Đông Nam á là khu vực nằm giữa 2 trung tâm văn minh lớn của nhân loại trong thời kỳ cổ đại - Đó là trung tâm văn minh ấn Độ và trung tâm văn minh Trung Quốc.. Chính vì vậy, trong quá trì
Trang 1Tr-ờng đại học Vinh
khoa lịch sử -@
Trang 2Vinh - 5 / 2006
Lời cảm ơn
Để hoàn thành khoá luận tót nghiệp này, tôi xin trân trọng cảm ơn Th.S - GVC Bùi Văn Hào – Ng-ời đã trực tiếp h-ớng dẫn tôi một cách tận tình, chu đáo
kể từ khi tôi nhận đề tài cho đến lúc hoàn thành
Tôi trân trọng cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa Lịch sử, Tổ lịch sử thế giới – Tr-ờng Đại học Vinh đã tạo điều kiện và thời gian giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài này
Qua đây tôi xin cảm ơn tới các bạn sinh viên cùng lớp và các bạn bè giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình nghiên cứu đề tài Xin chân thành cảm ơn các cán bộ ở th- viện: Th- viện Tr-ờng Đại học Vinh, Tr-ờng Đại học khoa học xã hội & nhân vân, Trung tâm nghiên cứu Trung Quốc, …
Tuy nhiên, do hạn chế về nguồn tài liệu và khả năng nghiên cứu của bản thân nên khoá luận này không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong sự chỉ dẫn và góp ý xây dựng của quý Thầy Cô, bạn bè để khoá luận hoàn chỉnh hơn
Vinh - 5/2006
Sinh viên: Ngô Tất Thành
Trang 31.1 Vài nét khái quát lịch sử ấn Độ và nguồn gốc văn hoá - Văn minh ấn Độ cổ
đại
4
1.1.2 Nguồn gốc văn hoá - văn minh ấn Độ cổ đại 6 1.2 Một số thành tựu chủ yếu của văn hoá ấn Độ cổ đại 8
Ch-ơng 2: Khái quát những thành tựu chủ yếu của văn hoá Trung Quốc cổ đại 19
2.1 Vài nét khái quát lịch sử và nguồn gốc văn hoá - văn minh Trung Quốc cổ đại 19 2.1.1 Vài nét khái quát lịch sử Trung Quốc cổ đại 19 2.1.2 Nguồn gốc của văn hoá - văn minh Trung Quốc 29 2.2 Một số thành tựu chủ yếu của văn hoá - văn minh Trung quốc cổ đại 31
Trang 43.1.1 Khái quát vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên của khu vực Đông Nam á 44
3.2 ảnh h-ởng của văn hoá ấn Độ đối với Đông Nam á 49 3.2.1 Quá trình lan toả và thâm nhập của văn hoá ấn Độ đến khu vực Đông Nam á 49 3.2.2 Nội dung ảnh h-ởng của văn hoá ấn Độ ở Đông Nam á 53 3.2.3 Một số nhận xét chung về ảnh h-ởng của văn hoá ấn Độ đối với Đông Nam á 65 3.3 ảnh h-ởng của văn hoá ấn Độ đối với văn hoá Đông Nam á 66 3.3.1 Nội dung ảnh h-ởng của văn hoá Trung Quốc đối với Đông Nam á 66 3.3.2 Một số nhận xét chung về ảnh h-ởng của văn hoá Trung Quốc đối với Đông
Trang 5A Dẫn luận
1 Lý do chọn đề tài
Đông Nam á là khu vực nằm giữa 2 trung tâm văn minh lớn của nhân loại trong thời kỳ cổ đại - Đó là trung tâm văn minh ấn Độ và trung tâm văn minh Trung Quốc Chính vì vậy, trong quá trình hình thành và phát triển Nhà n-ớc cũng nh- trong quá trình định hình bản sắc văn hoá của các dân tộc ở
Đông Nam á, các quốc gia ở khu vực này hoặc tiếp thu chịu ảnh h-ởng của trung tâm này hoặc tiếp thu chịu ảnh h-ởng cuả trung tâm văn minh khác, có những quốc gia chịu ảnh h-ởng của cả hai nền văn minh ấy
Văn minh ấn Độ đ-ợc hình thành và phát triển trên l-u vực của hai dòng sông lớn: Sông ấn (Indus) và Sông Hằng (Ganga)
Đó là sự xuất hiện từ rất sớm cuả nền văn minh Sông ấn của ng-ời bản
địa Đravida Tiếp sau đó là sự ra đời và phát triển rực rỡ của nền văn minh Sông Hằng mà chủ nhân của nó là ng-ời Aria
Văn minh ấn Độ đ-ợc coi là một trong những trung tâm văn minh lớn,
đã có nhiều đóng góp vào kho tàng văn hoá và văn minh nhân loại Văn minh
ấn Độ đã đạt đ-ợc nhiều thành tựu trên tất cả các lĩnh vực nh- chữ viết, văn học, khoa học, nghệ thuật, đặc biệt là tôn giáo và triết học
Văn minh Trung Quốc đ-ợc hình thành và phát triển trên l-u vực của 2 con sông lớn: Sông Hoàng Hà (dài 4.000 km) ở phía bắc và Sông Tr-ờng Giang (còn gọi là Sông D-ơng Tử dài 5.000 km) ở phía nam
Cùng nh- ấn Độ, văn minh Trung Quốc đ-ợc coi là một trong những trung tâm văn minh lớn, đã có nhiều đóng góp vào kho tàng văn hoá và văn minh nhân loại Văn minh Trung Quốc đã đạt đ-ợc nhiều thành tựu trên tất cả các lĩnh vực nh- chữ viết, văn học, sử học, khoa học, đặc biệt là trên lĩnh vực t- t-ởng
Trang 6Nói về ý nghĩa khoa học, việc tìm hiểu những thành tựu chủ yếu của 2 nền văn minh ấn Độ và Trung Quốc cổ đại cũng nh- ảnh h-ởng của nó đối với văn hoá Đông Nam á là vấn đề có ý nghĩa sâu sắc, giúp cho chúng ta có nhận thức đầy đủ và chính xác về quá trình định hình bản sắc văn hoá của mỗi dân tộc cũng nh- những nét chung về văn hoá của các quốc gia Đông Nam á
Cùng thông qua việc tìm hiểu này cho phép chúng ta rút ra những bài học bổ ích cho thực tiễn hôm nay, nhất là khi Việt Nam đang trên con đ-ờng hội nhập khu vực cũng nh- hội nhập Quốc tế
2 Lịch sử vấn đề :
Liên quan đến nội dung của đề tài, từ tr-ớc tới nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài n-ớc, vì còn hạn chế về khả năng ngoại ngữ cho nên chúng tôi ch-a có điều điều kiện để tiếp cận với các công trình nghiên cứu bằng tiếng n-ớc ngoài Thông qua một số công trình nghiên cứu đã đ-ợc dịch thuật và của các tác giả Việt Nam, chúng tôi tập trung giải quyết những nội dung mà đề tài đặt ra
- Trong cuốn Một số chuyên đề lịch sử thế giới do tác giả Vũ D-ơng
Ninh (chủ biên), NXB Đại học quốc gia Hà Nội 2002 Đã đề cập đến vị trí địa
lý, điều kiện tự nhiên, nguồn gốc của văn minh ấn Độ, văn minh Trung Quốc
cổ đại và văn hoá khu vực Đông Nam á
- Trong cuốn Đại c-ơng lịch sử văn hoá Trung Quốc, của NXB Văn hoá
Thông tin đã đánh giá và nêu lên mối quan hệ giao l-u văn hoá Trung Quốc
đối với thế giới nói chung và văn hoá Đông Nam á nói riêng
- Trong cuốn Lịch sử trung đại thế giới, quyển 2: Phần Ph-ơng Đông,
NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội 1984 Đã có đề cập đến quá trình hình thành, phát triển của các quốc gia Đông Nam á
Ngoài ra, vấn đề này còn đ-ợc đề cập trong một số bài viết đăng trên các tạp chí, báo, và một số luận văn sau Đại học, luận văn tốt nghiệp…
Từ những t- liệu nêu trên, chúng tôi chọn đề tài “Những th¯nh tựu chủ
yếu của văn ấn Độ, văn hoá Trung Quốc cổ đại và ảnh h-ởng của nó đối với
Trang 7văn hoá Đông Nam á” làm khoá luận tốt nghiệp mong đ-ợc đóng góp một
phần nào nào đó để hiểu rõ, hiểu sâu về lịch sử ấn Độ, Trung Quốc và Đông Nam á, phục vụ tốt cho công việc nghiên cứu và giảng dạy về lịch sử các khu vực này
3 Đối t-ợng, phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Khi nghiên cữu đề t¯i “những thành tựu chủ yếu của văn hoá ấn Độ,
văn hoá Trung Quốc cổ đại và ảnh h-ởng của nó đối với văn hoá Đông Nam
á” l¯ một vấn đề khó v¯ phữc t³p nó đòi hài ph°i có trình độ v¯ thời gian Bởi vì tài liệu ít và còn rất rải rác cho nên rất khó cho việc xử lý tài liệu Hơn nữa
do thời gian ít và trình độ còn hạn chế, chúng tôi cố gắng làm rõ những vấn đề sau:
Về nội dung: Nghiên cứu những thành tựu chủ yếu của văn hoá ấn Độ, văn hoá Trung Quốc cổ đại và ảnh h-ởng của nó đối với khu vực Đông Nam
á
Về mặt thời gian: Nghiên cứu trong thời kỳ cổ đại
4 Ph-ơng pháp nghiên cứu:
Với đặc tr-ng của khoá học lịch sử, để giải quyết những nội dung đề tài
đặt ra, chúng tôi chủ yếu sử dụng 2 ph-ơng pháp: Ph-ơng pháp lô gích và ph-ơng pháp lịch sử
Ngoài ra, trong quá trình xử lý t- liệu, chúng tôi còn kết hợp sử dụng một số ph-ơng pháp khác nh-: So sánh, thống kê, tổng hợp, phân tích…
5 Bố cục của đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung khoá luận
Trang 8Ch-ơng 3 ảnh h-ởng của văn hoá ấn Độ và Trung Quốc cổ đại
đối với Đông Nam á
B Nội dung
Ch-ơng1 Khái quát những thành tựu chủ yếu
của văn hoá ấn độ cổ đại
-
1.1: Vài nét khái quát lịch sử ấn Độ và nguồn gốc văn hoá -
văn minh ấn Độ cổ đai
1.1.1: Vài nét khái quát lịch sử ấn Độ cổ đại
ấn Độ cổ đại hình thành và phát triển trên bán đảo Hindustan (tiểu lục
địa), Tây, Đông, Nam đều giáp biển phía Bắc gắn với cổ đại, bởi dãy Hymalays Bây giờ bán đảo ấy là lãnh thổ của 5 quốc gia ấn Độ, Pakisan, Butan, Nepan, Bangladet
- Về điều kiện tự nhiên: Bán đảo này đ-ợc chia làm 3 vùng
+ Vùng phía bắc là dãy núi cao Hymalaya quanh năm tuyết phủ (là nơi c- trú của các vị thần)
+ Vùng tây bắc là và đông bắc ấn Độ Tây bắc là l-u vực sông Indus (còn đ-ợc gọi là vùng 5 sông tiếng ấn gọi là Pungiap Đây cũng chính là nơi phát sinh ra nền văn minh tố cổ - đó là nền văn minh Sông Ngân
Đông bắc là vùng l-u vực sông hằng (gọi là Ganga theo tiếng ấn Độ nghĩa là dòng sông thiêng Đây cũng chính là nơi phát sinh ra một nền văn minh cổ – nền văn minh sông Hằng Gọi là thời kỳ Veda Đây cũng chính là khu vực địa lý vô cùng quan trọng nhất trong sự hình thành và phát triển của văn minh ấn Độ
+ Vùng phía Nam chủ yếu là Cao Nguyên Đecan Đây là cao nguyên rộng vào loại rộng lớn nhất thế giới ở khu vực này chỉ có 2 dãi hẹp nằm sát
Trang 9biển phía đông và phía tây có điều kiện t-ơng đối thuận lợi cho phát triển kinh
tế nông nghiệp chính vì vậy l-ợng dân c- cũng t-ơng đối đông đúc đã góp phần ít nhiều làm cho văn minh ấn độ phong phú đa dạng hơn
- Về dân c-:
C- dân bản địa của văn minh ấn Độ cổ đại là ng-ời Dravida họ chính là chủ nhân của nền văn minh sông ngân muộn hơn một ít là ng-ời Arian từ trung á đã tràn vào và định c- tại l-u vực sông hằng họ chính là chủ nhân của văn minh sông hằng
Sau đó cùng với quá trình phát triển của lịch sử, ở ấn Độ còn có sự góp mặt của nhiều tập ng-ời khác: Ng-ời Arap, Hylap, Hungno … giữa các tộc ng-ời này dần dần có sự hỗn chủng lại với nhau, từ đó hình thành nên một thành phần dân c- hết sức đa dạng, phức tạp đây là một yếu tố làm cho văn minh ấn Độ đa xắc diện
- Về quá trình lịch sử
+ Thời kỳ văn minh sông ấn: Văn minh Harapha – Mohendodaro Tr-ớc đây hầu nh- các nhà nghiên cứu đều không nghĩ tới có sự tồn tại của một nền văn minh tối cổ trên l-u vực sông ấn Nh-ng kết quả của các cuộc khai quật khảo cổ 1921 với việc phát hiện ra văn minh Harapha – Modendodaro thì các cứ liệu về văn minh tối cổ t-ơng đối rõ ràng
Theo các nhà nghiên cứu, nền văn minh này tồn tại từ khoảng thiên niên thế kỷ thứ III đến giữa thiên niên kỷ thứ II tr-ớc công nguyên, chủ nhân là ng-ời bản địa Dravida Các phát triển khảo cố học cho thấy trình độ kinh tế xã hội t-ơng đối phát triển Đặc biệt thời kỳ này đã sáng tạo ra chữ viết Duy chỉ
có một vấn đề cho đến nay vẫn ch-a đ-ợc làm sáng rõ là tại sao nền văn minh này phát triển rực rỡ nh- vậy, nh-ng nhanh chóng lùi tan ?
