắt nhịp là th-ờng Nh-ng qua khảo sát chủ yếu là nhịp 3/3: có tới 42/81 câu nhịp 3/3 chiếm 52%
Cách ngắt nhịp ấy tạo nên sự cân đối hài hoà cho câu thơ, bài thơ:
(Bài 58 - Bảo kính cảnh giới - Nguyễn Trãi)
Ta bắt gặp rất nhiều cách ngắt nhịp này trong "Bảo kính cảnh giới" cùng với
việc đối nhau về âm thành và tiết tấu Từ đó tạo nên vần thơ mang d- âm phong
vị riêng trong thơ Quốc âm của Nguyễn Trãi Nó vừa mang thi vị của cổ điển, văn học dân gian vừa là sự sáng tạo độc đáo mà đến nay vẫn còn giá trị
Bên cạnh cách ngắt nhịp đối thanh, Nguyễn Trãi sử dụng số câu lục ngôn trong bài cũng đa dạng Có khi một bài thơ chỉ có 1 câu lục ngôn, nh-ng có khi một bài thơ có tới 4 câu lục ngôn Vậy thử hỏi khi sử dụng 4 câu lục ngôn trong bài có gì khác biệt không?
Theo chúng tôi, sẽ có sự mới mẻ về nội dung cũng nh- nghệ thuật Bài thơ
ấy sẽ cô đọng hơn, có sự sáng tạo nhiều hơn và phù hợp nội dung tác giả muốn phản ánh
Trang 22Dầu ngặt ta vui đạo ta,
Trong dòng phẳng có phong ba
(Bài 41 - Bảo kính cảnh giới - Nguyễn Trãi)
Đọc bài thơ, ta cảm giác nh- tác giả soi chiếu tài năng của mình về ngôn ngữ thơ ở trong đó Đặc biệt giúp bản thân hiểu đ-ợc những cảm nhận ở đời của con ng-ời từng trải, từng làm quan, ở ẩn Quan niệm, lời tâm sự ấy đúng với thời Nguyễn Trãi và đến ngày nay vẫn có giá trị Vì trong cuộc đời con ng-ời không
ai có thể đi theo đ-ờng thẳng mà đôi lúc có khó khăn, sóng gió Chính ta bằng lòng cuộc sống của ta mới thấy niềm vui, hạnh phúc
Nh- vậy Nguyễn Trãi là ng-ời tiền phong trong việc sử dụng thành công
thể thơ" thất ngôn chen lục ngôn" Câu lục ngôn mà tác giả dùng trong " Bảo kính cảnh giới" ở nhiều bài, nhiều vị trí khác nhau và cách ngắt nhịp không
giống nhau Tuy nhiên, nó có nét khu biệt khi nghiên cứu Bên cạnh đó câu lục ngôn mà Nguyễn Trãi dùng có ảnh h-ởng từ kho tàng văn học dân gian
1.3.2 Khảo sát, thống kê, phân loại câu lục ngôn trong 61 bài thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm
Qua khảo sát 61 bài thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm :
Có 44 bài sử dụng câu lục ngôn chiếm 72%
Trong số 61 bài có 1 bài 6 câu nh-ng có tới 4 câu lục ngôn Đây vừa là nét khác biệt vừa là sáng tạo của Nguyễn Bỉnh Khiêm
Trang 23Cũng nh- Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng sử dụng số l-ợng câu lục ngôn từ 1 đến 4 câu Trong 44 bài có câu lục ngôn:
13 bài có 1 câu lục ngôn chiếm 27% (gồm cácc bài:1, 2, 4,7, 9, 14, 16, 25,
32, 33, 45, 46, 49)
21 bài có 2 câu lục ngôn chiếm 48% (gồm các bài:3, 7, 10, 12, 13, 19, 20,
22, 26, 27, 36, 38, 43, 50, 52, 53, 56, 59, 61, 30)
7 bài có 3 câu lục ngôn chiếm 16% (gồm các bài:17, 24, 31, 54, 55, 47)
4 bài có 4 câu lục ngôn chiếm 9% (gồm các bài:18, 21, 28, 34)
Bài có 1 câu lục ngôn:
Lần thần ngày qua tháng qua
(Bài 1: Nguyễn Bỉnh Khiêm)
Bài có 2 câu lục ngôn:
Tuy nhiên vị trí các câu lục ngôn trong bài không giống nhau:
ở vị trí đầu bài thơ có 17 câu chiếm 19%
ở vị trí giữa bài thơ có 67 câu chiếm 74%
ở vị trí cuối bài thơ có 7 câu chiếm 7%
Khác với Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm sử dụng câu lục ngôn ở vị trí
đầu chiếm -u thế điều đó chứng tỏ có dụng ý nghệ thuật của tác giả