Có ng-ời cho rằng do bão lụt
Do chính ng-ời Arian thủ tiêu (ý kiến này ít đ-ợc ủng hộ)
+ Thời kỳ văn minh sông hằng (thời kỳ Veda)
Trang 10Từ đầu thiên niên kỷ II tr-ớc công nguyên đến giữa thiên niên kỷ I tr-ớc công nguyên Chủ nhân của nền văn minh này là ng-ời Arian (ng-ời cao quý) đây là thời kỳ ở ấn Độ xuất hiện 2 vấn đề quan trọng có tác động rất to lớn đối với sự hình thành và phát triển của văn minh ấn Độ Đó là sự ra đời của các công xã nông thôn và sự ra đời của chế độ đẳng cấp
1.1.2: Nguồn gốc văn hoá - văn minh ấn Độ cổ đại
- Về kinh tế:
Nền kinh tế chủ đạo của ấn Độ cổ đại là nền kinh tế nông nghiệp trồng lúa n-ớc Tham gia vào hoạt động kinh tế này chiếm 90% dân số, họ chính là nông dân Cũng giống nh- các quốc gia ph-ơng đông khác, kinh tế nông nghiệp của ấn Độ mang tính chất tự cấp tự túc và phụ thuộc rất lớn vào thiên nhiên Chính vì vậy những ng-ời nông dân ấn Độ luôn mong muốn có những
vị thần bảo hộ cho việc làm ăn của mình Đó cũng là cơ sở để lý giải vì sao ở
ấn Độ xuất hiện rất nhiều vị thần và các vị thần đã trở thành biểu t-ợng trung tâm cho nhiều lĩnh vực văn hoá, văn minh
- Về chính trị “ xã hội
Trang 11Xét về mặt chính trị, cũng giống nh- các quốc gia ph-ơng đông khác, ở
ấn Độ duy trì và phát triển chế độ chuyên chế trung -ơng tập quyền (thời kỳ
đầu của vua ấn Độ đ-ợc đ-ợc gọi là Gaia Sau này v-ơng quyền kết hợp với thần quyền nên vua đ-ợc coi nh- một vị thần) Nh-ng khác với các quốc gia khác là ở chổ lịch sử ấn Độ gắn liền với sự thống trị của các v-ơng triều ngoại tộc Và chính điều đó đã có tác động rất lớn đối với quá trình hình thành phát triển của văn minh ấn độ
- Về mặt xã hội
Có hai yếu tố lớn tác động đến xã hội ấn Độ là công xã nông thôn và chế độ đẳng cấp
Công xã nông thôn: Ra đời rất sớm tồn tại dai dẳng
Sự xuất hiện sớm của công xã nông thôn có ý nghĩa tích cực, bởi vì nó làm cơ sở vững chắc cho Nhà n-ớc chuyên chế trung -ơng tập quyền Nó tạo nên sức mạnh đồng bộ cho cuộc đấu tranh chống thiên nhiên, cải thiện sản xuất Nh-ng sự tồn tại dai dẳng cùng với những quy định có tinh chất bảo thủ của các công xã nông thôn lại cản trở đối với việc phát triển sản xuất cũng nh-
đối với sự phát triển của văn hoá
Chế độ đẳng cấp:
Xuất hiện trong thời Veda, có thể nói ấn Độ là một trong những nơi có chế độ phân biệt đẳng cấp ngặt ngẹo nhất trên thế giới Đây cũng là một trong những yếu tố có tác động rất lớn đến sự hình thành và phát triển của văn minh
ấn Độ Chế độ đẳng cấp Vacna (chủng tính Vacna) đ-ợc một tôn giáo cổ là
đạo Balamon và một bộ luật cổ là Manu
Theo chế độ đẳng cấp Vacna xã hội đ-ợc phân làm 4 đẳng cấp
Đẳng cấp Balamon (tăng lừ) đ-ợc h-ởng nhiều đặc quyền đặc lợi là
đẳng cấp có chức năng cai trị, nhiệm vụ chính là lo về mặt tinh thần
Đẳng cấp Kstoria (quý tộc võ sỹ) đây là đẳng cấp đ-ợc h-ởng khá nhiều
đặc quyền đặc lợi và chính năng chính của nó là năm bộ máy lãnh đạo Nhà n-ớc Mặc dù là đẳng cấp có vai trò và vị trí rất quan trọng trong hệ thống v-ơng quyền nh-ng trong thực tế vẫn bị phân biệt so với đẳng cấp trên
Trang 12Đẳng cấp Vaisia (bình dân) đây là đẳng cấp đông đảo nhất trong xã hội
đóng vai trò chính trong việc sản xuất ra của cải vật chất nuôi sống xã hội, nh-ng họ vẫn là đẳng cấp bị trị
Đẳng cấp Sudra (nô lệ) họ có thân phận nh- là những ng-ời nô lệ
Đặc biệt chế độ đẳng cấp này còn quy định về sự phân biệt chủng tộc:
Ba đẳng cấp trên là ng-ời Arian, có quyền theo đạo Balamon, đẳng cấp bốn của ng-ời bản địa không có quyền theo đạo Balamon
Đồng thời nó còn kèm theo những quy định hết sức khắc khe: Đẳng cấp d-ới không đ-ợc kết hôn với đẳng cấp trên Chính sự ngặt ngèo của chế
độ đẳng cấp đã làm cho văn hoá văn minh ấn Độ có nhiều góc cạnh Và đây cũng chính là cơ sở để hình thành một nền văn minh đa diện với nhiều lĩnh vực đan xen nhau
- Gia đình:
Cũng giống nh- các quốc gia ph-ơng đông khác gia đình ở ấn Độ
đ-ợc coi là tế bào của xã hội, là cơ sở để xác lập trật tự xã hội Nh-ng khác với các quốc gia khác, trong cả một thời kỳ dài gia đình ở ấn Độ tồn tại chủ yếu là gia đình đông tộc, trong một gia đình cùng chung sống nhiều thế hệ việc chung sống trong một gia đình nhiều thế hệ tạo điều kiện cho việc l-u giữ những phong tục tập quán truyền thống, lối sống gia đình Đó chính là những yếu tố để l-u giữ, phát triển văn minh
Tuy nhiên, sự tồn tại lâu dài của gia đình đồng tộc cũng đồng nghĩa với việc l-u giữ những thói quen có tính chất bảo thủ lạc hậu đối với sự phát triển của văn minh
Gia đình của ấn Độ là một trong những yếu tố có vai trò và vị trí rất lớn trong quá trình hình thành và phát triển của văn minh ấn Độ
1.2: Một số thành tựu chủ yếu của văn hoá ấn Độ cổ đại Ng-ời ấn Độ cổ đại đã để lại nhiều thành tựu văn hoá rực rỡ Nổi bật nhất là những bộ kinh tôn giáo (kinh Vêđa, các bộ kinh của đạo Bàlamôn, của
Trang 13đạp Phật …) Những tác phẩm văn học chữ Phạn (Sanscrit), chữ số, đền tháp Phật giáo …
1.2.1: Chữ viết và Văn học
- Chữ viết:
Chữ cổ nhất của ấn Độ, khắc trên các con dấu đ-ợc phát hiện ở l-u vực sông ấn, đã có lịch sử từ hơn 2000 năm TCN Chữ này mất đi cùng với nền văn hoá sông ấn và không còn ai dùng, hoặc biết đọc chữ đó nữa
Dân bản địa cũng nh- các bộ lạc nói ngôn ngữ ấn - Âu đến, từ giữ thiên
So với chữ Sanxcrit, chữ Pali đơn giản hơn về âm tiết, biến cách, cú pháp và cả nét chữ
Chữ Pali đ-ợc dùng để viết kinh Phật, nh-ng cũng vì thế mà ít đ-ợc bổ sung từ ngữ, ít cải biến và kém phát triển so với Sanxcrit
Khaoxthi và Brami vẫn đ-ợc dùng mấy thế kỷ nữa, đặc biệt trong những tr-ờng hợp giao tiếp và giao dịch Asôca cho dựng nhiều cột đá để ghi chép
Trang 14các chiến công của mình, ở rải rác hầu khắp bán đảo ấn Độ Các cột này đ-ợc khắc bằng chữ viết thông dụng ở địa ph-ơng ở vùng Tây Bắc khắc chữ Kharoxthi, v-ợt qua dãy Hinđucuc còn khắc cả chữ Hi Lạp, nh-ng ở miền Bắc và miền Nam ấn khắc chữ Brami Rất nhiều con dấu và đồ trang sức đã
đ-ợc tìm thấy ở ấn Độ và n-ớc ngoài, khắc bằng chữ Brami Việc I.Prinsep giải mã đ-ợc chữ Brami (1837) đã giúp cho ng-ời thời đó đọc đ-ợc các cột Asôca và rất nhiều chữ khắc rời nói trên Tuy nhiên, chữ Kharoxthi và Brami không có cơ hội phát triển vì không phải là ngôn ngữ và văn tự bản địa ấn Độ
Vì thế còn lại chữ Sanxcrit và tiếng Sanxcrit trở thành tiếng thông dụng chính thức ở ấn Độ từ thứ kỷ VI TCN cho đến khoảng thế ký X, tr-ớc khi nó trở thành cầu nối chữ Sanxcrit với các ngôn ngữ tộc ng-ời hiện đại (Hindi, Bengali, Marathi, Panjabi…)
- Văn học:
Ng-ời ấn Độ cổ đại đã để lại hai bộ sử thi vĩ đại vừa có giá trị về văn học, vừa có giá trị về sử liệu (phản ảnh tình hình xã hội ở miền Bắc ấn Độ vào những thế kỷ đầu của Thiên niên kỷ I TCN), đó là bộ sử thi Mahabharata (Bharat vĩ đại) và Ramayana (những chién tích Rama)
Mahabrahata là một tr-ờng ca dài 110.000 khổ thơ, kể lại cuộc tranh chấp ngôi báu của hai dòng họ v-ơng tộc, dòng Kauravas và dòng Pandavas Pandavas là dòng chính đ-ợc kế ngôi, nh-ng dòng Kauravas là dòng thứ, dùng mọi m-u kế để tranh ngôi, đã dẫn đến một cuộc chiến tranh huynh đệ t-ơng tàn trong suốt 18 ngày đêm Cuối cùng bên Padavas đã thắng nh-ng chỉ còn sót mỗi Bhisma lên ngôi còn bên Kauravas bị giết hết, không còn một ai Tr-ờng ca này mang tên là Mahabharata (Bharat vĩ đại), vì đây là truyện trong nội bộ cða vương tộc Bharat Bharat l¯ vị “vua” đầu tiên cða bộ l³c Bharat, một trong những bộ lạc đầu tien của ng-ời Arya xâm nhập vào ấn Độ Cuộc tranh chấp giữa hai dòng ho Kauravas và Pandavas đều thuộc v-ơng tộc Bharat chứng tỏ xã hội đã phân hoá, chế độ t- hữu tài sản đã phát sinh và phát triển, t- t-ởng cá nhân chủ nghĩa đã dẫn đến sự tranh giành của cải, đất đai và
Trang 15quyền lực chính trị ngay trong nội bộ một v-ơng tộc Tr-ờng ca Mahabharata
là một bản anh hùng ca chiến trận của tyầng lớp Kshatriya, nh-ng, sự tích chiến trận chỉ chiếm 20% số câu, phần còn lại m-ợn lời của các nhân vật để nói về thiết chế đẳng cấp, về lễ nghi, luật phát, về những nguyên tắc đạo đức
… đặc biệt đ-ợc đ-a vào cả một tác phẩm tôn giáo Bhagavadgita dài trên 700 câu thơ mà các tín đồ đạo Hinđu sùng tín ngang với các kinh điển khác
Ramayana là một tr-ờng ca dài 24.000 khổ thơ (ch-a bằng 1/4 tr-ờng
ca Mahabharata), kể lại những chiến tích của hoàng tử Rama, n-ớc Koshana (vùng trung l-u sông Găng) Tại cuộc thi tài trong ngày hội kén chồng của công chúa Sita, Rama đã giành đ-ợc thắng lợi và c-ới Sita làm vợ Nh-ng
đ-ợc ít lâu sau thì vợ chồng Rama – Sita bị vua cha (vì nghe theo lời xúi bẩy của thứ phi) đẩy vào rừng sâu, chịu đựng biết bao khó khăn vất vả ở trong rụng, Sita bị “vua quỳ” Ravana bắt về đ°o Lanka (tữc đ°o Xâylan)) Rama l³i ph°i vượt qua biết bao gian nguy, nhờ sứ giũp sữc cða “vua khỉ” Hanuman sang tận sào Huyệt của lũ quỹ ở đảo Lanka, giành lại Siat, Rama chiến thắng trở về kinh đô lên ngôi vua Nh-ng hạnh phúc của vợ chồng Sita – Rama phải trải qua nhiều thử thách vì lòng ghen tuông của Rama Cuối cùng, Sita đã xin
Mẹ Đất trở về với luống cày là nơi nàng đã sinh ra Bộ sử thi Ramayana ra đời muộn hơn so với bộ Mahayana, vào thời gian mà các quốc gia của ng-ời Arya
đã đ-ợc xây dựng vững chắc ở vùng l-u vực sông Hằng (Găng) và đã bắt đầu diễn ra các cuộc xung đột với các bộ lạc sống bằng nghề săn bắn, hái l-ợm ở vùng Nam ấn mà tác gi° bộ Ramayana gọi l¯ “lủ quỷ Ravana ở đ°o Lanka”
Bên cạnh các bản anh hùng ca, còn có những tập truyện kể của tầng lớp tăng lữ, nh- tập Puranas của các tăng lữ Bàlamôn, gồm những truyện thần thoại hay hoang đ-ờng, những truyện ngụ ngôn, những truyện liên quan đến lễ nghi hay những quan niệm khác nhau của đạo Bàlamôn; tập Jatakas của tăng lữ Phật giáo viết d-ới hình thức văn xuôi, thỉnh thoảng xen vào những đoạn văn vần, bằng tiếng Pali, gồm những truyện kể về cuộc đời và những tiền kóêp của Phật tổ, cùng với những đức Phật và Bồ tát khác, thỉnh thoảng xen những bài thơ ngụ ngôn, th-ờng lấy truyện vật để răn ng-ời
Trang 16ở ấn Độ cổ đại còn thịnh hành những cuốn khảo luận về văn học, chính trị, kinh tế xã hội nh- cuốn văn phạm(Asthadhiyayi) của Panini (thế kỷ V TCN), chỉnh lý cách kết cấu của những từ ngữ và âm thanh của tiếng Sanscric (Phạm ngữ) làm hoàn thiện ngôn ngữ này; cuốn Dharmasastra (chính pháp luận), bàn về các lý thuyết của đạo lý, cùng những vấn đề có liên quan đến phong tục, tập quán và những vấn đề xã hội khác; cuốn Arthasastra (luận về thực lợi hay khoa học chính trị) của Hautilya (thế kỷ IV TCN) khảo về các
định chế chính trị, kinh tế, xã hội ở thơi vua Sanđra Gupta của v-ơng triều Môrya; cuốn Kamasastra (Khoái lạc luận) bàn về các khoái lạc nhục thể, trong đó có miêu tả lại cuộc sống ăn chơi trác táng trong triều đình …v.v…
Ngoài ra, luật pháp thành văn ở ấn Độ cổ đại cũng ra đời sớm, nh- những bản Pháp lệnh của vua Asôka (thế kỷ III TCN) đ-ợc khắc trên cột đá;
Bộ luật Manu xuất hiện từ thế kỷ II TCN, pháp điển Narada ở thế kỷ III, Brihaspati ở thế kỷ IV v.v.v
1.2.2: Tôn giáo
Khi ng-ời Arya (nói ngôn ngữ ấn - Âu) từ vùng Trung á xâm nhập vào miền Bắc ấn Độ, thì họ đã chuyển dần từ đời sống du mục của xã hội thị tộc sang đời sống định c- của xã hội công xã nông thôn Cuộc sống của ng-ời Arya thời kỳ này cùng với tín ng-ỡng, tôn giáo của họ đã đ-ợc phản ánh trong
bộ kinh Vêđa (vì thế thời gian này còn gọi là thời đại Vêđa) Tôn giáo trong kinh Vêđa (hay đạo Vêđa) là tín ng-ỡng đa thần mang nhiều yếu tố tinh linh, tôn thờ lực l-ợng tự nhiên Trong kinh Vêđa đầu tiên có nói tới những tinh linh nh- thần cây (Yakshas), rắn thần (Naga), khỉ thần (Hanuman), bò thần (Nandi)…, sau đó mở rộng đến những lực vực tự nhiên nh- Trời (Varuna), Đất (Prithvi), thần m-a bão, sấm sét (Indra), Lửa (Agni), gió (Vayu)…
Vào khoảng 800 năm TCN, xuất hiện một số bộ kinh mới nh- Brahmana (Tế nghi th-), Upanishad (áo nghĩa th- …) là những tác phẩm tôn gi²o đề cao thần Brahma Brahma lũc đầu l¯ một kh²i niệm trụ tượng, “tinh tuý kinh hồn của toàn thể vũ trụ, là bản thân chân lý hay chân nh-, là bản ngã, l¯ chính người” (Upanishad) Đến bộ kinh Brahmana, Brahma đ± đóng vai trò
Trang 17thần tối cao, thần sáng tạo Thần Brahman đã sáng tạo ra bốn đẳng cấp (hay sắc đẳng – Varna) từ bốn bộ phận thân thể của thân Đồng thời, những quan niệm về số phận, định mệnh cũng ra đời Mỗi ng-ời đều có cái Nghiệp (Karma) tức là số phận của mình Cái Nghiệp đời nay lại do cái Kiếp tr-ớc tạo
ra, đó là luật Nhân quả hay luân hồi (Samsara) Ng-ời ta cứ phải chịu đựng hết kiếp này đến kiếp khác Con ng-ời khao khát sự giải phóng hay giải thoát (Moksha), tức là thoát khỏi kiếp luân hồi Tất cả sợi dây ràng buộc con ng-ời
đó là quy luật tất yếu, là khuôn khổ của cuộc sống không thể thoát ra đ-ợc, gọi là Đạo pháp (Dharma) Đạo Bàlamôn (Brahmanism) ra đời từ đó, lấy thần Brahma là thần tối cao, thần sáng tạo và tầng lớp quý tộc tăng lữ Bàlamôn (Brahman) đ-ợc xếp hàng đầu trong bốn đẳng cấp (hay sắc đẳng) của xã hội
ấn Độ cổ đại
Vào thế kỷ VI TCN, nhiều quốc gia lớn đ-ợc thành lập trên l-u vực sông Hằng (Găng), kinh tế phát triển đáng kể, tầng lớp quý tộc vĩ sĩ (Kshatriya) trở nên giàu có và có thế lực, không chịu đựng mãi phải đứng hàng thứ hai trong hệ thống đẳng cấp (Varna) Hai đẳng cấp cuối cùng (Vaishya và Sudra) cũng khá giả lên và ngày càng có ý thức giác ngộ về quyền lợi giai cấp của mình Cuộc đấu tranh giai cấp đ-ợc diễn ra giữa ba
đẳng cấp d-ới với đẳng cấp tăng lữ Bàlamôn, chủ yếu trên lĩnh vực t- t-ởng và tôn giáo Trong hoàn cảnh đó, đạo Giaina (Jainism – Kỳ na giáo) và đạo Phật (Buddhism) ra đời Đạo Giaina do Vardhamana (540 – 468 TCN), hiệu là
Đại Hùng (Mahavira) hay Vạn Thắng giáo chủ (Jina) sáng lập ra Ông xuất thân dòng dõi quý tộc, chủ tr-ơng muốn siêu thoát linh hồn, phải suy nghĩ và hành động chính trực, không ham muốn Nếu không có quần áo thì sống trần truồng, nếu không có thức ăn thì nhịn ăn, chứ không làm điều phi pháp Ông cho rằng, chết đói và chế rét là một ph-ơng tiện giải phóng công hiệu và nhanh nhất Đạo Giaina có nhiều tín đồ trong tầng lớp th-ơng nhân Hiện nay
ở ấn Độ vẫn có khoảng 1,5 triệu tín đồ đạo Giaina
Đạo Phật do Thái tử Siddharta Gautama, hiệu là Sakya Muni (Thích Ca Mầu Ni), con vua n-ớc Kapilavastu (thuộc v-ơng quỗc Nêpan ngày nay) sáng
Trang 18lập Ông sinh ra vào khoảng năm 563 TCN và mất năm 483 TCN Ông bỏ nhà
đi tu năm 29 tuổi, đắc đạo năm 35 tuổi và truyền đạo trong 46 năm và mất năm 80 tuổi Giáo ly cơ bản của đạo Phật là Tứ diệu đế (bốn điều suy xét về cuộc đời) Đó là: Khổ đế (suy xét về sự khổ cực, phép luân hồi, nghiệp báo); tập đế hay nhân đế (nguyên nhân của sự khổ hay nghiệp báo là lòng ham muốn); diệt đế (ngăng ngừa luân hồi, tiêu diệt nghiệp báo); đạo đế (tìm ra con