Vì thế trong cuốn (Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm , Nxb Hà Nội 1983) có nói:
"Thơ Hàn luật gồm có 8 câu hoặc 4 câu mỗi câu 7 chữ Thơ Hàn luật pha lục ngôn lại xen vào những câu 6 chữ ở bất cứ vị trí nào Vì vậy trong việc vận dụng nhịp điều của tác giả đ-ợc tự do phóng khoáng hơn là chỉ theo đúng thể cách của Hàn luật" [Trang 43]
Đối chiếu thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm và ý kiến trên ta tìm thấy chỗ đúng đắn:
Tỷ lệ sử dụng câu lục ngôn Nguyễn Bỉnh Khiêm khá lớn
Số câu tăng dần từ 1 đến 4
Trang 24Mỗi loại bài thất ngôn pha lục ngôn có cách kết hợp khác nhau
Tuy nhiên nếu đi sâu vào câu lục ngôn ta dễ phát hiện ra điểm chung nhất của chúng:
Trong 12 bài có 1 câu lục ngôn thì :
7 bài là câu lục ngôn ở dòng thứ nhất
4 câu ở dòng thứ 7
1 câu ở dòng cuối cùng
21 bài có 2 câu lục ngôn: có thể 2 câu liền kề, có thể 2 câu tách rời nhau, có
18 cặp câu lục ngôn liền kề
Hầu nh- các cặp lục ngôn liền kề đều đối nhau, vị trí chủ yếu ở câu 3 và 4:
Từ nghệ thuật đối ở câu lục ngôn tạo đ-ợc cách ngắt nhịp cân xứng Nhịp
điệu trong câu lục ngôn Nguyễn Bỉnh Khiêm phong phú đa dạng:
Có cách ngắt nhịp lạ 1/5:
Có cách ngắt nhịp chẵn: 2/2/2; 4/2; 2/4
Nh-ng chủ yếu là cách ngắt nhịp 3/3 Qua khảo sát thống kê có 62/91 câu lục ngôn ngắt nhịp 3/3 chiếm 68%
Nhịp trong câu thơ đã tạo ra cái hay cái đẹp cảm nhận tinh tế của nhà thơ Thiết nghĩ rằng Nguyễn Bỉnh Khiêm sử dụng câu lục ngôn, có sự tiếp thu văn học dân gian và Nguyễn Trãi Những câu lục ngôn Nguyễn Bỉnh Khiêm mang
âm h-ởng màu sắc dân gian
Trang 25VD: Ai hỏi làm chi vui nữa,
Khi sáng tác 2 câu thơ này Nguyễn Bỉnh Khiêm đã sử dụng ý câu tục ngữ:
Rõ ràng Nguyễn Bỉnh Khiêm sử dụng chất liệu văn học dân gian trong việc sáng tạo câu lục ngôn Đến l-ợt văn học dân gian thầm cảm ơn Nguyễn Bỉnh Khiêm làm cho mình phong phú hơn, đa dạng hơn
Nguyễn Bỉnh Khiêm sử dụng câu lục ngôn trong sáng tác thơ Nôm linh hoạt, hết sức chắt lọc, sáng tạo Nó thể hiện tâm t- tình cảm của nhà thơ đồng thời tạo sự phá cách trong nghệ thuật sử dụng Tất cả hoà quyện vào nhau tạo nên âm h-ởng phong vị thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm.Ông xứng đáng là cây rợp bóng cho thơ Nôm Việt Nam
Trang 26Ch-ơng II Những điểm t-ơng đồng về việc sử dụng câu lục ngôn trong thơ Nôm nguyễn Trãi và nguyễn bỉnh khiêm
Sau khi khảo sát "Bảo kính cảnh giới" (Nguyễn Trãi) và 61 bài thơ Nôm
(Nguyễn Bỉnh Khiêm ) Chúng tôi rút ra điểm t-ơng đồng trong việc sử dụng thể thơ thất ngôn chen lục ngôn ở thơ Nôm của hai tác giả.Sự t-ơng đồng thể hiện trên hai ph-ơng diện chính: nội dung và hình thức
2.1 T-ơng đồng về hình thức
Nói tới hình thức sử dụng câu lục ngôn tức là nói cách sử dụng, vận dụng nh- thế nào trong bài thơ ? Đó là về số l-ợng câu dùng trong bài ,tỷ lệ, vần, nhịp
điệu Giống nhau về hình thức sẽ dẫn đến giống nhau về nội dung Sự giống nhau
ấy thể hiện ở các ph-ơng diện sau:
2.1.1 T-ơng đồng về số l-ợng bài, tỷ lệ và vị trí câu lục ngôn
Theo khảo sát ngẫu nhiên 61 bài "Bảo kính cảnh giới"( Nguyễn Trãi) và 61
bài thơ Nôm(Nguyễn Bỉnh Khiêm ) thì số l-ợng tỷ lệ câu lục ngôn ở hai tác giả
có nét t-ơng đồng Họ đã đ-a vào câu lục ngôn ở số bài nhiều tỷ lệ khá cao Nguyễn Trãi 43/61 bài sử dụng câu lục ngôn chiếm 71%