đ-ờng để giải thoát, lên cõi Niết bàn) Tám con đ-ờng chính trực để t- hành (Bát chính đạo) của đạo Phật là: chính kiến (thành thực mà tu đạo); chính t- duy(thành thực mà suy xét); chính ngữ (thành thực mà nói năng); chính nghiệp (thành thực mà làm việc); chính mệnh (thành thực mà m-u sinh); chính tinh tiến (thành thực mà mong tới); chính niệm (thành thực mà t-ởng nhớ); chính định (thành thực mà ngẫm nghĩ) Qua đó, chúng ta thấy, đạo Phật lúc đầu không phải là một tôn giáo mà là một triết lý về nhân sinh quan
Đạo Phật sơ khai không thờ bất cứ một thần thánh nào, ngay Siddharta Gautama khi đắc đạo tự gọi là Phật (Buddha có nghĩa là giác giả hay ng-ời giác ngộ chân lý) và lấy biệt hiệu là Sakya Muni (có nghĩa là nhà hiền triết họ Sakya), chứ không coi mình là thần thánh Tuy Sakya Muni có tổ chức ra tăng
đoàn Tỳ kh-u (đoàn thể những tăng lữ khất thực) để di truyền bá Phật giáo, nh-ng đó không phải là một tổ chức Phật giáo có chùa chiền, tu viện nh- sau này Đạo Phật lấy lòng th-ơng ng-ời, làm việc thiện (từ bi hỉ xả) để lôi kéo nhân dân đi theo tín ng-ỡng của mình Trong hoàn cảnh xã hội đầy rẫy bất công bởi chế độ đẳng cấp gây ra và bạo lực bởi những cuộc chiến tranh của các quốc gia thôn tính lẫn nhau, thì chủ tr-ơng nh- vậy của đạo Phật là tích cực, do đó đ-ợc nhân dân h-ởng ứng ngày càng đông đảo Đạo Phật đ-ợc truyền bá rộng rãi nhất ở ấn Độ vào thời Asôka (thế kỷ III TCN) Cũng vào thời gian này, đạo Phật đ-ợc truyền bá ra n-ớc ngoài, đặc biệt là ở các n-ớc
Đông Nam á Nh-ng ở ấn Độ, đạo Phật đã không v-ợt lên nổi với sự cạnh
Trang 19tranh của đạo Hinđu và sự đàn áp của đạo Hồi Cho nên, từ thế kỷ X, đã dần dần không còn ảnh h-ởng ở ấn Độ
1.2.3: Nghệ thuật
Tr-ớc thời đại Asôka (thế kỷ III TCN) các công trình kiến trúc hầu nh- không còn dấu tích đến ngày nay, có lẽ do nguyên vật liệu để xây cất thời đó chủ yếu bằng đất và gỗ nên đã bị h- hỏng cả Đến thời Asôka, ng-ời ta bắt
đầu xây dựng các công trình bằng đá nh- những cột đá, những tháp mộ (stupa…) Asoka đã cho xây dựng nên ở nhiều nơi những cột đá để ghi những những hoạt động chiến công, những pháp lệnh của mình Những cột này cao khoản 1m20 đến 1m50, trên đầu các cột có khắc hình một con vật (nh- s- tử trên đầu cột đá ở Sarnath, bò đực trên đầu cột đá ở Rampuva …) Cũng vào thời Asôka, những công trình kiến trúc Phật giáo đầu tiên đ-ợc xây dựng, đó
là những tháp mộ Tháp mộ lúc đầu có hình dáng một cái nấm hình bán cầu khổng lồ, đ-ợc xây dựng gạch sống, phần ngoài đ-ợc xây bằng gạch nung và ngoài cùng có trát một lớp thạch cao dày Bên trong nấm mộ có một khoang nhỏ chứa di cốt hoặc vật thiêng (xá lợi) của đức Phật Xá lợi của đức Phật
đựng trong một cái tiểu nhỏ bằng pha – lê rất đẹp Phía trên đỉnh của nấm
mộ, ng-ời ta dựng một cái lọng lớn bằng gỗ hay đá để che cho xá lợi Xung quanh ngôi mộ có một hàng lan can bằng gỗ bọc ngoài một lối đi nhỏ dùng làm lối đi hành lễ hay r-ớc sánh
Hiện nay, chỉ còn một ngôi tháp mộ duy nhất ở Nêpan giữ đ-ợc hình dáng nguyên thuỷ từ thời Asôka, còn các ngôi khác đều đã đ-ợc sửa đổi nhiều Trong các ngôi tháp mộ đ-ợc xây về sau, nổi tiếng nhất là pháp mộ sở Sanchi đ-ợc xây vào thế kỷ II – I TCN Tháp mộ này đ-ợc xây lớn gấp đôi các ngôi tháp cổ, có bán kính tới 36m, hàng lan can vây quanh tháp tr-ớc kia
đ-ợc dựng bằng gỗ nay đ-ợc xây lại bằng đá cao gần 3m, có 4 chiếc cổng bằng đá quay về bốn h-ớng chính, đ-ợc điêu khắc rất tỉ mỉ, công phu Ngoài
ra, ng-ời ta còn xây thêm một lối đi vòng quanh ngôi tháp cách mặt đất gần
Trang 205m Đến nay, những ngôi tháp mộ nh- thé vẫn còn tồn tại ở nhiều đô thị cổ của ấn Độ
Những chùa Phật cũng đ-ợc xây dựng rất nhiều ở ấn Độ Chùa th-ờng gồm một hậu cung, nơi đặt t-ợng Phật (tr-ớc khi có t-ợng Phật, ng-ời ta đặt một biểu tr-ng về Phật nh- hình bánh xe, cây bồ đề, đài sen …), bên ngoài là
đại đ-ờng dành cho khách thập ph-ơng hành lễ Muốn vào đại đ-ờng, ng-ời ta phải đi qua một chiếc cổng lớn có ba cửa (tam quan) Đằng sau là hậu cung có dựng một ngôi tháp mộ Chùa Phật ở ấn Độ th-ờng đồ sộ, vững chắc và th-ờng đ-ợc trang trí rất công phu, tỷ mỉ Các chùa th-ờng đ-ợc xây dựng ở những nơi xa lôi hẻo lánh hau trên các định núi cao để giới tăng lữ tu hành
đ-ợc kín đáo và các tín đồ từ xa xôi lặn lội đến tỏ lòng mộ đạo
Đặc biệt, ở ấn Độ có những chùa hang (thạch động) đào khoét trong hang đs rất công phu Ngay từ thời Asôka, ng-ời ta đã kiến tạo nên hai ngôi chùa hang ở gần Gaya Nh-ng chùa hang khi đó còn trang trí đơn giản, chỉ gồm một phòng lớn hình chữ nhật và một phòng nhỏ kế bên, có vách cong với những hàng hiên giả xây nhô ra Tiếp sau, có nhiều chùa hang đ-ợc đào khoét
ở nhiều vùng núi non Trong đó, nổi tiếng nhất là chùa hang ở Agianta, phía Tây Bắc xứ Hyderabad và chùa hang ở Ellora gần Aurangabad Chùa hàng Agianta đ-ợc kiến tạo từ thế kỷ II TCN đến thế kỷ VII SCN mới xong Cả vùng này có đến 30 hang động đ-ợc khoét, trong đó động số 1 là động lớn nhất và phong phú ơn cả về kiến trúc, điêu khắc và hội hoạ ở đây có hàng trăm cột, mới nhìn rhì giống hệt nhau nh-ng nếu quan sát kỹ thì lại thấy các hình này là khác nhau Trên vách đá có chạm khắc các hình t-ợng thuật lại các giai đoạn trong đời sống của đức Phật TRên trần và trên vách hang còn có những hoạ tiết với nét rất điêu luyện là đầy sức sống hiện thực, mầu sắc sống
động Đến Ellora, ng-ời ta lại bị hấp dãn bởi một cảnh kỳ diệu khác ở đây cũng có nhiều hang động đ-ợc đục đẽo, trong đó có công trình vĩ đại nhất là
Trang 21chua hang Kaisala Hang núi đá lớn đ-ợc đục thành một khu cung điện nguy nga với những lâu dài, cửa cột, t-ợng ng-ời, t-ợng voi chầu … chạm trổ cực kỳ tinh xảo Hang động Ellora kết hợp nghệ thuật của cả ba tôn giáo: Phật giáo, Giaina giáo và Hinđu giáo, trong đó, chủ yếu alf Hinđu giáo
ấn Độ đ± ph²t minh ra nhửng chử số m¯ sau n¯y người ta gọi lầm l¯ “chữ số
ảrập”, biết được 8 phép tính cơ b°n cða số học (cộng, trụ, nhân, chia, bình ph-ơng, tam thừa, căn số bậc hai, bạc ba) và những khái niệm về số vô tỉ, lý thuyết về đại số học cao cấp, về l-ợng giác học v.v Những nhà toán học, nhà thiên văn học nổi tiêng nhất của ấn Độ cổ đại là Aryabhata (thế kỷ V), Brahma Gupta (thế kỷ VII), Mahavira (thế kỷ IX) và Bhaskara (thế kỷ XII)
Ng-ời ấn Độ cũng đã soạn ra Niên lịch từ rất sớm Buổi đầu họ dùng
âm lịch có 12 tháng, mỗi tháng chia làm 2 nguyệt bán, mỗi nguyệt bán gồm
15 ngày và cứ hai hoặc ba năm lại có một tháng nhuận Từ thời đại Gupta, d-ơng lịch đã đ-ợc du nhập vào ấn Độ: một năm đ-ợc chia thành 12 tháng, gọi tên theo 12 cung trong hoàng đới, tuần lễ có 7 ngày, cũng theo tên của các tinh tú nh- lịch Hy Lạp – Rôma Từ thế kỷ I TCN, ng-ời ấn Độ cũng đã đạt
ra các kỷ nguyên để ghi chép các biến đố quan trọng Thoạt đầu, đó ;à những năm lên ngôi của các vua Vếau, một số kỷ nguyêNhà n-ớc đ-ợc đặt ra có tính toán lâu dài, nh- kỷ nguyên Vikrama (bắt đầu từ năm 58 TCN do vua Vikramaditya đặt ra để kỷ niệm cuộc đánh đuổi ng-ời Saka ra khỏi xứ Ujjain),
Trang 22kỷ nguyên Saka (bắt đầu từ năm 78, do vua Kaniska của vuông quốc Kusana
đặt ra, kỷ nguyên này khá phổ biến ở ấn Độ và nhiều n-ớc Đông Nam á), kỷ nguyên Gupta (bắt đầu từ năm 320, do vua Chandra Gupta I đặt ra), kỷ nguyên Harsha (bắt đầu từ năm 606, do vua Harsha – Vardhana đặt ra)
Ng-ời ấn Độ cổ đại cũng đạt đ-ợc nhiều thành tựu trong ngành thực vật học và y d-ợc học Sự hiểu biết về các loại cây cổ cần thiết cho sự chuẩn bị cúng tế và làm thuốc Về d-ợc liệu, ng-ời ấn Độ biết sử dụng cả hai loại vô cơ và hữu cơ Một vài chất có công hiệu rất cao (nh- chữa bệnh hủi) Trong khoa học giải phẫu, tuy ch-a hiểu biết đ-ợc đầy đủ và chính xác về cơ thể con ng-ời, thầy thuốc ấn Độ đã có thể mổ bụng bệnh nhân để lấy sạn trong bàng quan, mổ dạ con để lấy thai nhi ra khỏi bụng mẹ, giải phẫu thẩm mĩ, vá môi, chữa mũi, tai … ng-ời ấn Độ rất quan tâm đến khoa tr-ờng sinh học, chú ý phòng bệnh, giữ vệ sinh Hai thầy thuốc nổi danh ở ấn Độ cổ đại là Charaka (thế kỷ I – II), ngự y của vua Kaniska và Susruta (thế kỷ IV) Trong xã hội
ấn Độ cổ đại, giới Vaidyas (y sĩ) rất đ-ợc mọi ng-ời tôn trọng Các thầy thuốc luôn phải lấy l-ơng tâm nghề nghiệp làm trọng Khi mới thành nghề, họ phải
đọc lời thề của Charaka, giống nh- các thầy thuốc ph-ơng Tây đọc lời thề của Hippôcrat
Trang 23Trung Hoa cổ đại do tộc Hoa Hạ (sau gọi là tộc Hán) thành lập đầu tiên
ở vùng Trung Nguyên (l-u vực sông Hoàng Hà và phía bắc sông Tr-ờng Giang) Ba triều đại đã thay thế nhau cai trị ở Trung Hoa cổ đại là: nhà Hạ (thế kỷ XXI – XVI TCN), nhà Th-ơng (còn gọi là Ân hay Ân th-ơng, thế kỷ XVI – XI TCN) và nhà Chu (thế kỷ XI – III TCN) Nhà Chu đ-ợc chia làm hai giai đoạn: Tây Chu (1066 – 771 TCN), Đông Chu (711 – 221 TCN) Nhà Đông Chu lại đ-ợc chia làm hai thời kỳ: Xuân Thu (770 – 454 TCN) và Chiến Quốc (475 – 221 TCN) Nền văn minh Trung Hoa cổ đại đã phát triển
từ rất sớm, nh-ng đén thời Xuân Thu, Chiến Quốc mới thực sự tạo lập lên nền văn hoá cổ đại và đ-ợc tiếp tục l-u truyền, phát triển d-ới thời phong kiến, tạo thành nền văn hoá Trung Hoa truyền thống
2.1.1: Vài nét khái quát lịch sử Trung Quốc cổ đại
- Sự ra đời Nhà n-ớc
Trong sử sách Trung Quốc đã ghi lại nhiều truyền thuyết về sự xuất hiện loài ng-ời và đơ3ì sống của xã hội nguyên thuỷ ở Trung Quốc Đó là những truyền thuyết về Nã Oa, Phục Hi, Hữu Sào, Toại Nhân v.v…
Truyền thuyết kể rằng, đầu tiên trên núi Côn Lôn chỉ có hai anh em là Phục Hi và Nữ OA Hai ng-ời kết thành vợ chồng, từ đó loài ng-ời đ-ợc sinh
ra Vè sau, họ cấm anh em láy nhau và đặt ra quy chế kết hôn
Truyền thuyết về Hữu Sào và Toại Nhân thì kể rằng: Thời th-ợng cổ, nhân dân ít mà muông thú nhiều, nhân dân không chống đ-ợc muông thú, rắn
Trang 24rết Có một thánh nhân kết cành cây làm tổ để tránh mọi tai hoạ, nhân dân quý trọng ông, tôn ông làm vua thiên hạ, hiệu là Hữu Sào Lúc bấy giờ ch-a có lửa, nhân dân ăn các thứ sò, ốc sống, hôi tanh hại đến ruột và dạ dày, sinh nhiều bệnh tật Có một thánh nhân khoét gỗ lấy lửa làm cho thức ăn hết mùi tanh, nhân dân vui mừng, tôn ông làm vua thiên hạ, hiệu là Toại Nhân
Gạt bỏ những yếu tố hoang đ-ờng, những truyền thuyết nói trên có thể coi
là sự phản ánh cuộc sống của loài ng-ời ở giai đoạn bầy ng-ời nguyên thuỷ
Đến thời công xã thị tộc, ở vùng Hoàng Hà có nhiều bộ lạc c- trú do các thủ lĩnh Si V-u, Viêm Đế, Hoàng Đế đứng đầu Giữa các bộ lạc này đã diễn ra những cuộc đấu tranh quyết liệt, kết quả Si V-u và Viêm Đế lần l-ợt
bị Hoàng Đế đánh bại
Có thuyết nói Viêm Đế tức Thần Nông T-ơng truyền, Thần Nông là ng-ời phát minh ra cái cày và dạy dân làm ruộng Thần Nông còn nếm các loại cây phát minh ra thảo d-ợc, dạy dân chữa bệnh
Hoàng Đế họ Cơ, hiệu là Hiên Viên, còn có hiệu là Hữu Hùng Theo truyền thuyết, thời Hoàng Đế đã phát minh ra binh khí bằng ngọc (đá cứng), thuyền xe, cung tên, đã biết nhuộm 5 màu Vợ Hoàng Đế là Luy Tổ phát minh
ra việc nuôi tằm, Th-ơng Hiệt đặt ra chữ viết Đại Nao phát minh ra can chi, Linh Luân chế tạo ra nhạc khí Về sau, Hoàng Đế đ-ợc coi là thuỷ tổ của tộc Hoa Phái Đạo gia thời Chiến Quốc tôn Hoàng Đế cùng với Lão Tử là Thuỷ tổ của phái này, do đó còn gọi là phái Hoàng Lão
Sau Hoàng Đế có các nhân vật nh- Thiếu Hiệu, Chuyên Húc, Đế Cốc,
Đế Chí, Đ-ờng Nghiêu, Ngu Thuấn, Hạ Vũ Họ đều là hậu duệ của Hoàng Đế
Địa bàn hoạt động chủ yếu của Nghiêu là vùng Sơn Tây ngày nay Thời Nghiêu, Hi Trọng, Hi Thúc, Hoà Trọng, Hoà Thúc đ-ợc giao nhiệm vụ đóng
ở 4 nơi Đông, Nam, Tây, Bắc để quan sát bầu trời theo dõi thời tiết, đặt ra lịch Để chuẩn bị tìm ng-ời thay mình làm thủ lĩnh, Nghiêu đã hỏi ý kiến của các thủ lĩnh bộ lạc bốn ph-ơng, gọi là Tứ nhạc Tứ nhạc đã đề cử Thuấn Sau 3 năm thử thách, Nghiêu giao cho Thuấn tham gia việc quản lý liên minh bộ lạc Sau khi Nghiêu chết, Thuấn lên thay Đến khi Thuấn già, THuất lại hỏi ý kiến của Tứ nhạc về ng-ời thay thế, Tứ nhạc đã đề cử Hạ Vũ là ng-ời có nhiều
Trang 25thành tích chống lụt T-ơng truyền, Hạ Vũ đã vận động nhân dân khơi thông dòng sông, đào nhiều kênh thoát n-ớc nên đã hạn chế đ-ợc nạn lụt Vũ lại là ng-ời có tinh thần trách nhiệm rất cao, trong 13 năm mải mê với công việc trị thuỷ, ông đã đi qua ngõ 3 lần mà không ghé vào nhà Sau khi Thuấn chết, Vũ lên thay chức thủ lĩnh liên minh bộ lạc Để chuẩn bị ng-ời thay thế, quần chúng cử Cao Đào(1), nh-ng Cao Đào chết sớm, họ lại cử Bá ích (con của Cao
Đào) làm ng-ời thừa kế Chế độ tiến cử và truyền ngôi thủ lĩnh liên minh bộ lạc này trong lịch sử Trung Quốc gọi là chế độ thiện nh-ợng Do Thiện nh-ợng là chế độ truyền ngôi cho ng-ời có đạo đức và năng lực nên đến thời phong kiến, Nghiêu và Thuấn đ-ợc coi là hai ông vua tốt nhất trong lịch sử Trung Quốc
Ca ngợi sứ tốt đẹp cða x± hội công x± thị tộc, thiên “Lễ vận” trong s²ch
lễ kí chép:
“Thi h¯nh đ³o lớn thiên h³ l¯ chung, chọn người hiền t¯i, chũ trọng tín nghĩa và sự hoà mục Do vậy, ng-ời ta không chỉ thân với ng-ời thân của mình, không chỉ yêu con của mình Làm cho ng-ời già có chỗ d-ỡng lão, trai tráng có chỗ dùng, trẻ nhỏ có chỗ nuôi nấng, những kẻ goá vợ, goá chồng, cô
đơn, tàn tật đều có chỗ nuôi Trai có nghề nghiệp, gái có chồng Của cải không vứt xuống đất cũng không phải cất cho riêng mình, sức lực đều dốc hết nh-ng không phải vì mình Vì vậy, m-u mô xảo quyệt không dùng, trộm c-ớp giặc gi± không có, do đó cừa ngo¯i không cần đóng, gọi l¯ x± hội đ³i đồng”
Khi Vũ đang sống, Bá ích thuộc bộ lạc Đông Di đã đ-ợc cử làm ng-ời thay thế chức thủ lĩnh liên minh bộ lạc, nh-ng sau khi Vũ chết , con của Vũ là Khải lên nối ngôi Chế độ bầu cử thủ lĩnh liên minh bộ lạc đến đây chấm dứt
Sự kiện đó đánh dấu xã hội công xã thị tộc, giai đoạn lịch sử mà sử sách Trung Quốc gọi l¯ thời kự “đ³i đồng” kết thũc
- Sự phát triển của các V-ơng Triều Hạ, Th-ơng, Chu trong lịch sử cổ
đại Trung Quốc
+ Triều hạ
Trang 26Khi mới thành lập, triều Hạ đóng đô ở D-ơng Trạch (Hà Nam ngày nay), sau đời đến An ấp (Sơn Tây ngày nay) Do Khải phá hoại chế độ thiện nh-ợng, Bá ích thuộc bộ lạc Đông Đi và Hữu Hổ cùng bộ lạc với Khải đã nổi dậy phản đối nh-ng đều bị đàn áp
Đến thời kự n¯y, trong x± hội đ± có nhửng thay đổi rất lớn Thiên “Lễ vận” s²ch Lễ kỹ viết:
“Nay đ³o lớn đ± mất, thiên h³ th¯nh riêng, người ta chỉ thân với ng-ời thân của mình, chỉ yêu con của mình, của cải là của riêng mình, cha truyền con nối cho là hợp với lễ, lấy thành quách hào ao làm kiên cố, lấy lễ nghĩa để làm kỷ c-ơng để xác định địa vị vua tôi, để giữ đạo cha con, để làm cho anh
em biết kính trên nh-ờng d-ới, để cho vợ chồng hoà thuận, để đặt ra các chế
độ, để phân định c-ơng giới ruộng đất, để phát huy tài năng của những ng-ời thông thái, để m-u lợi ích cho riêng mình, do đó m-u mô đ-ợc sử dụng và việc binh đao nổi lên”
Sau khi Khảt chết, con là Thái Khang nối ngôi Thái Khang th-ờng đem cả nhà đi săn mấy tháng ở bên ngoài Nhân dịp ấy, thủ lĩnh của Đông Di là Hậu Nghệ đã chiếm kinh đô An ấp, tự mình lên làm vua, hiệu là Hữu Cùng Hậu Nghệ là một ng-ời bán giỏi, chỉ thích đi săn nên một hôm trong khi đi săn, Hậu Nghệ đã bị bộ hạ của mình là Hàn Trác lập m-u giết chết để c-ớp ngôi và chiếm vợ con, tài sản