Nguyễn Bỉnh Khiêm 44/61 bài có sử dụng câu lục ngôn chiếm 72%
Có thể nói sự t-ơng đồng gần nh- trùng lặp chỉ hơn kém 1% Đây là điều hiếm thấy khi so sánh 2 tác giả và tạo cơ sở để chúng ta phát hiện ra điểm t-ơng
đồng xung quanh nó Dù là khảo sát ngẫu nhiên, không lựa chọn nh-ng có cự trùng lặp nh- vậy là điều lạ, điều tốt giúp chúng tôi thực hiện tốt đề tài này Phải chăng phải có điều gì đó khiến cho hai tác giả gần gũi nh- vậy Điều đầu tiên đó
là sự đam mê văn ch-ơng, có ý thức về nghề văn, hai tác giả luôn có sự sáng tạo
Trang 27độc đáo Đ-a câu lục ngôn chen lẫn vào câu thất ngôn không phải để chơi cho hay mà có sự sáng tạo và dụng ý nghệ thuật Tại sao không để luôn là câu thất ngôn nh- nh-ng bài thơ khác mà phải đ-a vào câu lục ngôn ? Đó là cả một vấn
đề chọn lựa của tác giả để thể hiện thành công bài thơ giúp bạn đọc tìm đến cái mới lạ trong văn ch-ơng
Do vậy, Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm đều sử dụng câu lục ngôn ở các vị trí khác nhau Có câu lục ngôn ở đầu, có câu lục ngôn ở giữa bài thơ (từ câu 2-7) và cuối bài
ở vị trí đầu bài thơ (câu 1):
Nguyễn Trãi 11/81 câu chiếm 14%
Nguyễn Bỉnh Khiêm 17/91 câu chiếm 19%
Dùng câu lục ngôn mở đầu bài thơ tác giả nêu triết lý khái quát ngay đầu , tạo sự mới mẻ, gây chú ý tìm tòi cho ng-ời đọc
Nguyễn Trãi nêu triết lý ngay từ đầu bài thơ:
(Bài 26 - Bảo kính cảnh giới - Nguyễn Trãi)
Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng có những bài thơ sử dụng câu lục ngôn ở vị trí số 1:
Trang 28Trong nơi ẩn dật mấy nên mầu
ở vị trí giữa bài thơ (câu 2 - câu 7) của Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm
đều có câu lục ngôn:
Nguyễn Trãi có 59/81 câu chiếm 72%
Nguyễn Bỉnh Khiêm có 67/91 câu chiếm 74%
Đây là những vị trí làm cho bài thơ trở nên cân đối hài hoà
(Bảo kính cảnh giới số3 - Nguyễn Trãi)
Giống nh- Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm đ-a câu lục ngôn vào giữa bài thơ:
Ngày tiêu soái nhàn vô sự,
(Bài 22- Thơ Nôm - Nguyễn Bỉnh Khiêm)
Trang 29Ngoài ở vị trí số 2 nh- ví dụ trên Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm còn dùng câu lục ngôn ở câu 4, 5, 6, 7 Các vị trí này đều đ-ợc nhà thơ sử dụng thành công và khéo léo Câu lục ngôn ở vị trí số 3 trong bài 27 Bảo kính cảnh giới - Nguyễn Trãi, bài 29 - Nguyễn Bỉnh Khiêm
ở vị trí số 4: Bài 41 Nguyễn Trãi, bài 36 Nguyễn Bỉnh Khiêm
ở vị trí số 5,6: Bài 40 - Nguyễn Trãi, bài 55 - Nguyễn Bỉnh Khiêm
ở vị trí số 7: Bài 38- Nguyễn Trãi, bài 47- Nguyễn Bỉnh Khiêm
Nhờ việc đặt câu lục ngôn ở giữa bài thơ mà hai tác giả đ-a đến ng-ời cho ngơừi đọc sự hiểu biết tỉ mỉ, rõ ràng, cân đối
Từ việc đ-a câu lục ngôn vào giữa bài thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm gặp nhau khi có những cặp câu lục ngôn liền kề
Nguyễn Trãi có tới 15 cặp câu lục ngôn liền kề
Nguyễn Bỉnh Khiêm có 23 cặp câu lục ngôn liền kề
Các cặp lục ngôn liền kề chủ yếu ở câu 3,4 và câu 5, 6
Bài 37-Bảo kính cảnh giới của Nguyễn Trãi có cặp lục ngôn ở vị trí 3,4:
Trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng vậy:
Bài 36 thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm có 2 câu lục ngôn ở vị trí 3, 4:
Trang 30Lạnh đà quen nệm ổ rơm
Câu 3, 4 đ-ợc hai tác giả dùng trên đây đối nhau và hầu nh- ở các bài khác cũng đối nhau T-ơng tự cặp lục ngôn ở câu 5, 6 cũng liền kề và đối nhau
VD: Bài 10 -Nguyễn Bỉnh Khiêm, bài 9- Bảo kính cảnh giới - Nguyễn Trãi
Đây là điều quan trọng đặc biệt tạo sự phá cách trong việc sử dụng thơ Nôm của hai tác giả Đối lập của những câu liền kề chắc chắn có dụng ý nghệ thuật tạo sự cân đối hài hoà Đồng thời việc đối không làm ảnh h-ởng đến phá luật ở câu 7 chữ liền kề mà vẫn đảm bảo luật thơ
Câu lục ngôn ở vị trí cuối bài thơ có mặt ở thơ của hai tác giả:
Nguyễn Trãi có 11/81 câu chiếm 14%
Nguyễn Bỉnh Khiêm có 7/91 câu chiếm 7.%
Câu lục ngôn ở cuối bài nh- là sự tổng kết luật mọi triết lý rút ra ở cuộc đời
và qua việc thể hiện những câu thơ tr-ớc nó Nguyễn Trãi đ-a đến cho ng-ời đọc cảm nhận về cuộc đời, tấm lòng ng-ời thiên hạ qua thời gian năm tháng Nh-ng cuộc đời trần thế muôn sắc màu làm cho ta c-ời ra n-ớc mắt:
(Bài 11 - Bảo kính cảnh giới - Nguyễn Trãi)
Trang 31Cũng giống nh- Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm bằng nghệ thuật sáng tạo tài tình đã đ-a câu lục ngôn ở cuối bài một cách linh hoạt, có hiệu quả:
Nh- vậy, Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm sử dụng số l-ợng câu lục ngôn nhiều Đặc biệt cách đ-a câu lục ngôn vào trong bài đa dạng phong phú và linh hoạt Cả hai tác giả đều dùng nó ở đầu, giữa, cuối, làm bài thơ có nội dung phong phú, hình thức cân đối Từ đó ta tìm đ-ợc những điểm t-ơng đồng trong cách sử dụng câu lục ngôn trong thơ Nôm của hai tác giả
2.1.2 T-ơng đồng về số l-ợng câu lục ngôn trong bài thơ
Nh- ta đã biết, thơ Nôm Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm chủ yếu là bài
có 8 câu, mỗi câu 7 chữ Nh-ng bằng tài năng nghệ thuật của mình, Nguyễn Trãi
và Nguyễn Bỉnh Khiêm đã chen vào đó từ 1đến4 câu lục ngôn
Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm đều sử dụng một câu lục ngôn trong bài thơ:
Nguyễn Trãi có 17/61 bài dùng 1 câu lục ngôn
Nguyễn Bỉnh Khiêm có12/61 bài dùng 1 câu lục ngôn
Tiêu biểu bài 53 - Bảo kính cảnh giới - Nguyễn Trãi
Trang 32Bạn tác dễ duôi đà phải chịu,
Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng có khá nhiều bài chỉ có 1 câu lục ngôn:
Song nhật chớ rằng đã hồ,
Với cách sử dụng 1 câu lục ngôn trong bài thơ, tác giả khéo léo chen vào đó một câu lạ về số chữ, nhịp điệu, nh-ng vẫn đảm bảo sự thống nhất về nội dung Hai câu lục ngôn chen vào thơ Nôm Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm khá nhiều:
Nguyễn Trãi 17 bài có 2 câu lục ngôn
Nguyễn Bỉnh Khiêm 21 bài có 2 câu lục ngôn
Nguyễn Bỉnh Khiêm dùng 2 câu lục ngôn trong thơ Nôm một cách nhuần nhuyễn:
Trang 33Dửng d-ng mọi sự nay ngoài hết,
Tác giả suy nghĩ về đạo ở đời xuất xử và chữ "nhàn" Đó là tất cả những vấn
đề con ng-ời cần biết đến xử sự đúng mực
Nguyễn Trãi sử dụng 2 câu lục ngôn khá nhiều:
Không những thế Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm còn đ-a vào thơ Nôm của mình 3 câu lục ngôn
Nguyễn Trãi có 6 bài chứa 3 câu lục ngôn
Nguyễn Bỉnh Khiêm có 7 bài chứa 3 câu lục ngôn
Việc đ-a 3 câu lục ngôn chen 5 câu thất ngôn liệu bài thơ sẽ ra sao?
Nguyễn Trãi đã khéo léo tài tình đ-a vào bài thơ của mình 3 câu lục ngôn
Trang 34(Bài 39 - Bảo kính cảnh giới - Nguyễn Trãi) Nhờ 3 câu lục ngôn ấy Nguyễn Trãi đ-a vào bài thơ tên riêng, phong vị riêng dễ nhận thấy.Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng vậy:
Số l-ợng câu lục ngôn không chỉ là 1, 2, 3 mà Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm đã dùng tới 4 câu lục ngôn trong 1 bài thơ Nôm 8 câu Đây là đóng góp
to lớn của hai tác giả trong việc sáng tạo thơ Nôm cho n-ớc nhà Khi một bài thơ
có 4 câu lục ngôn sẽ tạo ra nét mới mẻ cả nội dung và nghệ thuật
Nguyễn Trãi: 3 bài có 4 câu lục ngôn chiếm 7%
4 bài có 4 câu lục ngôn chiếm 9%
Đọc "Bảo kính cảnh giới" số 40 -Nguyễn Trãi, ta cảm nhận nét mới lạ khi
đ-a 4 câu lục ngôn vào bài thơ:
Trang 35Chỉ trong một bài thơ tác giả rút ra nhiều kinh nghiệm, kết luận ở đời, ở cuộc sống bon chen Đến Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng không ngần ngại khi đ-a ra một nửa số câu 6 chữ vào một bài thơ Đó là sự sáng tạo tài tình của tác giả mang nội dung triết lý sâu sắc
Nh- thế Nguyễn Trãi - Nguyễn Bỉnh Khiêm gặp nhau ở việc sử dụng từ 1-4 câu lục ngôn trong thơ Nôm của mình Tuy nhiên theo tôi dù là 1, 2, 3, 4 câu lục ngôn nh-ng nó là hệ quả của bài thất ngôn pha 1 câu và 2 câu lục ngôn Nói nh- thế bởi có lý của nó:
ở bài 18 - Nguyễn Bỉnh Khiêm có 2 đôi câu 6 chữ nằm trong phần thực và luận Đây là biểu hiện gấp đôi 2 câu 6 chữ Còn ở bài 40- Nguyễn Trãi ,2 câu đối
ở phần luận, 2 câu tách biệt: 1 câu ở phần đề, 1 câu phần luận
Trở lại bài có 1 câu lục ngôn thì cả Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm không dùng ở vị trí 4 câu giữa Bởi lẽ ở phần thực, phần luận chủ yếu là tỷ lệ đối nên không thể tồn tại 1 câu 6 chữ nằm riêng biệt
2.1.3 T-ơng đồng về cách ngắt nhịp và chất liệu văn học dân gian
Khi sử dụng câu lục ngôn ngoài điểm giống nhau về số l-ợng, vị trí, tỷ lệ Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm còn gặp nhau ở việc ngắt nhịp theo nhiều cách, đa dạng phong phú Bao gồm: cách ngắt nhịp lạ 1/5; 5/1; cách ngắt nhịp thông th-ờng 2/2/2; 4/2; 2/4; 3/3.Trong đó cách ngắt nhịp 3/3 là chủ yếu