Trong khi đó, Thái Khang và con cháu của ông phải l-u lạc bên ngoài
Họ không ngừng bị Hậu Nghệ và tiếp đó là Hàn Trác đánh đuổi Cháu của Thái Khang là T-ơng bị Hàn Trác giết chết Vợ của T-ơng đang có mang chạy về nhà mẹ sinh ra Thiếu Kháng Thiếu Khang lại bị Hàn Trác đuổi phải chạy đến nhiều nơi, sau làm Bào chính cho họ Hữu Ngu Thiếu Khang là một người t¯i năng, đ± có “ruông một th¯nh (1 dặm vuông), bộ chúng một lữ (500 người)”; sau đó, được sứ ðng hộ cða nhửng người cùng họ đ± diệt được H¯n Trác Nh- vậy, sau mấy chục năm, các vua Thái Khang, Trọng Khang, T-ơng phải l-u lạc bên ngoài, đến đây nền thống trị của triều Hạ đ-ợc khôi phục, lịch
sừ gọi l¯ sứ “trung hưng cða Thiếu Khang” Tuy vậy, cuộc đấu tranh giửa H³
Trang 27và Đông Di vẫn ch-a kết thúc Chính từ thực tiễn của cuộc chiến tranh này mà
đế Trữ (con của Thiếu Khang) lần đầu tiên đã phát minh ra áo giáp để đối phó với tài thiện xạ của ng-ời Đông Di
Đến thời vua cuối cùng của triều Hạ là Kiệt (khoảng thế kỷ XVI tr-ớc công nguyên), mâu thuẫn trong xã hội đã phát triển rất gay gắt Kiệt là bạo chúa nổi tiéng đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc Kiệt áp bức bóc lột nhân dân rất thậm tệ, bắt nhân dân xây dựng nhiều cung thất và nhiều lần gây chiến tranh chinh phạt các tộc nhỏ yếu nh- họ Hữu Mân, họ Hữu Thi v.v… Trong cuộc tấn công họ Hữu Thi, Kiệt đ-ợc họ Hữu Thi dâng cho một ng-ời con gái xinh đẹp tên là Muội Hỉ, sau đó trở thành ái phi của Kiệt Các vua triều Hạ đã dời đô nhiều lần, đến đời Kiệt thì đóng đô ở Lạc D-ơng
Trong khi đó, ở hạ l-u Hoàng Hà, thế lực của tộc Th-ơng ngày càng lớn mạnh Nhân khi nội bộ n-ớc Hạ mâu thuẫn gay gắt, vua Th-ơng là Thang tr-ớc hết đánh bại các n-ớc nhỏ phụ thuộc Hạ là Cố (ở Sơn Đông ngày nay),
Vi và Côn Ngô (ở Hà Nam ngày nay) rồi thừa thắng tấn công Kiệt Kiệt đem quân đến Minh đièu nghênh chiến nh-ng bị thát bại phải chạy đến dựa vào Côn Ngô Thang diệt Côn Ngô, Kiệt chạy đến Nam Sào (ở An Huy ngày nay) rồi chết ở đó Triều Hạ đến đây diệt vong
+ Triều th-ơng (khoảng thế kỷ XVI “ XI TCN
Bộ tộc Th-ơng ở hạ l-u Hoàng Hà cũng là một tộc ng-ời có lịch sử lâu
đời, là hậu duệ của Đế Cốc Thuỷ tổ của tộc Th-ơng tên là Khế T-ơng truyền,
mẹ Khế một hôm đi tắm thấy chim đẻ trứng bèn nhặt lấy cho vào miệng nuốt rồi về sinh ra Khé Truyền thuyết ấy nói lên rằng Khế không biết cha, nh- vậy
là từ Khế về tr-ớc bộ lạc Th-ơng vẫn ở giai đoạn công xã thị tộc mẫu hệ, từ Khế về sau mới tiến vào xã hội thị tộc phụ hệ Truyền thuyết còn cho biết Khế
đã từng có quan hệ với Hạ Vũ, qua đó có thể biết Khế sống vào khoảng thế kỷ XXI TCN, và khi bộ lạc Hạ chuản bị chuyển sang xã hội có giai cấp thì bộ lạc Th-ơng mới bắt đầu b-ớc vào xã hội thị tộc phụ hệ, tức là giai đoạn tan rã của xã hội công xã nguyên thuỷ
Đến cháu 14 đời của Khế là Thang (khoảng thế kỷ XVI TCN), tộc Th-ơng bắt đầu mở rộng thế lực ra bên ngoài, đã chinh phục đ-ợc m-ời mấy
Trang 28bộ lạc khác nên thế n-ớc càng thêm mạnh Trong khi dó, nội bộ n-ớc Hạ mâu thuẫn gay gắt, giai cấp thống trị thối nát, nhân dân oán hờn, Thang đã đem quân diệt Hạ, triều Th-ơng chính thức thành lập Từ đây, Th-ơng trở thành một quốc gia rộng lớn, địa bàn hoạt động bao gồm cả vùng trung và hạ l-u l-u vực Hoàng Hà
Khi mới thành lập, triều Th-ơng đóng đô ở đất Bạc, phía nam Hoàng
Hà, thuộc tỉnh Hà Nam ngày nay Nh-ng nội bộ giai cấp thống trị th-ờng xẩy
ra những vụ tranh giành ngôi vua Để làm yếu thế lực của tầng lớp quý tộc,
đồng thời để tránh n-ớc lụt, các vua Th-ơng đã dời đô nhiều lần Đến Bàn Canh, cháu 9 đời của Thanh, kinh đô đ-ợc dời từ đất Yểm (Khúc Phụ, Sơn
Đông ngày nay) đến đất Ân (ở tây bắc An D-ơng, Hà Nam ngày nay) Từ đó cho đến khi triều Th-ơng diệt vong, chỉ trừ vua cuối cùng là Trụ đóng đo ở Triều Ca (huyện Kì, tỉnh Hà Nam ngày nay) còn thì điều lấy đất Ân làm kinh
đô, vì vậy triều Th-ơng từ Bàn Canh về sau gồm 12 đời vùa gọi là triều Ân, nh-ng có khi toàn bộ triều Th-ơng cũng gọi là Ân hoặc Th-ơng ân, hoặc Ân Th-ơng Trong số các vua nối tiếp Bàn Canh, Vũ Đinh (con của em Bàn Canh)
có thể coi là một ông vua tốt của triều Th-ơng T-ơng truyền, thuở thiếu thời,
Vủ Đinh sống trong dân gian, hiểu được “nỗi vất v° cða việc cấy gặt”, do đó sau khi lên làm vua không dám ăn chơi mà chỉ lo làm cho đất n-ớc thịnh trị
Vũ Đinh làm vua đ-ợc 59 năm, trong thời gian đó đã từng đánh ng-ời Quỷ Ph-ơng, Thổ Ph-ơng ở phía bắc, ng-ời Kh-ơng ở phía tây, ng-ời Di ở phía
đông, ng-ời Hổ Ph-ơng ở phía Nam Trong một lần tấn công tộc Kh-ơng, Vũ
đinh đã huy động từ 13.000 đến 30.000 quân Do vậy, c-ơng giới của triều Th-ơng đ-ợc mở rộng Nh-ng những vua cuối triều Th-ơng phần nhiều đều dâm lo³n b³o ngược, “không biết nỗi cức khổ cða việc cấy gặt, hưởng l³c”(1), thời gian ở ngôi cða họ đều ngắn ngði, “hoặc mười năm, hoặc b°y, t²m năm(2)
Đặc biệt, vua cuối cùng của triều Th-ơng là Trụ (còn gọi là Đế Tân) cũng là một bạo chứa nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc, vì vậy Trụ th-ờng đ-ợc ghép với Kiệt của triều Hạ để chỉ bạo chúa Trụ tham lam xa xỉ, suốt ngày say
đắm tửu sắc, đặc biệt là mê say nàng Đát Kỉ
Thiên “Ân b°n kỉ” s²ch Sừ kí cða Tư M± Thiên chép:
Trang 29“Trú đ²nh thuế nặng để lấy tiền chất v¯o kho Lộc Đ¯i, lấy thóc chữa vào kho Cự Kiều, tăng thu chó ngựa, của lạ để chất vào cung thất, mở rộng bãi
gò, v-ờn uyển, đình đài … lấy r-ợu làm hồ, treo thịt làm rụng”
Hơn nữa, Trụ lại còn dùng hình phạt tàn khốc, lại luôn luôn gây chiến tranh với các bộ lạc xung quanh làm cho nhân dân càng thêm cực khổ, và vô cùng oán giận Nhân tình hình ấu, n-ớc Chu ở phía tây vốn là một n-ớc phụ thuộc của Th-ơng đã đem quân tấn công Triều Ca Trụ hết đ-ờng trốn chạy phải lên Lộc Đài tự thiêu Triều Th-ơng diệt vong
+ Triều tây chu (thế kỷ XI “ 771 TCN)
Chu còn là một bộ lạc c- trú ở th-ợng l-u Hoàng Hà (vùng Thiểm Tây, Cam Túc ngày nay) Khi tộc Th-ơng đã tiến vào xã hội có giai cấp thì bộ lạc Chu đang sống trong xã hội nguyên thuỷ
T-ơng truyền, thuỷ tổ của tộc Chu tên là Khí, vì giỏi trồng lúa nên đ-ợc gọi là Hậu Tắc và đ-ợc tôn làm Nông thần Truyền thuyết kể rằng mẹ của Khí
là Kh-ơng Nguyên vì dẫm vào vết chân ng-ời khổng lồ mà có mang rồi ra
ông Có lẽ bắt đầu từ Khí, tộc Chu mới quá độ sang xã hội thị tộc phụ hệ
Đến thời cháu 12 đời của Khí là Cổ Công Đản Phụ, sự phân hoá giàu nghèo trong bộ lạc Chu đã diễn ra rõ rệt Vì bị ng-ời Nhung lấn chiếm , Cổ Công Đản Phụ phải dời bộ lạc mình từ đất Bân đến đất Kỳ (thuộc Thiểm Tây ngày nay) và định c- ở cánh đồng Chu Tại đây, tộc Chu làm nhà cửa, xây thành quách, đặt quan lại Nh- vậy, tộc Chu bắt đầu b-ớc lên ng-ỡng cửa của xã hội có Nhà n-ớc Cổ Công Đản Phụ lại thần phục n-ớc Th-ơng, đã tiếp thu
đ-ợc nhiều ảnh h-ởng về văn hoá của triều Th-ơng, nên xã hội bộ tộc Chu càng có điều kiện phát triển nhanh chóng Những cuộc chiến tranh với các bộ lạc xung quanh đã đem lại cho bộ tộc Chu nhiều chiến lợi phẩm và tù binh, càng đẩy nhanh sự phân hoá giai cấp trong Chu
Đến thời cháu của Cổ Công Đản Phụ là Cơ X-ơng, n-ớc Chu chính thức thành lập Thời vua Trụ đời Th-ơng, Cơ X-ơng đ-ợc làm Tây Bá, từng bị vua Trụ bắt giam ở Dụ Lý (hà Nam ngày nay), sau nhờ có quan Thái s- Kh-ơng Th-ợng(1) dùng gái đẹp, châu báu , vật lạ chuộc về Thời Cơ X-ơng, lãnh thổ của Chu càng đ-ợc mở rộng Để phát triển thế lực về phía đông, Cơ X-ơng
Trang 30xây dựng ấp Phong (Thiểm Tây ngày nay) để làm kinh đô Cơ X-ơng chính là Chu Văn V-ơng, còn Cổ Công Đản Phụ đ-ợc truy tôn làm Thái V-ơng
điều về kịp Vua Trụ phải ra lệnh trang bị vũ khí cho nô lệ và tù binh để đ-a
họ ra nghênh chiến Nh-ng khi đến Mục Dã, đội quân này của triều Th-ơng
đã quay giáo khởi nghĩa Quân Chu tiến thẳng đến Triều Ca Vua Trụ phải tự
tử
Do căm ghét sự thống trị tàn bạo của vua Trụ, nhân dân kinh đô Triều
Ca ra tận ngoại ô để đón chào quân Chu Sau khi vào thành, Chu Vũ V-ơng
mở nhà lao thả tù phạm, lấy tiền ở kho Lộc Đài và l-ơng thực ở kho Vự Kiều phân phát cho dân nghèo Tiếp đó, Vũ V-ơng đem một vùng đất ở kinh kì phong cho con của vua Trụ và Vũ Canh, đồng thời phong vùng đất bên cạnh cho 3 ng-ời em của mình là Quản Thúc, Thái Thúc và Hoắc Thúc để giám sát
Vũ Canh Sau khi mọi việc đã xong xuôi, Chu Vũ V-ơng rút về phía tây, đóng
đô ở Cảo Kinh (Thiểm Tây ngày nay)
Hai năm sau, Vũ V-ơng chết, con là Thành V-ơng mới m-ời mấy tuổ lên nối ngôi, Chu Công (tên là Cơ Đán), con của Vũ V-ơng nhiếp chính Quản Thúc, Thái Thúc và Hoắc Thúc cho rằng Chu Công sẽ giành ngôi của Thành V-ơng Vũ Canh nhân dịp ấy lôi kéo Quản Thúc, Thái Thúc, Hoắc Thúc và cac Di ở phía đông nổi dậy chống Chu Năm Thành V-ơng thứ ba, chu Công
đem quân đi đánh, sau 3 năm mới dẹp đ-ợc Vũ Canh và Quản Thúc bị giết,
Trang 31Thái Thúc bị đi đày, các n-ớc nhỏ tham gia vụ phiến loạn bị tiêu diệt Để quản
lý vùng lãnh thổ mới bình định đ-ợc, Chu Công chia đất đem phong cho những ng-ời thân thích và những ng-ời có công
Sau phong trào phục quốc bị thất bại, tầng lớp quý tộc của n-ớc Th-ơng trước kia vẫn thường nổi dậy ph°n kh²ng nên người Chu gọi họ l¯ “ngoan dân” (dân ngang ng³nh) Để tiện việc khống chế hộ, Chu công cho xây dứng Lạc ấp (Lạc D-ơng, tỉnh H¯ Nam) th¯nh đông đô, rồi dời “ngoan dân” cða triều Th-ơng cũ đến đó, cho họ nhà cửa và ruộng đất để sinh sống, đồng thời còn phái 8 s- gồm 20.000 quân đến đóng bên cạnh để giám sát Đến khi Thành V-ơng tr-ởng thành, Chu Công giao chính quyền lại cho Thành V-ơng(1) Nhân dịp đó, các tộc Từ Nhung và Hoài Di ở phía đông lại nổi dậy chống nhà Chu, Thành V-ơng phải đem quân đi đánh, sau 3 năm mới dẹp
đ-ợc Cả một vùng lãnh thổ rộng lớn bao gồm toàn bộ l-u vực Hoàng Hà từ phía tây cho đến biển Đông đều nằm trong bản đồ của nhà Chu Trên vùng đất
đai mới chinh phục đ-ợc, Thành V-ơng lại thi hành chính sách phân phong T-ơng truyền, Vũ V-ơng, Chu Công và Thành V-ơng đã phân phong 71 n-ớc ch- hầu (trong đó họ Cơ chiếm 53 n-ớc) là Lỗ, Vệ, Tấn, Tề, Yên …v.v… là những n-ớc t-ơng đối lớn Từ đó, nhà Chu b-ớc vào thời kỳ c-ờng thịnh
Đến giữa thế kỷ IX TCN, do sự tham lam tàn bạo của Lệ V-ơng, mâu thuẫn trong xã hội trở nân gay gắt Lệ V-ơng thi hành chính sách độc quyền
đối với những sản phẩm của núi rừng, ao hồ làm cho nhân dân không ngừng oán thán Tr-ớc tình hình ấy, Lệ V-ơng dùng bọn đồng cốt thám thính, những ng-ời bị cáo giác đều bị giết hại Vì vậy, nhân dân không dám bàn tán nữa, thậm chí gặp nhau ngoài đ-ờng chỉ đ-a mắt ra hiệu cho nhau Một cận thần là Thiệu Múc Công nói với Lệ Vương r´ng: “Cấm nhân dân nói, còn nguy hiểm hơn ngăn chặn dòng sông lớn Nếu chặn dòng không cho n-ớc chay, đê đập có ngày sẽ bị vỡ Nếu đê bị vỡ thì mối nguy hại đối với con ng-ời càng lớn Đối với nhân dân cũng nh- vậy, nếu không cho họ nói thì sự oán hờn tích luỹ trong lòng một khi bộc phát lại càng ghê gớm Vì vậy ng-ời trị thuỷ thì phải
Trang 32khơi đ-ờng cho n-ớc chảy thông suốt, kẻ thống trị nhân dân thì phải mở
đường cho họ nói năng”
Lệ V-ơng không tiếp thu những lời khuyên can ấy nên sau 3 năm (năm
841 TCN) nhân dân vùng kinh đô đã nổi dậy bạo động Lệ V-ơng phải chạy
đến đất Trệ (Sơn Tây ngày nay), rồi chết ở đó Trong thời gian 841 – 828 TCN, nhà Chu bị đứt quãng 14 năm, lịch sử Trung Quốc b-ớc vào thời kỳ
“Cộng Ho¯ h¯nh chính”(1)
Đến năm Cộng Hoà thứ 14 (828 TCN), con của Lệ V-ơng là Thái tử Tĩnh đ-ợc sống sót trong cuộc khởi nghĩa năm 841 TCN(2) lên làm vua, hiệu là Tuyên V-ơng Ngay sau khi lên ngôi, Tuyên V-ơng chú ý sử dụng những ng-ời có tài đức, chỉnh đốn lại tình hình trong n-ớc, tấn công chinh phục các tộc xung quanh làm cho chính quyền của nhà Chu đ-ợc ổn định, c-ơng giới
đ-ợc mở rộng Cuối đời Tuyên V-ơng, hạn hán xẩy ra liên tiếp, chiến tranh với bên ngoài th-ờng thất bại, lãnh thổ bị thu hẹp, nhà Chu ngày càng suy yếu
Sau tuyên v-ơng chết, tình hình lại trầm trọng Kẻ nối ngôi U V-ơng chỉ biết ăn chơi xa xỉ, suốt ngày say đắm tửu sắc Vì quá yêu Bao Tự, U V-ơng đã phế Thân Hậu và Thái tử Nghi Cữu rồi lập bao Tự làm Hoàng hậuvà con trai của BaoTự là Bá Phục làm Thái tử năm 771 tr CN, cha của Hoàng hậu bị phế truất là Thân Hầu, vua của một n-ớc ch- hầu nhỏ liên kết với n-ớc Tăng (cùng ở Hà Nam ngày nay) và tộc KhuyểnNhung tấn công, giết chết U V-ơng và Bá Phục Bao Tự bị ng-ời Kuyển nhung bắt Giai đoạn thứ nhất của triều Chu, mà lịch sử gọi là Tây Chu đến kết thúc
+ Thời xân thu “ chiến quốc (770 “221 tr CN)
Sau khi Chu U V-ơng bị liên quân của n-ớc Thân, n-ớc Tăng và Khuyển Nhung giết chết, Thái tử Nghi Cữu đ-ợc các n-ớc Thân, Lỗ, Hứa … lập nên làm vua tại đất Thần, hiệu là Bình V-ơng Lúc bấy giờ, kinh đô của Tây Chu là Cảo Kinh bị ng-ời Khuyển Nhung chiếm Sau đó, nhờ sự giúp sức của các vua ch- hầu nh- Trịnh Bá, Vệ Công, Bình V-ơng đã đánh bại Khuyển Nhung, thu phục đ-ợc kinh đô Nh-ng nơi đây đã bị tàn phá nặng nề, nên năm
770 TCN, Bình V-ơng đem vùng đất này phong cho Tấn Hầu và Tần Bá rồi
Trang 33dời đô sang Lạc ấp Từ đó, triều Chu chuyển sang giai đoạn thứ hai, gọi là
Đông Chu
Thời kỳ đông Chu bắt đầu năm Chu Bình V-ơng thứ nhất (770 TCN) và kết thúc vào năm 256 TCN với sự kiện Chu Noãn V-ơng hiến đát cho n-ớc Tần
Giai đoạn đông Chu t-ơng đ-ơng với hai thời kỳ là Xuân Thu và Chiến Quốc (1) Thời Xuân Thu – Chiến Quốc là thời kỳ uy quyền và thế lực của
Đông Chu ngày càng giảm sút, suy yếu, trái lại thế lực của một số n-ớc ch- hầu ngày càng lớn mạnh; do đó giữa các n-ớc ở Trung Quốc đã diễn ra những cuộc chiến tranh liên miên trong nhiều thế kỉ để giành quyền bá chủ và tiến tới tiêu diệt lẫn nhau nhằm thống nhất Trung Quốc
Năm 221 TCN, n-ớc Tần tiêu diệt các n-ớc Ch- hầu khác, thống nhất Trung Quốc Lịch sử cổ đại Trung Quốc chấm dứt chuyển sang giai đoạn phong kiến
2.1.2: Nguồn gốc của văn hoá - văn minh Trung Quốc
tế chủ đạo của Trung Quốc cổ đại là ngành kinh tế nông nghiệp trồng lúa n-ớc, nền kinh tế nông nghiệp này mang tính tự cấp tự túc và phụ thuộc rất lớn vào thiên nhiên
- Chính trị “ xã hội
+ Xét về mặt chính trị, cũng giống nh- các Quốc gia Ph-ơng Đông cổ
đại khác ở Trung Quốc sớm xuất hiện, duy trì và phát triển chế độ chuyên chế trung -ơng tập quyền Chính điều này có tác động rất lớn đến sự hình thành phát triển của văn hoá - văn minh Trung Quốc cổ đại
Trang 34+ Sự tập trung và cứ trú bên l-u vực các dòng sông lớn nh- Hoàng Hà, Tr-ờng Giang có điều kiện phát triển kinh tế nông nghiệp Sự phát triển kinh
tế nông nghiệp đã tạo nên các cộng đồng làng, xã, bản (công xã nông thôn) Các công xã nông thôn còn có tác dụng tích cực bởi vì nó làm cơ sở vững chắc cho Nhà n-ớc trung -ơng tập quyền, tạo ra sức mạnh đồng bộ trong việc đấu tranh chống thiên nhiên, cải tạo tự nhiên để sản xuất Từ các công xã nông thôn ấy hình thành nên các thói quen, phong tục tập quán, lối sống đạo đức … Góp phần tạo nên văn hoá Trung Quốc cổ đại
+ Trong thời kỳ cổ đại, sự ra đời và phát triển của các triều đại Hạ, Th-ơng, Chu mà đặc biệt là d-ới triều đại nhà Chu, giai đoạn Đông Chu (770 – 221 TCN)
Giai đoạn Đông Chu t-ơng ứng với 2 thời kỳ là Xuân Thu – Chiến Quốc Thời Xuân Thu - Chiến Quốc là thời kỳ uy quyền và thế lực của Đông Chu ngày càng giảm sút, suy yếu Trái lại thế lực của một số n-ớc ch- hầu ngày càng lớn mạnh; Do đó, giữa các n-ớc ở Trung Quốc đã diễn ra những cuộc chiến tranh liên miên trong nhiều thế kỷ để dành quyền Bá Chủ và tiến tới tiêu diệt lẫn nhau nhằm thống nhất Trung Quốc Chiến tranh liên miên một mặt nó đã làm cho đời sống nhân dân hết sức cơ cực, những mặt khác nó lại làm xuất hiện nhiều nhà t- t-ởng lớn, các nhà t- t-ởng Trung Quốc quan tâm tr-ớc hết đến việc tìm kiếm đ-ờng lối tối -u để đ-a đất n-ớc đến ổn định, thống nhất, nhân dân đ-ợc an c- lạc nghiệp Số nhà t- t-ởng thời chiến Quốc rất nhiều, họ lập thành các phái nh-: Nho Gia, Mặc Gia, Pháp Gia, Đạo Gia,
Âm D-ơng Gia … t³o nên tình hình m¯ lịch sừ Trung Quốc gọi l¯ “B²ch gia tranh minh” (trăm nh¯ đua tiếng)
Trang 35Tuy nhiên sự tồn tại lâu dài của gia đình đồng tộc cũng đồng nghĩa với việc l-u giữ những thói quen có tính chất bảo thủ lạc hậu đối với sự phát triển của văn hoá
Gia đình có yếu tố, vai trò rất lớn trong quá trình hình thành văn hoá - văn minh Trung Quốc cổ đại
2.2: Một số thành tựu chủ yếu của văn hoá - văn minh Trung Quốc cổ đại
2.2.1: Chữ viết, văn học và sử học
- Chữ viết:
Theo truyền thuyết, từ thời Hoàng Đế, sử quan Th-ơng Hiệt đã sáng tạo
ra chữ viết Sự thực, đến đời Th-ơng, chữ viết của Trung Quốc mới ra đời Loại chữ viết đầu tiên này khắc trên mai rùa, yếm rùa, x-ơng thú, phát hiện lần đầu tiên vào năm 1899 và đ-ợc gọi là chữ giáp cốt
Sở dĩ chữ viết đời Th-ơng đ-ợc khắc trên mai rùa, x-ơng thú (chủ yếu
là x-ơng quạt của bò) vì đó là những quẻ bói Thời bấy giờ, mỗi khi ng-ời Trung Quốc muốn bói việc gì thì họ khắc những điều muốn bói lên mai rùa hoặc x-ơng thú, đục lỗ ở giữa rồi cho vào lửa nung, sau đó dựa vào những
đ-ờng rạn nứt để đoán ý của trời đất, quỷ thần
Ph-ơng pháp cấu tạo chữ giáp cốt chủ yếu là ph-ơng pháp t-ợng hình,
ví dụ chữ ng- thì vẽ hình con cá, chữ mã thì vẽ hình con ngựa, chữ sơn thì vẽ 3
đỉnh núi, chữ thuỷ thì vẽ 3 làn sóng
Dần dần, do yêu cầu ghi chép các động tác và các khái niệm trừu t-ợng, trên cơ sở ph-ơng pháp t-ợng hình đã phát triển thành các loại chữ biểu ý (thể hiện ý) và hài thanh (m-ợn âm thanh)
Ngày nay, ở Trung Quốc đã phát hiện đ-ợc hơn 100.000 mảnh mai rùa
và x-ơng trú có khắc chữ giáp cốt Tổng số chữ giáp cốt đã phát hiện đ-ợc có khoảng 4.500 chữ, trong đó đã đọc đ-ợc 1.700 chữ Chữ giáp cốt đã ghép
đ-ợc những đoạn văn t-ơng đối dài, có đoạn dài trên 100 chữ
Thời Tây Chu, số l-ợng chữ càng nhiều và cách viết càng đơn gian Chữ viết tiêu biểu thời kỳ này là kim văn (chữ viết trên đồ đồng), cũng gọi là
Trang 36chung đỉnh văn (chữ viết trên chuôgn đỉnh) Kim văn từ đời Th-ơng đã có nh-ng còn ít Đến thời Tây Chu, nhà vua th-ờng đem ruộng đất và ng-ời lao
động ban th-ởng cho các quý tộc Mỗi lần nh- vậy, vua Chu th-ờng ra lệnh
đúc đỉnh đồng và ghi sự việc ấy lên đỉnh để làm kỷ niệm, do đó kim văn rất phát triển Ngoài đồ đồng, chữ viết thời Tây Chu còn đ-ợc khắc trên trống đá,
đ-ợc gọi là thạch cổ văn hoặc trứu văn Các loại chữ giáp cốt, kim văn, trứu văn đ-ợc gọi chung là chữ đại triện hay cổ văn
Thời Xuân Thu – Chiến Quốc, do đất n-ớc ch-a thống nhất nên chữ viết ở các n-ớc không hoàn toàn giống nhau Sau khi n-ớc Tần thống nhất Trung Quốc, Lý T- đã dựa vào chữ n-ớc Tần kết hợp với các thứ chữ của các n-ớc khác, cải tiến cách viết tạo thành một loại chữ thống nhất gọi là chữ tiểu triện Sau đó, chữ viết tiếp tục cải tiến và đến đời Hán thì đ-ợc định hình thành chữ viết ngày nay của Trung Quốc, nên gọi là chữ Hán
- Văn học
Thời kỳ này, nền văn học Trung Quốc bao gồm hai thể loại chủ yếu là thơ và văn xuôi Thơ bao gồm Kinh Thi và Sở từ Kinh Thi là tập thơ gồm những bài ca dao và những bài thơ do tầng lớp trên sáng tác Thời Chu, thơ th-ờng đ-ợc dùng để làm lời của bài hát, vì vậy vua Chu và vua các n-ớc ch- hầu th-ờng sai các viên quan phụ trách về âm nhạc của triều đình s-u tầm thơ
ca của các địa ph-ơng để hát Do đó, những bài thơ hay sáng tác từ đầu thời Tây Chu đến giữa thời Xuân Thu trong vòng 5 thế kỷ phần lớn đã đ-ợc tập hợp lại thành một tác phẩm gọi là Thi (nghĩa là Thơ) T-ơng truyền rằng Khổng Tử đã chỉnh lý lại, về sau tác phẩm ấy trở thành một trong những sách kinh điển của nhà Nho nên gọi là Kinh Thi
Kinh Thi có tất cả 305 bài thơ chia làm ba phầm là Phong, Nhã, Tụng Phong là dân ca của các n-ớc, nên gọi là Quốc Phong, gồm 15 phần Nhã là những bài thơ do tầng lớp trên sáng tác, chia làm hai phần gọi là Tiểu Nhã và
Đại Ngã(1) Tụng bao gồm 3 phần: Chu Tụng, Lỗ Tụng và Th-ơng Tụng, là những bài thơ do các quan phụ trách việc tế lễ và bói toán sáng tác, dùng để hát khi cúng tế ở miếu đ-ờng
Trang 37Trong Kinh Thi, Quốc phong là phần có giá trị t- t-ởng và nghệ thuật cao nhất Bằng lời thơ gọn gàng, mộc mạc, nh-ng đầy kình t-ợng, những bài dân ca này đã vạch mặt hoặc mỉa mai sự áp bức bóc lột và cảnh giàu sang của giai cấp thống trị, nói lên nỗi khổ cực của nhân dân Ví dụ, trong bài chặt gỗ
đàn (Nguỵ Phong) có những câu
Không cấy không gặt, Lúa có ba trăm
Không bắn không săn, Sân trao đầy thú
Này ngài quân tử!
Chớ ngồi ăn không
Tuy nhiên, chiếm tỉ lớn nhất và hay nhất là các bài thơ mô tả tình cảm yêu th-ơng gắn bó hoặc buồn bã nhớ nhung hoặc bâng khuông mong đợi giữa những đôi trai gái Bốn câu đầu tiên của bài Quan th-, bài thơ đầu tiên của Kinh Thi là một khổ thơ rất hay về chủ đề đó:
Quan quan th- c-u, Tại hà chi châu
Yểu điệu thực nữ, Quân tử hảo cầu
(Đôi chim đang hót,
ở trên bãi bồi Cô em xinh đẹp, Anh muốn sánh đôi) Bài Cắt cây sắn dây thì viết:
Em đi cắt dây sắn mới một ngày
Mà t-ởng ba tháng rày không g thấy mặt nhau
Em đi hái cỏ h-ơng mới một ngày,
Mà t-ởng ba thu rày không đ-ợc thấy mặt nhau
Em đi hái ngải cứu một ngày,
Mà t-ởng ba năm rày không đ-ợc thấy mặt nhau
Trang 38Kinh Thi không những chỉ có giá trị văn học mà còn là một tấm g-ơng
phản chiếu tình hình xã hội Trung Quốc thời bấy giờ Ngoài ra, tác phẩm này còn đ-ợc các nhà Nho đánh giá cao về tác dụng giáo dục t- t-ởng Chính
Khổng Tụ đ± nói: “Các trò sao không học Thi? Thi có thể làm cho ta phấn
khởi, có thể giúp ta mở rộng tầm nhìn, có thể làm cho mọi ng-ời đoàn kết với nhau, có thể làm cho ta biết oán giận Gần thì có thể vận dụng để thờ cha, xa thì thờ vua, lại biết được nhiều tên chim muông, cây cỏ“
Đến thời Chiến Quốc, thơ ca càng phát triển, trong đó quan trọng nhất
là Sở từ (từ của n-ớc Sở), một thể thơ sáng tác dựa theo dân ca của địa ph-ơng Tác giả tiêu biểu nhất là khuất nguyên
Tác phẩm của Khuất Nguyên gồm có Li tao, Cửu ch-ơng, Thiên vấn, Cửu ca v.v…., trong đó chủ yếu nói về sự lo lắng của ông đối với vận mệnh của n-ớc Sở và khí tiết của ông tr-ớc các thế lực đen tối lúc bấy giờ
Bên cạnh thơ ca, văn xuôi đến thời Chiến Quốc cũng phát triển rõ rệt Các nhà t- t-ởng thời kỳ này trong khi trình bày luận điểm của mình đã viét nên những áng văn ch-ơng l-u loát, giàu hình t-ợng và có lí luận chặt chẽ Các tác phẩm thuộc loại này có Mặc Tử, Mạnh Tử, Quân Tử, Trang Tử, Hàn Phi Tử v.v…
Tự đánh giá về ảnh h-ởng chính trị của sách Xuân Thu, Khổng Tử nói:
“Kẻ hiểu ta là do sách Xuân Thu, Kẻ lên án ta cũng la do sách Xuân Thu” Tư